Thánh Kinh Chơn Lý
Chánh Tà Yếu Lý
Chơn Ngôn Kinh
Tu Chơn Thiệp Quyết
Chuyển Mê Khải Ngộ
Bách Linh Cơ sám
Chánh Tà Yếu Lý
LÝ sanh tâm tánh ghét gian hùng,
THÁI quá ngày sau khó nỗi dung,
BẠCH Ngọc nỡ nào cho có vít,
Giáng phân Tà Chánh các ngươi chung.
Nền Ðạo hầu nghiêng, thói đời thêm mị,
Lớn mưu mưu, nhỏ kế kế,
Muốn sao cho chỉ đá hoá vàng.
Trên tính tính, dưới bàn bàn,
Lo đến đỗi nắn Trời nên vóc.
Học không lo học, danh lại cầu danh.
Kẻ mê si phờ phỉnh đã đành,
Người trí thức dỗ dành đâu được.
Cạn mưu túng nước,
Ðã bán Trời, còn bịa danh quan.
Cùng thế bít đàng,
Ðành giả Phật, đâu kiên luật Thánh.
Ðạo toàn chơn chánh,
Nghĩa vẹn hiếu trung,
Lý nhiệm mầu, người muốn suy cùng,
Lời u ẩn, lòng tua minh kiến.
Máu tham chẳng biến,
Ðường thẳng chẳng theo,
Thấy con đây khí phách biết điều,
Ðường tà chánh Thầy nên phân giảng.
Ta vưng lịnh Ðức Chí Tôn cho bài giảng phân Chánh Tà Yếu Lý.
Nhầm cơn mạt kiếp suy vi,
Dị đoan ông dậy, chánh qui gò bằng.
Phe ngoại đạo, tráo căn trộm kiếp,
Lũ yêu vương thừa dịp lộng quyền,
Kể chi trăm họ đảo điên,
Miễn cho toại được ý riêng của mình.
Trên bịa đặt một hình Thượng Ðế,
Dưới tóm thâu hiếm kẻ vúc nanh,
Chước ma kế quỉ sẵn dành,
Chờ cơn nước bí, cờ dành vào tay.
Sách đã dạy tôi ngây con thảo,
Sách nào cho lòng cáo dạ muông,
Khen cho lũ chuột, bầy chồn,
Ðào hang trổ ngách khoe khôn cậy tài.
Thầy đã mở Cao Ðài Ðại Ðạo,
Hiệp năm nhành như áo có bâu,
Chỉ đàng chơn chánh cao sâu,
Dắc đường yếu lý, nhiệm mầu nên theo.
Hột giống tốt cùng gieo rải rát,
Nhưng chỗ vầy, chỗ khác không đồng,
Cũng vì tại ở nơi lòng,
Người ham Chơn Lý, kẻ mong dành quyền.
Quyền, tính chước tuyên truyền trần thuyết,
Lý, tìm đường tịch diệt hư vô,
Chánh tà chơn ngụy lưỡng đồ
Xem trong hai lẽ mà đo mà lường.
Quyền, ngay tính thiên phương vạn kế,
Lo sao cho mờ kẻ thấp hèn,
Buôn Trời, bán Phật chẳng kiên,
Chẳng Thần, chẳng Thánh, chẳng Tiên, chẳng phàm.
Lý, thì xét tam tam tiền hậu,
Ngoài vòng Trời còn dấu lẽ chi,
Nào là huyền diệu ẩn vi,
Xanh kia dính với mình ni lẽ nào.
Quyền, chẳng kể ồn ào hỗn tạp,
Miễn sao cho kẻ nạp người dưng,
Tờ kia giấy nọ tưng bừng,
Nhiều ra rồi lại không ăn không nhầm.
Trái hẳn với kẻ tầm Chơn Lý,
Một Mối tìm một tí không sai,
Ðường ngay có một không hai,
Ðường ngay từ thuở Thiên khai đến giờ.
Ðây ta chỉ sơ sơ một ít,
Ðặng biết chừng mục đích mà phăng;
Ðạo là phẳng lặng trang bằng,
Dường như gió tạnh Trời trăng đêm rằm.
Tây Trúc dạy: “Minh Tâm Kiến Tánh”,
Hàm Quan khuyên: “Luyện Tánh Tu Tâm”,
Lổ Ðông: “Dưỡng Tánh Tồn Tâm”,
Gia Tô: “Thượng Ðế tại Tâm” chẳng rời.
Tứ Ðại Thánh một lời chẳng khác,
Khác tại người xiêu lạc cãi canh;
Ðường ngay chẳng thạo đã đành,
Tâm sanh chưởng chưởng, ma sanh khó gì.
Tìm Ðại Ðạo phải suy cho lắm,
Luyện chơn ngươn phải gẫm cho cùng,
Con người chẳng sót mảy lông,
Tịnh tâm mình mới khỏi mong xiêu vời.
Người muốn rõ Ðạo Trời huyền diệu,
Thì phải lo chánh yếu mà tìm,
Lo chi mãn tải huỳnh kim,
Dựng lầu xây các cho biềm sắn leo.
Cuộc giả dối tinh yêu ma quỉ,
Tiếng bọt bèo thô bỉ vụng vằng,
Ðạo là chí chánh chí chơn,
Người sao để dạ cầm cân so lường.
Thầy hết dạ yêu thương con dại,
Thầy hết lòng hoài đoái trẻ ngây,
Khắp cùng Nam, Bắc, Ðông, Tây,
Nơi nào Thầy cũng giảng bày lẽ chơn.
Thầy nhìn biết con hơn vàng bạc,
Nơi nơi đều con lạc của Thầy,
Khen ai lớn mật dạn tay,
Rằng: Thầy bỏ đó nhìn đây cho đành.
Cũng vì bởi đồ danh trục lợi,
Mới xui nên khinh ngởi trọng tài,
Cốt đồng che lấp mắt ai,
Cốt đồng che đặng mắt Trời mảy ru?
Khuyên lớn nhỏ muốn tu thành Phật,
Ðừng cưu lòng đố tật hiền nhơn,
Ghen tương, kiêu ngạo, khoe khoan,
Tham lam, giả dối, đừng mang vào mình.
Trời lộng lộng, thinh thinh, lẩm rẩm,
Ðạo vơi vơi, thẩm thẩm, minh mang,
Muốn cho thông suốt mọi đàng,
Bền lòng kiên nhẫn chắc gan thử rèn.
Thương những kẻ giá hèn như rát,
Lại làm trò thượng đạt thiên tâm,
Cơ thâm thì hoạ diệc thâm,
Mình lầm mình chịu, dễ lầm người sao?
Thân dốt nát mà bao lốt Thánh,
Óc ngu si lại lãnh vai Thần,
Bò vàng gắn điếu làm lân,
Dở dang lưu thủy, phân vân phụng hoàng.
Muốn hành Ðạo, lòng gian phải dẹp,
Muốn người theo, tiếng mép phải chừa,
Ðừng lòng kẻ ghét người ưa,
Ðừng ham tiếng bẩm lời thưa với mình.
Mình muốn được rõ minh chánh lý,
Ta với Người một Thể với nhau,
Có đâu đem dạ cơ cầu,
Ngăn đường lấp ngõ đặng thâu giả quyền.
Biết lẽ phải thì kiên mới phải,
Nghe điều hay thì lạy mới hay,
Khuyên đừng ỷ thế cậy tài,
Thấy điều trái ý thì bài bát ra.
Danh chẳng quản gần xa thô bỉ,
Thiệt không màng miệng thế đồn vang,
Khéo làm như bọn mua giàn,
Mượn màu son phấn khoe giàn kiếm ăn.
Tua ung đúc tinh thần phát triển,
Khá giữ gìn điển tuyến quang minh,
Mấy từng đồ sộ cao xanh,
Ðương liền như lưới với mình mình đây.
Mình sung điển như cây sung tược,
Tược tốt tươi nhờ nước mát êm,
Bông hoa ngày nẩy nở thêm,
Lá sum sê phủ, nhánh dìm già đơm.
Thần nuôi Ðạo như cơm nuôi vóc,
Ðạo nuôi Thần như lộc nuôi thân,
Thần mà tinh khiết muôn phần,
Càng vui càng vẻ Ðạo càng được khen.
Ðừng làm cách đê hèn khiếp nhược,
Mắt lim dim giả chước truyền thần,
Mơ màng bể ái nguồn ân,
Thay lê tráo lý, rộn xăng vụng về.
Người muốn thoát bến mê bể khổ,
Trông cậy Thầy chỉ chỉ dẫn đường,
Thầy mừng hết dạ yêu thương,
Ðèn soi đêm tối, lửa vàng đêm đông.
Ðâu mượn tiếng đem lòng xảo quyệt,
Giả danh Thầy chẳng biết tới ai,
Thầy nhìn con cả gái trai,
Côn trùng, điểu thú, căn cai cũng nhìn.
Ðạo bổn thể hư linh bất mậu,
Vận Ngươn Thần sung thấu tam quan,
Giao thông trên dưới huyền hoàn,
Bốn phương tám hướng dọc ngang không cùng.
Khi phóng xuất mãn xung võ trụ,
Lúc bế tàn thối ngụ nơi Tâm
Ngươn Thần thận độc phương châm,
Chân đi giá mỏng, tay cầm lưu ly.
Mắt chưa thấy hào ly Thiên Ðạo,
Tai chưa nghe báng trảo thần phù,
Cống hồ xê liếu rằng tu,
Ðứa đui lại giắt thằng mù đi đêm.
Khinh phép nước bày điềm mị mộng,
Mượn danh Thầy muốn lộng quyền cao,
Ðất bằng lại nổi ba đào,
Chẳng thương xót đến đồng bào chúng sanh.
Nguồn Ðạo mở trong xanh như suối,
Luật Ðạo ban phao nổi như cồn,
Trách ai đem Ðạo đi chôn,
Ðóng vai diễn lớp giống tuồng cải lương.
Người giữ phép dẫn đường vi phép,
Kẻ phi quan mở dịp giả quan,
Học đòi theo thể bóng chàng,
Mượn Thầy đặng lập một đoàn đi buôn.
Ðạo là Ðạo, như khuôn đã đúc,
Trời là Trời, tà khúc chẳng dung,
Dầu ai sai lạc đến cùng,
Cải tà qui chánh còn trông ơn Thầy.
Thầy quản đại cao đày sông biển,
Con lỗi lầm lười biếng dại khờ,
Thương con nên chỉ huyền cơ,
Cho con biết bến biết bờ mà theo.
Thần Ðạo học vừa gieo Tánh Mạng,
Luyện Linh Hồn vượt khoảng từng mây,
Hồn con là ngọc của Thầy,
Hồn con báu lạ xưa nay còn hoài.
Thân thể với hình hài vật chất,
Có giác hồn ba bực tùy thân,
Thần Hồn khôn dại không chừng,
Theo màu thuốc nhuộm, theo lằn sóng đưa.
Noi chánh lý ngăn ngừa nẻo vậy,
Chính Anh Hồn phải quấy phân minh,
Hễ người cốt cách được thanh,
Thần Hồn ít lúc cãi canh Anh Hồn.
Kẻ tiền kiếp đeo còn nghiệp cốt,
Nặng nhẹ mang những lốt thú cầm,
Thần Hồn nhiều ít giã tâm,
Anh Hồn khó nỗi việc châm nom liền.
Linh Hồn vốn thiêng liêng hượt bát,
Chính là ngôi bổn giác Thầy ban,
Gìn cho trong sạch hoàn toàn,
Thần dầy Ðạo Ðức, Linh càng phẩm cao.
Giữ trong sạch, đừng hao Tinh Khí,
Ngươn Thần đừng đến lụy trần ai,
Trong ngần chẳng chút lợt phai,
Có ngày chân bước đến đài cao xanh.
Phải ráng nhớ trong mình sẵn đủ,
Tánh Linh Thầy ban phú từ xưa,
Trăm điều vật dục phải chừa,
Ðừng tham danh lợi, chớ ưa sang giàu.
Chữ chí thiện là đầu trăm việc,
Lẽ chánh tà phải quyết chớ từ,
Thấy điều gian trá thì trừ,
Ðừng cho mình vấy tiếng hư theo người.
Kệ rằng:
Ðạo Thầy chánh đại lại quang minh,
Ðâu phải tuồng như kẻ thế tình,
Khuyên khắp chúng sanh mau tỉnh giấc,
Ðài cao cửa rộng mở thinh thinh.
Khá khá song còn thiếu cánh vay,
Bài dài sao chẳng thót cho hay,
Liềm trăng ánh dạn sao ba bóng,
Kinh địa trao lời rạng vẻ mây.
Ghi chú:
Bài Thánh Giáo đoạn đầu giáng bút tại nhà ông Nguyễn văn Ca đêm mồng 7 rạng mồng 8, tháng Giêng năm Tân Vì, do Đồng tử Chơn Tâm rước Điển.
Đoạn hai giáng bút đêm mồng 7 rạng mồng 8 tháng Giêng năm Tân Vì tại Cao Thiên Đàn Kiên Giang (Rạch Giá), do Đồng Tử Tường Khánh rước.
Lý suy xét rộng khắp năm Châu,
Bạch sắc kim liêng chứng Đạo mầu,
Giáo giảng chúng sanh tầm chánh giác,
Tông kinh điệu phẩm nghĩa cao sâu.
Khá khá song còn thiếu cánh vay,
Bài dài sao chẵng thốt cho hay,
Liềm trăng ánh dạn sao ba bóng,
Kinh Địa trao lời rạng vẻ mây.
Ta cho nối bài: Phân giải Chánh Tà Yếu Lý.
Chơn Ngôn Kinh
TÂY VƯƠNG THÁNH MẪU
CHƠN NGÔN KINH
Tây trúc thời kỳ dụng Thích Ca,
Vương môn để tiếng cậy Di Ðà,
Thánh phàm phân biệt Du Ðà Luận,
Mẫu tự kinh tàng Tát Ðãng Ða.
Chơn Thể, Chơn Thân đam Phật Tánh,
Ngôn hành, ngôn sắc, dạy ta bà.
Giác mê Thầy chuyển Tam Kỳ Ðạo,
Thế giới từ đây Một với Cha.
Ðêm trong trắng, trắng trong như lọc,
Nghe tiếng con Mẹ phút chạnh lòng;
Bởi con mến chốn bụi hồng,
Nên con tách Mẹ rùng rùng ra đi. (1)
Tưởng ra đi mảng kỳ trở lại,
Nào dè con chẳng đoái chẳng hoài;
Ra đi Mẹ dặn một hai,
Một hai phải tránh chông gai cuộc đời. (2)
Dặn con phải giữ lời sau trước,
Bước hồng-trần là nước quỉ ma;
Dặn con chớ khá ta-bà,
Dặn con chớ khá kê cà mẩn mê. (3)
Dặn con nhớ cảnh quê làm trọng,
Dặn con thường để bụng nằm lòng;
Rằng loài ma quỉ phải phòng,
Rằng loài lưởi mối nọc ong phải ngừa. (4)
Dặn con phải sớm trưa kink kệ,
Dặn con đừng bê trể công trình;
Dặn con Mẹ dặn đinh ninh,
Dặn con phải giữ phải gìn tấm thân. (5)
Dặn con biết mấy lần trân trọng,
Mà con đành rẻ rúng lời khuyên;
Con đành gây cuộc nảo phiền,
Con đành gây cuộc trần duyên lao lồng. (6)
Nay con thấm bảy vòng cắn xé,
Con mới đành nhớ Mẹ sao con;
Con ôi ! Lòng Mẹ héo don !
Con ôi thân Mẹ vì con hao gầy ! (7)
Rày con được Ơn Thầy cứu độ,
Ðem con về phải chỗ phải nơi;
Khuyên con dạy phải nghe lời,
Khuyên con chớ khá giởn chơi ích gì ? (8)
Tu phải biết Qui Y làm báu,
Qui Y là nương náu cửa Trời;
Tu cho kịp tiết kịp thời,
Tu đừng xao lãng những lời Mẹ răn. (9)
Này lời Mẹ ân cần nhắc nhở,
Thấy con thơ Mẹ ứa đôi hàng;
Thương con trước chịu lạc đàng,
Con ôi phận gái gian nan não nề. (10)
Thương con ghánh nhiều bề cay đắng,
Thương con dầm lửa nắng nước sương;
Con ôi phận gái đoạn trường,
Con ôi phận gái chảy bương mới thành. (11)
Tu phải biết việc lành việc dũ,
Tu chừa lòng bảy lự ba lo;
Thầy đà sau trước dặn dò,
Thầy đà chực sẵn chiếc đò Lý Chơn. (12)
Ðò Chơn Lý Chủ Nhơn đã chọn,
Chơn qua đò khỏi tốn khỏi hao;
Miễn con trong trắng một màu,
Miễn con sau trước trước sau một niềm. (13)
Tu phải giữ lặng êm là gốc,
Tu phải chừa cái nọc nhiều lời;
Con ôi tai họa khắp nơi,
Tại người uốn lưởi khô môi hại mình. (14)
Chữ một dạ kỉnh thành làm trước,
Lòng đừng lo họa, phước, có, không;
Có, không là luật chí công,
Có, không, cũng tại nơi lòng các con. (15)
Ðêm thanh vắng con tròn phận sự,
Ðọc Kinh thì ráng giữ lấy mùi;
Ðừng ngâm chót lưởi đầu môi,
Mẹ còn lui tới, tới lui phân trần. (16)
Ðọc Kinh phải cân phân từ tiếng,
Tiếng Kinh là Kinh Ðiển của Thầy;
Ðọc Kinh gẫm được mùi hay,
Dẫu cho sắt, đá, cỏ, cây, cũng thành. (17)
Gái cần giử thân danh làm trước,
Kế quỉ ma nhiều nước tinh yêu;
Êm tai sáo quyển lòn chiều,
Nếu con nhắm mắt nghe liều hư thân. (18)
Mẹ đã dạy nhiều lần cặn kẽ,
Quỉ thường xưng tên Mẹ lắm con;
Con nào gan yếu dạ non,
Nghe lời bưng bợ ngọt ngon phải lầm. (19)
Cách đi, đứng, ngồi, nằm, cẩn thận,
Ðiệu mỏng mềm ấy phận người tu;
Tránh xa tiếng quến lời rù,
Tránh xa những bợm giả mù sa mưa. (20)
Thấy nhiều trẻ bơ thờ hỏng hẻo,
Tướng diệu dàng yểu điệu khá thương;
Tại sao mang số đoạn trường,
Tại quên những tiếng nghĩa phương ngọc ngà. (21)
Thương con dại thiềt tha tha thiết,
Vui vẻ chi mài miệt cõi trần;
Con ôi xét lấy nàng Hằng,
Trọn năm được thấy mấy lần đẹp xinh. (22)
Mẹ hằng cậy nhắn tin cho trẻ,
Khuyên trẻ đừng bê trễ công trình;
Thương con Thầy phế Ngọc Kinh,
Rước con khỏi chốn hoả khanh đem về. (23)
Con khá chớ bỏ bê lúc rảnh,
Lúc rảnh thường Tâm Tánh lãng xao;
Tánh Tâm xao lãng phân hào,
Tự nhiên con phải mỏn hao tinh thần. (24)
Tu phải trọng Chơn Thân Chơn Thể,
Thân Thể nầy gốc rễ của con;
Chơn Thân, Chơn Thể, Chơn Hồn
Giữ gìn trong sạch mới còn gọi con. (25)
Ðừng vụng tưởng phấn son là sạch,
Son phấn làm chơn phách phải lu;
Mấy ai rọi kiến trăng thu,
Mấy ai ngồi kiệu lấy dù che thân. (26)
Ðừng vụng tưởng cơ bần là nhục,
Cơ bần là chánh gốc mổi con;
Lúc sanh đỏ lói một hòn,
Lúc về có kể vật chôn những gì. (27)
Con phải nhớ lúc đi Thầy dặn,
Phải cho tròn bổn phận Thầy sai;
Ðừng lo phú quí chông gai,
Phải cho xứng đáng Tam Tài mới xinh. (28)
Chánh Tam Tài mới vinh mới quí,
Giả tiền tài đồ mị phá chơn;
Con sao chưa rõ thiệt hơn,
Ðã dư mấy kiếp đường trơn bước hoài. (29)
Rày Mẹ nhắc chỗ sai con hiểu,
Hiểu được rồi Mẹ biểu phải nghe;
Nghe rồi cẩn-thận trăm bề,
Tránh đoàn kết đảng, lập phe phỉnh phờ. (30)
Con phận gái lỡ cơ sao được,
Phải dặc dè từ bước mới ngoan;
Sao cho danh gái rỡ rang,
Chín mười cho đúng tuổi vàng Mẹ trao. (31)
Cuộc trần thế ảo bào mộng ảnh,
Có chơn tu mới rảnh phù sanh;
Muốn cho chơn thật tu hành,
Ráng lo gìn giử kỉnh thành đừng quên. (32)
Người ở thế đặt tên kể tuổi,
Tên tuổi nầy một buổi chẳng lâu;
Mấy tên phú quí công-hầu,
Có đem chi được đến chầu Ngọc Kinh. (33)
Người ở thế danh thinh làm trước,
Thinh danh là cội phước sự tu;
Công, dung, ngôn, hạnh, làm đầu,
Lòng đừng mê hoạc phải trau sửa mình. (34)
Ðừng tập lối văn minh dối trá,
Văn minh nầy quỉ phá mấy hơi;
Con ôi Mẹ đã cạn lời,
Ráng cho trong sạch tên Người tuổi Ta. (35)
Tên tuổi Ta bao la vũ trụ,
Tên tuổi Người che phủ thế gian;
Muốn cho tên tuổi miên tràng,
Ta, Người, tên, tuổi, vững vàng chớ sai. (36)
Người xuống thế ai ai cũng một,
Phải rõ Người là ruột với mình;
Với mình như một mới xinh,
Với mình như ruột mới rành tuổi tên. (37)
Con phải nhớ chớ quên lời Mẹ,
Ðược thân người chẳng dễ đó con;
Tuổi tên được vậy mới còn,
Tuổi tên được vậy mới tròn thinh danh. (38)
Ðừng tập nết trớ trinh lêu lỏng,
Theo tánh phàm học giọng cầu cao;
Chị em đừng tiếng mầy tao,
Chị em tiếng nói ngọt ngào mới ngoan. (39)
Lời ăn nói diệu dàng mềm mõng,
Mới làm cho trên trọng dưới vì;
Học chi cái giọng ngu si,
Học chi cái giọng dị kỳ khó ưa. (40)
Ðừng học thói đỏng đưa miệng lưởi,
Mà có khi vướng lưới quỉ ma;
Khôn-ngoan sao bẵng thiệt-thà,
Cứ lời Mẹ dạy mới là gái ngoan. (41)
Con đã chán các đàng tội phước,
Mừng cho con nay được gặp Thầy;
Ơn Thầy rưới khắp cỏ cây,
Con tua tỉnh mộng kịp ngày qui nguyên. (42)
Phần xác thịt ba giềng làm trọng,
Phần Thiêng Liêng phải gióng cho cân;
Chớ hao Tinh, Khí, hại Thần,
Tinh Thần quí báu phải cần phải chuyên. (43)
Thần, Khí, Tinh, Tiên Thiên làm gốc,
Tinh, Khí, Thần, là nọc hại người;
Con ôi đừng tưởng trò chơi,
Nếu con sai ngược Ðạo Trời dể đâu. (44)
Ðừng nghe kẻ mượn màu Ðại Ðạo,
Tiên, Hậu, Thiên, ngược ngạo phỉnh đời;
Nếu con sai lạc tấc hơi,
Luân-hồi phải vướng chạy Trời được sao. (45)
Mẹ thấy trẻ khát khao tìm Ðạo,
Mà lại tin chuyện ảo rằng chơn;
Con ôi chớ cậy giọng đờn,
Giọng đờn là giọng hại khờn hồn linh. (46)
Con muốn rõ công tình tập luyện,
Tập luyện rành cửu chuyển phải thông;
Muốn cho cửu chuyển được ròng,
Gần Thầy mới rõ huyền công thể nào. (47)
Con phải biết Ðạo cao tối trọng,
Ðừng để lòng hờ hõng sự Tu;
Chớ tin nhửng lủ quáng mù,
Mượn Thầy giả Ðạo quyến rù hư thân. (48)
Nghe tiếng trẻ Mẹ mừng cho trẻ,
Trẻ phải mau bước lẹ đường ngay;
Muôn năm mới gặp hội này,
Trể cơ hội ắc đọa đày vướng mang. (49)
Ðã gặp Ðạo gặp đàng chánh đáng,
Thì phải lo phải ráng công trình;
Mẹ khuyên bỏ tánh hớ hinh,
Mẹ khuyên bỏ tánh chống kình chị em. (50)
Tánh kình chống ráng kềm cho dứt,
Nó làm cho Ðạo Ðức phải hư;
Con ôi Mẹ vốn Ðại Từ,
Thương con Mẹ nán gời dư chỉ bày. (51)
Thấy trẻ dại đọa đày thân thể,
Mãng tranh đua theo thế nhán hào;
Quên nhìn Ðất rộng Trời cao,
Ðành vùi bụi đỏ để xao Tánh Trời. (52)
Thần, Tiên, Phật, ráo lời cạn tiếng,
Khuyên các con bỏ miếng tu chơi;
Tu cho biết Phật, biết Trời,
Tu cho biết Ðạo, biết đời, mới tu. (53)
Trẻ mến Ðạo, thầy mù khó dắc,
Trẻ ham đời thì mắc tay phàm;
Xanh, vàng, sợi chỉ ai làm,
Con đường nam, bắc, bắc, nam, ai bày, (54)
Muốn tìm Ðạo gặp Thầy mới Sống,
Muốn tìm Thầy chớ vọng phàm tâm;
Con ôi Ðạo Lý cao thâm,
Lầm sai một mãy hại thầm xiết bao. (55)
Lòng thương xót đồng bào chớ nệ,
Một rúng nhao của Mẹ mà ra;
Ðông tây nam bắc gần xa,
Dẩu cho khác giống cũng là tình thâm. (56)
Kẻ rù quyến gây mầm xâu xé,
Lập phái phe chia rẻ thịt xương;
Lời ngon ngọt tợ như đường,
Nếu con nhẹ dạ mắc lường uổng oan. (57)
Con phải đến Ðạo Tràng Chơn Lý,
Mới không còn có quỉ nơi Tâm;
Ðạo Tràng Thầy lập phải tầm,
Phải tầm cho gặp đặng châm học hành. (58)
Trời đã phú Tánh lành sáng suốt,
Thì con là con ruột của Trời;
Con trời đâu có cải lời,
Con Trời đâu có tiếng đời nhạo khinh. (59)
Khuya những tối tự mình con xét,
Con xét con, con biết lấy con;
Con ôi Tánh Ðức cho tròn,
Ðừng ham nhửng thói bôn chôn nhộn nhàn. (60)
Chị em cũng một đoàn thua sút,
Giờ rãnh rang phải học mới nên;
Học thì chí phải cho bền,
Học bền mới có tuổi tên với người. (61)
Khi đi, đứng, khi cười, khi nói,
Lúc nằm, ngồi, lúc hỏi, lúc thưa;
Con ôi lễ nghiã chẳng vừa,
Nếu con thưa thớt ai chừa cho con. (62)
Phận nhi nữ phải tròn danh dự,
Nết đoan trang con giữ lấy con;
Tiếng thơm, tiếng nổi như cồn,
Tiếng nhơ, cũng nặng như hòn Thái Sơn. (63)
Muốn rõ Ðạo chớ sờn công quã,
Công quã bòn chớ khá từ nan;
Muốn thông công quả rõ ràng,
Công càng bền vững, quả càng lớn-lao. (64)
Công Đức được dày, cao, chói rạng,
Công Nghiệp càng rọi bản Ngọc Kinh;
Sao cho công vững như thành,
Sao cho quả được trổ nhành, đơm hoa. (65)
Phận nhi nữ ngọc ngà thân thể,
Công quả cho rành rẽ đừng sai;
Công cao, phước mới được dài,
Công dày, đức mới vững tày núi sông. (66)
Muốn được quả phải trồng nên quả,
Quả muốn trồng giống chạ chớ ương;
Con ôi phận gái đoạn trường,
Ðoạn trường càng phải tìm đường cho nên. (67)
Mẹ đã dạy công bền mới được,
Công dày công được phước mới bền;
Học hành công khó mới nên,
Biến lười phải vướng vào nền tớ tôi. (68)
Mẹ đã dạy vun bồi công quả,
Con phải rành công cả của con;
Con nào công nấy vuôn tròn,
Công nào quả nấy chẳng còn đợi chi. (69)
Mẹ cũng biết nữ nhi phận gái,
Mẹ sẽ trao phần dạy có người;
Con ôi công chớ biến lười,
Con ôi Mẹ đã ráo lời khúc nôi. (70)
Con phải biết luân hồi nên sợ,
Luân hồi làm nên nợ vô minh;
Muốn cho công được viên thành,
Thì con khá ráng học hành cho thông. (71)
Kẻ dối trá cuồn ngôn khả ố,
Mà làm tuồn dạy dỗ tròn, vuông;
Các con là gái quê môn,
Các con đâu rõ vuông, tròn là chi. (72)
Các con hãy kỹ suy chính xét,
Thầy có đâu la lết dạo đường;
Thầy đâu làm mặt trò phường,
Thầy đâu tán tận thiên lương khuấy đời ! (73)
Con đã gọi con Trời thế hạ,
Con phải mau hối quá tự tân;
Con sao chẳng chịu nhựt tân,
Mà con lại muốn tránh luân xa hồi ? (74)
Bánh luân xa lăn rồi chẳng đợi,
Nếu vướng vào con mới định sao ?
