Kinh Chơn Lý

Kinh Công Khóa

               Những bài kinh sau đây chỉ đường trở về cho Con Người

        Trời sanh. Khi trở về, phải đi từ bực thang, tức từ dưới lên trên,

        và đọc theo thứ tự như sau:

                        Kính lạy Ðức Bửu Sơn – Tu Chơn

                        Kính lạy Ðức Bửu Tinh – Lý sinh

                        Kính lạy Ðức Bửu Vi – Huyền cơ

                        Kính lạy Ðức Bửu Ngươn – Lý Chơn

                        Niệm Tam Qui – Nhứt Tâm

                        Kính lạy Ðức Diêu-Trì – Lạy Mẹ

                        Kính lạy Ðức Chí Tôn – Lạy Thầy

                Bốn bài kinh đầu là kinh Kính Lạy bốn vị Thiên-Sư giữ

        bốn mối giềng của Ðạo. Bốn vị Thiên-Sư nầy, trong Ðao gọi là

        Tứ Bửu, tức bốn cột trụ của Ðạo.

               Sau kinh Kính lạy Ðức Tứ Bửu, chúng ta niệm Tam Qui,

        hướng tâm hồn về nơi cội gốc cội nguồn của chúng ta, tức

        là Trời. Trời tuy có Một, nhưng lại Ba ngôi.

               Niệm Tam Qui xong, chúng ta lạy Ðức Diêu Trì là Mẹ

        thiêng liêng của chúng ta và lạy Ðức Chí Tôn là Thầy Chúa Tể Kiền Khôn.

Kính lạy Đức Bửu Sơn

                           Lạy cầu ân Ðức Bửu Sơn,

                  Giáng trần cạn tỏ Tu Chơn của Trời;

                          Xin thương em dại luân hồi,

                  Vì chưng tối mắt chia Người rẽ Ta.

                          Cũng vì ham chốn phù hoa,

                  Quên nhìn Chơn Thể tách xa Con Ðường;

                          Chơn Thân trong sáng như gương,

                  Chơn Thể chánh đại để nương Chơn Hồn.

                          Thể, Thân, Hồn vốn sâu nguồn,

                  Các em chẳng rõ đống khuôn Chơn Thần.

                          Các em tâm niệm ân cần,

                  Lạy cầu xin rước Chơn Thân Báu Trời.

                          Ngươn Thân, Ngươn Thể sáng ngời,

                  Các em mừng đặng tuổi Trời gia tăng.

                          Rìu đưa đầm ấm gió nhân,

                  Thân thường tắm gió, Ngươn Thần thêm cao.

                          Nước non non nước một màu,

                  Khí linh doanh khắp kịp chầu Chí Tôn.

                          Lạy cầu ân Ðức Bửu Sơn,

                  Giáng trần cạn tỏ Tu Chơn của Trời.


Kính lạy Đức Bửu Tinh

                             Lạy cầu ân Ðức Bửu Tinh,

                  Giáng trần cạn tỏ Lý Sinh của Trời.

                          Ðồng nai vàm cỏ khắp nơi,

                  Ðường dài gánh nặng của Trời phú giao.

                          Lạy cầu Mối Cả gỡ trao,

                  Cac em đặng gặp Lý Sâu nơi lòng.

                          Ngửa nhờ lượng cả dầy công,

                  Dắt dìu em dạy còn trông đến Thầy.

                          Các em ngu dại thơ ngây,

                  Mà lòng mộ Ðạo đêm ngày cần chuyên.

                          Xin Người mở lưới Nghiêu Thiên,

                  Cứu bầy em dại đặng yên tu hành;

                          Cùng nhau giõi bước tập tành,

                  Cùng nhau gặp đặng Tánh lành ban sơ.

                          Phong bình sẵn đúc sẵn chờ,

                  Chở che em dại sớm trưa thờ Trời.

                          Các em ngu dại khắp nơi,

                  Một lòng chí hướng chẳng rời Lý Sinh.

                          Lạy cầu ân Ðức Bửu Tinh,

                  Giáng trần cạn tỏ Lý Sinh của Trời.

Kính lạy Đức Bửu Vi

                            Lạy cầu ân Ðức Bửu Vi,

                  Giáng phàm chỉ máy Huyền Ky của Trời.

                          Xin thương em dại cõi đời,

                  Ðã bao nhiêu kiếp xa rời Ngọc Kinh.

                          Cũng vì ham chốn phù sinh,

                  Ðành vùi cát bụi Tánh Linh của mình.

                          Phấn son vùi lắp Chơn Hình,

                  Bạt đường Tánh Mạng khó nhìn Chơn Thân.

                          Lạy cầu Ðại Ðức ân cần,

                  Chỉ Ðường Tánh Mạng đặng phăng đặng tầm.

                          Tánh Tâm Tâm Tánh cao thâm,

                  Tánh Tâm Tâm Tánh phương châm Ðạo mầu.

                          Các em muôn lạy khấu đầu,

                  Xin Người dẫn dắt kịp chầu Chí Tôn.

                          Trời sanh Trời phú đủ Hồn,

                  Các em vụng tưởng rằng khôn qua Trời.

                          Hồn khôn hượt bát khắp nơi,

                  Hồn khôn xác đặng sáng ngời phương phi.

                          Lạy cầu ân Ðức Bửu Vi,

                  Giáng phàm chỉ máy Huyền Ky của Trời.

Kính lạy Đức Bửu Ngươn

                            Lạy cầu ân Ðức Bửu Ngươn,

                  Giáng phàm cạn tỏ Lý Chơn của Trời.

                          Xin thương em dại khắp nơi,

                  Dẫn về tận mặt Cha Trời Thiêng Liêng.

                          Xin nhờ rưới chút Ân Thiên,

                  Ðộ cho thoát tục thành Tiên buổi này.

                          Nguyền xin nghe tiếng con Thầy,

                  Nghe lời vén ngút rẽ mây trong Trời.

                          Dầu cho cực nhọc chẳng rời,

                  Lo sao Chí Hướng Cha Trời không sai.

                          Cúi nhờ lượng cả đoái hoài,

                  Ðộ cho người thấy Cao Ðài cảnh xưa.

                          Nguyền xin thuyền chủ ráng đưa,

                  Kịp qua đến bến để trưa trễ kỳ.

                          Nhứt Tâm đảnh lễ Tam Qui,

                  Xin Người rưới Ðức Từ Bi của Trời.

                          Các em ngu dại khắp nơi,

                  Một lòng chí hướng chẳng rời Lý Chơn.

                          Lạy cầu ân Ðức Bửu Ngươn,

                  Giáng phàm cạn tỏ Lý Chơn của Trời.