Con ôi thiên võng nan đào,
Ðừng trông Bắc Ðẩu Nam Tào cứu nguy. (75)
Muốn cứu nguy chẳng chi lạ nữa,
Con khá lo tự sửa lấy mình;
Sửa mình cho được bất sinh,
Sửa mình cho được tiền trình vẻ vang. (76)
Nói đến con trăm đàng chua xót,
Mẹ xiết bao lệ giọt đượm tuôn;
Thấy con sa hố lạc truông,
Cũng vì con mảng làm tuồn khéo khôn. (77)
Càng khôn khéo càng dồn cát bụi,
Khéo khôn chi với tuổi hồng trần;
Hồng trần khôn khéo nhố nhăn,
Khéo khôn theo buổi hồng trần ích chi ? (78)
Kìa trước mắt con suy cho kíp,
Cuộc bi, hoan, ly, hiệp, mấy hồi;
Các con chẳng rõ cơ Trời,
Nắng, mưa, lạnh, nóng, mấy thời đó con. (79)
Trời bình tĩnh thoạt còn nổi gió,
Trăng làu làu lại trổ mòi mưa;
Ðừng ai khoe sớm, nói trưa,
Năm còn tháng thiếu, ngày thừa, phải sai. (80)
Lời rỉ rả canh dài Mẹ dạy,
Tiếng nỉ non phải quấy Mẹ bày;
Con ôi gắng chí theo Thầy !
Ngọc Kinh mới được có ngày đoàn viên. (81)
Cơ hoạ phước nhãn tiền mấy lát,
Cũng đều do khổ lạc chẳng tường;
Khổ kia ai tạo mà vương ?
Lạc nầy ai bỏ, ai duồng lại chê ! (82)
Phải xét kỹ rõ bề khổ lạc,
Khổ tại đâu mình chác vào mình;
Tại mình nuôi cái vô minh,
Vô minh nào phải Trời sinh mà ngờ ! (83)
Kìa đuốc tuệ ánh bờ Chơn Lý,
Thầy đã khai rọi chỉ đường ngay,
Thuyền nghiên, sóng ngược, phải quày,
Ðừng khoe mạnh bạo rủi tay lái lèo. (84)
Người trí thức coi dèo thời thế,
Chó hỗng hờ lầm kế tinh ranh;
Con ôi phận gái mỏng manh,
Thương con Mẹ chỉ mối manh con tường. (85)
Ðêm đã cạn Mẹ càng than thở,
Bỏ tánh phàm xem chợ nhắm em;
Ðạo dường gió tạnh sóng êm,
Con nào mến Ðạo phải tìm đường Chơn. (86)
Biết sao kể nguồn cơn sau trước,
Ham tự do con vượt ra đi;
Tự do nó có ích gì,
Tự do càng lắm càng suy tinh thần. (87)
Trẻ hối ngộ Mẹ mừng cho trẻ,
Ráng lo tu kẻo trễ thời kỳ;
Gặp Thầy con ráng qui y,
Càng cho biết lễ, biết nghi, mới rằng. (88)
Mẹ dạy con chẳng ngừng lời nói,
Con nghe lời đừng gọi phui pha;
Ðêm khuya nguyệt xế trăng tà,
Con so bóng nguyệt còn là bấy nhiêu ? (89)
Duyên tứ giả lắm đều dối trá,
Cuộc tuần hoàn vay trả, chẳng thôi;
Lánh xa cái bánh luân hồi,
Khá mau tỉnh ngộ vun bồi Chơn Linh. (90)
Vững Chơn Linh phải thình Tâm Tánh,
Nhìn Ngọc Kinh là cảnh quê nhà;
Rảnh rang cái kiếp phù hoa,
Lặng Tâm, êm Tánh, mới là gọi con. (91)
Mẹ vì con lưỡi mòn đòi đoạn,
Mẹ vì con lời cạn mấy phen;
Công dư kết bạn với sen,
Công dư đâu để làm quen với bèo ! (92)
Chừa cái tánh tự kiêu tự đắc,
Mới có ngày gần Phật gần Trời;
Trời tuy lộng lộng vơi vơi,
Nhưng Trời ở tại mấy lời Mẹ đây. (93)
Con nghe Mẹ, Mẹ khuây khỏa dạ,
Mẹ nhìn con, con hả hớn lòng;
Con ôi mau kíp trùng phùng,
Ðến đài Kim Khuyết hiệp cùng chị em. (94)
Lời tâm huyết Mẹ đem tường tận,
Khuyên con thơ yên phận tu hành;
Muốn cho gọi được gái lành,
Thì mau cải dữ, mới rành chơn tu. (95)
Ðừng phân biệt trí, ngu, thêm hại,
Ðố ai tường khôn, dại, là chi ?
Trăm điều, đều tại Hóa Nhi,
Ðừng đem phàm tánh mà khi mà lầm. (96)
Mẹ căn dặn tu Tâm cho lắm,
Tu Tâm rồi, Tánh bẩm mới trong;
Tánh Tâm tuy cũng nơi lòng,
Mẹ còn lo ngại con không rõ đàng. (97)
Lòng thương con ngổn ngan trăm mối,
Muốn cho con tránh khỏi luân hồi;
Nầy con Tâm, Tánh, bởi Trời,
Nầy con Tâm, Tánh, bởi người phá hư. (98)
Phật thường gọi Chơn Như Tâm Phật,
Trời đã cho Minh Ðức Tánh Trời;
Tánh Tâm trong sạch là Người,
Tánh Tâm xảo trá là đời đó con. (99)
Ðã gần trót đêm tròn Mẹ giảng,
Giảng cho con mấy đoạn éo le;
Phải nhìn Ðất chở Trời che,
Phải nhìn cho kỹ đặng nghe đặng làm. (100)
Ðời gió bụi hiểm nham bớ trẻ,
Có thiện căn mới dễ tránh đời;
Tránh đời còn phải nghe Trời,
Nghe Trời thì phải nghe lời Mẹ khuyên.(101)
Kẻ có phước thiện duyên mới gặp,
Gặp thiện duyên ráng tập mà làm;
Làm thì Nhứt Ðức, Nhứt Tâm,
Nhứt Tâm Nhứt Ðức Mẹ châm nom liền. (102)
Thầy đã dạy Mười Khuyên ráng nhớ,
Lại lắm khi nhắc nhở trăm điều;
Khuyên con Tâm Huệ ráng khêu,
Ráng khêu cho tỏ đặng theo mới mầu. (103)
Bề cư xử sồng nâu đạm bạc,
Chớ kêu đòi đài các trâm anh;
Trâm anh để gọi gái lành,
Trâm anh nào phải sứa sanh bề ngoài. (104)
Mẹ dạy con chẳng nài lao khổ,
Tánh phàm khuyên ráng bỏ ráng chừa;
Ráng đem lại Tánh Trời xưa,
Ngọc Kinh sớm bước chờ trưa trễ chầu. (105)
Ðuốc Chơn Lý làu làu Thầy rọi,
Nơi Trung Ương đặng gọi các con;
Bòn vàng sông Lệ nên bòn,
Tìm châu tìm ngọc non Côn đến tìm. (106)
Cây mát mẻ có chim khôn đậu,
Kẻ hiền lành noi dấu Từ Bi;
Từ Bi Bác Ái Thầy ghi,
Từ Bi Bác Ái Tam Kỳ vẻ vang. (107)
Mẹ đã dựng nền vàng, tảng ngọc,
Con biết lo săn sóc đêm ngày;
Ân cần mực thước đừng sai,
Thì con sẽ được dẫy đầy Ơn Trên.
( Ðàn tại Long-Xuyên đêm 14 rạng 15 năm Quí Dậu – 1933 )
Tu Chơn Thiệp Quyết
NGỌC lịnh ban hành khải cửu cung,
HOÀNG môn xuân sắc, tượng ung dung,
THƯỢNG hành hạ hiệu đô công quả,
ÐẾ Ðạo hoằng khai chiếm thượng phong.
Cung Bạch Ngọc ngự lâm bửu tọa,
Thọ chư Thần triều hạ đã yên,
Thân thân giá hạnh Nam Thiên,
Trước xem Tam Giáo, cháu Tiên con Rồng.
Ðã đôi kiếp dày công nhọc sức,
Dạy chúng-sanh kỉnh Phật thờ Trời,
Thương thay cũng tại số người,
Ngạo lời Thánh-Huấn, kỉnh lời quỉ vương!
Lòng chẳng kể cang thường là đạo,
Dạ hằng lo hung bạo làm đầu,
Thấy vầy, THẦY phải nghĩ sâu,
Tam Kỳ Phổ Ðộ năm Châu phen nầy.
Lời Thầy phán, rẽ mây, vén ngút,
Kinh Thầy ban, chạm ngọc khảm vàng,
Khác nào rọi đuốc chỉ đàng,
Khuyên con tạc dạ ghi xương chớ rời.
Sách chép chữ: “Khôi khôi Thiên võng“,
Ðời ghi câu: “Lộng lộng lưới giăng“,
Nhặt thưa, mau chậm, cân phân,
Mựa rằng sơ sót, mắt Thần không sai.
Thầy đã dạy nhiều bài vàng đá,
Con nỡ đành chẳng dạ sắt đinh,
Con hư, Thầy phụ chẳng đành,
Con nên, Thầy được phỉ tình ước ao.
Ðời hằng nói: “Trời cao có mắt“,
Sách thường biên: “Thái nhứt vô hình“,
Minh mông, đồ sộ, rộng thinh,
Mà soi xét đủ tình hình thế gian.
Ðây giáng bút ít hàng vắn tắt,
Ðặng trao lời vuông tấc nhiệm mầu,
Chớ rằng: chẳng tiếng cao sâu,
Khuyên thường chữ dạ, mựa hầu sai ngoa.
Ơn cúc dục: Công Cha, Nghĩa Mẹ,
Ðức sanh thành: nuôi bé, dạy khôn,
Tục rằng: “Cây cội nước nguồn“,
Cây xanh nhờ có nước luôn tư mùa.
Cùng bạn tác, không dua, không nịnh,
Với anh em, đừng phỉnh, đừng phờ,
Thấy người quyền quý đừng mơ,
Gặp người hoạn nạn chớ lơ lảng lòng.
Ðạo Quân Tử, vợ chồng gây mối,
Mối cang thường, dòng dõi trổ nên,
Một lòng một dạ vững bền,
Sớm khuya dạy bảo, nhủ khuyên ngọt ngào.
Tình máu mủ đồng bào cốt nhục,
Cũng rún nhau, một cục xắn chia,
Ðừng toan chước quỉ phân lìa,
Ở cho hòa nhã, tiếng bia danh đồn.
Ðạo thần tử, lo tròn phận sự,
Nghĩa tôi con, nắm giữ thân danh,
Sao cho công toại danh thành,
Sao cho muôn thuở sử xanh tên đề.
Cân Tạo Hóa nhiều bề mắc mỏ,
Máy Kiền Khôn hiếm chỗ cam go,
Nước đời sâu chống, cạn dò,
Ðừng chơi biển thẳm, chớ mò lạch khơi.
Thần Tiên đã bày lời trung chánh,
Thánh Hiền còn thêm gánh nghĩa nhơn,
Thương đời, chẳng biết công ơn,
Chê bai thấp thỏi, chờn vờn cầu cao.
Muốn đặng ngọc thì vào non thẳm,
Muốn tìm vàng phải ngấm biển sâu,
Muốn cho phú quí, công hầu,
Thì tua gắng chí dãi dầu tuyết sương.
Ai cũng muốn Tây Phương lạy Phật,
Sao không lo Thánh Thất chầu Thầy,
Vì con, Thầy mới đến đây,
Cạn phân lợi hại, tỏ bày thiệt hơn.
Phải tích đức, tu nhơn làm trước,
Lo tu thân, tác phước cho cần,
Trên đầu có Thánh, có Thần,
Có Trời, có Phật cầm cân chẳng lầm.
Ðừng tưởng chỗ tối tăm chẳng thấy,
Chớ tưởng điều phải quấy không soi,
Có câu: “Khuynh phúc tài bồi“,
Nước sông ròng kém, máy Trời vần xây.
Vầng nhựt nguyệt đêm ngày soi xét,
Lẽ âm dương hàn nhiệt giao thông,
Có câu: “Thiên Ðịa chí công“,
Họa dâm, phước thiện, mảy lông chẳng chừa.
Ðừng tưởng lấy vải thưa che Thánh,
Chớ tưởng dùng sức mạnh qua Trời,
Ðáng thương mà cũng đáng cười,
Vì lòng kiêu ngạo dễ ngươi cao dày.
Lòng bất nhẫn, thêm bày ít đoạn,
Dạ từ bi, phụ giảng vài bài,
Khuyên con tạc dạ chớ sai,
Khuyên con chớ thấy dông dài bỏ qua.
Nên xa tránh dâm tà sắc dục,
Hư thân danh, điếm nhục tổ tông,
Hại nầy, thiệt hại vô cùng,
Phật, Trời chẳng chút thứ dung tội nầy.
Vì kiếp trước dẫy đầy âm chất,
Sa mê dâm, phước đức tiêu mòn,
Hại mình, hại vợ, hại con,
Hại luôn sự nghiệp, hại dồn đời sau.
Chước quỉ quái, lòng sâu, dạ độc,
Kế tinh yêu, nước đục béo cò,
Lập mưu thả lưới giăng dò,
Hại người lương thiện, ấm no thân mình.
Người cậy thế khôn lanh xảo trá,
Trời dành phương nhơn quả trả vay,
Phủi tay chẳng kíp thì chầy,
Reo cười chưa thỏa, xin mày, không cơm.
Ðành búng rảy, ngày đơm tháng giỗ,
Nỡ phụ phàng, chim tổ, người tông,
ỷ mình đủ cánh đủ lông,
Quên ơn Cha Mẹ, phủi công Ông Bà.
Tội bất hiếu, phui pha đâu có,
Chữ vô tư, tỏ rõ phải không?
Kiếm, đao, địa ngục song song,
Ðem vào trước dạy, vở lòng phanh gan.
Chủ lường gạt buôn gian bán lận,
Tớ gian tham, lời chận, lỗ thêm,
Miếng môi chuốt ngót cho êm,
Lường công tiếc việc, dao ghim đầy lòng.
Phường sâu độc, toan phòng ngọt mật,
Tánh cưu mang, nhử bắt giết ruồi,
Mưu sâu gẩm lại than ôi!
Hồi đầu báo ứng, kêu Trời muộn thay.
Ngày chí tối, phô bày nanh vút,
Sớm cùng trưa, xúi giục kiện thưa,
Xiết bao kế lận, mưu lừa,
Ôm gồm hai phía, đỏng đưa đôi đàng.
Cậy quyền thế tham quan ô lại,
Giả xưng hô quí phái cao môn,
Líu lo ba tấc lưỡi dòn,
Ðã thâu của báu, lại bòn đồ xưa.
Giọt thán oán như mưa thấy thảm,
Tiếng bi ai dường sấm bên tai,
Sống cho vạn ách, thiên tai,
Thác cho kíp kíp, đầu thai bồi thường.
Dối Thần Phật, gạt lường tế độ,
Phỉnh chúng sanh, tu bổ chùa chiền,
Trọng tăng kỉnh Phật thiêng liêng,
Lòng thành dâng cúng, bạc tiền sá chi.
Nghề đồng cốt, khinh khi Tiên Bụt,
Nghiệp bóng chàng đàn đột hư vô,
Xác Ông, xác Cậu, xác Cô,
Dưng chay, cúng mặn, thế đồ vớt vong.
Chẳng hiểu chữ: Sắc không, không sắc,
Chẳng thông câu: Không có, có không,
Giam vào vô để lao lung,
Chờ ngày Phán Ðoán Ðại Ðồng thế gian.
Kẻ bợ đỡ, mua quan, bán bạn,
Tánh nịnh lùa, giả dạng cầu thân,
Cũng phường mọt nước, sâu dân,
Phú cho địa ngục trầm luân giam cầm.
Phô những lũ tìm tâm ích kỷ,
Khắp các phường tính kế hại người,
Hại người, mình lại vui cười,
Hỏa khanh địa ngục, đốt đời chẳng dung.
Răn đệ tử: chớ dùng rượu thịt,
Khuyên chúng sanh: rán ít chơi bời,
Sắc tài tửu khí hao hơi,
Gắng công tu niệm thờ Trời tụng Kinh.
Lời Thầy phán phải tin, phải tưởng,
Lời Thầy răn chớ cượng chớ sai,
Tu cho rạng tiếng Cao Ðài,
Cha hiền, con thảo, trai ngay, gái lành.
Trối những kẻ khinh danh Ðạo cả,
Thây các phường thóa mạ khi Thầy,
Khoe khoang, kiêu ngạo, đặt bày,
Ðền xong tội thế, đến ngày gặp Ta.
Ðiều biếng nhác bởi già nghiệp chướng,
Tánh trù trì, khó hưởng thanh nhàn,
Khuyên con giữ dạ bền gan,
Lòng lo tu niệm, Thiên Ðàng mau lên.
Mãn những ước thành Tiên, thành Thánh,
Mà quên lo tu tánh, tu thân,
Tu cho bồi đắp thiện căn,
Tu cho trung, hiếu, nghĩa, nhân vẹn tuyền.
Tu là cứu Cửu Huyền Thất Tổ,
Tu là cần phổ độ chúng sanh,
Cầu cho cải dữ về lành,
Cầu cho đất nước thái bình muôn năm.
Tu cho được Thần khâm, quỉ phục,
Tu cho nên thoát tục, siêu phàm,
Công danh, quyền quí, tước hàm,
Mây tan, nước chảy mà ham nổi gì?
Thế thường nói: tu chi cho nhọc,
Ðể mà lo: tước lộc công hầu,
Sao không suy trước nghiệm sau,
Tiền căn, hậu quả, bởi sao được vầy?
Phân năng bón thì cây mới tốt,
Rễ thường tươi thì đọt mới xanh,
Muốn cho cả cội sung nhành,
Tu hành lo trước, sau đành thảnh thơi.
Thầy thương xót bùi ngùi kẻ dại,
Muốn thành công mà lại ngao du,
Phật mang tám nạn cũng tu,
Thầy còn muôn kiếp công phu dãi dầu.
Ai dẫu được công hầu khanh tướng,
Mà không lo tiếp dưỡng, tài bồi,
Gốc cây sùng đục đã rồi,
Không trông nứt mục, nảy chồi, đơm bông.
Tu phước đức, bền lòng cho lắm,
Tên quỉ vương hay nhắm người tu,
Mũi tên đã độc lại mau,
Ghim nhằm một mũi, khó hầu gở ra!
Tên nó sắm những là: rượu bọt,
Tên nó giồi: gái tốt, vàng ròng,
Muôn ngàn tên độc vô cùng,
Vương nhằm một mũi thì không còn hồn!
Tu thì chớ bôn-chôn nóng-nảy,
Tu thì cho phải quấy phân minh,
Chánh, tà, chơn, ngụy, được rành,
Phật Trời mới chứng cho mình rằng tu.
Tu cho được: phụ từ, tử hiếu,
Tu cho thành: huynh hữu, đệ cung,
Gái tu: tứ đức, tam tùng,
Trai tu: nhân, nghĩa, hiếu, trung, làm đầu.
Thế tưởng vậy là tu Nhơn Ðạo,
Nào hay rằng: Thiên Ðạo bởi đây,
Chẳng lo Nhơn Ðạo cho dày,
Mong thành Thiên Ðạo mặc may làm gì?
Phật đã dạy Tam qui, Ngũ giới,
Ðời chẳng tuân để hại ngươn-thần,
Bởi thương nên mới phân trần,
Vì thương nên mới ân cần nhủ khuyên.
1- Một khuyên phải kiền thiền mộ Ðạo,
2- Hai tuân lời Tam-Giáo Thánh Nhơn,
Ðạo là chí chánh, chí chơn,
Những lời Thánh-Huấn chạm xương ghi lòng.
3- Ba khuyên nhớ tổ-tông công đức,
4- Bốn lo tu đúng bực cang-thường,
Cha sanh, Thầy dạy kỹ cương,
Anh em bạn tác, náu nương vợ chồng.
5- Năm khuyên nhớ kẻ nông công khó,
6- Sáu xót thương nông phụ nhọc nhằn,
Cày sâu, cấy cạn, bón phân,
Làm nên tơ chỉ trăm phần lao đao.
7- Bảy liên lạc đồng bào huynh đệ,
8- Tám khuyên đừng xua mị quyền môn,
Sao cho tiếng ngợi danh đồn,
Ðáng trang đạo đức, phải tôn, phải vì.
9- Chín khuyên chớ khinh khi cô quả,
10- Mười khuyên tua hỷ xã lỗi người,
Khuyên đừng biết giận hờn ai,
Xót người hoạn nạn, cứu nơi cơ hàn.
Ðược vậy mới gọi trang tu Tánh,
Tánh tu rồi mới định tu tâm,
Càng tu, càng thấy cao thâm,
Càng tu, càng thấy sự lầm lạc xưa.
Biết lầm lỗi thì chừa cho gấp,
Ðặng mau lo bồi đắp cội lành,
Như vầy mới gọi tu hành,
Như vầy mới gọi chứng minh Bồ Ðề.
Khuyên con phải kiêng dè cho lắm,
Mười lời khuyên như tẩm Cam Lồ,
Ðêm ngày dầu tụng Nam Mô,
Mà không noi giữ, nhành khô, rễ còi.
Mừng con đặng có mòi tấn phát,
Rưới cho con nước mát mùi thơm,
Bốn mùa hoa nở trái đơm,
Hơi bay bát ngát, nhụy tươm ngọt ngào.
KỆ VIẾT:
1- Giáng cơ chỉ rõ máy Kiền Khôn,
Ghi chép vài trang sách Thánh Ngôn,
Luân lý cang-thường nên cả cội,
Nghĩa nhơn, trung-hiếu vốn sâu nguồn.
Thành chơn, phước bởi công vô lượng,
Ðắc Ðạo, ơn nhờ Ðức Chí Tôn,
Khuyên nhủ các con tua gắng chí,
Tam Kỳ muôn thuở tiếng bia đồn.
2- Tiếng bia đồn để ức muôn năm,
Khuyên thế đừng tu độc hiểm tâm,
Thầm tối mưu gài chông lễu lễu,
Cao xanh lưới bủa dạng tăm tăm.
Vô thường chẳng sợ tay oanh liệt,
Quỉ tốt nào kiêng bực phẩm hàm,
Thiện ác đáo đầu vai có trả,
Hoàng Thiên hữu nhãn chắc không lầm.
3- Chắc không lầm lỗi tiếng Mười Khuyên,
Thì được tên đề bảng Ðịa Tiên,
Muốn hưởng lâu dài nền hậu quả,
Phải lo bồi đắp cảnh tiền duyên.
Làm lành, lánh dữ câu thành ngữ,
Tốt đất sung nhành lẽ tự nhiên,
Chí dốc siêu phàm, lên cõi Thánh,
Phải lo vun tưới miếng Tâm-Ðiền.
Các con! Thầy dạy bài “Tu Chơn Thiệp Quyết” nầy là chỉ đường ngay lẽ chánh cho các con đi, nẽo vạy thói tà cho các con sửa.
Trong lúc Thầy truyền Ðạo đây, thì chư Thần Tiên ủng hộ theo Thầy, tường vân che phủ, thoại khí bao quanh. Lại có Văn Xương Ðế Quân ghi chép vào Kim Thơ Ngọc Sách hầu để vào “Toàn Kinh Bửu Viện“.
Ba bài kệ các con phải giữ dạ nằm lòng, ngày đêm truyền tụng chớ khá bỏ qua. Vì tụng Kinh nầy đây thì Tứ Trị Công Tào Sứ Giả thảy hằng nghe mà biên chép công quả.
Thầy dạy Bổn Mạng Nguơn Thần của mỗi con xét coi trong lúc rảnh rang có trau giồi Ðạo Ðức như lời Thầy phán chăng?
Các con hãy nghe, chớ rằng Thầy không nói trước.
Bài “Tu Chơn Thiệp Quyết” có 64 vé, 256 câu, 1792 chữ, cộng với ba bài Kệ là 1960 chữ.
Lời nào Thầy đã dỉ hơi ra,
Vàng, ngọc, gìn trau chớ bỏ qua,
Cung kỉnh, ấy là nền đạo-đức,
Kiêu căng, vốn thiệt gốc yêu tà.
Ngươn-Thần chiếu mạng người trung chánh.
Nghiệp chướng trì chơn đứa xảo ngoa,
Ðừng tưởng Trời cao mà giả dối,
Mắt Thần như chớp, khó phui pha.
Các con! như có người nào ở ngoài vòng cửa mà muốn cho rõ mùi Ðạo lý của Thầy, thì các con cũng nên xét và dạy chúng nó bài “Thiệp Quyết” nầy.
Khuyên đời bỏ dữ, đặng theo lành,
Ấy cũng là điều giúp chúng sanh,
Tiên, tục, thấp, cao, lời giác đác,
Nên, hư, chỉ rõ tiếng đành rành.
Thiên duyên yếu mối, năng thưa thớt,
Nghiệp chướng già cây, khó rắp ranh,
Vững lái êm chèo thuyền tế độ,
Ðưa người đến bến, mựa cành nanh.
(Bài “Thiệp Quyết” nầy là bài giáng cơ tại Thánh Thất Kiên Giang ở Rạch Giá, đêm 24 tháng 3 âm lịch năm Canh Ngọ, 22-4-1930).

Chuyển Mê Khải Ngộ
Kiên Giang ngày 13 tháng 6 Nhâm Thân (1932)
Ngọc lịnh Thầy xưa đã dạy troàn,
Hoàng ngôn Thầy định tại Kiên Giang,
Ðại thừa Thầy nhóm vầy sum hiệp,
Ðế chiếu Thầy ngăn kẻ bạo tàn
Nghe Thi:
Nhâm Thân đột múa ráng coi chừng,
Non cấm Thầy xem kém vẻ xuân,
Chơn Lý Ðạo mầu tua cẩn thận,
Gìn lòng son sắt kẻo ăn năng.
Nghe lời Thầy dạy:
Ðượm cây cỏ Nhâm Thân bước tới,
Rưới hồng ân tắm gội các con;
Khuyên con bổn phận lo tròn,
Ðừng lòng chác oán cưu hờn nhau chi.
Rèn lòng hai chữ Từ Bi,
Sớm trưa kinh kệ qui y theo Thầy. (1)
Thầy đã dạy rẻ mây vén ngúc,
Con bao đành lấp ngọc vùi châu;
Hoài công vung quến bấy lâu,
Trông con sửa lổi hồi đầu ăn năn.
Ðường ngay Thầy dạy phải phăng,
Trước sao sau vậy vùng vằng ích chi. (2)
Chữ bĩ thái thạnh suy chỉ rõ,
Tánh tham sân ái ố khuyên chừa;
Tà ma ngoại đạo kế lừa,
Gạn trong lóng đục, ngăn ngừa lắm con!
Gìn lòng gan sắt dạ son,
Hớ hinh một phút hao mòn công phu. (3)
Ma quỉ dụng lời rù tiếng quến,
Miển sao cho kẻ mến người ưa;
Trách con thấy quấy chẳng chừa,
Còn theo đeo đuổi sớm trưa chẳng rời.
Dạy con Thầy chỉ cơ Trời,
Chánh Tà Yếu Lý hết lời biện phân. (4)
Các con bởi phân vân Tâm Tánh,
Chẳng biện phân đàng chánh nẽo tà,
Ham chi cái thói phù hoa,
Ham chi cái giọng hê hà bãi buôi.
Ham chi cái lối ngược xuôi,
Làm cho bọn quỉ dể duôi lộng vào. (5)
Sức Chơn Lý như phao đang nỗi,
Nơi Ðịnh Kiên là cội là nguồn;
Ðịnh Tường gió vụt mưa tuôn,
Kiên Giang tấp nập luôn luôn đêm ngày,
Thương con đang tỉnh hóa say,
Tại lòng dục vọng ham bày phô trương. (6)
An Thiên Hội Thầy đương mở cuộc,
Dụng các con làm Ðuốc Thiêng Liêng;
Phong con Thầy có kệ khuyên,
Trách con chẳng nể chẳng kiêng lời Thầy.
Cho nên quỉ kế tiếp tay,
Giục xuôi con trẻ bỏ ngay chơn truyền. (7)
Thầy quảng đại vô biên vô lượng,
Thương các con nghiệp chướng dẫy đầy;
Lời tà con để vào tai,
Sớm khuya con đọc đêm ngày con xem.
Lời Thầy con nỡ im lìm,
Ðặt bày kiểm dượt đặng thêm tay phàm. (8)
Bạch y Ðạo nhà Nam tối kỵ,
Nỡ đành lòng lập vị cãi Thầy;
Xiết bao ngậm đắng nuốt cay,
Con còn như thế, người rày thể nao?
Thầy đà ruột héo gan xâu,
Khuyên con tu tỉnh kẻo đau lòng Thầy. (9)
Ngày xuân nhựt chẳng dầy vuôn tấc,
Khuyên các con tuân Luật Cao Ðài;
Tam Thanh luật cả chớ phai,
Thinh thinh biển rộng sông dài núi cao.
Con ôi! Tỉnh giấc chiêm bao,
Thầy còn nhiều lúc âm hao phân trần. (10)
Lập quốc Ðạo thiên tân vạn khổ,
Dạy các con phổ độ chúng sanh;
Các con mãng tại cầu danh,
Lớn làm nhỏ học tranh dành thấp cao.
Miệng Ngô mà bụng ở Tào,
Dựng phe kết đảng ngăn rào lấp sông. (11)
Khen các trẻ chẳng lòng hổ thẹn,
Nỡ dạ nào quên tiếng Thầy khuyên;
Kể từ Thầy lập An Thiên,
Biết bao nhiêu nỗi than phiền với con.
Rằng: khuyên lớn nhỏ lo tròn,
Giúp Thầy chuyển Ðạo sắt son trọn niềm. (12)
Thương con dại nghĩ thêm tím ruột,
Cứu cơn nguy Thầy buộc dỉ hơi;
Cạn sâu thêm tỏ đôi lời,
Khuyên đừng tật đố rã rời nhau ra.
Trăm điều nên xét gần xa,
Củng đều máu mủ thịt da của Thầy. (13)
Lời hằng ví: một cây tròi trọi,
Làm sao cho nên nỗi hòn non;
Giữa sông bổng nỗi nên cồn,
Nhờ nhiều hột cát đấp dồn mới cao.
Ðông mày thì tây có tao,
Giúp lời giúp sức việc nào chẳng nên. (14)
Trăm việc phải chí bền mới được,
Một bước cho một bước vững vàng;
Ðừng tin những tiếng hoang đàng,
Ðừng tin những tiếng dịu dàng quỉ ma.
Ðừng mê những việc cao xa,
Ðừng mê những việc dối ta dối Trời. (15)
Khuyên các trẻ nghe lời Thầy dạy,
Ðừng ham lo bay nhẩy phi thường;
Tu Chơn Thiệp Quyết chỉ tường,
Chánh Tà Yếu Lý mọi đường biên phân.
Ðạo Thầy như nước trong ngần,
Ðạo không xao dợn phân vân rộn ràng. (16)
Ðạo Thầy ở khắp tràng vỏ trụ,
Ðạo Thầy lo khuyên nhủ nhơn sanh;
Khuyên người bỏ dử theo lành,
Chẳng khuyên ở núi, ở ghành, ở hang.
Chẳng khuyên theo thói dị đoan,
Chẳng khuyên hiệp lũ vầy đoàn dối dân. (17)
…
Hành Ðại Ðạo đừng cần sang trọng,
Cũng đừng so nhà rộng chòi tranh;
Cân là: cân sự học hành,
So là: so cái chí Thành động Thiên.
Cân là: cân kiếp thiêng liêng,
So người: quỉ cụ thần kiên anh tài. (28)
…
Trước dẩu có một hai vít tích,
Khuyên con đừng chích mích nhau chi,
Từ đây đường cả chung đi,
Hiệp tâm chúng trí đừng nghi chuyện rồi.
Cây xanh nhờ có nhiều chồi,
Đạo nên nhờ có Thầy Trời giúp cho. (30)
Đức Chí Tôn dạy:
Hiệp chí đồng lo Đạo nước nhà,
Hiệp vầy đoàn thể, ớ con Ta!
Hiệp hòa trên dưới tình liên lạc,
Hiệp thuận anh em nghĩa mặn mà,
Hiệp ý keo sơn gìn dạ một,
Hiệp đường Táng Mạng buổi Kỳ Ba,
Hiệp Tâm chúng trí đừng nghi lẫn,
Hiệp được gần rồi, mới hiệp xa.
Đàn đêm 20 tháng 7 Nhâm Thân (1932)
Ngọc Kinh định mở Đạo nhà Nam,
Hoàng điện đành buông để giáng phàm,
Thượng trí khá mau ra giúp sức,
Đế Vương nào ví Đạo kỳ Tam.
Nền Ðại Ðạo xanh um cổ thọ,
Ðuốc Cao Ðài rạng tỏ Ngũ Châu;
Khuyên con bền bĩ trước sau,
Một lòng khắng khít cùng nhau chớ rời.
Lòng con Thầy đã thấu rồi,
Giáng đàn Thầy lập vị ngôi Thánh Tòa. (31)
Khắp trần thế còn xa Thánh Huấn,
Bởi các con chưa đặng Nhứt Tâm;
Con ôi! Muốn rõ cao thâm,
Gần Thầy, Thầy sẻ chỉ lầm lạc cho.
Học Ðạo thì ráng lòng lo,
Hành Ðạo thì chớ so đo cân lường. (32)
Nhắc đến lúc Trung Ương Thầy lập,
Gióc lòng thâu Tam Thập Lục Thiên;
Lẽ gì Ðạo đã được yên,
Lẽ gì Ðạo khỏi chinh nghiên đến rày.
Lẽ gì Ðạo được nỡ mày,
Có đâu Ðạo phải đắng cay trăm bề. (33)
Cũng vì trẻ chia phe chia đảng,
Cũng vì con làm lãng làm lơ;
Kinh Thầy con đã nghi ngờ,
Lời Thầy con lại bơ thờ bỏ qua.
Ruột rà ngay thẳng bỏ ra,
Nịnh hùa chuốt ngót bối da đem vào. (34)
Thầy bệ Ngọc khát khao trông đợi,
Ước cho con bước tới đường ngay;
Trông thôi trông đã mõi mày,
Ðợi thôi càng đợi càng ngày càng xa.
Ráng thương Thầy chút với mà,
Thương Thầy đặng hiệp đặng hòa cùng nhau. (35)
Thầy đã dạy đâu đâu cũng một,
Bỡi xa nhau nên cuộc mới chia;
Ðừng cho kế quỉ phân lìa,
Ðừng cho miệng thế tiếng bia vang đồn.
Ðạo chia nhiều phái nhiều môn,
Vì chưng cơ bút mình tôn lấy mình. (36)
Con phải biết chương trình hiệp nhứt,
Phải lọc lừa tịnh thất hiệp vào;
Các nơi cơ bút lao nhao,
Ðều kêu hiệp lại con trao lời vàng.
Ðừng cho tách cõi tách đàng,
Càng xa Thánh Huấn nó càng tư riêng. (37)
…
Phùng, con chớ cơ cầu húng hính,
Chức Thiên Sư Thầy định trước rồi,
Con đừng chặc dạ kín môi,
Hiệp Thiên Đài đó, con ôi! giúp Thầy.
Phong con Chưởng Quản Đài này,
Có con ắt được rẻ mây trong Trời. ((46)
Khuyên con phải tuân lời Thầy dặn,
Lọc đồng loan dùng thẳng nới tay,
Bày chim vừa sập sận bay,
Làm sao biết được cung mây mấy từng,
Miễn cho hớn hỡ Trời xuân,
Ngàn hồng muôn tía vui mừng rước xuân. (47)
Chức Chưởng Quản phải cần học hỏi,
Bảy chơn như lộn cỏi trần gian,
Hạ mình con phải hỏi han,
Rước về làm bạn Đạo càng thêm cao,
Dạy con đã dạy hồi nào,
Vì con bê trể để sao lãng hoài. (48)
Định Tường đêm 24 tháng 7 Nhâm Thân (1932)
Ngọc bản danh đề định đã lâu,
Hoàng phong thăng thưởng kẻ mày râu,
Thượng thương quyết dựng nền Chơn Lý,
Đế đạo tràng tuông khắp Á Âu.
Thầy lóng đủ các lời con trẻ,
Ðứa thì vui, có kẻ bần dùn;
Cám ơn các trẻ có lòng,
Thầy dầu nhọc sức hao công sá gì.
Ðã hay Ðạo vốn Vô Vi,
Nhưng cần phải chổ đặng qui mối giềng. (51)
Khuyên trẻ phải hết riêng Tâm Tánh,
Ðồng cùng nhau lo gánh Ðạo Trời;
Thì Thầy thở được dài hơi,
Thì con được việc được lời đó nghe.
Khuyên con rộng rãi trăm bề,
Ðã rằng Ðại Ðạo chớ chê bực nào. (52)
Dưới Trời Ðất đồng bào cả thẩy,
Bị lỗi lầm nên quấy nên sai;
Thầy nhìn con cã gái trai,
Ngày nay lạc bước ngày mai cũng về.
Quên đâu rằng quán rằng quê,
Nên Thầy chước lượng lập bề dổ khuyên. (53)
Thầy quyết dựng cái nền Chơn Lý,
Cửu Trùng Ðài lập vị cho thành;
Con nào thảo thuận làm anh,
Ðạo là gạo muối để dành độ thân.
Con nào xiêu lạc cơ bần,
Trở về thì được mọi phần ấm no. (54)
Thầy thương trẻ nên lo cần kiếp,
Cửu Trùng Ðài cho kịp thời kỳ;
Thầy đà cạn nghĩ kỹ suy,
Càng lâu càng lộn thau chì đó con.
Muốn cho Ðạo được vuông tròn,
Nghe lời Thầy dạy trành tròn chẳng nên. (55)
…
Ðừng có dạ chia lìa như trước,
Ðừng lòng lo nắm được phần mình;
Ðừng lòng chích mích em anh,
Ðừng lòng tật đố cành nanh chữ quyền.
Lo sao Ðạo khỏi chinh nghiên,
Lo sao Ðạo được thông miền Ngũ Châu. (69)
…
Sách có chử: “phụ tùng phu xướng”,
Hể vợ hiền là tướng của chồng,
Chồng nên nhờ vợ coi trông,
Chồng nên vợ cũng bản phong danh đề.
Giúp Ca con phải dặt dè,
Biết bao yêu quái dựng phe kết đoàn. (72)
…
Tòa Thánh sẵn trùng phùng hội hiệp,
Khuyên các con liên tiếp cùng nhau;
Chúng sanh thức tỉnh mới mau,
Chúng sanh mới hưởng phong trào Thuấn Nghiêu.
Ớ nầy, trẻ dại rất yêu,
Nghe Thầy nhứt định Qui Điều mà theo. (75)
Qui Điều:
Ớ các con yêu dấu, nghe Qui Điều Thầy đây mà thi hành, chớ không tuân theo mà có tội…
Cao Thiên Đàn (Rạch Giá)
Đêm 14 tháng 4 năm Quí Dậu (1933)
(Tường Khánh chấp bút)
Ngọc lành dể để người nao,
Hoàng kiến khuyên con ghé mắt vào,
Đại đức mới mong chầu đại điện,
Đế quyền thức tỉnh giấc chiêm bao.
Thầy mừng các con. Nghe Thầy dạy:
Tìm ngọc báu non trèo biển lặn,
Kiếm châu lành giãi nắng dầm sương;
Ðạo cao phải học mới tường,
Mênh mong biển rộng khó lường không đong.
Ngày đêm khuyên ráng chí công,
Dầu cho cầm thú có lòng cũng nên. (76)
Ngày tháng tựa đường tên thắm thoắt,
Sớm cùng trưa con ác chẳng chờ;
Tu cho biết bến biết bờ,
Tu đừng bày việc vất vơ phĩnh người.
Mị ly, vọng, lượng, hại đời,
Tránh sao cho khỏi lưới Trời bủa giăng. (77)
Nền Chơn Lý trang bằng rất quí,
Mối Vô Vi Âu Mỷ đương tìm;
Thương con Thầy dạy tất tim,
Sao con nỡ để sắn bìm phủ leo.
Thương con Thầy chỉ lái lèo,
Con đành hờ hõng cái dèo gió giông. (78)
Ðồng một Ðạo mà lòng chia rẽ,
Bởi nghi quyền, tranh thế mà ra;
Ðặt lời Thầy dạy chia ba,
Dối người thì dể, dối Ta dể gì?
Thần Tiên lụy nhỏ ai bi,
Cám thương sanh chúng mắc kỳ nạn vương. (79)
Thầy đã mở Trung Ương là gốc,
Dạy các con chủng tộc thương nhau;
Năm châu một thể đồng bào,
Dầu người khác giống cũng nhao rún mình.
Cầu cho tránh sự đao binh,
Cầu cho thiên hạ thái bình muôn năm. (80)
Ðạo chẳng dạy đường lầm nẽo quấy,
Ðạo chẳng truyền bùa giấy phép ma;
Con ôi! Muốn rỏ Ðạo Cha,
Ðạo Cha chánh trực, vô tà, vô tư.
Ðạo Cha chép để thi thư,
Ðạo Cha khuyên trẻ ba dư học hành. (81)
Ðạo gốc dạy dân sanh làm phải,
Ðạo dắc người đường phải chánh chơn;
Ðạo khuyên Trung Hiếu Nghĩa Nhơn,
Ðạo khuyên con trẻ xót thương nhau hoài.
Ðạo không tách một rẽ hai,
Ðạo là hiệp nhứt cả loài thế gian. (82)
Thương con dại lầm đường lạc ngõ,
Ðường chánh chơn đành bỏ chẳng màng;
Thần Tiên cạn tiếng gián can,
Anh em ủ đột, khô khan tâm bào.
Chỉ Trời, chỉ Ðất, chỉ sao,
Nói Nam, nói Bắc, nói khào giành tin. (83)
Dạy Thiên Ðạo giống hình ảo thuật,
Thương các con trí thức ở đâu;
Khéo tin nhửng việc cơ cầu,
Khéo tin nhửng việc dấu đầu dấu đuôi.
Thế thần chước quỉ giục xui,
Gặp cơn giông tố đuổi ruồi được chăng? (84)
Nghe Thiên Ðạo chẳng cần ai chỉ,
Thiên Ðạo là Thiên Lý nơi Tâm;
Thử xem con trẻ còn nằm,
Biết nhìn cha mẹ chẳng lầm người dưng.
Ngày đêm xây chuyển không ngừng,
Bốn mùa tám tiết một chừng không sai. (85)
Tìm Thiên Ðạo cần ai phải chỉ,
Lòng chí thành suy nghỉ thì ra;
Ðạo Trời nào phải yêu ma,
Ðạo Trời nào phải dối Ta gạt Người.
Ðạo Trời nào phải trò cười,
Ðạo Trời quí báu muôn đời sách ghi. (86)
Hành Thiên Ðạo Vô Vi phải biết,
Chữ tùy thì biến diệt phải thông;
Thánh nhơn thừa thữ lục long,
Nào ai biết đặng lại phòng bôn chôn.
Phải thông hai chử Hà Ngôn,
Âm thinh sắc tướng phải chôn Ngươn Thần. (87)
Thầy biết quỉ muôn phần nhiều mối,
Lập Thánh Tòa Thầy hội Trung Ương;
Lời Thầy chánh chánh đường đường,
Các con mặt trái cang cường chẳng tuân.
Nghe không củng tại số phần,
Song Thầy củng ráng đặng ngăn chỉ dùm. (88)
Thầy hằng dạy hiệp sum một cửa,
Chọn Trung Ương là giửa trung tim;
Ðông, Tây, Nam, Bắc thuận êm,
Bộ đi cũng vững, thuyền tìm cũng xuôi.
Các con tới tới lui lui,
Minh minh bạch bạch, khỏi chui nhủi người. (89)
Tiếng dậy khắp Thầy Trời dạy Ðạo,
Cả Năm Châu tôn giáo mội không;
Các con sao nở đành lòng?
Các con sao nở vội vong ơn Thầy.
Các con chẳng phải dại ngây,
Các con mau tỉnh nghe Thầy bớ con! (90)
Cao Thiên Đàn (Kiên Giang)
Đêm 15 tháng 4 năm Quí Dậu (1933)
Ngọc báu Thầy dành để sẵn nơi,
Hoàng phong thiên chức phải trò chơi,
Đại đồng thế giái Thầy chưa định,
Đế định khuyên ai chớ dể ngươi.
Thầy trước nói Ðạo tròn thoạt méo,
Bỡi các con chẳng khéo mà ra;
Tiếng đồn Chơn Lý bay xa,
Các con nỡ để loài tà lộn xen.
Các con Ðạo học thấp hèn,
Lại thêm đải sĩ chiêu hiền cũng không. (91)
Kìa Chiêu Thánh Thầy phong tận mặt,
Ðược phong rồi tự đắc tự kiêu;
Nào hay kiêu ngạo bấy nhiêu,
Ðều là thuốc độc tinh yêu nhuộm vào.
Dầu cho Tiên Phật phẩm nào,
Có lòng tự thị phải nhào chơn ngươn. (92)
Ma quỉ dụng giọng đờn tiếng quyến,
Xui giục người nhiều chuyện hoang đàng;
Nhỏ to thầm tính mưu gian,
Quến người trí thức mê mang tinh thần.
Các con mau tỉnh lần lần,
Có ngày may được xá ân của Thầy. (93)
Trăng gặp lúc vừng mây che khuất,
Người phải tua nổ lực tu hành;
Tu cho mục đích đành rành,
Tu đừng lập vị, lập danh, lập quyền.
Tu cho quỉ phục thần kiên,
Tu đừng lo lập chùa chiền hại dân. (94)
Thầy chuyển Ðạo lẫy lừng bốn biển,
Thầy có đâu triếu mến chùa to;
Con nào muốn lập cơ đồ,
Bịa danh huyển hoặc đừng hô danh Thầy,
Rìu trăng chẵng dụng đốn cây,
Rìu trăng dụng để đốn tay gian hùng. (95)
Thầy nhắn nhủ khắp cùng con dại,
Ai dạy làm việc phải thì nghe;
Chớ ham hiệp lủ vây bè,
Trăm điều cẩn thận kiên dè lắm con.
Ðừng nghe tiếng ngọt lời ngon,
Khinh khi luật nước hao mòn thần linh. (96)
Loài quỉ mị làm chinh Ðại Ðạo,
Bịa danh Thầy hại báo chúng sanh;
Trung Ương Thầy đả định rành,
Tiếng bay tỏ rạng danh đành chép ghi.
Từ nay chánh giống Tam Kỳ,
Trung Ương là chỗ Thầy qui Ðạo tràng. (97)
Tiền, trung, hậu, tam giang kỳ quái,
Vốn mưu tà dẩn sái Ðạo cao;
Tịnh vân đạo đức dường bao,
Rẽ phân thủ túc dạ nào đành yên.
Làm cho sanh chúng hão huyền,
Danh nêu hắc tịch bản biên A tỳ. (98)
Mau sám hối từ bi xá tội,
Ðể lâu ngày khó rổi cho tiêu;
Nhọc lòng công quả bấy nhiêu,
Ham danh một phút Thiên Ðiều khó dung.
Thấy con Thầy cũng động lòng,
Ðộng lòng Thầy phải não nùng khuyên con. (99)
Tình liên lạc xử tròn một mực,
Qui Trung Ương hiệp nhứt như xưa;
Ðừng cho quỉ lận ma lừa,
Nhơn sanh đồ thán tội dừa tại con.
Ðừng cho Ðại Ðạo hao mòn,
Ngày đêm nhứt nguyện nước non thái bình. (100)
Tu thì phải giử gìn Tâm Ðạo,
Tu đừng cho quả báo luân hồi;
Minh mong thiên vỏng khôi khôi,
Chớ khinh mà mắc, mắc rồi khó ra.
Ðạo nào Ðạo lại rẽ ba,
Ðạo là có Một phải Hòa mới nên. (101)
Mưu chước quỉ có bền đâu được,
Khuấy các con đục nước béo cò;
Than ôi! Con dại lầm to,
Miệng chậu kiến bò, nói chuyện thiên văn.
Thương con Thầy dạy ân cần,
Khá tỉnh lần lần mới gọi Chơn Tu. (102)
Ðèn Chơn Lý phá mù sanh chúng,
Sao các con chẳng dụng rọi đường;
Rọi trong phế phủ cang trường,
Rọi ngoài luân lý cang thường cho xong.
Rọi cho thức tỉnh giống giòng,
Rọi gần cho rỏ đặng phòng rọi xa. (103)
Ớ trẻ dại! nghe Cha than thở,
Bỏ nhửng điều lầm lỡ xưa nay;
Phải lo vén ngúc rẽ mây,
Tạnh êm sống gió kịp ngày qui Nguyên.