Niệm Tam Qui

1.    Nhứt Tâm Qui Hướng:

Vô Vi Chưởng Giáo Sư Phụ Đại Thiên Tôn

2.    Nhứt Tâm Qui Hướng:

Vô Hình Chủ Tể Pháp Luật Qui Điều

3.    Nhứt Tâm Qui Hướng:

Vô Kiệt Chí Tôn Cao Thiên Đại Đế

Kính lạy Đức Diêu Trì

                            Lạy Mẹ Ðại Từ, Ðại Bi,

                  Xin thương con dại ngu si phàm trần.

                          Cho người đem khỏi mê tân,

                  Ðặng cho con dại Ngươn Thần mở mang.

                          Con đà sái bước lạc đàn,

                  Muôn ngàn tội lỗi chứa chan dẫy đầy.

                          Mẹ thương, xin Mẹ làm khuây,

                  Tha cho con dại thơ ngây lỗi lầm.

                          Từ đây con nguyện chí Tâm,

                  Cải tà qui chánh lo chăm theo Thầy.

                          Gió trong vén ngút rẽ mây,

                  Lạy xin Ðức Mẹ đoái bầy con thơ.

                          Ðừng cho xiêu lạc vất vơ,

                  Xin cho biết bến, biết bờ sanh sanh.

                          Lòng con rót cạn chữ thành,

                  Lạy nhờ Ðức Mẹ xin nhìn chăm nom.

                          Cho người hôm sớm thăm lom,

                  Cho người dạy dỗ, hôm mai kịp thì.

                          Lạy Mẹ Ðại Từ Ðại Bi,

                  Xin thương con dại ngu si phàm trần.

Kính lạy Đức Chí Tôn

                             Lạy Thầy Chúa Tể Kiền Khôn,

                  Mở lòng Bác Ái thương con với cùng.

                          Con đà lạc Tổ, xiêu Tông,

                  Ðem đường dẫn lối nhờ trông có Thầy.

                          Tam Kỳ vừa gặp hội nầy,

                  Tan sương vén ngút, rẽ mây trong Trời.

                          Cõi trần bể khổ Thầy ôi!

                  Cầu kinh hôm sớm, cứu người trầm luân.

                          Thầy ôi! con dại vô ngần,

                  Cầu xin Lượng Cả khoan hoằng bao dung.

                          Từ đây con nguyện chí công,

                  Kiên Tâm dốc chí một lòng không sai.

                          Nhờ xin Lượng Cả đoái hoài,

                  Cho người ủng hộ hôm mai tập tành.

                          Lòng Thành thấu đến Cao Xanh,

                  Ngửa xin Lượng Cả chứng minh lời cầu.

                          Vô ưu, vô lự, vô câu,

                  Tu Tâm Dưỡng Tánh, trước sau cho tròn.

                          Lạy Thầy Chúa Tể Kiền Khôn,

                  Mở lòng Bác Ái thương con với cùng.

Kinh Kính Lạy

Kính Lạy Các Vị Phật Tiên Thánh

Tứ Đại Thánh Nhơn:

Đức Chúa Jesus – Đức Gia Tô Giáo Chủ

Đức Lão Tử – Đức Đạo Tổ Lão Quân

Đức Khổng Tử – Đức Văn Tuyên Khổng Thánh

Đức Phật Thích Ca – Đức Phật Tổ Như Lai

Các vị Phật, Tiên, Thánh khác:

Đức Phật Quan Âm

Đức Giáo Tông

Đức Quang Thánh Đế Quân

Ngôi Chị Thể Liên Tiên Nữ


Kính lạy Đức Gia Tô Giáo Chủ

Lạy cầu Con Một Chúa Cha,

Gia Tô cứu thế xót xa tôi cùng.

Cũng vì nơi tội Tổ Tông,

Ngôi Hai phải dụng máu hồng rửa tan.

Chúng tôi ngoại giáo khổn nàn,

Lòng theo ma quỉ tin càn tưởng vơ.

Xa xuôi khác cõi cách bờ,

Đông Dương một cõi, thiên thơ chưa tường.

Cúi xin chỉ mối đem đường,

Nước Cha chính ngự Ngôi Trời,

Chúa con ngai hữu đời đời hiển vang.

Bởi nơi Người thác rõ ràng,

Mà nên sống lại đặng ban ơn lành.

Chúng tôi muôn tội đã đành,

Vì chưng tối mắt chưa nhìn biết Cha.

Cả kêu một tiếng lạy Cha,

Chúng con biết tội xin tha con mà.

Lạy cầu Con Một Chúa Cha,

Gia Tô cứu thế xót xa tôi cùng.


Kính lạy Đức Đạo Tổ Lão Quân

Lạy cầu Đạo Tổ Lão Quân,

Thanh hư Đạo Đức cạn phân Đạo mầu.

Chúng tôi muôn lại khấu đầu,

Chí thành cảm ứng khẩn cầu chơn kinh.

Chúng tôi thân phận hậu sinh,

Chí tâm mộ Đạo giữ gìn huyền công.

Thảy đều một dạ một lòng,

Nỗi vì mối Đạo minh mong khôn tường.

Muôn cầu rộng lượng xin thương,

Dạy người chỉ lối mở đường chúng tôi.

Ngây thơ mờ tối vô hồi,

Mà lòng quyết chí trau giồi bổn căn.

Cúi xin rưới chút Hồng Ân,

Cúi xin chỉ mối đặng phăng đặng tìm.

Thinh thinh Trời lặng gió êm,

Ngươn Thần phước đặng chơn kim đơn thành.

Phi đằng thổ nạp trường sanh,

Siêu phàm nhập Thánh, huỳnh đình hóa thân.

Lạy cầu Đạo Tổ Lão Quân,

Thanh Hư Đạo Đức cạn phân Đạo mầu.

Kính Lạy Đức Văn Tuyên Khổng Thánh

Cung duy Chí Thánh Văn Tuyên,

Hi Hiền, Hi Thánh, Hi Thiên, miếu đàng.

Ngọc thơ, lân thổ thần quang,

Tố Vương tổ thuật, hiền chương đại thành.

Đạo nguyên Trung Hiếu nhị kinh,

Loạn thần tặc tử đảm kinh tâm hàng.

Thi Thơ Lễ Nhạc định sang,

Xuân thu bút tước, kỹ cang lập trần.

Chánh Tâm tu kỷ trị nhơn,

Thần minh tận Thánh tuần hường cảm thông.

Hệ từ biến hóa vô cùng,

Ẩn vi hiển hiện Đạo thông vô hình.

Vô Vi, vô xú, vô thinh,

Tồn Tâm Dưỡng Tánh, hư linh năng hoằng.