Phải lo Nhơn, Nghĩa vẹn tuyền,
Ðừng cho xao dợn mới yên Ngươn Thần. (104)
Sẵn Lương Tri làm căn làm cội,
Bỏ Lương Tri học hỏi đâu xa;
Lương Tri vốn thiệt Thầy nhà,
Lương Tri báu lạ của Cha sẵn truyền.
Cạn lời Thầy độ hửu duyên,
Chuyển Mê Khải Ngộ kẽo phiền lòng Cha. (105)
Cao Thiên Đàn (Kiên Giang)
Đêm 15 tháng 4 năm Quí Dậu (1933)
(Tường Khánh chấp bút)
Ngọc sắc Thầy phê thưởng Nữ Ban,
Hoàng ngôn Đạo định tại Kiên Giang,
Đại phong cho trẻ tùng Chơn Lý,
Đế chiếu ngày nay mới được troàn.
Nghe Thầy dạy:
Thể Liên Nữ Phổ Ðà lảnh sắc,
Nơi Kiên Giang dìu dắc nữ ban;
Cũng vì mưu quỉ kế loàn,
Canh Thân phá hoại dẩn đàng cấm sơn.
Làm cho sanh chúng cưu hờn,
Làm cho sanh chúng Lý Chơn nghi ngờ. (106)
Quỉ dụng kế đoạt cờ Chơn Lý,
May các con suy nghĩ hồi tâm;
Con ôi! Ðạo cả cao thâm,
Huyền cơ bí quyết phải tầm mới ra.
Ngày nay con biết đến Cha,
Thì Cha rộng lượng bỏ qua chuyện rồi. (107)
Thương nữ phái đắp bồi công nặng,
Sớ Ðiêu Cung phê thuận đã lâu;
Quỉ vương dụng kế rất sâu,
An Thiên hiệp hội cơ màu phá tan.
Làm cho sanh chúng dở dang,
Làm cho thủ túc sanh đoan bất hòa. (108)
Nay mừng thấy con đà sum hiệp,
Thể Liên Tiên tâu tiếp sớ xưa;
Cầu Cha rộng rưới ơn mưa,
Xin phong nữ phái kẽo trưa kiếp chầu.
Nghe tâu Cha phúc quặn đau,
Nầy nghe tiếng ngọc lời châu Cha troàn. (109)
…
Ớ các trẻ! ráng gìn Chơn Lý,
Chơn Lý là Đạo quí của Thầy;
Đạo Thầy dạy bảo xưa nay,
Rõ Chơn Lý Đạo có ngày siêu thăng.
Đạo Thầy phẳng lặng trang bằng,
Đạo không rộn rực lăng xăng quến rù. (132)
Thương trẻ dại công tu chưa mấy,
Nên có người chỉ quấy dắt hư,
Con ôi, Phật vốn Ðại Từ,
Chí Thành mới thấy Chơn Như Báu Trời.
Một lòng chung thỉ chớ dời,
Thiên đường rộng mở có người dẫn cho. (133)
Cao Thiên Đàn (Kiên Giang)
Đêm 29 tháng 4 năm Quí Dậu (1933)
(Tường Khánh chấp bút)
Thể dường mặt nước, Đạo dường trăng,
Liên lạc anh ba chiếu một vừng,
Tiên quế xanh um hơi bát ngát,
Nữ bang khuyên ráng chuộng tinh thần.
Bần Đạo mừng cho nữ phái đã được xướng danh. Nghe Thi:
Hèn quê phận gái Đạo Tam Kỳ,
Kỉnh Phật thờ Trời gọi lễ nghi,
Tánh hạnh gắn ghi câu Tứ Đức,
Tinh thần nương cậy cửa Tam Qui;
Sương giăng trước mắt tuồng danh lợi,
Gió thổi ngoài tai tiếng thị phi,
Thế tục khen chê tình thế tục,
Một lòng xu hướng cảnh Từ Bi.
Tịnh đàn nghinh tiếp Đức Mẹ.
Diêu đài cảnh sắc bổn thiên sinh,
Trì thủy phong quang ánh nguyệt minh,
Thánh lịnh đặc ân gia nữ phái,
Mẩu tình tử Đạo hiển nhi vinh.
Mẹ mừng các con lưởng phái:
Thấy con trẻ gầy mòn thân thể,
Lòng Mẹ xuôi giọt lệ nhỏ xa,
Con ôi! Muốn gặp mặt Già,
Tam Kỳ Đại Đạo lơ là chẳng nên.
Phải ráng sức cho bền công quả,
Phải ngăn ngừa quỉ phà đó con,
Bến xưa người cũ nỉ non,
Từ đây mưu kế dập dồn chớ tin.
Lời Mẹ đã đinh ninh dặn trước,
Chớ lạc lầm lở bước sai kỳ,
Quỉ ma mưu kế khó bì,
Cũng xưng rằng Mẹ Diêu Trì, con ôi!
Ớ các trẻ! Nghe lời Mẹ dạy,
Đồng một lòng tin cậy lẫn nhau,
Nữ Nam một thể đồng bào,
Rọi gương Chơn Lý chớ sao lãng lòng.
Trong phận gài cũng công, cũng quả,
Rõ Lý Chơn mựa khá từ nang,
Lo sao tiết gái rở rang,
Sao cho danh gái Kiên Giang bản đề.
Ớ con trẻ! Ráng nghe cho kỷ,
Kiên Giang là Chơn Lý cội nguồn,
Định Tường Đạo đã đúc khuôn,
Định Kiên liên lạc Trung Ương sum vầy.
Mặt tình kẻ đổi thay mối Đạo,
Mặt tình ai tráo mạo danh Thầy,
Con ôi! Ghi nhớ lời này,
Lý Chơn đâu có : đây vầy đó kia.
Mẹ kiếu các con.
Ngọc bút châu phê sẵn mấy hàng,
Hoàng phong mỡ rộng cảnh Kiên Giang,
Đại hùng, đại lực minh Chơn Lý,
Đế đức dồi dào khắp bốn phương.
Bên Nữ phái dặn dò khuyên nhủ,
Những việc xưa lổi củ Thầy quên;
Từ đây đường cả thẵng lên,
Thầy còn dạy chọn nhiều tên bãn đề.
Kiên Giang sắc chỉ đả phê,
Cội nguồn Chơn Lý mựa hề đổi thay. (134)
Này Nam phái, nghe Thầy cử đặt,
Ngọc bản xưa chọn mặt đành rành;
Vì sao tính quất lo quanh,
Khiến nền Chơn Lý rong xanh phủ thềm.
Các con đành đoạn yêm liềm,
Các con đành đoạn chẳng kềm chế nhau. (135)
Khuyên các trẻ một màu một ý,
Hoà hiệp nhau tâm chí cho phù;
Ðồng lo vén ngút mây mù,
Chớ cho uổng phí công phu bấy chày.
Trăng trong gió mát hay hay,
Này công, này quả, này Thầy, này con. (136)
Thầy tâm chí hao mòn biết mấy,
Các con đành phải quấy thiệt hơn;
Thầy đau đớn dạ từ cơn,
Khúc khiêu can gián khuyên lơn phân trần.
Quỉ ma nay Sở mai Tần,
Miểng con Chơn Lý nắm chân theo Thầy. (137)
Thầy đã dạy rẽ mây vén ngút,
Thầy trước phân chạm ngọc khãm vàng;
Thầy đà rọi đuốc chỉ đàng,
Tại con yếu dạ mõng gan quên lời.
Tại con tu giởn, tu chơi,
Tu quyền, tu thế, tu đời, tu quen. (138)
Ai cũng nói Cha hiền con thảo,
Cha như Thầy, con thảo nào đâu?
Kiên Giang Chơn Lý mở đầu,
Kiên Giang Chơn Lý cơ cầu hơn ai.
Thôi không tiếng một lời hai,
Lể gai tiếng ví, dụng gai lệ thường. (139)
Thấy các trẻ lương khương tấn thối,
Nghi ngờ vì giọng rổi tiếng kèn;
Tin chi cái thói đê hèn,
Tin chi cái lối tắt đèn là ma.
Khuyên con một dạ thật thà,
Mấy khi Chơn Lý đôi ba con đường? (140)
Thầy mở lớp học đường sơ giảng,
Giảng cho con một đoạn Ðạo Trời;
Ðạo Trời có Một không hai,
Ðạo là Sự Sống cứu người thế gian,
Ðạo không đợi cãi đợi bàn,
Ðạo lo giãi cứu cái màng Người Ta. (141)
Trời có Một thì Ta có Một,
Có Ta rồi nên cột có Người;
Người nên, Ta được thảnh thơi,
Ta Người chung hiệp Một Trời nào ba,
Ta Người nếu rẻ nhau ra,
Ta Người chia rẻ quỉ ma chen vào. (142)
Bỏ “Cái Ta” thì nào có quỉ,
Còn “Cái Người” củng bị cái ma;
Quỉ ma cũng tại Người Ta,
Ta Người chung Một, quỉ ma tàn hình.
Ðừng rằng: Ta trọng Người khinh,
Khinh thanh, trọng trược, tại mình rẻ chia. (143)
Thầy sơ giảng một tia Chơn Lý,
Con đêm ngày suy kỹ nghiệm cang;
Phân minh tà chánh rỏ ràng,
Nghiêm tường mới hết nghi nan Ðạo Ðài.
Cao Ðài có một không hai,
Ðaì cao nêu vọi nhắm sai nghi lầm. (144)
Thầy thường dạy Ðạo Tâm phải quyết,
Nay giảng thêm cho biết Ðạo Trời;
Khuyên con bền chí chớ lơi,
Thì Thầy vui dạ nhiều lời dạy thêm.
Trường trai khổ hạnh ngày đêm,
Hóa chơn thanh ngụy, luật nghiêm đặt bày. (145)
Nghe lời dạy khá thay Tâm Tánh,
Phải chuyên cần đường chánh mà theo;
Kìa loài ma quỉ trổ đèo,
Phật Trời ngoài miệng, tinh yêu trong lòng.
Giả Thầy móc cuả, lường công,
Con ôi ! Ðạo vốn sắc không muôn đời. (146)
Giảng Chơn Lý một lời chẳng vị,
Ðạo quang minh, ích kỷ phải hư;
Ðạo là đại nguyện đại từ,
Ðạo không mưu kế chuyện ngư, ngao, cò.
Ðạo chung khắp kẻ Hớn, Hồ,
Ðạo nào dạy lập cơ đồ cơ giang. (147)
Cao Thiên Đàn (Kiêng Giang)
Đêm mồng 1 tháng 5, năm Quí Dậu (1933)
Ngọc cao vô giá gọi Vô Vi,
Hoàng điện chen vai quí kịp kỳ,
Đại đức mới mong nên đại vị,
Đế ân một mảy chẵng tư vi.
Thầy trước dặn ngựa hay vì bởi,
Bởi đường dài nên mới biết hay. (150)
Con ôi! Sanh chúng long dong,
Con ôi! Sanh chúng mắc vòng quỉ vương,
Con ôi! Sanh chúng chẳng tường,
Nghe lời phỉnh gạt tai ương đâu ngờ. (151)
Chớ nghe những việc cơ cầu,
Nghịch Thiên hành sự tội âu vạ tràng.
Nghe lời Thầy dạy mới ngoan,
Đứng cho túng nước mà vang đến Thầy. (153)
Đứng nghe Thầy giả chìu lòn,
Đừng cho kế quỉ hao mòn thân danh. (154)
Con phải biết sự Tu chẳng dể,
Phải dể thì đâu để đến con. (156)
Các con biết Ðạo là Bác Ái,
Thầy chẳng cho làm sái Qui Điều;
Ðừng ai thêu dệt, dệt thêu,
Ðừng ai bày chuyện bày điều dối dân.
Lòng ma miệng Phật bảo đừng,
Luật Trời Luật nước phải tuân mọi đàng. (161)
Ðạo Thầy bủa khắp tràng võ trụ,
Ðạo Thầy lo dạy đủ Tây Đông;
Ðạo lo hoà hiệp đại đồng,
Ðạo không trốn tránh, bồi giồng, xẻ mương.
Ðạo không cất lẫm, đấp đường,
Ðạo không cầu sám, quì hương làm gì. (162)
Ðạo chẳng dạy cầu kỳ dối thế,
Ðạo chẳng cho bỏ phế luân thường;
Ðạo là chánh chánh đường đường,
Ðạo không bùa chú giống phường bàn môn.
Ðạo không sửa méo làm tròn,
Ðạo là Chơn Lý chẳng mòn chẳng hao. (163)
Cao Thiên Đàn
Đêm 30 tháng 5, năm Quí Dậu (1933)
(Tường Khánh chấp bút)
Ngọc côn kim hữu nghĩa cho tròn,
Hoàng chiếu Thầy phê chọ bốn con,
Đại đạo kén lừa tay đại nhậm,
Đế ân cố cập nặng dường non.
Thầy sắp đặt trước sau thứ lớp,
Khuyên Định Kiên hòa hợp đừng phai,
Ớ con! Thầy chẳng dạy sai,
Ớ con! Thầy đã dạy hoài, nhớ chăng?
Ớ con, Đạo vốn trang bằng,
Ớ con! Chơn Lý ráng phăng ráng tìm. (164)
Vừng trăng có lúc dinh khuy,
Nước sông rông kém châu nhi tuần hườn.
Đạo là Đạo Đức, Trí, Nhơn,
Tín Trung Nghĩa Dỏng, cho hơn thói đời. (166)
Ðừng ai tưởng tìm Tiên trên núi,
Núi buổi này căn cội của ma;
Thần Tiên đương kiếp ta bà,
Giáng trần phổ độ sơn tòa bỏ hoang.
Quỉ vương gặp nước dẩy tràn,
Dẫn người đầu mục đãng sang phá đời. (171)
Thầy cặn chỉ một lời kỳ chót,
Lưới Trời thưa chẳng lọt mẩy thu;
Con nào muốn gọi Chơn Tu,
Mười Khuyên ráng tập công phu đêm ngày.
Khắp nơi đâu cũng có Thầy,
Thầy là Chơn Lý tràn đầy thế gian. (172)
…
Miền Đông Thái say mê giấc mộng,
Cũng vì chưa biết trọng Lý Chơn,
Muốn cho gặp đặng Thiên Ân,
Lại không có chí keo sơn trọn nghì.
Đoàn ma lũ quỉ kéo trì,
Mà vui, mà vẻ, mà đi, mà mừng. (188)
Thấy có trẻ tự tân tự hối,
Muốn trở về căn cội Trung Ương,
Tánh phàm tấn thối lương khương,
Ma ma Phật Phật Thầy thương vô cùng,
Thiên Ân trách nhậm giao Phùng,
Hiệp cùng … (189)
Còn nhiều chỗ nết xưa vừa đổi,
Nay muốn chung một hội một thoàn,
Các con khuyên chớ từ nan,
Dắc dìu em dại công càng lớn công.
Biết đem Chơn Lý vào lòng,
Dứt vòng ngoại đạo sẻ trông ơn Thầy. (190)
…
Biết bao kẻ đạo cao ẩn tích,
Ðành vùi thân tịch mịch chán đời;
Ðạo cao tuy biết tại Trời,
Ðạo hư cũng bởi thiếu người Ðạo Tâm.
Có người cầm “chỉ nam châm”,
Nào sa bể khổ, đâu lầm bến mê. (193)
Cao Thiên Đàn
Đêm 1 tháng 5 nhuần, Quí Dậu (1933)
(Tường Khánh chấp bút)
Ngọc quí nhờ công thợ trát ma,
Hoàng ân rưới mát khắp gần xa,
Đại khai Chơn Lý minh tà chánh,
Đế Đạo xưa nay có một mà.
Nầy, Châu Bút Thầy phê một đoạn,
Ngọc Kiên Tinh trước án nghe phân;
Tân An trọn địa phải cần,
Khắp miền Vàm Cỏ, trọn phần Đồng Nai.
Giao con gánh nặng đường dài,
Đừng lòng than thở mà hoài công phu. (194)
Thầy ung đúc mấy thu con xét,
Chơn Lý nầy định quyết phần con;
Lý Sanh Ðạo Thể tròn vuôn,
Khí Sanh Ðạo Tướng muôn muôn trùng trùng,
Lý Sanh Khí Hoá vô cùng,
Mới thành Ðạo Dụng giúp công ơn Thầy. (195)
Ðạo càng học càng ngày càng mới,
Ngày mới rồi ngày mới một ngày;
Mới rồi dạy kẻ mới hay,
Hoàn toàn Ðạo Dụng mổi ngày mới thêm.
Trọn lành mà được cẩn nghiêm,
Cao kiên hữu tướng hốt chiêm vô hình. (196)
Tướng vô hình, vô thinh, vô xú,
Mới trọn lành trọn đủ Ðạo Nguyên;
Ðạo Nguyên Ðạo Thể tự nhiên,
Tự nhiên vô vật, vô tiền, vô danh.
Một Ba, Ðạo Thể chia rành,
Ba rồi về Một, Ðạo thành Vô Vi. (197)
Con gánh lúc thời kỳ Ðạo Dụng,
Phải đem mình giải mộng chúng sanh;
Giải tiêu nhơn dục vọng tình,
Lóng xong ngọn suối giọt xanh trong ngần.
Con ôi ! Ðạo pháp đả phân,
Ðạo Nguyên con phải dò lần nơi Tâm. (198)
Con có chí dốc tầm Ðại Ðạo,
Ðạo nơi mình Tam Giáo đồng qui;
Trong mình đả sẳng Lương Tri,
Con ôi ! Ðừng ngại đừng nghi lời Thầy.
Muốn cho con đủ chơn tay,
Giúp Trời, hành Ðạo, nghe nầy lịnh ban. (199)
…
Cao Thiên Đàn (Rạch Giá)
Đêm 18 tháng 6 năm Quí Dậu (1933)
Khương từ lãnh mạng hiệp chư hiền,
Thái cực đồ dùng báu tự nhiên,
Công dụng công tâm trừ quỉ mỵ,
Giáng đàng chấn chỉnh cuộc An Thiên.
Lão chào chư chức sắc lưởng phái. Tịnh đàn tiếp giá Đức Chí Tôn.
Ngọc là vật báu của Trời sanh,
Hoàng bút châu phê chữ đã rành,
Đại cuộc An Thiên rồi kỷ niệm,
Đế ân truyền xa kẻ làm lành.
Này các trẻ có duyên tìm Ðạo,
Chữ lời Thầy dạy bảo chớ sai;
Mênh mông biển rộng sông dài,
Trời che Ðất chở chẳng hai con đường.
Anh em hoà thuận, nhịn nhường,
Ðừng lòng ích kỷ, sâm sương rã rời. (204)
Kể từ thuở Ðất Trời gầy dựng,
Sanh loài Người chí nhẩn tới nay;
Nhiều phen giáng thế chỉ bày,
Tuỳ theo thời cuộc cũng Thầy mà thôi,
Rằng tuy khác biển cách vời,
Hể ở dưới Trời thì một Mẹ Cha. (205)
Tuy khác tiếng, khác da, khác giống,
Nhưng cũng đống sự Sống như nhau;
Dưới chơn cho tới trên đầu,
Tay chơn máu thịt chổ nào khác đâu.
Ớ con! Khắp cả hoàng cầu,
Trước đều một rún, một nhao, một nhà. (206)
Từ vô thỉ lịnh Cha đã dạy,
Dạy các con đến cõi trần gian;
Mỡ mang khắp cã Hồng Hoan,
Giúp tay Bàn Cổ Tam Hoàng lập công.
Công thành qui vị thưởng phong,
Ðừng cho đến đổi bụi hồng vương mang. (207)
Cung Bạch Ngọc hai ban lựa nhón,
Chọn con nào chưa trọn chơn ngươn;
Ban cho Nhứt Ðiểm Linh Quang,
Giáng trần công quả hoàn toàn Bổn Lai.
Lập xong danh phận Tam Tài,
Trở về hớn hở lâu đài Ngọc Kinh. (208)
Chốn Ngọc Kinh còn gìn nhiều bực,
Ðặng châm nom đốc suất công trình;
Giúp công hóa hoá sinh sinh,
Phong vân vủ lộ đẩu tinh huyền hoàn.
Âm Dương hàn thử tuần hường,
Cầm giềng mối chánh Càn cang giúp Thầy. (209)
Nối Nhơn Hoàng đổi thay Thánh Ý,
Mến hồng trần quên nghĩ Ngọc Kinh,
Tánh phàm chen lộn vào mình,
Thất tình lục dục biến thành quỉ vương,
Cưả nhà nấu nướng điểm trang,
Trau giồi xác thịt quên đàng Thiêng Liêng. (210)
Muốn cho trẻ có duyên trở lại,
Thầy phải sai ba phái Nhứt Kỳ;
Di Ðà, Thái Thượng, Phục Hi,
Giáng trần phổ độ duy trì Ðạo Cha.
Thái Thượng sửa tánh phàm tà,
Phục Hi hoạch quái, Di Ðà giác mê. (211)
Thầy cũng dạy đề huề Tiên Thánh,
Trước cùng sau lảnh gánh giáng phàm;
Ðông Tây Nam Bắc gia tâm.
Năm châu em dại ráng tằm cho ra.
Dắt về cho tận mặt Cha,
Ðại phong an hưởng Thánh Toà Ngọc Kinh. (212)
Còn những kẻ chưa thình Tâm Tánh,
Lưu phàm trần khổ hạnh tu thân;
Nước non bồi bổ Tinh Thần,
Ngươn Chơn ung đúc bổn căn trau giồi.
Ðạo thông sẽ trở về Trời,
Cùng Cha sum hiệp đời đời an vui. (213)
Mười hai trẻ được hồi Ngươn Vị,
Dư hằng hà chẳng kể chánh chơn
Một lòng xu hướng quỉ vương,
Khinh khi nhaọ bán sự nhơn đức Trời,
Mê sa ma quỉ lả lơi,
Bỏ điều “Minh Thệ” trổ mòi bàn môn. (214)
Oai Trời định diệt phồn yêu mị,
Giáng thiên tai hồng thũy thao thao;
Thay Thầy sửa trị phong trào,
Nối Nghiêu có Thuấn lãnh trao chơn truyền.
Thương đời Tiên Thánh liền liền,
Giáng phàm tế độ luân phiên dạy đời. (215)
Dư ngàn năm đến đời Thương Trụ,
Tà loạn chơn rất phụ lòng Thầy;
Thánh Nhơn cho giáng Kỳ Tây,
Ðao binh kiếp số diệt bầy tinh yêu.
Sa tăng tội ác khó tiêu,
Bắt về giam đợi Thiên Ðiều xử phân. (216)
Thương Cơ Phát ân cần việc bạo,
Phú Ngôi Trời dạy Ðạo hoá dân;
Phú cho mười bực Hiền Thần,
Lãnh truyền Ðại Ðạo xa gần thế gian,
Truyền lần đến cỏi Nam Bang,
Cháu con Hồng Lạc vén màn Chỉ Nam. (217)
Nhà Cơ Phát tám trăm năm có,
Truyền Ðạo Trời vô số huyền công;
Hềm còn yêu chuộng thần thông,
Hoá lòng vọng tưởng chẳng phòng yêu ngôn.
Lần lần sa lạc bàn môn,
Thần Tiên ma quỉ chẳng còn biện phân. (218)
Nhìn thấy trẻ dương trần Thầy ngán,
Chẳng còn chi rằng đáng con Thầy;
Biết sao cho được giải khuây,
Nhị kỳ phổ độ Thầy rày phải sai.
Bởi thương các trẻ miệt mài,
Trần gian ảo mộng lại hoài Chơn Ngươn. (219)
Hoá bốn phách chẳng sờn lao khổ,
Trắng vàng đen phổ độ cả ba;
Ấn kia trước có Di Ðà,
Nay cho tái thế Thích Ca giáng phàm.
Thái Thượng hoá kiếp Lão Ðam,
Truyền Kinh Ðạo Ðức nơi Hàm Cốc Quan. (220)
Luận dạy việc kinh ban tế thế,
Bởi sanh dân bỏ phế luân thường;
Kế Châu cho giáng Tố Vương,
Ân cần lập kỹ trần cương dạy đời.
Hiếu Trung cội gốc con người,
Trọn điều Nhơn Ðạo tuỳ thời tu Thân. (221)
Nơi Tây bộ nhiều lần Ðạo mở,
Quỉ vương thường phá vỡ Ðạo nhà;
Phải sai Con Một của Cha,
Máu hồng chuộc tội cã và thế gian.
Bộ Châu nào mới mở mang,
Cũng đều sai Thánh đế ban tin lành. (222)
Muốn biết trẻ nhiệt thành nguồn cội,
Cho sa tăng đái tội lập công;
Con nào thiệt dạ thính tùng;
Cỏi Trời dành để vô cùng sự vui.
Con nào gian ác chẳng thôi,
Chiếu lời Minh Thệ, Ngũ Lôi hành hình. (223)
Dư một lúc hơn nghìn năm rưởi,
Biết bao phen vận hội trở xây;
Phật Tiên lắm lúc châu mày,
Thánh Thần nhiều buổi chầu Thầy lụy rơi.
Rằng con chẳng những y lời,
Bàn môn tã đạo coi Trời như không. (224)
Kẻ chẳng kể luật công Thiên Lý,
Kẻ thì theo tà mị dị đoan;
Xiết bao kiếp số tai nàn,
Hớn qua, Tống lại, Minh sang, Thanh rồi.
Cải Trời thì bị Luật Trời,
Trời nào có dạy cướp ngôi tranh quyền. (225)
Con đã dại Thầy yên sao được,
Kiếp Ngũ Lôi kế dượt gần đây;
Nếu con tránh được buổi nầy,
Mới được chầu Thầy, cực lạc tiêu diêu.
Nếu con ma quỉ tinh yêu,
Ngũ Lôi hỏa kiếp diệt tiêu linh hồn. (226)
Muốn cho con được tròn tỉnh ngộ,
Ðệ Tam Kỳ Phổ Ðộ phải ban;
Xét coi cả cỏi Dinh Hoàng,
Có Châu Nam Thiệm Hồng Bàng khá khen,
Một lòng Ðạo Ðức tập rèn,
Ít mê vật chất đê hèn như đâu. (227)
Tuy chưa rỏ nhiệm mầu Ðạo Ðức,
Song có lòng kỉnh Phật thờ Trời;
Lịnh sai Tiên Thánh các nơi,
Giúp người lầm lạc phục hồi bổn sơ.