Quyền quyền, minh đức, tân dân,

Cựu chương Thiên Mạng, lịch trần phát phu.

Bất hành thượng tháng phu phù,

Huồng hồ cuốn quyến thúc tu án tiền.

Cung duy Chí Thánh Văn Tuyên,

Hi Hiền, Hi Thánh, Hi Thiên, miếu đàng.

Kính Lạy Phật Tổ Như Lai

Nhứt Tâm đảnh lễ Như Lai,

Khẩn cầu Phật Tổ thương loài chúng sanh.

Đạo mầu, đổng triệt u minh,

Vô biên, vô lượng, sinh sinh hằng hà.

Vị lai quá khứ trần sa,

Viên minh chánh giác, Di Đà công phu.

Chúng tôi chí nguyện chơn tu,

Nỗi vì mối Đạo mịt mù không han.

Đại thừa muốn thấu tam tàng,

Không người dẫn lối, chỉ đàng bồn lai.

Chí công dầu có ráng mài,

Minh Sư chưa gặp ắt sai lầm dường.

Kiền thiền khẩn nguyện Tây Phương,

Từ Bi tế độ, rộng thương diêm phù.

Cho người giải thích trí ngu,

Linh sơn chứng quả đặng chầu Thế Tôn.

Cho người dìu dắt gốc nguồn,

Chớ cho xiêu lạc bàn môn đạo ngoài.

Nhứt Tâm đảnh lễ Như Lai,

Khẩn cầu Phật Tổ thương loài chúng sanh.


Kính Lạy Đức Quan Âm

Kiền thiền vọng bái Lạc Già,

Quan Âm Phật Mẫu, Phổ Đà từ bi.

Chúng con mảng tánh tham si,

Thất tình lục dục án che Ngươn Thần.

Dốc lòng thoát bến mê tân,

Cầu xin Phật Mẫu ân cần đoái thương.

Xin cho Tâm Tánh mở mang,

Bổn lai diện mục hồi quang Di Đà.

Lòng thành như thiết như tha,

Lòng thành cảm ứng liên tòa chứng minh.

Hữu vô, không sắc tánh tình,

Trần gian không thấu, u minh mờ mờ.

Xin cho biết bến, biết bờ,

Chỉ đường cực lạc cậy nhờ Ơn Trên.

Cúi xin giúp sức Thiêng Liêng,

Niết Bàn diệu quả, giáo duyên Bồ Đề.

Trông nhờ thức tỉnh giấc mê,

Chơn Như Tam Bửu nào hề có xa.

Kiền thiền vọng bái Lạc Già,

Quan Âm Phật Mẫu Phổ Đà từ bi.

Kính Lạy Đức Giáo Tông

Kiền thiền vọng bái Trường Canh,

Tây Phương Thái Bạch Kim Tinh Tiên Toà.

Rộng lòng bác ái gần xa,

Rộng lòng dìu dắt, giái ba ngây khờ.

Luật Trời u hiển huyền cơ,

Cửa Trời rộng mở, cậy nhờ điểm khuyên.

Sạch trong nhơn quả mảng viên,

Muôn năm mừng gặp, nhơn duyên hội nầy.

Chúng con quyết dạ thờ Thầy,

Xin ơn vén ngút rẽ mây đem đường.

Mênh mang mờ mịt bốn phương,

Vững lèo cậy ánh Thái Dương khỏi lầm.

Phật Trời diệu pháp thâm thâm,

Nỗi con khờ dại tối tăm phàm trần.

Cúi nhờ hoằng hóa đại ân,

Cỏ cây tắm gội mưa xuân phơi màu.

Chúng con lớn nhỏ khấu đầu,

Cậy nhờ thuốc chửa kẻ đau mau lành.

Kiền thiền vọng bái Trường Canh,

Tây Phương Thái Bạch Kim Tinh Tiên Toà.

Kính Lạy Đức Quan Thánh Đế Quân

Cúi cầu Quan Thánh Đế Quân,

Thần oai văn võ Điển Ân dồi dào.

Khắp miền âm phủ Thiên Tào,

Tam Tài Tam Giáo phú trao quyền hành.

Xét soi Tam Giáo chúng sanh,

Trừ gian khử bạo giúp lành cứu nguy.

Vận xây Phổ Độ Tam Kỳ,

Thánh ban Chưởng Quản chỉ huy mối giềng.

Giúp Thầy mở Đạo Nam Thiên,

Minh Kinh, Vĩnh Mạng chỉ bày,

Đêm đêm dìu dắt, ngày ngày chăm lo.

Thế gian khác thể trời hôm,

Cậy vừng minh nguyệt, nhờ chòm đẩu tinh.

Tuần hường khảo sát u minh,

Thưởng thiện, phạt ác, siêu sinh cứu nàn.

Chúng tôi bể khổ mênh mang,

Cậy Thanh Long Kiếm dẹp đàng mê tân.

Cúi cầu Quan Thánh Đế Quân,

Thần oai văn võ Điển Ân dồi dào.

Kính mừng Ngôi Chị Thể Liên

Kính mừng Ngôi Chị Thể Liên,

Chơn như đắc quả, mảng viên niết bàn.

Tiền căn danh liệt Tiên Ban,

Giáng phàm công quả hoàn toàn Bổn Lai.

Nhứt tâm tín ngưởng Cao Đài,

Ghe phen sấm sét chẳng hay chẳng sờn.

Liễu phàm Thầy lại ban ơn,

Độ cho người thấy noi gương tu hành.

Diệu Cung hôm sớm tập tành,

Bái cầu Thánh Mẫu, Chơn Kinh sám truyền.

Công đồng Thần Phật Thánh Tiên,

Cầu phong Bồ Tát, Thể Liêng Đạo Tràng.

Ngôi Chị vì mến Kiên Giang,

Hạ mình cầu chịu bái ban Phước Thần,

Từ Bi Ngọc Sắc Thầy phân,

Kiên Giang vĩnh trấn bủa nhân Đức Thầy.

Trời trăng gió tạnh hay hay,

Xuân thu cảm ứng đêm ngày linh thiêng.

Kính mừng Ngôi Chị Thể Liêng,

Chơn như đắc quả mảng viên Niết Bàn!

Kinh Nhựt Tụng

Daily Prayers

The following prayers are to be used daily, in the morning, at noon, in the evening and at night to remind each being of his Divine Origin.

Kinh Nhựt Tụng dùng để đọc tứ thời mỗi ngày, gồm có:

Kinh Thái Dương                                         đọc giờ Mẹo (5-7 am)

Kinh Nhựt Trung                                          đọc giờ Ngọ (11 am-1 pm)

Kinh Thái Âm                                                đọc giờ Dậu (5-7 pm)

Kinh cầu siêu cứu Cửu Huyền Thất Tổ đọc giờ Tý (11 pm-1 am) trước bài Sám Hối.