Phổ thông dụng báu huyền cơ,
Khải thông Ðại Ðạo trên bờ Nam Bang. (228)
Thay Tam Giáo lập bàn Tam Trấn,
Tùy theo thời độ dẩn chúng sanh;
Ðộ cho bỏ dử về lành,
Bỏ điều tà vạy đừng canh cãi Trời.
Tam Kỳ ân xá các nơi,
Hể biết nghe lời thì được qui nguyên. (229)
Phế Ngọc Kinh Nam Thiên giá hạnh,
Thầy bổn thân thấy cảnh đau lòng;
Các con rắn rắn rồng rồng,
Coi lời Tam Trấn như không chẳng màng.
Lại thêm bày lớp dị đoan,
Mê sa ma quỉ tội tràng vạ lây. (230)
Thương các trẻ Thầy day cán bút,
Cao Thiên Ðàn gạn đục lóng trong;
Khuyên con bỏ tánh cuồn ngông,
Giàu lòng bác ái mạnh lòng từ bi.
Ðường ngay con cứ con đi,
Ráng tìm đến chỗ Thầy qui mà vào. (231)
Lập Trung Ương Thầy trao gánh nặng,
Dạy các con dứt hẵng phàm Tâm;
Ðừng lòng chia rẻ mà lầm,
Ðừng lòng dại dột mà cầm rằng khôn.
Xét coi nội quả càn khôn,
Có ai qua được Chí Tôn là Thầy. (232)
Thầy thương xót một bày con dại,
Kiếp “Ngũ Lôi” hiện tại đương giàng;
Thầy thương, Thầy dạy, Thầy than,
Mông cho con chớ ngổ ngang lời Thầy.
Ví bằng kiếp số đến ngày,
Ăn năn đã muộn kêu Thầy uổng công. (233)
Lò Tạo Hoá mấy ông Thợ Tạo,
Ai tạo chi quả báo luân hồi;
Ðã rằng Thiên vỏng khôi khôi,
Sơ nhi bất lậu mắc rồi khó ra.
Tiên phàm Phật Thánh tà ma,
Chưởng qua thì phải dắt qua tại mình. (234)
Con muốn được trường sinh bất tử,
Chữ trường sinh giãi thử Cha nghe;
Khuyên con học phải kiên dè,
Ðừng theo tả đạo khó về ngôi xưa.
Giãi cho con rõ đặng chừa,
Hiểu rồi mới biết đặng ngừa bàn môn. (235)
Con phải nhớ Linh Hồn hượt bát,
Vốn là Ngôi Bổn Giác Thầy ban;
Bởi con chưa được hoàn toàn,
Thầy cho xuống tại phàm gian trau giồi.
Dứt xong phàm tục được rồi,
Vô Vi Hiệp Nhứt về Ngôi Thánh Toà. (236)
Xuống phàm thế phải ra công nhọc,
Lãnh riêng phần săn sóc chúng sanh;
Lãnh phần chấp chưởng quyền hoành,
Cầm cân phạt dữ thưởng lành thế Ta.
Cầm quyền Chơn Lý Giái Ba,
Chí chơn, chí chánh, vô tà, vô tư. (237)
E con dại nên hư chẳng rõ,
Mà sai đường lạc ngõ Lý Chơn;
Một phần chuyên dạy nghĩa nhơn,
Giảng phân Ðạo Ðức, luân thường bổn nguyên.
Trung Dung bất diệc bất thiên,
Tu điều đức hạnh ròng chuyên Ðạo Trời. (238)
Lo lủ trẻ ham chơi lười biến,
Vì ăn lo, chưa đến chưa no;
Một phần trách nhậm rất to,
Gia đình giáo dục phú cho nghiêm từ.
Rèn lòng triêu tịch tư tư,
Ðông, Ngôn, Thị, Thính tảo trừ tà Tâm. (239)
Tứ Ðại Giã hiệp làm Nhứt Thể,
Vì trược thanh nặng nhẹ chẳng đồng;
Các con có đứa cuồng ngông,
Cũng còn có đứa vẫn thông minh nhiều.
Anh em sau trước dắt dìu,
Rèn lòng son sắt bỏ điều tà tây. (240)
Kìa ba sáu ngàn ngày như nháng,
Còn trông chi còn nán đợi chi;
Ðường ngay sao chẳng bước đi,
Ðường tà để bước, ôi thì, ôi thôi !
Kìa kìa cái bánh “luân hồi”,
Lăn qua lộn lại mấy đời thoát ra. (241)
Bánh luân xa thoát ra chẳng khỏi,
Thì Linh Hồn sao gọi trường sanh;
Muốn cho gọi được trường sanh,
Trường sanh vốn thiệt bất sanh đó mà.
Bất sanh mới được gần Ta,
Gần Ta mới được thoát ra “luân hồi”. (242)
Bánh luân xa lăn rồi lại trả,
Mà ai rằng tấn hoá nỗi chi;
Nếu không cách vật trí tri,
Luân hồi nhiều kiếp ngu si càng nhiều.
Biết đường Tánh Mạng mà theo,
Trương bườm Chơn Lý một lèo mấy ai? (243)
Con chử dạ chớ sai lời dạy,
Sáu loài ma dục quấy coi chừng;
Luân hồi xa nọ nhiều ngăn,
Mà ngăn lục dục hơn phân nửa rồi.
Nếu sa vào bánh “luân hồi”,
Thì mong chi nữa phục hồi bổn ngươn. (244)
Trị Nhơn Tâm còn hơn trị hổ,
Thất tình thường bởi nó mà sanh;
Ham mê phú quí lợi danh,
Khoe khoang sự nọ, nói hành sự kia.
Dẫu cho muôn kiếp chẳng lìa,
Lộn đi lộn lại cũng về bàn môn. (245)
Thầy chỉ tắt cho con được hiểu,
Tấn hóa là chỉ yếu phải Tu;
Tu cho phân biệt trí ngu,
Tu đường Ðạo Ðức tiếng rù đừng tin.
Ðạo đời hai cuộc phân rành,
Ðừng tin tưởng quấy, phải thành thật Tâm. (246)
Ðừng ham muốn âm thầm phép lạ,
Ðừng chuyên lo truyền bá dị đoan;
Ðừng ao ước việc mơ màng,
Ðừng tin tưởng việc hoang đàng quỉ ma.
Ðừng lo những việc cao xa,
Ðừng lo ích kỷ lợi ta, hại người. (247)
Phải Tin cậy Một Trời Ðộc Nhứt,
Phải ân cần tuyệt dứt phàm tâm;
Phải dồi Ðức hạnh cao thâm,
Phải cho Bác Ái, phải tầm Lý Chơn.
Phải suy xét kỹ mọi đường,
Phải lo an phận thủ thường là hơn. (248)
Con khá nhớ lời Thầy đã nói,
Ấy là đường thoát khỏi “luân hồi”;
Ðức Tin Công Quả vẹn rồi,
Tự nhiên con được phản hồi Ngọc Kinh.
Ấy là con dược Trường Sinh,
Trường Sinh bất diệt bất sinh thiên tề. (249)
Con ở thế mảng mê phép lạ,
Nên bị điều dối trá phỉnh phờ;
Tay kia đã kẹt hom lờ,
Hết đợi hết chờ đặng gở tay ra.
Con hư lây xấu đến Cha,
Con dử ắt là Cha mẹ phải mang. (250)
Thầy càng dạy con càng ngang ngạnh,
Kiếm thế thần đặng tránh cho xa;
Con ôí ! Tai nạn khó qua,
Nếu con chẳng kíp thoát ra cửa Bàn,
Thần thông dầu có muôn vàn,
Thiên Ðiều đâu thứ tôi loàn mà mong. (251)
Con muốn được thoát vòng tục lụy,
Phải tập rèn Chơn Lý cho rành;
Không thông ráng học ráng hành,
Không thông khuyên chớ cãi canh kê cà,
Không thông khuyên chớ bỏ qua,
Không thông thì phải ráng ra công tìm. (252)
Ðường Chơn Lý kim kim cổ cổ,
Mà ai nào đánh đổ hào ly?
Con ôi ! Tâm động thần bì,
Trúc cơ diện bích ích gì đó con?
Nếu con Tâm Tánh chẳng tồn,
Tự nhiên hạo khí hao mòn uổng công. (253)
Muốn thành Phật giàu lòng Bác Ái,
Chúng sanh đều chủng loại cùng nhau;
Phải lo Ðạo Ðức cho giàu,
Ðừng lo ích kỷ mượn màu Từ Bi.
Khuyên con chớ tánh tham si,
Chớ làm rồng cọp vân vi rộn ràng. (254)
Người ở thế muôn vàn tân khổ,
Lo sao cho phổ độ chúng sanh;
Của trần phải sạch sành sanh,
Sạch rồi chớ khá khoe danh với đời.
Của Trời thì giúp cho Trời,
Giúp Trời vì bởi mình tôi của Trời. (255)
Ở trần thế nghỉ ngơi chẳng được,
Cỏi “giái ba” là cuộc chiến trường;
Lợi danh Ðạo Ðức tranh thương,
Quỉ vương Phật Tổ hai đường chống nhau.
Mà ai Chơn Lý rõ sâu,
Thì được về chầu Bạch Ngọc cao ngôi. (256)
Ðừng tưởng vấy luân hồi tấn hoá,
Luân hồi là nhơn quả đó thôi;
Nếu ai nặng quả cuả đời,
Thì bị “luân hồi” vay trả trả vay.
Nếu ai công quả với Thầy,
Mãn kỳ trách nhậm là ngày siêu thăng. (257)
Mấy ai được một lần trọn phải,
Cũng sanh đi sanh lại nhiều phen;
Luân hồi nào có gọi tên,
Thát thai giáng thế thiêng liêng luật Trời.
Giữ sao đừng vấy bợn đời,
Tránh khỏi “luân hồi” là gọi Trường Sanh. (258)
Việc tu hành mối manh đả chỉ,
Con ráng tìm Chơn Lý mà phăng;
Sao cho nhứt nhựt mỗi tân,
Nhựt tân nhứt nhựt tự tân cho mình.
Khuyên con gìn dạ sắc đinh,
Chánh tà chơn ngụy phải minh cho rành. (259)
Ðường Chơn Lý chúng sanh chưa thạo,
Cứ quẩn quanh quả báo luân hồi;
Cho nên tã đạo dối Trời,
Hư hư thiệt thiệt mê người khá thương.
Ngày nay Chơn Lý bày tường,
Khuyên con tỉnh mộng bương bương trở về. (260)
Muốn học Ðạo đừng mê mới được,
Mê muội làm bạc nhược tinh thần;
Làm cho hủ bại bổn căn,
Làm cho dứt hẳn Lương Năng Tánh Trời.
Làm cho hồn phách rã rời,
Làm cho cách trở Ta Người xa nhau. (261)
Khuyên các trẻ mau mau tỉnh giấc,
Mới gọi rằng đáng mặt làm con;
Nước non dầu có hao mòn,
Trời còn, Chơn Lý vẫn còn tự nhiên.
Ngày nay con được hữu duyên,
Nên Thầy mở rộng “Khiếu Huyền” cho con. (262)
Ðiểm Linh Quang thường còn chẳng mất,
Muốn thành Tiên thành Phật phải “Tin”;
Quỉ ma yêu quái cũng mình,
Có lòng dục vọng khó nhìn “Chơn Thân”.
Con ngươi đen trắng chưa phân.
Mà mong điểm đạo truyền thần cho ai? (263)
Đàn tại Sa Đéc (8-9 Nov 1933)
(Tường Khánh chấp bút).
Ngọc đình sắc tứ luật điều qui,
Hoàng lịnh sa thừa kẻ tự khi,
Đại kiếp đại thành kỳ tám chục,
Đế ân rộng mở cảnh Vô Vi.
Các con chuộng Cao Ðài danh hiệu,
Mà không lo thấu hiểu Ðạo mầu;
Ngàn khuyên muôn dạy bấy lâu,
Lòng con bôi lọ một câu chưa rành.
Nói năng dường saỉ niệm kinh,
Gạn lòng lại thử ngọn nhành u ơ. (264)
Thầy thấy trẻ bơ vơ rất hổ,
Hổ nỗi con chưa rõ Ðạo Cha;
Ðạo Cha chánh trực vô tà,
Lời Cha đả dạy thiết tha từ nào.
Con mê giấc mộng ảo bào,
Lãng lơ Ðạo cả, ngọt ngào mồi ngon. (265)
Ðứa mảng tính dại khôn khôn dại,
Ðứa say mê ân ái ái ân;
Ðành quên Ðạo cả tinh thần,
Ðành vùi cát bụi Chơn Thân của mình.
Dầu cho hay biết tin lành,
Biết rồi cũng phủi cứ dành ý riêng. (266)
Tu nghe đọc Mười Khuyên lổ miệng,
Tu nghe cầu Ngũ Nguyện đầu môi;
Tu vầy Thầy gẫm than ôi !
Tu vầy sao thoát luân hồi đó con.
Tu vầy danh giá đâu còn,
Tu vầy Ðạo Cả ai tôn ai vì. (267)
Tu phải biết Tam Kỳ mở Ðạo,
Vì các con ngơ ngáo thiện duyên;
Mê man giấc mộng nhãn tiền,
Luân trầm khổ hải liên miên chẳng rời.
Khoe mình cậy thế gạt người,
Nghiệp chướng rối đời, trời thảm đất than. (268)
Sao chẳng xét oan oan tội dữ,
Sao không lo trung thứ làm đầu;
Trái oan, oan trái cơ cầu,
Trả vay, vay trả mảy thu chẳng lầm.
Xưa nay những đứa cơ thâm,
Thiên điều báo ứng khỉnh khầm đâu sai. (269)
Thầy thương xót muôn loài sanh chúng,
Thường khuyên rằng một rún một nhao;
Trách con đành dạ lãng xao,
Trách con chẳng kể đồng bào là chi.
Trách con mảng tánh Tham Si,
Trách con đồng, kẽm, thau, chì chẳng phân. (270)
Loạn phép nước Thánh Thần đâu chứng,
Luật tự nhiên cảm ứng hẳn hòi;
Khuyên con thấy đứa trổ mòi,
Khá trừ chớ để hoá giòi trong xương.
Ðạo Thầy chánh chánh đường đường,
Ðạo dạy can thường, luân lý, nghĩa nhơn. (271)
Ðạo chỉ rõ Thiên Chơn thanh tịnh,
Ðạo dạy rành Bổn Tánh linh thông;
Ðạo nguyên vốn thiệt hư không,
Ðạo Lý nghiệm cùng cách vật trí tri.
Ðạo Tâm đả gọi duy vi,
Ðạo ngăn cấm việc thị phi lăng loàn. (272)
Ðạo khuyên giữ bình an trật tự,
Ðạo nào cho chống cự Mạng Trời;
Ðạo không dạy việc rối đời,
Ðạo dạy con người “dỉ hiếu vi tiên”.
Ðạo lo công quả mảng viên,
Ðạo gốc chí thiền bất lỵ tu du. (273)
Các con sẵn trượng phu Tâm Tánh,
Khá mau lo xa lánh mê đồ;
Trời Nghiêu cổ phúc hàm bô,
Ðạo duyên thiện niệm qui mô sẵn sàng.
Tức Tâm tức Phật một đàng,
Lập công tiêu nghiệt dưởng an tinh thần. (274)
Thấy nhiều trẻ siêng năng cầu Ðạo,
Tưởng Ðạo Thầy ở dạo núi non;
Hoặc là ở bãi ở hòn,
Bạ đâu tin đó nghe đồn cứ đi.
Chẳng cần cạn nghĩ kỹ suy,
Ðói ăn bánh vẽ, ích gì mà mơ. (275)
Có trẻ tưởng Ðạo thơ là chắc,
Cứ lần mò lượm lặt đơn kinh;
Chẳng lo phổ độ chúnh sinh,
Lo trông hổ giáng lo rình long thăng.
Khác nào bịnh liệt trở trăng,
Mà tra tánh dược, bịnh căn sao lành. (276)
Cũng hiếm trẻ lập thành sáo ngữ,
Dày công phu nuốc chữ tam sao;
Khen cho hạnh khổ công lao,
Mà rồi công quả lạc vào bàn môn.
Dầu cho tiếng nổi như cồn,
Khác nào bông giấy điểm son ích gì. (277)
Chỉ cho trẻ đường đi phổ độ,
Ấy là đường cứu khổ tiêu tai;
Ðừng cho sanh chúng bi ai,
Ðừng cho sanh chúng vướng chài tứ phi.
Rèn lòng cẩn thận trí tri,
Một lòng son sắt qui y theo Thầy. (278)
Thầy thường dạy đừng bày chuyện lạ,
Thầy thường răn đừng tá danh Thầy;
Thầy thương trẻ dại thơ ngây,
Thầy dìu dắt trẻ đường ngay công bằng.
Thầy đâu dạy việc lố lăng,
Thầy đâu dạy vỏ, dạy văn, dạy phù. (279)
Thầy dạy trẻ việc Tu phải xét,
Thầy dạy con phân biệt chánh tà;
Thầy đâu dạy việc tinh ma,
Thầy đâu dạy việc bất hòa dưới trên.
Thầy khuyên việc phải việc nên,
Thầy đâu dạy trẻ học tên phong thần. (280)
Các con ráng cân phân cho kỹ,
Con phải tìm Ðạo lý mà theo;
Ðừng mê những việc hiểm nghèo,
Ðừng nghe những tiếng trớ trêu phỉnh phờ.
Trăng trong mây phủ trăng lờ,
Con phải biết bờ biết bến mới hay. (281)
Ðạo Thầy dạy càng ngày càng tới,
Bởi các con chưa mới lấy mình;
Lời Thầy đã dạy đinh ninh,
Con tua tam tỉnh, hớ hinh đặng nào.
Con mong mỏi đặng Ðạo cao,
Chánh Tâm thành ý, chớ sao lãng lòng. (282)
Ráng chí công dứt vòng dục vọng,
Ðừng để cho Tâm động mà hư;
Kìa xem những bực Như Như,
Thần, Tiên, Phật, Thánh trước trừ lục căn.
Nhứt Thành cho đặng trang bằng,
Tự nhiên con gặp Ngươn Thân Tánh Trời. (283)
Con phải nhớ những lời dạy trước,
Kiếp Ngũ Lôi kế dượt gần đây;
Con nào tỉnh tỉnh say say,
Kiếp đoạ căn đày, đừng trách móc ai.
Con nào mượn tiếng Cao Ðài,
Phải biết rằng Trời giữ luật vô tư. (284)
Còn những đứa “nhàn cư bất thiện”,
Sao quên câu “như kiến phế cang”;
Ðã sanh ra cõi trần hoàn,
An thường thủ phận đừng toan hại đời.
Công dư nên giúp cho Trời,
Bằng không khuyên chớ dối người gạt ta. (285)
Một đời vốn có ba tất thở,
Ðừng để cho vỡ lỡ công trình;
Phải lo giúp sức Hiếu Sinh,
Phải lo cho đặng công thành danh thơm.
Phải lo xuôi nước thuận bườm,
Phải cho biết nghĩa áo cơm cội nguồn. (286)
Dùng gươm Huệ dứt luồng tai ách,
Mượn cam lồ rửa sạch trái oan;
Dắt nhau đến bến Từ Hàng,
Trương bườm Chơn Lý tìm đàng Bổn Lai.
Nhứt Tâm đừng lựa nay mai,
Nhứt Tâm mới gặp Cao Ðài cảnh xưa. (287)
Thấy các trẻ mắc lừa mưu quỉ,
Quen giọng đờn quên nghĩ Chơn Thân;
Vầy đoàn hiệp lủ lăng xăng;
Ðồ danh trục lợi Nghi, Tần, hoành, tung.
Reo hò đạo đức ung dung,
Mà lòng nham hiểm nọc ong miệng lằng. (288)
Con phải giữ tấm thân là trọng,
Luật Cao Xanh lộng lộng chẳng sai;
Con nào vào cửa Cao Ðài,
Thì đừng lòng một dạ hai bán Trời.
Con nào muốn đặng nên người,
Thì phải giữ lời Thầy dạy mới nên. (289)
Thầy chực sẵn chiếc thuyền phổ độ,
Ðưa Người qua biển khổ sông mê;
Còn ai nặng kiếp chẳng về,
Thì tay thuyền chủ khó bề đợi trong.
Con nào muốn sạch bụi hồng,
Thì phải ghi lòng tin cậy có Cha. (290)
Muốn cậy Cha phải ra công khó,
Phải Chí Thành lo độ kẻ mê;
Sao cho lớn nhỏ đề huề,
Sao cho trên dưới đừng nghe chuyện xằng.
Sao cho ngay thật ở ăn,
Sao cho tánh hạnh mười phân vẹn mười. (291)
Ðừng để tiếng trò cười Chơn Lý,
Ðừng cho ai khinh bỉ Tam Kỳ;
Con ôi ! Tạo Hoá tiểu nhi,
Ai tuân thì được, ai khi thì lầm.
Ai mà có chút gỉa tâm,
Mượn danh Chơn Lý mưu thần phải vương. (292)
Ðuốc Chơn Lý Trung Ương sáng tỏ,
Người đi đường phải ngó mà theo;
Thuyền đi vững lái êm lèo,
Bộ đi tránh khỏi hiểm nghèo gai chông.
Ấy là Ðuốc Chủ Nhơn Ông,
Cả mưa chẳng tối, to giông không lờ. (293)
Ngọc bàn lố lố trọn trong tay,
Hoàng lịnh tùy thời cuộc trở day,
Đại giác đại thừa chờ đại mạng,
Đế ân tràng bủa khắp Đông Tây.
Các con chớ bơ thờ mối Ðạo,
Ðạo càng cao quỉ ngạo càng nhiều;
Thích Ca vững chí chẳng xiêu,
Gia Tô chắc dạ trăm chìu chẳng lay.
Quỉ ma mưu kế khó tày,
Ai biết có Thầy ma quỉ phải dang. (294)
Các con dốc tìm đàng Chơn Lý,
Trước lo trừ tà mị nơi Tâm;
Ðừng cho nứt mục trổ mầm,
Ðừng cho tược nảy, rễ đâm sanh chồi.
Có đâu đã chẳng phân bồi,
Lại còn để ý đặng soi đặng ngờ. (295)
Ngăn lụt nước, đê bờ phải chắc,
Dựng Ðạo nhà lục tặc phải trừ;
Ðừng cho thiệt thiệt hư hư,
Ðừng cho đứa dốt làm sư nhà thiền.
Phải cho khắn khít Mười Khuyên,
Phải cho bền vững năm giềng trước sau. (296)
Ðuốc Chơn Lý là đầu muôn việc,
Chơn Lý rành thì diệt tà tâm;
Con ôi Chơn Lý cao thâm,
Muốn tường Chơn lý phải tầm đầu giây.
Cung tường cao vọi ngút mây,
Phải dò mực thước tay Thầy bởi đâu. (297)
Mắt chưa thấy một bầu thế giái,
Cả miệng hô hoán cải Kiền Khôn;
Biết sao là méo là tròn,
Biết sao là xác là hồn nói nghe !
Khuyên con trăm việc dặc dè,
Thị phi việc thế chớ hề để tay. (298)
Muốn hành Ðạo đừng sai chữ Ðức,
Hành Ðạo cho thiệt mực một đường;
Noi trang Tứ Thánh làm gương,
Noi gương Ðạo Ðức chử “Thương” làm đầu.
Thương thì nhẫn nhịn nhường nhau,
Nhường nhau mới đặng trước sau thuận hòa. (299)
Tứ Ðại Thánh bốn nhà hiệp Một,
Mới đủ làm rường cột Cao Ðài;
Ðạo, Nhơn, Tâm vẫn có hai,
Hóa Nhơn thành Ðạo dồi mài cho Tinh.
Ðã Tinh lại Nhứt mới xinh,
Nhứt rồi cần phải giữ gìn Khuyết Trung. (300)
Mười sáu chữ giữ lòng bền chặc,
Vẳng đêm ngày như nhắc bên tai;
Chấp trung đừng để sót sai,
Thầy đà dạy hủy dạy hoài nhớ chăng?
Tu hành vốn tại số phần,
Con coi kiếp trước mấy lần có duyên. (301)
Con dẫu muốn thành Tiên thành Phật,
Phật ở lòng chơn thật mà ra;
Có duyên đặng kiếp người ta,
Nghe lời dạy dỗ bỏ qua thiệt mình.
Sao cho trọn kiếp phù sinh,
Học qui củ chánh đừng kinh kệ quàng. (302)
Con những mảng đa mang chử vọng,
Quên Ðạo Người lại trọng Thần Tiên;
Ðạo Người Hiếu Ðể vi Tiên,
Quên phần Hiếu Ðể Thần Tiên ai màng.
Suốt thông Hiếu Ðể mới ngoan,
Lầm thông Hiếu Để hại càng xiết bao. (303)
Con thử nghĩ Ðạo cao là mấy,
Ðạo đâu dùng việc quấy phỉnh con;
Ðạo lo sau trước vuôn tròn,
Ðạo đâu dạy việc chia môn rẽ vời.
Ðạo không cả tiếng lấp lời,
Ðạo dạy biết Trời, biết Phật, biết Thân. (304)
Con chớ học nghĩa nhơn ngoài miệng,
Con ráng xem kinh truyện Thánh Hiền;
Làm con không thảo ai khen,
Làm em không thuận như kèn không giăm.
Ðồng bào cốt nhục tình thâm,
Qua phần bầu bạn chớ cầm rằng chơi. (305)
Giềng bầu bạn nghiệm lời hơn thiệt,
Kẻo làm tay xảo quyệt tinh ma;
Con ôi ! Ích hữu có ba,
Còn phần tổn hữu cũng là dư trăm.
Bạn nhơn bạn nghĩa khó tầm,
Giống bạn âm thầm khuyên dứt nó đi. (306)
Thầy hết dạ Từ Bi với trẻ,
Sao các con chẳng nể lời Thầy;
Trớ trêu khen trẻ gan thay,
Chẳng kiêng núi vững, đất dầy, Trời cao.
Huỳnh lương là giấc chiêm bao,
Ráng học phong trào Ấp Tổn Thuấn Nghiêu. (307)
Sống tại thế chẳng ngoài bảy chục,
Lại còn vương hoạ phúc phi thường;
Thêm phần tật bịnh tai ương,
Sao không tích đức, bồi đường thiện căn.