Sau mỗi Kinh, lạy 12 lạy.


Kinh Thái Dương

đọc giờ Mẹo (5-7 am)

     Giấc vừa tỉnh tinh thần trong suốt,

     Tưởng đến ơn ngọn Đuốc Thái Dương;

          Kim Quang chánh chánh đường đường,

Hang cùng nẻo thẳm khắp phương rọi vào. (1)

     Gọi khắp kẻ đồng bào bổ ích,

     Đại Võ xưa du tích thốn âm;

          Sanh sanh bể khổ luân trầm,

Một phân bóng ác vàng cầm mấy mươi. (2)

     Một lo bỏ biến lười nọc quỉ,

     Chính là đồ tiêu hủy thân danh;

          Dầu cho phải mặt hùng anh,

Thờ thần hèn nhác thì mình phải hư. (3)

     Hai lo phải dứt trừ bốn vách,

     Cổ chí kim tai ách tại đây;

          Lo cho công nghệ trương bày,

Lo sao danh giá sánh tày non sông. (4)

     Ba lo phải đồng lòng đồng dạ,

     Đặng lo trừ cái họa dại khờ;

          Học hành lo chớ bơ thờ,

Tứ dân tứ thú hỏng hờ sao nên. (5)

     Trăm việc giữ sự bền làm trước,

     Một bước cho một bước vững vàng;

          Nhà no người đủ mọi đàng,

Cậy nhờ Đức cả Thái Dương hộ trì. (6)


Kinh Nhựt Trung

đọc giờ Ngọ (11 am-1 pm)

     Thẳng một mực theo đường Chân Lý,

     Vẻ vang thay Nhựt chí đương Trung;

          Rạng ngời khắp cả non sông,

Tuần hoàn võ trụ vô cùng vô biên. (1)

     Tiếng khen tặng Nghiêu Thiên Thuấn Nhựt,

     Hưởng thái bình nhờ Đức Chí Công;

          Ban cho điểu thú côn trùng,

Ấm no thân thể vẫy vùng thảnh thơi. (2)

     Xưa nấu đá vá trời còn đặng,

     Nay há không dỏi bước tập rèn;

          Dày công muôn việc phải nên,

Đào sông trồng núi vụ bền công phu. (3)

     Trời đúng Ngọ làu làu cảnh sắc,

     Người chí-thành vặc vặc gan phơi;

          Tuy rằng Người ở trong Trời,

Lời Trời đã dạy chớ rời Trời trong. (4)

     Mùa vẫn có thu đông xuân hạ,

     Người đừng lòng nhĩ ngã tôn ti;

          Đam mình vào cửa Qui Y,

Hãy xem con bóng Hóa Nhi xây vần. (5)

     Con ác chẳng chúc ngừng nghỉ cánh,

     Giúp sanh sanh Kiến Tánh Minh Tâm;

          Muôn đời một mực không lầm,

Sớm trưa chiều tối quan âm chẳng lờ. (6)

     Người thức tỉnh mang nhờ ơn nặng,

     Biết giác mê phấn chấn Linh Quang;

          Chơn Thân mừng đặng nhẹ nhàn,

Bước đường tấn hóa ngày càng cao siêu. (7)

Kinh Thái Âm

             đọc giờ Dậu (5-7 pm)

     Trọn ngày đặng tinh thần thơ thới,

     Ơn Thái Dương muôn loại đều nhờ;

          Đoài cung nay đã đến giờ,

Thái Âm lãnh việc chuyển cơ đêm dầy. (1)

     Luật tấn hóa vần xây máy Tạo,

     Hết ngày rồi phiên đáo tới đêm;

          Luật ngày lửa thét rất nghiêm,

Luật đêm mát mẽ khỏe êm Ngươn Thần. (2)

     Nhờ Thái Âm một vừng trong trắng,

     Giúp sức người nhìn nhận Ngôi xưa;

          Ngôi xưa quí báu chẳng vừa,

Ngôi xưa thanh tịnh không trưa không chiều. (3)

     Ngôi xưa vốn tiêu diêu khoái lạc,

     Bỏ Ngôi xưa mộc mạc thân hình;

          Ngày nay nhìn lại mà kinh,

Trách ai thúc giục cho mình ra đi. (4)

     Ngày nay đến thời kỳ hối quá,

     Nguyền Thái Âm Ngôi Cả phò trì;

          Một lòng bất dịch bất di,

Định Tâm quyết chí hiệp qui nhau về. (5)

     Cơ Thái Âm nhiều bề thần bí,

     Ấy là nơi thâm thúy vô cùng;

          Sanh sanh hóa hóa trùng trùng,

Chính đây thiệt chỗ Hóa Công nhiệm mầu. (6)

     Diệu trung diệu, ẩn châu đáy biển,

     Huyền trung huyền, dội tiếng hang thần;

          Hư, Không, trầm, tỉnh, bổn căn,

Âm Dương ngưng kiết hóa phân Tam Tài. (7)

     Đạo dạy kỹ Một, Hai, Ba, Bốn,

     Đến Năm rồi, định chốn Trung Ương;

          Tại người sớm liệu tối lường,

Liệu, lường, đong, sớt, chế phương thêm mùi. (8)

     Rày mến Đạo nguyền vui với Đạo,

     Dứt những đều khờ khạo gọi khôn;

          Nguyền xin yên vững Linh Hồn,

Thân, Tâm, Tánh, Mạng, hiệp tròn như xưa. (9)


Kinh cầu siêu cứu Cữu Huyền Thất Tổ

đọc giờ Tý (11 pm-1 am) trước bài Sám Hối. 