Lo chi những việc nhố nhăng,
Lo chi những việc ăn năn muộn rồi. (308)
Cung Bạch Ngọc vô hồi cảnh đẹp,
Khuyên các con khá dẹp phàm tâm;
Trời trong, gió tạnh, trăng rầm,
Xuôi chèo bát nhã, khải cầm Chơn Như.
Tụng câu tử hiếu, phụ từ,
Ngâm bài âm chất đặng trừ thói mê. (309)
Lời chánh đáng ai hề thấy đếm,
Tiếng phỉnh phờ ngày đệm đêm rù;
Con ôi thân thể phát phu,
Muốn tu thì phải thiệt tu mới thành.
Sao cho Tiên tịch để danh,
Tu đừng bày việc tranh dành đảng phe. (310)
Tu phải biết Trời che Ðất chở,
Tu đừng cầu sóng vỡ nước tràn;
Tu đừng bàn việc cơ hàn,
Tu đừng bày việc hoá càng tiểu nhi.
Tu đừng bàn việc tiên tri,
Tu thì cứ giữ điều qui chớ rời. (311)
Tu phải biết cơ Trời tối trọng,
Tu phải trừ dục vọng tham sân;
Con ôi ! Ai phước có phần,
Ai tu nấy đặng, ai cần nấy thân.
Ớ con khắp cả dưới trần,
Muôn kiếp mấy lần mới gặp hội ni ? (312)
Ðừng ai tưởng Hoá Nhi bé bé,
Cầm Hoá Nhi dường thể trò chơi;
Nếu coi miệng sữa còn hôi,
Luận việc lở bồi, điền, hải, tang thương.
Khuyên con mau tỉnh mộng trường,
Ðừng học theo phường sóng gió nói ăn. (313)
Lời Thầy dạy phải chăng rành rạnh,
Nhắn các con Cao Lảnh ráng nghe;
Khuyên con cẩn thận kiên dè,
Ðừng lòng xu mị lập bè dối dân.
Tu cho biết Thánh biết Thần,
Biết Trời biết Phật mới rằng là Tu. (314)
Thấy các trẻ công phu khó nhọc,
Mà thiếu công năm lọc bảy lừa;
Chẳng coi cơn nắng mòi mưa,
Có ai đi chợ đợi trưa bao giờ.
Mạnh chèo còn kịp đến bờ,
Nếu chờ đúng ngọ trể giờ chợ tan. (315)
Chớ học việc dinh hoàng thế giới,
Ráng châm lo nội bãi Lạc Hồng;
Ðất hoang ruộng trống mênh mong,
Chung cùng: kẻ cuả, người công cho thành.
Ðạo là thanh tịnh tịnh thanh,
Quan Âm giữ mực Tịnh Bình Lưu Ly. (316)
Muốn giống tốt vựa y kỹ lưỡng,
Giống quá mùa vựa bướng không nên;
Ðạo là Hột Giống Tự Nhiên,
Hoá sanh Trời Ðất mối giềng Người Ta.
Ðạo Trời nào ở đâu xa,
Hể diệt lòng tà thì rõ Ðạo Chơn. (317)
Tôi nhơn nghĩa, nghĩa nhơn phải xét,
Nghĩa nhơn cho phân biệt chánh tà;
Hãy xem gương trước Thích Ca,
Ra tu cũng phải đôi ba lần lầm.
Biết lầm liền biết hồi tâm,
Hồi tâm mới đặng quỷ khâm thần nhường. (318)
Ai cũng nói rằng thương nòi giống,
Thương giống nòi phải trọng dân sanh;
Ai nuôi ai dạy trưởng thành,
Lớn khôn lại muốn tung hoành ngỗ ngang.
Dụm bè, hiệp lũ, vầy đoàn,
Chẳng kể thiên đàng điạ ngục là chi. (319)
Tu phải tránh thị phi huyễn hoặc,
Tu phải bồi Âm Chất Bổn Nguyên;
Ðừng lo danh hảo nhãn tiền,
Lo bề đức hạnh ròng chuyên Ðạo Trời.
Thầy đà ráo lưỡi cạn lời,
Chớ chác luân hồi kiếp kiếp chẳng buông. (320)
Tiếng làm lành nói tuôn cửa miệng,
Hỏi việc lành một chuyện cũng không;
Cất chùa đúc Phật bao đồng,
Chay mùa cúng lễ, gọi ngông rằng lành.
Con ôi ! Thầy chẳng vụ danh,
Vụ con sửa lỗi đừng sanh sự xằng. (321)
Trời lộng lộng chẳng rằng chẳng nói,
Ðố sao cho qua khỏi mắt Trời;
Khuyên con ráng mở con ngươi,
Mộng cườm ráng lể, ráng khươi cho rồi.
Khoan lo đến mắt của người,
Quáng gà cận thị, chớ cười mà chi. (322)
Lời dặn trước ráng ghi tất dạ,
Long, Sa, Kiên, Thầy đã dạy rành;
Sa giang Thầy đã gọi Khanh,
Thời kỳ trách nhậm Thầy đành cậy con.
Khuyên con bổn phận lo tròn,
Ðừng lòng thối thát, tiếng đồn sử xanh. (323)
Con mãn trọng tơ mành thân thể,
Rằng ốm đau nặng nhẹ võ vàng;
Con ôi ! Cái xú bì nang,
Phải lo trả kiếp còn màng nó chi.
Khải sơ lòng dạ trọn nghì,
Nên mới kịp kỳ dự cuộc Liên Hoa. (324)
Cường con khá tâm hòa ý hiệp,
Việc cũ xưa luôn dịp Thầy phân;
Con ruồi đổ nặng đòn cân,
Hãy noi Minh Ðức tự tân lấy mình.
Trung Dung gốc bởi Chí Thành,
Ðạo Thầy gốc bởi hoà bình thế gian. (325)
Thầy biết Lũy rõ đàng Chơn Lý,
Cũng vì đau nên tỵ nên hềm;
Tỵ hềm chích mích anh em,
Anh em chích mích Thầy thêm đau lòng.
Lũy con ráng trọng thủy chung,
Huynh đệ trùng phùng tiếng ngợi bốn phương. (326)
Kinh nhứt sự thì trường nhứt trí,
Rõ kinh quyền tự tỷ tỷ tha,
Giềng năm mà lại có ba,
Năm ba khắn khít sao qua cơ Trời.
Cơ Trời lộng lộng vơi vơi,
Ớ con ! Quẻ đoán đủ lời khỏi Trang. (327)
Rày ngọn bút Thiên Ðàn day cán,
Ðộ gần xa cho hẳn Ðạo Trời;
Sa giang thấy trẻ thiệt thòi,
Ðịnh, Kiên, lui tới đấp bồi chí công.
Thương thay các trẻ có lòng,
Cao Thiên sẽ chuyển Nhơn Phùng hiệp đây. (328)
Tháng mười một đến ngày mùng chín,
Cuộc Tu Mi Thầy định Trung Ương;
Các con nam nữ tựu trường,
Ðặng Thầy chọn mặt bảng vàng xướng tên.
Nhắn con Trần, Mạnh chớ quên,
Vựa, Tôi, Ngọ, Lũy một thuyền mới xinh. (329)
Khuyên các trẻ lòng gìn Trung Thứ,
Ðừng cưu mang hai chữ thù hềm;
Sao cho Ðạo rộng mở thêm,
Sao cho Ðạo được dưới êm trên hoà.
Như vầy con thế mặt Cha,
Như vầy con đặng dựa Toà Ngọc Kinh. (330)
Ngọc Sắc Thầy treo giũa Ngọc Đình,
Hoàng Ngôn thưởng phạt rất đinh ninh,
Đại ân Tứ Thánh đồng dâng biểu,
Đế bản nêu rành Bạch Ngọc Kinh.
Bạch Ngọc Kinh Ðiển Linh Thầy rọi,
Hiệp Thiên Ðài ánh rọi Thần phang;
Trung Thiên Ðiển giáng Thánh Ðàn,
Kiền Khôn thế giái ba ngàn bao la;
Tiêu thiều nhạc trỗi thi Ca,
Bắc Nam xướng hoạ một nhà chung vui.
Chung vui rộng mở cuộc ngày nay,
Chơn Lý bay xa hớn hở mày,
Ước được năm châu đồng một dạ,
Mới là xinh đẹp tiếng con Thầy. (331)
Tiếng con Thầy cỏ cây nở mặt,
Vọi Kiên Giang cao ngất Ðịnh Tường;
Khuôn linh gầy dựng Trung Ương,
Phơi gan sắc đá dọn đường gai chông.
Rọi gương Chơn Lý trùng Phùng,
Muốn sao trọn được Ðại Ðồng đệ huynh.
Ðệ huynh tuy thấy khác màu da,
Thầy đã tường phân vốn ruột rà,
Ví dẫu đờn Nam mà nhiệp Bắc,
Nhưng tuồng khéo sắp được bình hoà. (332)
Ðưọc bình hoà gần xa tương ứng,
Mũi núi xanh đúc vững một tòa;
Trời cao ai gọi rằng xa,
Bá, Tòng, đôi ngọn đông qua dờn dờn.
Riu đưa đầm ấm gió Nhơn,
Ðâu nao tuyết bủa, chi sờn gió xao.
Gió xao, tuyết bủa, núi càng xinh,
Tú khí nồng nàn Ðạo khí sinh,
Trăm cội xơ rơ, tòng bá vững,
Ðón ngăn gió bụi tấm phong bình. (333)
Tấm phong bình thinh thinh sẵn đúc,
Khí âm dương nhặc thúc ven tai;
Bóng ai thấp thoảng hiên ngoài,
Nhắc câu Tam Tỉnh gọi bài Mười Khuyên.
Chí thành nhẫn nại tâm Kiên,
Báu Trời ung đúc thiêng liêng sẵn người.
Sẵn người ứng chực báu Trời dành,
Tánh, Mạng, song tu chớ cãi canh,
Gương trước mắt soi hình với bóng,
Một điều sai trại hại trăm lành. (334)
Hại trăm lành tại canh tai cãi,
Báu Tam Kỳ vầy dại vậy khôn;
Trôn kim nếu chỉ chẳng lòn,
Mà mong sửa méo vá tròn sao xong.
Nửa cân, tám lượng đèo bồng,
Giống giây thưởng phạt hoá công ráng ngừa.
Ráng ngừa mắt Thánh với gương Thần,
Tạo Hoá bao giờ sái mực cân,
Trọn khéo, trọn lành ai có chỉ,
Chi bằng phải phải lại phân phân. (335)
Phải phân phân đừng cần dục vọng.
Sửa cơ Trời lại lộng phàm tâm;
Cơ Trời thính lại vô âm,
Lộng cơ Trời lại cơ cầm rằng ngoan.
Dứt lòng ích kỹ dưỡng an,
Tịnh Tâm mới được trông hoàn Ngôi Xưa.
Ngôi Xưa đâu để nhiểm hồng trần,
Gió cuốn mưa lồng mới rộn xăng,
Cay, đắng, chác, chua, thân nghiệp tạo,
Thanh nhàn mau dục lửa tham sân. (336)
Lửa tham sân tưng bừng mây cuốn,
Khẩu nghiệp làm hại uổng công phu;
Ảo bào mộng ãnh phù du,
Trần duyên nhân quả bao mù thế gian.
Ðã không thức tỉnh Linh Quang,
Vui say nghiệp chướng mê mang luân hồi.
Luân hồi quả báo Phật thường răn,
Con Phật mà mang hết nói rằng,
Phổ độ đã khuyên đừng dối thế,
Mắt Thần như chớp lại như giăng. (337)
Chớp lại giăng chẳng rằng chẳng nói,
Mà đố ai giấu khỏi phân hào;
Công bình ngọn bút Thiên Tào,
Ngay gian chơn ngụy giấu sao qua Trời.
Dần, Thân, Tỵ, Hợi tơi bời,
Bán Thiên mẹo dậu khuấy đời trẻ con.
Trẻ con chưa thạo các tuồng chơi,
Hụp, lặn nào hay chọc khuấy Trời,
Ngọn gió vừa rao xanh nám mặt,
Dị đoan vía dại một trò cười. (338)
Một trò cười tiếng đời người nhắc,
Ðạo đâu làm mê hoặc chúng sanh;
Ðạo là Bác Ái Công Bình,
Ðạo là phổ độ ba nghìn thế gian.
Chưa Đông tìm cách ngự hàn,
Chớ chờ Đông đến rồi than rét già.
Rét già mới rỏ luật công bình,
Hồi tưởng người nào mãi tuổi xanh,
Tích cốc phòng cơ toan sớm liệu,
Khuyên đời trân trọng cái danh thinh. (339)
Cái danh thinh giữ gìn cho lắm,
Lời Thầy răn như tẩm cam lồ;
Ðạo là Thanh, Tịnh, Hư, Vô,
Âm, Dương, phản phúc, Hà Ðồ, Lạc Thơ.
Chớ tin bản lạ mơ mơ,
Ngăn đường Chơn Lý dựng cờ văn minh.
Văn minh gốc chuộng tại tinh thần,
Linh Tánh Thầy ban đứa mỗi cân,
Chọn đất, chọn người, tùy thứ giống,
Chớ rằng đây hạ đó rằng xuân. (340)
Ðó rằng xuân, đây rằng đông chí,
Ðông chí thì Dương khí nhứt sanh;
Ðã ban cho sẵn Tánh lành,
Bỏ lành theo dữ, tại mình hỏi ai.
Chẳng tuân chiếu chỉ Thiên Ðài,
Ðể cười nhị thụ hoá sai chơn truyền.
Chơn truyền thọ, thọ, tại duy, duy,
Thánh Ý đừng lầm nẻo tứ phi,
Chơn Lý rẽ chia vì dục vọng,
Hồi tâm mau dứt cuộc tham si. (341)
Cuộc tham si dứt đi mới được,
Khuyên ai đừng dụng chước Thiên Cơ;
Trung thu chớ gọi trăng lờ,
Trước sau tại một nước cờ hư nên.
Tập roi mà thiệu lại quên,
Quan Âm, Long Thế, lạc quyền Trung Ương.
Trung Ương Chơn Lý dựng đầu tay,
Thức tỉnh người mê giấc mộng say,
Lằn đục tơ tầm no miệng kiến,
Già lời quên nghĩ trả là vay. (342)
Trả là vay gác tay nghĩ tột,
Cũng một nhành trái ngọt trái chua;
Ðạo không dạy việc tranh đua,
Ðạo dạy giúp vùa năm giống một Cha.
Khôn lanh sao bẳng thiệt thà,
Chung hiệp một nhà cứu sống thế gian.
Thế gian cũng một của nhà chung,
Ai nỡ chia ra đứa một vùng,
Ðã gọi đứa khôn thầy đứa dại,
Vụng mà gọi khéo nói sao cùng. (343)
Nói sao cùng không không, sắc sắc,
Có chánh Tâm mới dứt lòng tà;
Phật tuy số gọi hằng hà,
Trần gian yêu quái biết là mấy môn.
Ðành vùi cát bụi phấn son,
Ðảo điên trật tự, hao mòn thân danh.
Thân danh quí báu giữ cho tròn,
Có cái danh này mới có tên,
Có tuổi, có tên, danh phải có,
Danh là rường cột, Ðạo là nền. (344)
Ðạo là nền đừng quên mối Ðạo,
Có Ðạo rồi mới tạo thế gian;
Tin chi cái Ðạo mơ màng,
Học chuyện tuần hoàn sái Ðạo dễ yên.
Ðạo khuyên chánh trực tự nhiên,
Không thông hiểu Ðạo, chưa duyên hiện thời.
Hiện thời mối Ðạo tợ tơ vò,
Xâu xé nhau vì sự ấm no,
Quen nghiệp bán Trời đành phá Ðạo,
Ðạo nào có dạy việc mồ hồ. (345)
Việc mồ hồ nhăn nhô chán ngán,
Kế tinh ma mù quán tối tâm;
Cơ thâm thì họa cũng thâm,
Cháy mày vì lửa bắt ngằm dầu trong.
Tràng lây nhành liễu cội tòng,
Phí công vun quén, nhọc lòng sâm soi.
Sâm soi nào phải một đôi năm,
Họa phước vô môn tiếng chẳng lầm,
Bẻ nạn chống Trời, ngao tát biển,
Khuyên người hỏi lại cái lương tâm. (346)
Cái Lương Tâm phải cầm cho vững,
Mới thiệt rằng là đứng trượng phu;
Hãy xem cái bóng bạch cu,
Nào là xe ngựa lọng dù mà chi ?
Biết rồi thì chớ hoài nghi,
Tiền đồ làm trọng, thị phi chớ lầm.
Chớ lầm lạc lối, uổng công trình,
Ðường cả đồng đi dẫn chúng sanh,
Ái, ố, tham, si, tình thế tục,
Luân hồi ai có thế thay mình. (347)
Thế thay mình như hình với bóng,
Thì phải càng Ðức trọng Ðạo cao;
Dứt xong cái sóng phong trào,
Tín thành, tín ngưỡng, chớ xao lãng hoài.
Một đường thẳng bước Liên Ðài,
Áo xiêm rực vẻ, Bồng Lai chực chầu.
Chực chầu Tánh, Mạng chữ Thiên Ðình,
Phán đoán loài người phẩm trọng khinh,
Lưỡi sẵn có răng cần cẩn thận,
Khuyên ai chớ vội tánh phê bình. (348)
Tánh phê bình vô minh xúi dục,
Bởi nơi ngòi tam độc mà ra;
Ðất bằng bỗng nổi phong ba,
Tại đâu chia rẽ Người Ta, Ta Người.
Ráng lo phân giảng Lý Trời,
Ðừng lòng ích kỷ bị lời sàm ngôn.
Sàm ngôn ru rỉ dỉ bên tai,
Thảnh thót đờn ca giọng đủ bài,
Thương bạn ráng lo khuyên dứt bạn,
Chánh kim nam chỉ chẳng hề sai. (349)
Chẳng hề sai lòng hoài có một,
Mới gọi rằng rường cột Tam Kỳ,
Cớ sao tiếng dặn chẳng ghi ?
Trung Ương là chỗ Thầy qui Ðạo tràng,
Gióng cần Sông vị ngỡ ngàn,
Lưỡi thêm uốn ngạnh móc ràng Chỉ Nam.
Chỉ Nam chỉ rõ lượng Từ Bi,
Chỉ nghiệp nhơn sanh nặng thể chi,
Gươm Huệ ướm trao cho rõ mặt,
Giúp cơn ngư dước buỗi diên phi. (350)
Buổi diên phi Hóa Nhi cố cập,
Ðường Lý Chơn bồi đấp đã lâu,
Khen cho chung thủy một màu,
Càng nhìn Thánh Huấn càng sâu lại càng.
Nghiệm tường mới rõ tâm cang,
Muốn thử đá vàng nổi lửa thét coi.
Thét coi thiệt giả kẻo chưa tường,
Ma quỉ hêu đòi gẩm khá thương,
Tiên Phật ngao du đâu có được,
Cú kêu dữ miệng, có ai nhường. (351)
Có ai nhường bước đường tấn hoá,
Rõ cơ Trời mau khá gia tâm,
Giăng tay rước bạn tri âm,
Cao sơn. Lưu thủy, khúc cầm hửu thanh,
Vày vui đủ bạn công khanh,
Tứ dân, tứ thú, dựng thành Ðạo cao.
Ðạo cao cùng chẳng tại nơi mình,
Khuyên trẻ trau dồi cái Tánh Linh,
Cứu vớt chúng sanh cơn sóng khỏa,
Vững thuyền tế độ buổi nghiêng chinh. (352)
Buổi nghiêng chinh lòng gìn Bác Ái,
Tìm Lý Chơn chẳng nại công lao,
Cứu nguy thành lửa, cá ao,
Trước sao, sau vậy chớ xao cang trường,
Công dày, sức vững, chí cường,
Ðừng chia phe phái, cứ đường Trung Dung.
Trung Dung Ðạo Lý giữ đừng sai,
Bền bỉ từ xưa hỏi mấy ai ?
Kính, Cẩn, Trang, Nghiêm dè dặc lắm,
Nhứt Tâm, Nhứt Ðức, mới rằng trai. (353)
Mới rằng trai đủ tài tế độ,
Ngấm râu mày chớ hổ phận trai,
Gìn lòng chớ chút lầm sai,
Dứt lòng kiêu, lẩn, được dài huệ ơn.
Sao cho trong sạch bổn ngươn,
Nhớ lời dạy bảo thiệt hơn phân trần.
Phân trần với trẻ đã đòi phen,
Cái tánh kiêu căn rất đỗi hèn,
Ma chướng ráng chừa đừng bịnh rịnh,
Mới mong gặp gỡ cựu nhơn duyên. (354)
Cựu nhơn duyên sanh tiền khắn khít,
Lòng chí thành chẳng mích chẳng phai,
Mối lằng miệng thế biếm bài,
Ðá vàng một dạ, mặc ai sẻ sừng,
Công phu, hiệu quả, minh trưng,
Ðài linh vuông tấc ngàn từng suốt thông.
Suốt thông Ðạo cả bởi Trung Dung,
Bền bỉ đừng cho uổng phí công,
Sẵn giống, sẵn phân, người cũng sẵn,
Thiêng liêng cội cả ráng vun trồng. (355)
Ráng vun trồng cho sung cội đước,
Hãy nhớ câu hữu phước, hữu phần,
Dứt xong được tánh phàm trần,
Tách xa Bắc Ngụy, chẳng gần Ðông Ngô,
Vững vàng được bước tiền đồ,
Ðừng tin son vẻ, phấn tô tượng màu.
Tượng màu Bác Ái, dạng Từ Bi,
Phỉnh kẻ mờ mê lập cánh vi,
Khuyên trẻ biện phân đường mối chánh,
Vàng mười chớ để lộn đồng xuy. (356)
Lộn đồng xuy để nghi sanh chúng,
Ðừng cho ai rẽ rún Tam Kỳ,
Biện phân cho rõ thau chì,
Phải tường thị thị phi phi một vài,
Trung Ương lui tới anh tài,
Giữ một tâm hoài hiền đãi sĩ chiêu.
Chiêu hiền đãi sĩ trọng anh hào,
Người một ta mười Ðạo mới cao,
Khổ hạnh là đầu muôn cội cả,
Muốn nên danh vọng dạ dừng nao. (357)
Dạ đừng nao mới cao phẩm hạnh,
Chữ lời Thầy nhẫn nhịn làm đầu,
Một lời nhịn, giá mười câu,
Xót thương cho kẻ cơ cầu hiểm nham.
Tránh phường triêu tứ mộ tam,
Ðuôi ong nọc đỉa, máu tham chẳng cùng.
Chẳng cùng xét được dạ con buôn,
Phủi sạch ngoài tai chớ để buồn,
Ðạo vốn Không Không, không sắc tướng,
Chúng sanh càng mỏng mảnh hơn chuồn. (358)
Mảnh hơn chuồn thêm luồn dông dội,
Ðộ sanh linh phải bội công phu,
Chí công vén ngút vẹt mù,
Chỉ đường Chơn Lý nẻo tu cho người.
Gỗ săng khéo cẩn thêm tươi,
Bân bân văn chất, con người mới nên.
Mới nên đáng mặt đứa con Thầy,
Lúc thúc nuôi mình hổ cỏ cây,
Chơn Lý bủa tràng nưng Vỏ Trụ,
Ðừng cho thầm thẹn tiếng râu mày. (359)
Tiếng râu mày đổi thay thời thế,
Chí hùng anh lại để trò cười,
Màng đời đã rộng con ngươi,
Mê say khói mộng báu Trời đem thiêu,
Thần Tiên khoái lạc tiêu diêu,
Lấp tai khổ ách, sẵn liều trường sanh.
Trường sanh muốn được lắm công phu,
Ðộ kẻ phàm cho dứt cái ngu,
Ngu sắc, ngu tài, ngu trật tự,
Ngu danh, ngu lợi, mảng mê mù. (360)
Mảng mê mù vó cu lạc bước,
Nay nhầm đường ngư dước diên phi,
Dò lần hai chữ Học Nhi,
Học Nhi thì tập giải thi cung Thiềm.
Thông điều vãng cổ lai kim,
Nhớ câu Ðạo vốn phẳng yên như tờ.
Như tờ giấy trải chẳng hề xao,
Dạy bạn đừng ham cách lộn nhào,
Bình đẳng ấy là điều Trật Tự,
Quên bề Trật Tự khó trèo cao. (361)
Khó trèo cao nổi trào ưu thắng,
Bởi Tiên ban đã sẵn tên đề,
Trần duyên nay đã não nề,
Tiên duyên tu tỉnh mựa hề cải canh,
Chung linh tú khí khắp nghìn,
Chớ cho uổng phí công trình tiền thân.
Tiền thân khổ hạnh có ngày nay,
Nay cũng dày công mới gặp Thầy,
Thẳng bước chớ cho ngừng nghỉ gót,
Mình nên bạn cũng được thơm lây. (362)
Ðược thơm lây cả bầy con dại,
Ðừng ai làm phá hoại danh Thầy,
Hiệp Thiên Luật cả Cao Ðài,
Ðừng ai khoe giỏi nói hay cãi Trời;
Các con Nam Nữ nơi nơi,
Hễ rằng biết Ðạo nghe lời mới nên. (363)
Mối Chơn Lý cậy Kiên gỡ rối,
Ðứa vọng tâm quá vội tự kiêu,
Mượn danh tuân luật Qui Ðiều,
Song lòng dối trá trăm chiều gớm ghê,
Thầm toan kết đảng kết phe,
Ma quỉ một bè vinh mặt rằng khôn. (364)
Tại các trẻ muốn chôn Tánh, Mạng,
Ắc phải vương tai nạn phi thường;
Thầy đâu có dạ chẳng thương,
Thương sao cho được tai ương nó gầy.
Thầy thương nên mới tỏ bày,
Khuyên con Nam Nữ từ rày phải tuân. (365)
Cửa Hiệp Thiên ngàn từng chớn chở,
Cửu Trùng Ðài khuyên chớ vọng đàm,
Xanh nào lấn được xanh chàm,
Muốn thông Ðại Ðạo Nhứt Tam phải rành.
Mồ hồ lăng liếu mối manh,
Mà mong thống nhứt Ngươn Hanh mối giềng. (366)
Phải nghiệm xét Hậu Tiên Thiên Vận,
Ðặng suy cùng vô tận vô biên,
Ðạo tìm những trẻ hữu duyên,
Ai vô duyên chớ xưng Tiên, gọi Thần.
Ðạo là phẳng lặng trang bằng,
Ðạo không thữ thách nhố nhăn cãi Trời. (367)
Khuyên các trẻ nghe lời Thầy dặn,
Ðừng để lòng cừu hận tham si,
Dứt giây ma níu, quỉ trì,
Tìm đường Chơn Lý mà qui cho rành.
Ðừng nghe kẻ cãi người canh,
Vui nghe một phút tội hành lao lung. (368)
Biết sao nói cho cùng với trẻ,
Bởi vọng tâm quên kể lời Thầy,
Ðạo tuy ở khắp Ðông Tây,
Mà Ngôi Ðộc Nhứt là Thầy đó con.
Thầy đâu có dạ Tự Tôn,
Song Ngôi Chí Bửu, Chí Tôn là THẦY. (369)
Ứa nước mắt khuyên bày con dại,
Có lỗi thì ráng cãi ráng chừa,
Thẳng giây mực nẻ đường cưa,
Ðau lòng tại gỗ sớ thưa thịt tỳ.
Nhớ ngày Kỷ Niệm Tu Mi,
Con nào tội ác khó qui vào trường. (370)
Lập Trung Ương Nghĩa phương dạy trẻ,
Nhắc các con tiên Lễ, hậu Văn,
Anh em khắn khích muôn phần,
Dưới trên hòa thuận, khuyên đừng trắng đen,
Nước trong nhờ có lóng phèn,
Người nên nhờ có bạn hiền sớm khuya. (371)
Diệu Nghiêm Cung
Trung Thiên Giáo Chủ
Mừng các con, mừng chư đệ tử,
Đức Chí Tôn có vời Cửu Cung Thánh Mẩu, Tứ Đại Thánh Nhơn và chư
Thiên Tôn đến xem các con hành lễ, có để lời khen Tứ Bữu vừa biết làm
phận sự. Người dạy Bổn Tôn đam lời của Người và của Đức Mẹ đặng
truyền dạy các con Người, khuyên các con phải tận tâm phổ độc chúng sanh trong lúc mù mê, chẳng biết Chơn Lý là gì, các con phải dìu dắc chúng nó, kẻo chúng nó bị tai bay họa gởi, mà phải hư thân danh.
Các con định thần nghe lời truyền dạy.
Cửa Chơn Lý khoá chìa vừa hợp,
Mở cho con vài lớp Ðạo tràng;
Dạy con dài thở vắn than,
Khuyên con nam nữ lưỡng ban học hành.
Dạy con phải trọng thân danh,
Khuyên con phải sợ tiếng lành đồn xa. (372)
Con muốn được Ðạo Cha rộng mở,
Con phải lo hâm hở tự tân;
Học hành tua phải ân cần,
Thượng hành hạ hiệu lần lần dắc nhau.
Khuyên con bền bỉ thân sau,
Ráng ngừa những miếng có đầu không đuôi. (373)
Con đã rõ luân hồi bài dạy,
Trước mê sa đường quấy mới hư;
Công lao Cha đã chẳng từ,
Ra tay vớt trẻ khư khư chẳng nài.
Lòng Cha, lòng đã chẳng phai,
Lòng con bao nỡ cứ mài miệt chơi. (374)
Thầy nay phải cạn lời với trẻ,
Khuyên trẻ đừng bê trễ công trình;
Muốn cho kịp bước trường sinh,
Ðạo tràng khuyên chớ hớ hinh ngày giờ.
Nhiều con lòng dạ lãng lơ,
Ngày nay trễ bước chờ cơ hội nào. (375)
Con đã rõ ảo bào mộng ảnh,
Sao không lo Dưởng Tánh Tu Tâm;
Một đời hỏi lại mấy năm?
Một tháng đếm lại trăng rằm mấy con?
Dày công cát nổi nên cồn,
Dày công nước chảy đá mòn nên khe. (376)
Khuyên bỏ tánh vầy bè hiệp lủ,
Chớ phanh phui việc cũ trò đời;
Công dư nên giúp cho Trời,
Công dư nên giúp Ta, Người, đoàn viên.
Công dư bạn với Thánh, Hiền,
Công dư ráng nhớ lời khuyên của Thầy. (377)
Thầy thấy trẻ hay thay Thánh Ý,
Biết có mình quên nghĩ đến Trời;
Con ôi ! Thầy đã cạn lời,
Ý chi con nỡ lòng dời dạt phai ?
Ðạo tràng vắng trẻ đoái hoài,
Chuyên lo ích kỷ giồi mài phàm tâm. (378)
Cái phàm tâm hại ngầm sanh chúng,
Thương các con yêu trọng chẳng rời;
Lòng con nhuộm đã lâu đời,
Bao giờ rửa sạch Thầy Trời cứu cho.
Tham sân lửa đã cháy lò,
Tự tâm mê muội bo bo giữ gìn. (379)
Trẻ muốn được Ngọc Kinh bước đến,
Trước phải lo dứt bến mụi mê;
Lời Thầy hễ đọc phải nghe,
Hễ nghe thì phải ráng nghe cho rành.
Nghe rồi liền phải thi hành,
Thi hành thì chớ cải canh méo tròn. (380)
Thầy chẳng dạy các con điều quấy,
Dạy các con thấy quấy phải chừa;
Học hành chớ nại sớm trưa,
Tu hành thì phải ngăn ngừa quỉ ma.
Kiêu căng tật đố thói tà,
Biến lười nhát nhúa bỏ qua sao đành. (381)
Trẻ muốn được mau thành chánh quả,
Mà quên phòng cái họa vọng tâm;
Con ôi ! Chánh Pháp cao thâm,
Tự Tâm tự Tánh thâm trầm lắm con.
Phải lo kiến thức cho tròn,
Ðừng lo xa kiếm Thế Tôn nơi nào. (382)
Thầy những ước con sao dễ dạy,
Ðặng mau truyền cho thấy huyền cơ;
Ðịnh Tâm khuyên chớ hỏng hờ,
Ðịnh cho thanh tịnh dừng mơ việc ngoài.
Ðịnh, Huệ, một thể chẳng sai,
Ðịnh xong mới Ngộ, mê hoài sao nên. (383)
Học Ðịnh Tâm phải bền mới được,
Ðừng cho Tâm lo vượt cảnh ngoài;
Trong lòng đừng loạn đừng sai,
Ngăn ngừa ý mã rẽ hai Tâm Thần.
Tánh xưa trong trắng trong ngần,
Ðịnh xong liền thấy Huệ lần phát ra. (384)
Thiệt Ðịnh Tâm có ba bài học,
Thầy đã cho săn sóc có người;
Nếu ai cả biếng già lười,
Ðèn nào cháy được bởi trời gió dông.
Nước kia bằng muốn lóng trong,
Thì đừng vọc khuấy cặn bùn nó lên. (385)
Ai cũng muốn thành Tiên cho chóng,
Mà quên rằng Phật sống nơi Tâm;
Ðầu non chót núi vái thầm,
Hang cùng nẻo cố ráng tầm cho ra.
Sao không nhớ lại lời Cha,
Ðịnh Tâm thì thấy có xa đâu nào. (386)
Dứt các cảnh lãng xao trước mắt,
Có mà không, mới thật rằng không;
Ở đâu cho khỏi bụi hồng,
Ở bùn mà chẵng nhuốm bùn mới hay.
Hãy tuân những Luật dạy bày,
Tuân rồi mới rõ Luật Thầy thể nao. (387)
Dằn cái sóng phong trào phá họai,
Tưởng hại người nhè hại lấy mình,
Các con có tánh hay khinh,
Khinh sao cho được cao xanh Luật Trời,
Ráng nghe lời dạy con ôi!
Ðạo Tràng ráng đến để chơi ích gì! (388)
Thấy phía trẻ nữ nhi khờ khạo,
Mà có lòng mộ Ðạo sớm khuya;
Ngày đêm bốn vốc chẳng lìa,
Nhọc nhằn ráng chịu chẳng hề thở than.
Khen cho có chí đá vàng,
Hềm vì một nỗi bàn bàn chẳng quên. (389)
Thầy dạy trẻ dạy nên dạy khéo,
Thầy có đâu dạy lếu dạy khờ;
Dạy con biết bến biết bờ,
Dạy con bỏ tánh bơ thờ nhố nhăn.
Dạy con khuya sớm ân cần,
Dạy con thức tỉnh, dạy đừng bôn chôn. (390)
Dạy con biết phần Hồn làm trọng,
Dạy con chừa cái bụng đa nghi;
Ðức Tin, công quả trọn nghì,
Y theo Thánh Ðức Diêu Trì chớ sai.
Nếu con lần lựa nay mai,
Ðằng kiều khó bước, Liên đài khó mong. (391)
Lòng Ðức Mẹ ngùi trông con trẻ,
Nhiều con đành chẳng kể lời khuyên;
Trăm bề dều dụng ý riêng,
Bao giờ mới đặng đoàn viên trùng phùng?
Mẹ thương con, nói chẳng cùng,
Con đành xa Mẹ, nỡ lòng nào con! (392)
Lòng Ðức Mẹ héo von chua xót,
Ngày những đêm ruột hót gan xàu;
Một ngày, một đợi, một lâu,
Mà con đành đoạn rủ nhau hoang đàng.
Gặp người Mẹ nhắn Mẹ than,
Ðem lời giác dát gián can con giùm. (393)
Lòng Ðức Mẹ hay dùm, hay bọc,
Miễn lời ngay con lọt vào tai;
Con về mẹ rước hai tay.
Mẹ đà sắm sẵn mảo, giày, áo, xiêm.
Thương con bể khổ đấm chìm,
Quên quê cảnh củ trang nghiêm phụng rồng. (394)
Khuyên con dứt cái lòng phàm trược,
Ðặng nghe lời chỉ trước dặn sau;
Liên đài nhiều nất nhiều cầu,
Tánh phàm đeo đuổi khó hầu bước qua.
Nếu con mãn tánh ta bà,
Mẹ nào nở thấy con sa hố hầm. (395)
Muốn trẻ được định Tâm định Tánh,
Mẹ đã toan dựng cảnh Phổ Ðà;
Con dầu xiêu lạc mấy xa,
Lẽ đâu cảnh cũ quê nhà lại quên.
Ra tay đấp móng, xây nền,
Công phu viên mãn đoàn viên kịp chầu. (396)
Lời châu ngọc trước sau dặn bảo,
Khuyên con đừng mặc áo khỏi đầu;
Tuy rằng nghiệp quả đã sâu,
Tự Tâm sám hối thì mau được thành.
Con nào cượng lý cải canh,
Búa rìu chịu lấy Mẹ nhìn lụy rơi. (397)
Con biết Mẹ, thì Trời ban thưởng,
Con quên Trời, thì vướng họa tai;
Ớ con! Mẹ đã dạy hoài,
Ớ con mất nết, một hai phải chừa.
Ớ con đừng có đảo lừa,
Ớ con tỉnh giấc dây dưa ích gì. (398)
Này nam nữ ráng ghi vào dạ,
Khuyên con ngừa cái hoạ dị đoan;
Phật Tiên xa vọi muôn ngàn,
Phật Tiên đâu có rảnh rang quến rù.
Phật Tiên biết dạy người tu,
Phật Tiên chẳng dạy đứa mù nói ma. (399)
Cao Thiên Ðàn Kiên Giang
Ðàn đêm 10-11 tháng 6 Bính Tý
Nhằm đêm 27-28 July 1936
Ngọc Ðài giá hạnh phán phân minh
Hoàng bút châu phê Luật đã rành,
Ðại Ðạo muốn nên đừng cãi Lịnh,
Ðế kinh rộng mở bữa thêm xinh.
Con có chí cải tà qui chánh,
Thầy nỡ lòng nguội lạnh với con;
Dạy con lòng dạ sắt son,
Dầu cho biển cạn non mòn chớ quên.
Ðài cao núi dựng làm nền,
Lọng tàn dối giả sao bền gió dông. (400)
Kìa lũ kiến chòm ong khuấy rối,
Ðem miệng lằn lưỡi mối hại đời;
Hành vi chẳng sợ Luật Trời,
Luật Trời đâu để vui cười được lâu.
Nhớ câu: thiện ác đáo đầu,
Công bình là Luật cao sâu chẳng lầm. (401)
Khen cho đứa tìm tâm ích kỹ,
Khéo làm trò hồ mị khi cô;
Làm tuồng triêu Hớn mộ Hồ,
Ðông Tào chót lưỡi, Trương Tô tấm lòng.
Nào hay sẵn chực người Phòng,
Công thành thân thối Xích tòng tử du. (402)
Trời cao vọi mảy thu chẳng sót,
Ðứa cơ mưu đâu lọt lưới Trời;
Khen cho cả tiếng già lời,
Bịa điều huyễn hoặc phỉnh đời say mê.
Hiệp tam hiệp ngũ đề huề,
Luật Trời phép nước chẳng dè chẳng kiên. (403)
Dối mượn tiếng tuyên truyền Ðại Ðạo,
Quyết lòng lo giả tạo danh mình;
Chẳng lo đến buổi gặp ghình,
Túi tiền tuy sẵn, nhơn tình khó mua.
Thương cho những kẻ nịnh hùa,
Chẳng xem tiền giấy, tưởng bùa hộ thân. (404)
Ðuốc Chơn Lý ánh bừng cao ngọn,
Phá mù tan rọi bốn phương Trời;
Chọn người Thầy đã trao lời,
Cầm quyền giám đốc tùy thời độ chung.
Con nào nghe dạy còn trông,
Con nào nghịch mạng Ðại Ðồng khó than. (405)
Lửa thử thét ngày càng thêm hực,
Gió sàng dê thời khắc chẳng ngừng;
Ớ con ráng mở mắt bừng,
Ðừng cho cát bụi bít dừng con ngươi.
Con nào lòng biết sợ Trời,
Thì còn trông cậy gặp Người cứu cho. (406)
Thầy tuy sắm cái lò Tạo hóa,
Tạo Hóa Công nơi dạ các con;
Khoe khoan khéo, vụng, dại, khôn,
Sắt, gan, đồng, thép, yếu dòn bởi đâu?
Ðừng ai mặc áo khỏi đầu,
Biết đâu rún biển cạn sâu mà dò. (407)
Kìa anh én liếu lo hôm sớm,
Nọ phù du chuồn bướm trưa chiều;
Mênh mang võ trụ ngao nghêu,
Tưởng rằng Trời Dất bấy nhiêu là cùng.
Dập diều xóm kiến đoàn ong,
Chẳng dè sánh với muỗi mòng khác chi. (408)
Con một lớn biết đi biết chạy,
Thầy càng khuyên càng dạy càng thêm;
Nếu con chẳng chịu thúc kềm;
Thì con chớ trách Luật nghiêm của Trời.
Con nào biết chịu nghe lời,
Thì mau hối quá kịp thời đoàn viên. (409)
Thương cho trẻ có duyên may gặp,
Rày phải lo đừng vấp như xưa;
Bấy lâu năm lọc bảy lừa,
Lọc lừa càng lắm càng trưa ích gì.
Dầu cho viễn tẩu cao phi,
Ðố ai tránh khỏi Hóa nhi vô hình. (410)
Biết sao nói công trình Thầy dạy,
Dạy cho con xem thấy rẽ ròi;
Bấm tay thử nghĩ lại coi,
Vì đâu lặn mọc trễ hồi xiết bao.
Khuyên rày bỏ dạ cầu cao,
Kìa cơ chuyển Ðạo định trao đã gần. (411)
Trẻ hối ngộ Thầy mừng cho trẻ,
Có duyên xưa gặp kẻ giúp tay;
Gặp duyên đã gọi rằng may,
Gặp duyên bền chặt chẳng Thầy đố nên.
Gặp duyên phải giữ cho bền,
Cho bền vững gót đứng trên Trùng Ðài. (412)
An Thiên Hội một bài dạy rõ,
Ai xuôi con họa hổ bất thành;
Tại con ham muốn phù danh,
Bạn hiền đâu khứng đem mình giúp con.
Làm Người khuyên chớ bôn chôn,
Kìa kìa vực nỗi nên cồn mấy hơi. (413)
Ðừng muôn việc cứ Trời mà đổ,
Tạo Hóa Nhi hỉ nộ không chừng;
Nghe Trời thì được vui mừng,
Nghịch Trời Trời phải dậy bừng sấm oai.
Mảy lông Trời chẳng lọt sai,
Ðừng ai nói giỏi khoe hay mà lầm. (414)
Có trẻ biết Minh Tâm Kiến Tánh,
Thầy khen cho sửa hạnh ít nhiều;
Hôm mai em dại dắt dìu,
Ngày càng thêm mới đừng điều nhặt thưa.
Kìa Trời đang nắng rồi mưa,
Vừng ô lố dạng thoạt trưa rồi chiều. (415)
Thuyền Chơn Lý buôn lèo lướt sóng,
Giữa dòng khơi một bóng trăng thanh;
Trên trời dưới nước mông mênh,
Ðừng sai lạc hướng phải nhìn vào đâu.
Thình lòng một dạ trước sau,
Châm theo Bắc Ðẩu chẳng cầu Chỉ Nam. (416)
Tánh Trời phú phải đam cho trọn,
Chớ lăng xăng Tánh lộn với Tâm;
Tánh Tâm Tâm Tánh chớ lầm,
Tánh Tâm Tâm Tánh chớ cầm rằng chơi.
Bấy nay nhiều kẻ vá Trời,
Cũng nhờ Tâm Tánh chẳng rời rạt ra. (417)
Kìa thử xét đóa hoa búp kín,
Tánh Tâm đâu, Tâm Tánh là đâu?
Tâm là chỗ núp ẩn sâu,
Tánh là chỗ bị nhuộm màu khác xưa.
Tánh Tâm mê hoặc ráng chừa,
Tánh Tâm sáng tỏ hỏng hờ sao nên. (418)
Vật chất học khắp miền Âu Á,
Mẩn mê tìm vật lạ Ðịa-cầu;
Nghiên nghèo dồn dập trước sau,
Mảng lo giành giựt nhiệm mầu hóa công.
Sao không xét lại nơi lòng,
Bấy nhiêu mầu nhiệm Tâm trung sẵn sàng. (419)
Xét thì rõ con đàng Chơn Lý,
Chơn Lý là trừ mị diệt tà;
Mị tà nào có đâu xa,
Trong ngoài quanh lối lớp da thịt nầy.
Xét rồi ngó lại nhìn Thầy,
Thầy đâu có sắm đồ vầy cho con. (420)
Bừng mắt dậy tỉnh tuồng sẽ thấy,
Mê muội chi đường quấy lại trông;
Thấy con mê muội đau lòng,
Thấy con mê muội chẳng phòng giặc ma.
Giặc ma bảy đứa kê cà,
Rỉ rầm thầm thỉ cà rà khít khao. (421)
Phá cái giấc chiêm bao mấy kiếp,
Ðặng về mau cho kịp với người;
Ðạo Trời bủa khắp nơi nơi,
Ðông Tây Nam Bắc một Trời Lý Chơn.
Phải tìm cho gặp con đường,
Ðừng cho lạc bước để hờn kiếp sau. (422)
Trang phú quí lập lầu xây các,
Cuộc càng xinh, nghiệp ác càng sâu;
Thử coi thế giái hoàn cầu,
Tay vàng chơn ngọc bấy lâu trong mình,
Sao không xét lại mà kinh,
Báu Trời đâu để giồi vinh phong trần. (423)
Người Đạo Đức biết Thân làm báu,
Chơn Thân là rào dạo thế gian;
Chơn Thân đứng được vững vàng,
Thế gian kết cuộc muôn vàn sự vui.
Chơn Thân, Chơn Thể sánh đôi,
Thế gian hòa hiệp Ta Người một ngôi. (424)
Vượt thế gian kìa Trời Chúa Tể,
Thuyền rước người vượt bể trầm luân;
Muốn cho người rõ được chừng,
Ðài Châu Thiên đó là từng Ngọc Kinh.
Muốn cho vững bước tiền trình,
Tánh Tâm phải lặng như bình nước trong. (425)
Kìa trên có Chủ Ông săn sóc,
Khuyên con đừng lặn mọc hư thân;
Ðã rằng ai phước có phần,
Phước phần thứ lớp nấp ngăn chẳng lầm.
Luật Trời tuy gọi u thâm,
Song đều cũng tại nơi Tâm mình gầy. (426)
Con thử xét từng mây mấy lớp,
Thì con tường trường hợp Ta Người;
Ta Người đều Một với Trời,
Ta Người đâu có mến đời mẫn mê.
Ta Người mau thoát kiếp về,
Từng mây mấy lớp đều quê hương nhà. (427)
Chớ vụng tưởng có ba cảnh giái,
Dục, Sắc, Vô, rằng Ðại Tam Thiên;
Chia ba thêm kẻ đảo điên,
Rằng nào bổn chất tự nhiên dạng hình.
Rằng nào cảnh trí tú tinh,
Rằng nào Lý Trí tự mình xét suy. (428)
Sao chẳng xét Vô Vi Ðộc Nhứt,
Dụng Hữu Vi sanh Thái Cực Ðồ;
Chớ rằng Ðạo Thể hư vô,
Chẳng xem Ðạo Tướng có lò Hóa Công.
Kịp mau một kiếp tao phùng,
Châu Thiên Ðài đó Ðại Ðồng đệ huynh. (429)
Mau bước đến Ngọc Kinh chín bệ,
Kẻo kìa con ác xế đã hầu;
Một đời gẫm chẳng bao lâu,
Còn trông đợi muốn chực chầu những chi.
Mấy lời Thầy dạy phải ghi,
Con đường khôn dại thị phi chớ lầm. (430)
Con muốn được Thầy châm chỉ dạy,
Thì bỏ lòng tà vậy buổi xưa;
Khuyên đừng còn tánh đảo lừa,
Nhứt Tâm Nhứt Ðức đừng thưa thớt lòng.
Ðạo tràng trẻ phải dầy công,
Một năm biết được mấy cung trăng rằm. (431)
Mừng cho trẻ có tâm tìm Ðạo,
Thì những lời dạy bảo phải tuân;
Mấy muôn ngàn kiếp một lần,
Mấy muôn ngàn kiếp được gần mặt Ta.
Khá mau tỉnh giấc ta bà,
Tự nhiên được Trí Trung Hòa dưới trên. (432)
Các con muốn Thiêng Liêng vững chặt,
Thì phải lo kiên Luật chí công;
Chọn con đều giống rặt ròng,
Chín mười sao giống chẳng đồng giá cân?
Công bình là Luật bình quân,
Luật đâu có Luật so gần tính xa. (433)
Luật Trời đã đặt ra Kỷ Luật,
Cho các con biết mực tu hành;
Luật Trời đã dạy đinh ninh,
Con ôi giữ Luật sửa mình sớm khuya.
Ðồng bào khuyên chớ chia lìa,
Ðông Tây Nam Bắc cũng về một ngôi. (434)
Bỏ Cái Ta dạy rồi phải nhớ,
Còn Cái Người khuyên chớ nuối hơi;
Ðã nhìn con thiệt của Trời,
Trời kia là Luật con ôi phải nhìn.
Thương con lòng sắc dạ đinh,
Thương con Thầy phải đinh ninh dặn dò. (435)

Bách Linh Cơ Sám
Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ
Thánh Thất Kiên Giang
24 tháng Giêng Tân vì (10 Mars 1931)
Lý Trời ban hữu phước,
Thái luật giữ vô tư,
Bạch hiệp Tam Thanh chỉ
Giáng giảng niệm Chơn Như
Ta cho phép ban hành Linh Sám nơi Kiên Giang.
Thể dâng Linh Sám góp trăm bài,
Liên điểm Thầy phê nét chẳng phai,
Phước đức muốn tu, tu ắc được,
Thần cho thành tín ứng không sai.
Bần Đạo cho Trăm bài trong 5 đêm mới trọn. Mỗi bài phải chừa một khoản giấy trắng, vì nhiều chư Tiên Phật sẻ phê điểm và giải.
Trời còn có phong vân mạc trắc,
Người dễ không họa phước phi thường; (1)
Muốn cho rõ đặng máy âm dương,
Nào phải cậy nhờ tay thế tục. (2)
Thầy đã gạn trong lóng đục,
Người tua vững chí bền lòng; (3)
Đạo thông hành xuân, hạ, thu, đông,
Đạo chói rạng tinh thần, nhựt, nguyệt. (4)
Không một việc Thầy không chính xét,
Không một điều Thầy chẳng ba lo; (5)
Lo bầy con sâu chống cạn dò,
Lo lủ dại đêm chơi ngày ngủ. (6)
Việc trước mắt màng che sáo phủ,
Nẻo tường trình gai tấp bìm leo; (7)
Mây đã giăng mà chẳng vững lèo,
Lửa đã cháy lại còn ngon giấc. (8)
Say mê vật chất,
Hờ hỏng tinh thần; (9)
Cuộc giả hình tay vịnh chơn lần,
Đường Chơn Lý lòng xao, dạ lảng. (10)
Gai chông chẳng quản, châm chúi theo tiếng cuội rừng sâu,
Sóng gió mặc dầu, lặn hụp với bóng trăng bể thẳm; (11)
Càng lâu, càng đấm, càng không trông biển bực, sông bờ,
Bởi dại, bởi khờ, bởi chẳng xét cội cây, nguồn nước. (12)
Toan mưu tính chước, đường lợi danh xâu xé, giựt giành,
Leo thác vượt gành, tìm Tiên Phật bói khoa, nhàm độn; (13)
Tinh thần hao tổn, nghe quáng mù nam, bắc, tây, đông,
Phàm thể long đong, trách thầm tới quỷ thần, thiên địa. (14)
Bệnh trầm kha quên hồn mất vía,
Chước cám dỗ nọc đỉa miệng lằn; (15)
Thể Liên này tất dạ bâng khuâng,
Chư Tiên cũng trăm phần chua xót. (16)
Nghĩ vì nỗi Thầy tuy giáng bút, bút có chừng việc thế không chừng,
Chừng vì tuy Thầy đã dạy răn, răn có chỗ nước đời không chỗ; (17)
Tôi trách nhậm vưng Thầy phổ độ, độ một điều, độ đến ngàn trăm,
Tôi ưu tư bể khổ sai lầm, lầm một nước, lầm luôn ức triệu. (18)
Mình xin, mình chịu,
Mình gánh, mình lo; (19)
Tạo hóa kia khác thể con đò,
Nhơn tình lại hình hư cái bóng. (20)
Không chầy, thì chóng,
Không sớm, cũng trưa; (21)
Khuyên anh em chớ mắc kế lừa,
Khuyên lớn nhỏ đừng vùa việc mộng. (22)
Linh Sám xin truyền tống, chữ châu phê, Thầy đã chuẩn cho,
Chí thành chớ mồ hồ, khai kim khẩu, Thầy thêm mách bão; (23)
Dụng cơ bút tả rành lai cảo, để cơn nghèo được biết kiết hung,
Anh em đến lúc dùng, chí thành thượng đạt. (24)
- Đại Kiết
Tây Phương có Phật tại Lôi Âm,
Phật tại Tây Phương vốn tại Tâm,
Đắp móng xây nền, rường cột sẵn,
Thước đo , mực gióng chẳng sai lầm.