     Trời thường dạy con Trời Tỉnh Ngộ,

     Phú Linh Quang thấy đủ mọi bề;

          Thấy Thân nhờ gốc chở che,

Thấy bờ thấy bến thấy quê thấy nhà. (1)

     Trời ban sẵn Người Ta Một Tánh,

     Khắp trần hoàn yếu mạnh bằng nhau;

          Phàm gian tuy khác giống màu,

Chơn Linh vốn Một Một nhau Một hòn. (2)

     Sống ở thế xác hồn chia rẽ,

     Khiến lộn lầm dâu bể Luân Hồi;

          Đua chen đây lở kia bồi,

Khôn khôn dại dại đời đời trả vay. (3)

     Trời thương trẻ đọa đày kiếp số,

     Lập Cao Đài phổ độ Kỳ Ba;

          Con nào muốn gặp mặt Cha,

Khuyên mau tỉnh giấc gần xa một lòng. (4)

     Lò Tạo Hóa Đại Đồng có Một,

     Xác với Hồn vốn ruột thịt nhau;

          Hồn khôn xác đặng sáng màu,

Xác khôn Hồn đặng mau chầu Chí Tôn. (5)

     Đạo Thầy mở vuôn tròn Trời Đất,

     Dạy Xác Hồn Hiệp Nhứt theo Thầy;

          Xác dầu tỉnh tỉnh say say,

Hồn Linh phải nhớ Cao Đài Ngôi xưa. (6)

     Quên Ngôi Xưa đảo lừa trốn tránh,

     Càng làm hại Tánh hại Thần;

          Thầy ban Linh Điển đồng cân,

Thầy đà nhìn nhận Thiên Ân bủa đều. (7)

     Lãnh Thiên Ân nghe theo Thiên Tánh,

     Hiệp với Cha mới rảnh nợ trần;

          Hồn Linh Hồn khá ân cần,

Hồn Linh Hồn nhận Chơn Thân Hồn Hồn. (8)

     Thầy cứu độ muôn muôn thế giái,

     Độ thoát mê trở lại Ngôi xưa;

          Khuyên Hồn phàm tục ráng chừa,

Khuyên Hồn phải tránh phải ngừa lưới ma. (9)

     Hồn hiệp đủ Một Ba Ba Một,

     Hồn rảnh rang ngục nhốt vô biên;

          Hiệp xong Thất Tổ Cửu Huyền,

Hiệp đồng Võ Trụ Khôn Kiền Thiêng Liêng. (10)

     Đầu vọng bái Cao Thiên chứng giám,

     Rưới Thiên Ân ứng cãm chúng sanh;

          Muôn nhà đồng hưởng phước lành,

Muôn nhà xưng tụng Hồng Danh nơi Trời. (11)

     Đầu vọng bái vơi vơi Chúa Tể,

     Chứng tất lòng cho trẻ thơ ngây;

          Cả kêu một tiếng Lạy Thầy,

Lạy Thầy Chúa Tể tràng đầy thế gian. (12)

Kinh Tang Lễ

Kinh Cầu Hồn (12)

Kinh Tịnh Thân Cho Người Bịnh Liệt

     Ngộ đường Chơn Lý gắn lòng thành,

     Đạo Đức nên gương chứng quả thanh,

     Chơn giả phân rành noi chánh giáo,

     Thần minh ủng hộ tiếp Anh Linh.

     Trời mở rộng năm châu chung một,

     Đạo Trời khai dụng Đuốc Lý Chơn;

Đạo khai thức tỉnh Nguyên Nhơn,

Đạo khai cứu vớt người cơn ngặc nghèo. (1)

     Cảnh vật chất như bèo trôi nổi,

     Nhờ Anh Linh rõ mối chơn truyền;

Đạo khai độ kẻ hữu duyên,

Độ cho thoát tục đoàn viên với Trời. (2)

     Mến trần tục muôn đời lao khỗ,

     Có duyên nên tỉnh ngộ đường ngay;

Xác lo bồi đấp công dày,

Hồn về cảnh củ ngày ngày hưởng an. (3)

     Nơi cảnh củ thanh nhàn cực lạc,

     Nhớ nương theo bạch hạt ân cần;

Gìn lòng bỏ tánh tham sân,

Một lòng nương Đạo phăng lần quê Tiên. (4)

     Kiếp ở tạm đảo điên lở dở,

     Về quê xưa dứt nợ dương trần;

Ngày đêm bồi bổ Thiên chân,

Nghe theo kinh kệ sớm gần đặng Cha. (5)

     Nhớ lời Cha mới là con thảo,

     Con thảo thời dạy bảo phải tuân ;

Anh Linh sáng suốt trong ngần,

Anh Linh vững chặc bổn căn nơi lòng. (6)

     Đường rộng rải mau giong ruổi bước,

     Bến bờ kia sẵn Đuốc chực người;

Dắt về đường chánh của Trời,

Dắt về đến chốn đến nơi quê nhà. (7)

     Hồn tuy gọi có ba tên khác,

     Rõ Lý Chơn khỏi lạc cã ba;

Độ Hồn ra khỏi Ái hà,

Độ hồn thoát tục khỏi sa hồng trân. (8)

     Người muốn đặng đến từng ngôi củ,

     Phải lo Tu cho thấu đường ngay;

Nhứt Tâm gìn giữ hằng ngày,

Trau dồi Tâm Tánh cho dày công phu. (9)

     Trời đã dạy trí ngu cũng một,

     Cũng một đều con ruột của Thầy;

Giữ cho Tâm Tánh đừng phai,

Đến ngày đều được Liên Đài trổ tên. (10)

     Thầy mở rộng một nền Bác Ái,

     Độ gần xa con dại của Thầy;

Khắp cùng Nam Bắc Đông Tây,

Thảy đều con dại của Thầy tư riêng. (11)

     Linh Hồn vốn Thiêng Liêng sáng suốt,

     Luật Thánh ban phải thuộc phải dè;

Anh Hồn trưa sớm đề huề,

Thần Hồn nương cậy đường về lối đi. (12)

     Trước chỉ dạy qui y Tam Bảo,

     Tam Bảo là rào giạu của Trời ;

Thầy răn Thầy dạy đủ lời,

Hồn Linh ghi tặc kịp thời đoàn viên. (13)

     Đạo Trời độ Thần Tiên Phật Thánh,

     Đạo Trời ban chánh chánh đường đường ;

Đạo Thầy rộng mở khắp phương,

Khắp phương mở rộng một đường Lý Chơn. (14)

     Rõ Chơn Lý hóa Nhơn thành Đạo,

     Thành Đạo rồi quả báo đâu lo ;

Chung vui Tạo Hóa một lò,

Một lò Tạo Hóa bày phô nhản tiền. (15)

     Thầy mở rộng một duyên muôn mối,

     Có duyên thời biết lối biết đàng ;

Biết đàng biết lối biết phương,

Biết rồi Hồn mới tỏ tường rún nhao. (16)

     Ngôi Độc Nhứt Trời giao mối Đạo,

     Hiệp lại hòa Tam Giáo đồng nguyên ;

Lòng Trời vô lượng vô biên,

Hồn mau tỉnh ngộ hiệp duyên cùng Thầy. (17)

     Lòng Cảm Ứng đường ngay thẳng tiếp,

     Linh, Anh, Thần, chung hiệp cả ba;

Hiệp nhau một mối thờ Cha,

Hiệp chung Tánh Mạng, mới hòa Chơn Thân. (18)

     Chơn Thân được vui mừng hòa hiệp,

     Chốn Ngọc Kinh chơn kịp đến chầu;

Phủi cơn nắng lửa mưa dầu,

Đồng vui trước bệ chín châu một nhà. (19)

     Tánh Mạng đã hiệp hòa bệ Ngọc,

     Trời Cha chung săn sóc hằng ngày;

Nhứt Tâm Nhứt Đức đừng sai,

Nhứt Tâm Nhứt Đức Cao Đài ban ơn. (20)

Lời dặn bài số 12:

Hễ bịnh nhơn coi mòi chẳng chịu thanh thuốc chi nữa rồi, sự mạnh không còn kể chắc được nữa, ấy là phần xác thịt đã thấy không còn chịu đựng nữa, thì phải trông cậy về sự nhắc nhở chỗ phần Hồn. Đọc kinh này, vụ đọc cho kẻ bịnh được nghe, mà thức tỉnh lấy Tánh Mạng Thiêng Liêng của mình, chẳng luận lúc nào đều đọc được hết, chẳng cần bịnh tỉnh hay là mê, vì vụ cho Linh Hồn nhớ lấy quê xưa cảnh củ mà về đó thôi.


Kinh Cầu Hồn  (13)

Cho Người Bịnh Đương Lúc Ngặc Mình

     Hơi thắt ngặt thân hình bức rức,

     Anh Hồn như rung đất nghiên trời;

Linh Hồn toan dứt nợ đời,

Thần Hồn quyến luyến chưa rời phàm thân. (1)

     Vì tình ái trược trần chầu chực,

     Khiến Anh Hồn khốn cực khó lìa;

Điển quang thọat nối thọat chia,

Khi xa muôn dậm khi về kề bên. (2)

     Lúc mê tỉnh đành quên Chơn Tánh,

     Lại năng hoằng một gánh thân bằng;

Tiếng kêu tiếng gọi bân khuân,

Khó cho Hồn tách nhấm băng đường về. (3)

     Lớp vật chất nặng nề thương tiếc,

     Còn mẩn mê chưa quyết ra đi;

Chơn thân giục thúc kịp thì,

Phàm thân vọi kéo níu trì thảm thương. (4)

     Hồn chưa rõ nguồn cơn sống chết,

     Mê theo phàm chẳng biết khúc nôi;

Dè đâu cổi cái túi hôi,

Trở về tiên cảnh sống đời mới vinh. (5)

     Đầu cúi lạy Ngọc Kinh chín bệ,

     Giúp cho Hồn đừng trể bước đường;

Nương theo tiếng gọi Không Vương,

Nương theo Thanh Khí kịp đường hồi qui. (6)

     Thông Đại Đạo chẳng chi gọi khổ,

     Người sống là sống chỗ không gian;

Sớm khuya Tánh Mạng luận bàn,

Noi theo Kinh kệ nhẹ nhàn Thần linh. (7)

     Sống của Đạo trường sanh bất diệt,

     Sống của trần thêm thiệt hại thân;

Xác trần nên trả cho trần,

Hồn linh mau tỉnh về lần quê Tiên. (8)

     Chốn quê Tiên Thiêng Liêng xum hợp,

     Cổi được xong mấy lớp nợ trần;

Phàm thân hòa với Chơn Thân,

Đang căng gió bụi nhọc nhằn mấy cơn. (9)

     Hồn thức tỉnh noi đường chánh giác,

     Hồn mau nương bạch hạt lần về;

Về cho đến kiển đến quê,

Về cho kịp buổi chớ mê trể kỳ. (10)

     Đầu cúi lạy Từ Bi Thánh Đức,

     Giúp Tánh linh tuyệt dứt phàm căn;

Biết đường Tánh Mạng sớm phăng,

Biết đường Tu Tỉnh mà răn lấy mình. (11)

     Luật Trời định đành rành có Một,

     Tuân Luật Trời dứt nổi phàm tâm;

Bạn Trời thiệt Bạn tri âm,

Bạn Trời Thiệt Bạn dạy làm Phật Tiên. (12)

     Cảnh Phật Tiên đòan viên cảm ứng,

     Về đến nơi mới vững Tam Tài;

Người Trời Vốn Một không hai,

Người, Trời, Một Vốn, sống hòai muôn năm. (13)

Lời Giải:

Bài này chánh là một Thánh Giáo chỉ rõ về Tam Hồn: Thần Hồn, Anh Hồn, Linh Hồn

Đâu là sống, đâu là chết? Chết sống là sao?

Thể nào đặng sống? Thể nào là chết?

Thể nào là Thể của Người? Thể nào là Thể của vật?

                         Ớ Người!  

Người có nghe đọc lại một lần đến đây chưa?

Nếu rằng nghe đặng một lần rồi, vậy nên tự mình hỏi lại mình rằng có đế ý cho biết “Người là chi” chăng? Mình là ai? Thiệt Mình là chi? Cái Mình Thiệt của mình là cái Mình nào? Nó bởi đâu mà có, nhờ đâu mà Sống mà Sanh?

Nếu mấy lời hỏi đây mà tự mình không chịu suy gẫm tìm kiếm hang hỏi, vậy cũng nên hỏi lại mình rằng ai ở trong mình mình mà ngăn trở bước đường tấn hóa thiên nhiên của mình; có gạn hỏi vậy rồi may ra đặng chút tỉnh mình rồi mới có tự tỉnh đặng mình, khi ấy mới có thể có lại với mình một sự sống vui đầy đủ mọi phần ấm no, trường sanh bất tử.

Tây Sư Tinh Quân

Đốc Tràng Giảng Đàn Chơn Lý của Đức Chí Tôn

Kinh Cầu Hồn  (14)

Cho Người Bịnh Vừa Dứt Hơi Thở

     Dứt hơi thở Hồn vừa khỏi xác,

     Điển Anh Linh thoát khỏi cao bay;

Tùy theo không khí trở day,

Tùy theo thanh trược Thiên Đài lần theo. (1)

     Thương cho kẻ còn đeo nghiệp quả,

     Phải chịu đường vất vả cõi trần;

Sống không bồi bổ tinh thần,

Đến ngày mảng kiếp chịu phần gain nan. (2)

     Thầy thương xót hằng ban ân huệ,

     Cho Hồn Linh nghe kệ sửa lòng;

Sửa cho Tâm Tánh sạch trong,

Sửa Phàm nên Thánh thoát vòng trần duyên. (3)

     Hồn nay đã tách miền phàm tục,

     Điển Linh Quan sẳng chự rọi đường;

Cửa Trời ngày tháng náu nương,

Dùng gương trí huệ phước lường tội cân. (4)

     Gương trí huệ trong ngần như tuyết,

     Mình trông mình, mình xét lấy mình;