2. Thượng Kiết
Êm bườm thuận lái lúc phăn neo,
Ngàn dặm buôn khơi thẳng một lèo,
Gió mát trăng trong phong cảnh đẹp,
Ro re đờn khảy nước khua chèo.
3. Thương Thượng
Trăng thu vặc vặc giọi rường nhà,
Đây đó người xa dạ chẳng xa,
Muối mặn, gừng cay đâu cũng thế,
Sang hèn cao thấp mặc người ta.
4. Thượng Thượng
Nghèo mà chí hiếu Phật ngài thương,
Hiếm kẻ ơn ban lúc lở đường,
Thiên địa tuần hườn đâu có sót,
Cho hay Tạo Hóa máy âm dương.
5. Thượng Trung
Mới thì còn khá củ rồi thôi,
Giá tuyết đâu trông hóng nắng Trời,
Rồng dậy sấm vang cây cỏ tốt,
Mau chơn lẹ tính khỏe hòa đôi.
6. Thương Hạ
Trong lòng ôm ấp một hòn châu,
Thuốc tốt thầy hay đã gặp chầu,
Vàng bạc đầy rương lèo lái thuận,
Khỏe tình vững trãi mấy từng lầu.
7. Thượng Hạ
Con ác vừa lên đứng giữa trời,
Lý ưng rạng vẻ khắp nơi nơi,
Vừng mây đâu đến che mờ tối,
Rồng rắn đành mong ẩn đợi thời.
8. Trung Trung
Bèo nổi linh đinh mặc nước sông,
Quản bao trưa sớm lớn hay rồng,
Rễ đơm khắng khít đua con sóng,
Khuất dạng đùm che cá hóa long.
9. Trung Bình
Hoa nở hoa xinh thật vẻ vang,
Mảng mùa gặp lúc buổi hoa tàng,
Hoa tàng trái rụng hoa đua nở,
Hoa nở hoa xinh thật vẻ vang.
10. Thương Hạ
Trời thanh đêm tạnh gió đưa hơi,
Thảnh thót cầm xang cảnh ghẹo người,
Lưu thủy cao san đâu mấy mặt,
Tri âm khuyên phải lượng theo đời.
11. Trung Trung
Đã từng giao kết hiếm anh hùng,
Bốn biển từng nghe bực kiếm cung,
Áo gấm về làng đà phỉ chí,
Mới đành rạng tiếng với non sông.
12. Thương Hạ
Muôn việc do Trời vốn tại ta,
Lẻ đâu luốt lát lại lơ là,
Một cây sao được nên non cả,
Muốn được non cao phải dụm ba.
13. Hạ Hạ
Đất bằng sống dậy sự vì đâu,
Gẩm lại cũng đồng một rún nhau,
Châm chích đuôi ong hơn rắn độc,
Tiểu nhơn mấy đứa nghĩ về sau.
14. Hạ Hạ
Một nổi thì thôi lại đến ba,
Gớm thay miệng độc quá thanh xà,
Vẩy vùng bươn chảy qua thời thế,
Còn phải sao cho rạng tiếng nhà.
15. Trung Trung
Tóc tơ khắng khít thể oang ương,
Sông biển nguyền xưa chứng tỏ tường,
Bảng hổ đuốc hoa duyên phận đẹp,
Đêm thu cung quế nực mùi hương.
16. Hạ Thượng
Hết xôi rồi việc thế tình kia,
Trên lộ người đồn tiếng tợ bia,
Mua trái thử da chưa dám chắc,
Xét người lòng dạ lúc canh khuya.
17. Trung Bình
Càng giàu càng phải rộng nhơn từ,
Nghèo khổ càng chừa những thói hư,
Vay trả trả vay đâu có sót,
Quỷ thần nắm giữ chữ vô tư.
18. Thượng Hạ
Bảy mươi hai phép luyện thần thông,
Biến hóa vô phương phép chẳng cùng,
Sáu chữ Di Đà thâu trọn đủ,
Mới hay báu lạ tại nơi lòng.
19. Trung Hạ
Hùm cơn suy thế lúc sa lầy,
Bao quản gièm pha lủ cáo cầy,
Khỏi sức lướt xong nhiều thủ đoạn,
Reo gầm vận gió hội rồng mây.
20. Hạ Thượng
Âm dương điên đảo sái cang thường,
Gà mái gáy ngày khéo để gương,
Ngọn đuốc cheo leo cơn gió tạt,
Non cao chớn chở nực mùi hương.
21. Trung Trung
Lọc lừa dè dặt kiệm rồi cần,
Mực thước đừng cho sái một phân,
Trăm việc khéo khôn âu sớm liệu,
Đừng cho để muộn lại ăn năn.
22. Trung Thượng
Hùm mạnh chi nao lủ cáo gầy,
Mặc tình trương vút lại rường vây,
Khéo lừa kẻ núp mưu thầm tối,
Lẹ mắt lanh tròng khéo trở day.
23. Trung Hạ
Hố sâu nương dựa lúc tiềm long,
Hết bĩ lừa cơn cũng vẫy vùng,
Kẻ trước người sau, sau lại trước,
Đâu dè muôn việc tại Thiên Công.
24. Hạ Thượng
Hai gái sao yên ở một nhà,
Đổi thay sớm bốn lại chiều ba,
Vườn xưa ướm hỏi anh cùng yến,
Xơ xát xin thưa mấy cụm hoa.
25. Trung Thượng
Đào sông mối nước được thông thương,
Địa thế trong tay thấy chán chường,
Muối biển, nước đồng, rừng núi sẵn,
Xưa nay phú quý mấy con đường.
26. Thượng Hạ
Công hầu thì dựa chốn kinh thành,
Tiên Phật thì nương dãy núi xanh,
Đen trắng hai màu tua chọn một,
Có đâu tính quất lại lo quanh.
27. Hạ Hạ
Bể dâu thay đổi thấy luôn luôn,
Một rạp đêm đêm diễn mấy tuồn,
Phú quý xưa nay đều cõi tạm,
Non cao cội cả lại trong nguồn.
28. Đại Kiết
Ấp trứng chầy ngày khéo nở con,
Tiền nhơn hậu quả hệch như khuôn,
Kìa hưu hay ngựa nhìn xem kỷ,
Ba bảy hai mươi mốt tiếng đồn.
29. Trung Bình
Đầu gành lưu thủy lại cao sơn,
Ớm hỏi cùng ai lóng nhịp đờn,
Gió đó trăng đây non nước vậy,
Nhìn xa nghĩ kỷ thú nào hơn.
30. Trung Thượng
Lánh tục nương non lập cảnh không,
Đành vui gió mát với trăng trong,
Ngoài tai danh lợi còn chi tá,
Quỷ phục thần khâm chớ đổi lòng.
31. Trung Trung
Nước đời trong đục bởi nơi lòng,
Trong đục nhìn coi có mấy dòng,
Đục trước trong sau trong mới đục,
Vậy ra mới đục, lóng thì trong.
32. Trung Hạ
Chợ nhóm xôn xao buổi sớm chiều,
Tan phiên rồi lại cảnh đìu hiu,
Lợi danh hỏi thử bao nhiêu khách,
Kết cuộc đời người được mỹ miêu.
33. Trung Hạ
Bào trơn thoa mở vót cây cao,
Phỉnh trẻ trèo coi cuộc té nhào,
Thấy của động lòng sanh chước quỷ,
Hết xôi rồi việc phí công lao.
34. Thượng Trung
Đêm thanh gió mát lại trăng trong,
Kim khải nguyền xưa chẳng phụ lòng,
Mối chỉ khéo xe ai dễ đứt,
Trăm năm ghi tạc một câu đồng.
35. Hạ Thượng
Phù xanh giấc mộng thoảng mơ màng,
Bèo bọt trò đời hiệp lại tan,
Ghi nhớ hiếu trung vàng đá tạc,
Muôn năm sự nghiệp tiếng đồn vang.
36. Trung Thượng
Chọn gái xưa nay vốn chọn dòng,
Đắng the chua ngọt bưởi như bong,
Khen chê miệng thế chòm ba bảy,
Biết mặt nào ai biết đặng lòng.
37. Hạ Hạ
Một bức văn thơ thấu Cửu Trùng,
Trọn nhà đều được chức Hoàng phong,
Cho hay tích thiện thì phùng thiện,
Âm chất xưa nay báu lạ cùng.
38. Trung Thượng
Ấm lạnh tình đời nghĩ ứa gan,
Anh Hùng thất vận có ai màng,
Một mai tay được vin nhành quế,
Lướt gió tuôn mây sức đại bàng.
39. Hạ Trung
Rần rần xe ngựa cuộc đua chen,
Ai để thua ai thể cũng hèn,
Gạn đục lóng trong rồi mới rõ,
Ồn ào cho lắm trống như kèn.
40. Trung Trung
Chơn Trời mặt biển nhạn đem tin,
Phưởng phất khôn han thế dử lành,
Thay trắng đổi đen chi cũng mặc,
Miểng là ta trọn cái Tâm Thành.
41. Hạ Trung
Ta biết rằng ngươi thật chí công,
Chí công ất giáp đủ Tây Đông,
Thấy vầy hay vậy khen người đó,
Dụng thịt còn hơn phải dụng lòng.
42. Thượng Hạ
Hiên Kỳ tế độ khắp nhơn gian,
Âu á xưa nay thử đá vàng,
Túi bạc kề vai lời vấy vá,
Diệu lời chớ dụng tiếng càn ngang.
43. Trung Trung
Bình minh khéo điểm một vừng hồng,
Thức vẻ năm màu ánh cỏi đông,
Gió mát riu đưa người phấn chấn,
Lần cao lần tỏ rạng non sông.
44. Trung Thượng
Ngừa đò may gặp chuyến đò qua,
Trên dưới đồng vui thể ruột rà,
Vững lái êm chèo sau thể trước,
Một đoàn xum hiệp kẻ gần xa.
45. Hạ Hạ
Ngọc ẩn non côn đá bọc ngoài,
Phước ngươi tìm được ráng giồi mài,
Biện Hòa vụng tính khôn tìm thợ,
Lại để cho ai khóc với ai.
46. Trung Hạ
Trèo non xuống dốc lại qua đèo,
Chi sá chồn rừng lủ cọp beo,
Cẩn thận một niềm sau thể trước,
Hết cơn nguy biến đến cười reo.
47. Trung Trung
Của báu Trời cho phải chí công,
Dưới trên hòa thuận lại đồng lòng,
Dời non lấp biển ai rằng khó,
Nam Bắc tuôn mây một cánh lông.
48. Trung Thượng
Nghêu cò ai chẳng chịu nhường ai,
Chung cuộc về tay phải chú chài,
Chớ tưởng rằng chài mưu chước khéo,
Kìa còn kẻ mở túi thần tài.
49. Trung Hạ
Gẫm đời lắm lúc cuộc phong trần,
Bỉ thái xem như bánh chuyển vân,
Tai vách mạch rừng ngừa chước quỷ,
Dò trong lóng đục ráng cân phân.
50. Trung Kiết
Ở yên còn phải sợ cơn nghèo,
May rủi vận thời đợi hỏi keo,
Vàng bạc trong tay làm mới có,
Hễ ai té nặng bởi cheo lèo.
51. Trung Hạ
Kìa chẳng xa xa dạn đẩy đèo,
Ác tà thỏ mọc cảnh trong veo,
Giăng trời chữ nhứt chim về núi,
Khéo tả in như bức ảnh treo.
52. Hạ hạ
Chan chan hạn hán gặp mưa rào,
Cây cỏ chào mừng phỉ ước ao,
Trơn trợt ráng phòng cơn ướt át,
Tìm ngay bỏ vậy mới là cao.
53. Hạ Hạ
Đánh rắn đành cho đánh cái đầu,
Còn lo nọc độc núp về sau,
Thoàn đi giữa biển cơn mờ tối,
Chớ cậy rương đầy những ngọc châu.
54. Hạ Thượng
Bầy gà mà được phụng chen vào,
Mới rõ sang hèn phẩm thấp cao,
Vàng đá chớ rằng không lộn lạo,
Nặng tình vàng đá nghĩa thâm giao.
55. Hạ Hạ
Cá vui ao cạn ngóng trông mưa,
Hèm nổi Trời chang sớm những trưa,
Lác đác đêm khuya sương điểm giọt,
Non đoài mây kéo dạn thưa thưa.
56. Trung Hạ
Danh lợi tranh đua thể cuộc cờ,
Thắng xe giăng pháo lập binh cơ,
Rần rần sỉ tượng binh và tướng,
Mà cậy hơi trâu chốn ruộng bờ.
57. Hạ Thượng
Non núi tuy nhiều gióng hổ lang,
Người còn mượn thế mở con đàng,
Ngọt ngon vuông tắc khôn soi thấu,
Chớt tưởng tri âm ấy bạn vàng.
58. Trung Hạ
Cửa sổ ngựa qua tục ví thường,
Người đời cõi tạm bóng tà dương,
Ăn ngay ở thật mau hồi tỉnh,
Trung Hiếu khuyên cho ráng chải bươn.
59. Trung Bình
Nhiều mưa mới thấm nổi cây khô,
Núi cả xem coi biết mấy vồ,
Muốn đặng châu lành tìm bốn bể,
Bằng mong trăng đẹp dạo năm hồ.
60. Hạ Trung
Lỗi lầm dẫu muộn cũng ăn năn,
Biết quấy lòng ai cũng phải bằng,
Sấm sét ấy cơn Trời đất đổi,
Đặt con vào dạ trước đà mừng.
61. Trung Hạ
Trời đâu có phụ kẻ dày công,
Lộc cả ngôi cao thưởng tấm lòng,
Nam, bắc, tây, đông rong vó ký,
Hằng nga mong đợi lúc trùng phùng.
62. Trung Trung
Tiều phu quảy gánh hỏi về đâu,
Rằng đến miền đông đổi gạo châu,
Đỏng đảnh đôi vai chi nặng nhẹ,
Trong lòng ôm chứa nghiệp công hầu.
63. Trung Kiết
Một đời cay đắng trải gian nan,
Khổ cực người quen thấy chẳng màng,
Miệng cọp hàm rồng qua lướt khỏi,
Đã sang mà trọng lại vinh vang.
64. Hạ Trung
Cọp nằm ấy cọp núp lờm oai,
Thủ thế dành cơn trổ miếng tài,
Khỏe sức, sức nuôi, nuôi sức khỏe,
Vẩy vùng nanh vuốt lúc nay mai.
65. Trung Hạ
Mặt Trời một mực chuyển về Tây,
Ngọn suối triền đông cứ chảy ngay,
Đục nước béo cò đừng vụng tính,
Nuôi muôn săn thỏ cũng chờ ngày.
66. Trung Thượng
Đải cát bòn vàng bãi biển Đông,
Xiết bao mưa nắng nệt chi công,
Ngày hùm đêm thỏ trông rồi ngóng,
Một cửa đoàn viên hết phập phồng.
67. Thượng Hạ
Đầu non tuyết đóng khéo tìm hoa,
Vị thủy ôm câu gióng tuổi già,
Tan hiệp hiệp tan tan mới hiệp,
Gìn lòng như thiếp lại như tha.
68. Trung Trung
Cứ mực bình thường chớ đổi thay,
Lòng đừng nao núng chí đừng day,
Vàng rồng lửa đỏ càng cao giá,
Sự nghiệp gầy nên phải một ngày.
69. Hạ Thương
Ầm ỳ tiếng sấm vẳng xa xa,
Dè dặt còn hơn chớ bỏ qua,
Họa phước ở mình cần phải biết,
Họa là cội, phước vốn mình ra.
70. Thượng Thượng
An thường thủ phận mới là hơn,
Lên xuống chi cho sái nhịp đờn,
Huyện mãn nha môn đâu có mãn,
Đừng đừng thay đổi việc lương dương.
71. Thượng Trung
Từ từ trải bước thể trèo thang,
Mỗi nấc nhìn xem nấc vững vàng,
Cung thỏ rước chào tay bản quế,
Thỏa lòng giữ ngọc đợi tân lang.
72. Hạ Trung
Cơ Trời ví tợ bánh xe lăng,
Hết hạ sang thu giáp lại xuân,
Nước kém kế rông, rông đến kém,
Ác tà thỏ mọc cuộc xây vần.
73. Thượng Hạ
Giờ tý canh ba gọi nửa đêm,
Thẩn thơ thơ thẩn kiếm hay tìm,
Lần hồi lui tới lo rồi liệu,
Cao thấp đầy vơi chẳng bớt thêm.
74. Trung Kiết
Ngư tiều canh mục thú thung dung,
Nước trí non nhơn rửa sạch lòng,
Gội tuyết tắm sương trăng gió sẵn,
Công danh phú quý phủi ngoài vòng.
75. Trung Bình
Khúc khích ven tay hởi tiếng chi,
Mặc ai rằng thị mặc ai phi,
Trong mình mình biết lành hay dử,
Phải quấy trên đầu chữ sẵn ghi.
76. Trung Trung
Trên Trời dưới đất giữa là ta,
Thần quỷ tại lòng có phải xa,
Lánh dữ theo lành noi lẻ chánh,
Tiền nhơn hậu quả có hề ngoa.
77. Thượng Thượng
Lửa hương gắn vó cuộc trăm năm,
Tiếng hẹn hò ghi chứng bóng rằm,
Thuyền vững lái êm qua sóng gió,
Khúc đờn lưu thủy lại cao thâm.
78. Hạ Trung
Giéo giắt đêm khuya tiếng dế ngâm,
Dẩu vui cho lắm cũng buồn thầm,
Phương Đông lố thấy vừng ô rạng,
Sóng lặng trời êm bặt tiếng tăm.
79. Thượng Trung
Ăn chắc mặc dày tục lệ xưa,
Có ai bảo tránh lại đi chừa,
Thần Tiên còn phải bồi âm chất,
Trần tục ham chi thói lận lừa.
80. Thượng Thượng
Sáng đóm dùng cơn lúc tối trời,
Năm lo bảy liệu chớ dừng hơi,
Lửa gần chớ cậy trong xa nước,
Giúp của giùm cơm phải giúp lời.
81. Hạ Trung
Ngũ hành sanh khắc, khắc rồi sanh,
Cũng hạp hình xung tợ chỉ mành,
Động tịnh âm dương mau liệu toán,
Tuế quân nhựt nguyệt mạng cho rành.
82. Thượng Thượng
Ngọc lành khen thợ khéo giồi mài,
Ánh giọi cung thiềm một thể hai,
Biến hóa vô cùng so Tạo Hóa,
Muốn nên báu vật phải công mài.
83. Hạ Trung
Cò bay én luyện buổi hôm qua,
Bóng thỏ vừa chênh ngựa sải xa,
Sâu chống cạn dò qua xoáy nước,
Tam hào tác xướng lúc canh gà.
84. Trung Trung
Chơn Trời lửng đửng bóng câu tà,
Thấp thoáng mây mờ lúc lại qua,
Giéo giắt tiếng đâu ngâm vẳng vẳng,
Trớ trêu khéo họa khúc tỳ bà.
85. Hạ Hạ
Ngày mai đôi ngả cách sâm sương,
Cảnh đó tình đây luống đoạn trường,
Ngàn dặm ngóng trông tin vắn bặt,
Đâu gương ước hẹn buổi lên đường.
86. Trung Trung
Trăng khuyết rồi trăng cũng phải tròn,
Âm dương lui tới chớ bôn chôn,
Quới nhơn gặp lúc vần thơ hiện,
Đừng ngựa liền dưng phú vạn ngôn.
87. Hạ Trung
Gian nan dồn dập biết bao lần,
Lặng suối trèo non quản tấm thân,
Có khó, có khôn, khôn mới khó,
Cho hay Trời đã để dành phần.
88. Hạ Hạ
Nên hư vách đổ cửa nhà xiêu,
Nhắm mắt đưa chơn chớ đành liều,
Kiểu củ thấy hư mau đổi mới,
Rắn rồng thay đổi cũng theo chiều.
89. Trung Bình
Gượng mà chi, ráng gượng mà chi,
Sức mạnh không dùng lúng thế suy,
Phải nhớ đuôi ông kim rất độc,
Vàng rồng chợ ế chẳng qua chì.
90. Thượng Trung
Chồng chập dày công chí mới thành,
Nhiều cây vẻ đẹp cụm rừng xanh,
Muốn nên nghiệp cả lo cần kiệm,
Trải bước chông gai mới đặng danh.
91. Hạ Trung
Vững vàng chẳng chuyển lại không day,
Vàng đá đâu qua tấc dạ này,
Kìa núi Thái Sơn cao chất ngất,
Chống Trời bao quản cuộc vần xây.
92. Hạ Hạ
Nhường nhịn thì tròn nghĩa đệ huynh,
Sẻ sừng nghĩ lại có nào xinh,
Muôn năm Bào Quản danh còn ngợi,
Tính thiệt so hơn nghĩ chút tình.
93. Hạ Hạ
Phật vàng đâu rõ cảnh chùa hư,
Rõ được rồi thì ra cách dã từ,
Phải nhờ đầu tầm trăm giỏ đổ,
Biết rồi rồi biết có đâu chừ.
94. Trung Trung
Hết xuân sanh hạ giáp thu đông,
Trải tuyết càng cao chí bá tòng,
Phòng ấm nệm êm tôi tớ sẵn,
Võng dù xe ngựa mắt người trông.
95. Hạ Hạ
Quan yêu dân chuộng mới là hay,
Bóc lột nào đâu túi có đầy,
Đỡ khát phải lo đào lấy giếng,
No lòng sớm liệu giống gieo cày.
96. Thượng Thượng
Rượu ngon nán đợi khách tri âm,
Muôn dặm dầu xa cũng phải tầm,
Vị bắc giang đông chiêu ráng giọ,
Thơ nhàn tin cá bặt tâm tâm.
97. Thượng Thượng
Thú quen săn dả lúc hôm mai,
Đông hạ màn chi buổi vắn dài,
Quí khách Vương Tôn dầu đón hỏi,
Công hầu khanh tướng để ngoài tai.
98. Trung Hạ
Trước sân con én khéo đem tin,
Dở sách liền coi quẻ dữ lành,
Của báu đồ xưa công để lại,
Của ai ai lại để cho mình.
99. Trung Trung
Màng chi ăn gởi lại nằm nhờ,
Giữ sạch mình vàng tránh bợn nhơ,
Ngọn đuốc cháy rừng chim vỡ tổ,
Chớ rằng muôn việc tại Thiên cơ.
100. Đại Kiết
Thiên địa tuần hườn lẻ tự nhiên,
Lời Thầy răn dạy tiếng mười khuyên,
Giữ gìn nắm nớp đừng xao lãng,
Trời Phật như gương tại nhãn tiền.
23 tháng 9 Quý Dậu – 10 Nov 1933
Ngọc bàn lố lố trọn trong tay,
Hoàng lịnh tùy thời cuộc trở day,
Đại Giác, đai thừa chờ đại mạng,
Đế ân tràng bủa khắp đông tây.
Bá Linh Cơ Sám Thầy giao cho Đại Đạo ban hành, ai có lòng tín ngưỡng dùng tại gia cũng được.
Vưng lịnh Đức Chí Tôn phán dạy tại Đàn Sa Giang đêm 22 rạng mặt 23 tháng 9, năm Quý Dậu, kính gời cho quí ông
Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài,
Thái Đầu Sư, Ngọc Đầu Sư,
Chưởng Quản Cửu Trùng Đài.
Kiên Giang ngày 26 tháng 9 năm Quý Dậu (14 Dec 1933)
Chánh Thái Phối Sư,
Pháp sư: Nhơn Thanh (ký tên: Thái Nhơn Thanh) xin ban hành.
Nguyễn Hữu Phùng
21 Mars 1934
Lời dặn:
Kẻ ngoại muốn bái cầu Linh Sám thì làm lễ sao cũng được, tùy theo lòng thành kỉnh. Cách xin sám thì các ngươi phải dụng hai món chi cho tinh khiết trong sạch mà dựng mỗi bên mười thẻ, hình làm sao cho gọn và dùng theo số lạng sa. Các ngươi ghi mười thẻ từ số 1 dỉ chí số không (0). Hai bên cũng vậy. Cầu linh sám làm lễ rồi thì quì xuống, nam tả nữ hữu mà chọn lựa bắt mỗi bên một thẻ ráp lại thì thành số của Linh Sám. Còn số trăm thì (00).
Thiên Sư Trương Đạo Lăng phụng bạch Ngọc Cung truyền cho chư Chức Sắc biết ngày mà cầu.
Thiên Phong: ba mươi, mùng bốn, mười bốn, hai mươi bốn.
Phần nhiều trong Đạo hay xua theo phe đảng ganh ghét mà làm cho Đạo phải lu lờ.
Hãy coi bài kệ mà sửa:
Chơn giả hai đàng phải xét xa,
Thành tâm mới rõ chước tinh ma,
Máy Trời huyền diệu đành không nói,
Thử thế gian hùng sức trộn pha.
Đàn 4 tháng hai Tân Vì
Thể hà ngọc lộ hộ quỳnh lầu
Liên các phùng xuân ẩn bích câu.
Tiên bộ ung dung nhân hứng cảnh,
Nữ văn điểm điểm vịnh liên châu.
Đàn 14 tháng hai Tân Vì
Thể quang luyện đắc tự thiên nhiên,
Liên diệp thuyền khai độ hữu duyên,
Tiên bút lủ trần minh đạo yếu,
Nữ nam đồng chưởng giá tâm điền.