Cuộc đời sợi chỉ vàng xanh,

Lóng xong trọng trược khinh thanh được kề. (5)

     Cảnh khinh thanh thiệt quê cảnh củ,

     Trời dựng làm chỗ trụ Hồn Linh;

Sớm trưa lóng kệ nghe kinh,

Lóng xong trọng trược khinh thanh được kề. (6)

     Học Tiên Thánh bồi công giúp quả,

     Luyến hồng trần trả trả vay vay;

Đời đời gió cuốn mây cày,

Thát rồi thấy đó trong tay vật nào? (7)

     Xác của Đất để giao Đất định,

     Hồn của Trời tự tỉnh Chân Linh;

Giác mê Thầy đã chỉ rành,

Giác mê mới khỏi tội hành khổ tâm (8)

     Đầu cúi lạy Cao Thâm bố đức,

     Giúp Hồn Linh tỉnh giấc mộng trần;

Sớm về hội ngộ Chân Thân,

Tháng ngày bệ ngọc được gần gủi Cha. (9)

     Lòng thành kỉnh thiết tha khác vọng,

     Xin ơn lành biển rộng trời cao;

Chúng con lớn nhỏ khấu đầu,

Cầu cho Hồn Phách trước sau vững vàng. (10)

Kinh Cáo Phó (15)

Đốt hương dưng thấu chín từng,

Nguyền chư Tiên Phật, Thánh Thần chứng minh,

(Tên họ người mới qua đời) thoát linh,

Tách thân khỏi Có, nhẹ mình về Không.

Cầu cho Thần đến Đại-Đồng,

Rõ đàng Chơn Chánh khỏi vòng muội-mê.

Thần Hồn chớ luyến cựu quê,

Phải phân trong sạch các bề nhơn-gian.

Nguyền xin mở lượng hồng khoang,

Chỉ đường dẫn lối khỏi đàng luân-xa.

Tu-trì hôm sớm gần Cha,

Giồi Tâm sửa Tánh cho ra Chơn-Hình.

Tam Hồn trong sạch hiển linh,

Giúp Trời hành Đạo sắc đinh một lòng.

Khẩn cầu Thần Phật chí-công,

Thành tâm cáo nguyện muôn trùng thọ ân.

Kinh Cầu Hồn (16)

Cho Người Thiệt Dứt Hơi Thở Và Đã Cáo Phó

     Trời đã định hoằng khai Đại Đạo,

     Độ năm châu tôn giáo hiệp hòa;

        Sống tuy khác cửa khác nhà,

Thác rồi nhìn thấy một Cha một Trời. (1)

     Trời đã dạy nhiều lời tha thiết,

     Sống mãn lo mình biết lấy mình;

        Ngày nay mãn kiếp phù sinh,

Nhìn coi vật gọi của mình thể nao? (2)


     Trời thường nói ảo bào cảnh giả,

     Sống không lo cải hóa tự tân;

        Lo xây nghiệp chướng nặng hoằng,

Nay nhìn thử lại hồng trần là chi? (3)

     Ngày sống gởi chẳng suy nghĩ kỹ,

     Lo tranh đua cho phỉ theo đời;

        Ngày nay vật đổi sau dời,

Linh hồn khá tỉnh nghe lời dạy khuyên. (4)

     Kiếp sống tạm nhiều phen bay nhảy,

     Quên cuộc trần nước khuấy nên hồ;

        Vui nhìn vách đất vôi tô,

Tưởng rằng của báu nức nô reo mừng. (5)

     Kiếp sống tạm ái ân khắn khít,

     Quên thân phàm túi thịt hôi tanh;

        Vui xem song sắc đưa tình,

Tưởng câu thệ nguyện vững nghìn muôn năm. (6)

     Kiếp sống tạm phơi dầm sương nắng,

     Dốc lòng lo gầy dựng cơ đồ;

        Nào hay nghiệp lớn báo to,

Nào hay lớn sức ăn no bao giờ. (7)

     Kiếp sống tạm chẳng chừa lợi nhỏ,

     Coi mồ hôi người đổ như không;

        Tóm thâu báu biển vàng sông,

Nào hay của gởi có trông gì cầm! (8)

     Kiếp sống tạm ăn nằm sang trọng,

     Coi xác thân trứng mỏng chẳng bì;

        Nào hay hơi thở nín đi,

Thua loài thảo mộc vô tri còn dùng. (9)

     Kiếp sống tạm hưng sùng thế lực,

     Càng hưng sùng càng cực thân sau;

        Khá mau thức tỉnh hồi đầu,

Hồi đầu mới gặp nhịp cầu thiêng liêng. (10)

     Cầu thiêng liêng tự nhiên dễ bước,

     Có tiền duyên có phước có phần;

        Khuyên hồn tỉnh mộng ân cần,

Khuyên đừng dùng thẳng khuyên đừng lương khương. (11)

     Hồn thức tỉnh tìm đường chánh giác,

     Hồn mau chừa nghiệp ác trước sau;

        Hồn nghe hồn phải hồi đầu,

Hồn tin hồn đặng chực chầu Ngọc Kinh. (12)

     Hồn nay ở u-minh cảnh giái,

     Hồn biết rành khôn dại là chi;

        Hồn khôn hồn khá qui y,

Hồn khôn hồn phải kịp kỳ mới khôn. (13)

     Hồn phải nhớ chơn hồn hượt bát,

     Hồn đừng cho xiêu lạc xa vời;

        Hồn khôn hồn biết nghe lời,

Hồn khôn hồn gặp Cha Trời thiêng liêng.  (14)

     Hồn thấy rõ tiền khiên nghiệp quả,

     Hồn mới hay sự giả dối đời;

        Hồn khôn hồn biết sợ Trời,

Hồn khôn hồn phải nghe lời Trời khuyên. (15)

     Hồn đặng thấy trần duyên ảo mộng,

     Hồn mới hay sự sống là hồn;

        Hồn than hồn thở hồn buồn,

Hồn phiền xác thịt điên cuồng say mê. (16)

     Hồn thấy rõ hồn tê tái dạ,

     Hồn giựt mình hồn lạ cho hồn;

        Hồn rằng sáng láng là hồn,

Hồn sao nở để đời chôn Linh Hồn. (17)

     Hồn thấy rõ việc cồn dâu bể,

     Hồn có đâu còn trể chuyến đò;

        Hồn khôn hồn phải rán lo,

Hồn khôn hồn phải đừng cho luân hồi. (18)

     Hồn chữ dạ một Ngôi Chúa Tề,

     Hồn dặng hồn đừng để mắc lừa;

        Hồn đà minh thệ buổi xưa,

Hồn mau sám hối dây dưa trễ chầu. (19)

     Hồn nhớ lại trước sau mấy kiếp,

     Hồn cũng vì chẳng hiệp chẳng hòa;

        Hồn đành rẽ rún Ngôi Cha,

Hồn mê hồn chướng hồn xa chơn hồn. (20)

     Hồn thức tỉnh biết khôn mới ngộ,

     Hồn nay nhờ Phổ Độ Kỳ Ba;

        Hồn mau trở lại với Cha,

Hồn khôn hồn chớ ta bà thế gian. (21)

     Hồn trong sạch rõ đàng Chơn Lý,

     Hồn mụi mê thì quỉ níu tri;

        Hồn khôn lời dạy cứ ghi,

Hồn theo Độc Nhứt Vô Vi Cha Trời. (22)

     Trời mở rộng một thời ân xá,

     Trời cho người hối quá tự tân;

        Trời khuyên người phải ăn năn,

Trời lần muôn kiếp một lần chẳng sai. (23)

     Trời mở cửa Cao Đài rước trẻ,

     Trời lâm phàm đành phế Ngọc Kinh;

      Trời khuyên con dại phải tìm,

Trời khuyên phải nhớ đinh ninh lời Thầy. (24)

     Trời đâu bỏ cả bầy con dại,

     Trời thương cho đứa cãi lời Thầy;

        Trời rằng quỉ kế tiếp tay,

Trời khuyên tai họa tràn lây phải ngừa. (25)

     Trời chỉ rõ đường cưa nét mực,

     Trời nào cho quỉ chực dẫn người;

        Trời thương cho đứa dể ngươi,

Trời thương hết lúc vui cười mới hay. (26)

     Trời răn dạy hằng ngày hằng bữa,

     Trời đâu quên lời hứa của Trời;

        Trời rằng Đạo Thể vơi vơi,

Trời thương cho trẻ xiêu vời lạc truông. (27)

     Trời thương kẻ ma duồn quỉ khảo,

     Trời khen người mượn Đạo bán Trời;

        Trời rằng thưởng phạt chẳng sai,

Trời cầm luật Đạo chẳng hai tay cầm. (28)

     Trời đã dạy cơ thâm phải lánh,

     Trời khuyên đừng ỷ mạnh qua Trời;

        Trời đâu đem dạ phụ người,

Trời thương cho kẻ coi Trời rằng chơi. (29)

     Trời khuyên kẻ Đạo Đời phân biện,

     Trời khuyên đừng quyến luyến kế ma;

        Trời rằng Đạo Một mà Ba,

Trời rằng biết Một rõ Ba hiểu Trời. (30)

     Trời không chỗ không nơi không thấy,

     Trời từng khuyên chớ cậy già lời;

        Trời khuyên ngước mặt nhìn Trời,

Trời không nay đổi mai dời Luật Công. (31)

     Trời mở Đạo Đại Đồng thế giới,

     Trời khuyên cùng Tứ Đại Bộ Châu;

        Trời khuyên con dại đâu đâu,

Trời khuyên đừng để đớn đau Linh Hồn. (32)

     Hồn tỉnh giấc luôn còn trông đợi,

     Hồn giác mê hồn tới niết bàn;

        Hồn còn phiền não não phiền,

Hồn còn ý mã tâm viên tại hồn. (33)

     Hồn vốn ở cội nguồn chơn chánh,

     Hồn lạc hồn hồn ngảnh Lý Chơn;

        Hồn mê giọng quyển tiếng đờn,

Hồn mê phép lạ hồn chôn hồn hồn. (34)

     Hồn đau đớn hồn khôn đã muộn,

     Hồn trách hồn phí uổng công phu;

        Hồn tin theo lũ quáng mù,

Hồn tin theo lối quyến rù hư thân. (35)

     Hồn tỉnh giấc ăn năn tha thiết,

     Hồn mới nhìn Cha thiệt của hồn;

        Hồn xem kiếp số dập dồn,

Hồn than hồn trước điên cuồng ngây ngô. (36)

     Hồn ở thế mồ hồ kiêu hãnh,

     Hồn mãn mê mộng ảnh ảo bào;

        Hồn quên Đất rộng Trời cao,

Hồn đành đeo đuổi sang giàu phù hoa. (37)

     Hồn xiêu lạc cõi ba mấy kiếp,

     Hồn đã quên những nhịp Liên Đài;

        Hồn ngờ hồn tưởng hồn tài,

Hồn đâu có biết hồn sai Chơn Hồn. (38)

     Hồn thức tỉnh hồn xôn xao tủi,

     Hồn tủi vì hồn lỗi bước đường;

        Hồn trông Trời mở lòng nhơn,

Hồn nhờ hồn cậy hồn nương hồn về. (39)

     Hồn tỉnh thấy cõi quê hương trước,

     Hồn phiền hồn lầm chước quỉ ma;

        Hồn nguyền tha thiết thiết tha,

Hồn nguyền theo Một, Một Cha Một Thầy. (40)

     Hồn nay gặp Ơn Thầy tế độ,

     Hồn mau về nơi chỗ Trời ban;

        Hồn tìm cho trúng con đàng,

Hồn còn hy vọng chứa chan cho hồn. (41)

     Hồn nhiều kiếp dập dồn tội phước,

     Hồn khá mau lần lượt sửa lần;

        Hồn mau noi dấu nguyên nhân,

Hồn mau lần bước bước lần Ngọc Kinh. (42)

Lời dặn cho bài số 16:

Bài kinh nầy đọc trong những lúc người bịnh đã thiệt tắt hơi cho đến khi đưa ra huyệt. Chẳng luận còn để quàn mấy ngày. Trong mấy ngày ấy đều phải đọc kinh nầy cho tỉnh Linh Hồn. Hãy coi lời dạy kỷ nời chót bài này của Đức Bạch Thắng Chơn Nhơn dạy, đặng biết mà làm cho trúng phép.

Lời dặn của Đức Bạch Thắng Chơn Nhơn:

Vưng lịnh Ngôi Chị đến cho bài kinh nầy để dành đọc cho những kẻ vừa tuyệt tức cho đến khi đủ 100 ngày. Kinh nầy đọc cho Hồn thức tỉnh, kẻo lúc sanh tiền mẫn mê theo danh lợi mà gây nhiều nghiệp chướng, dầu cho có ai dạy theo con đường phải lẽ ngay đường chơn nẻo chánh thì cũng không chịu để vào tai đem vào lòng, mặc tình cứ say đắm theo hồng trần vinh hoa phú quí, gây đủ tội ác, hại mất thiêng liêng, tiêu tan âm chất của Tổ Tông để lại mà không hay không biết, vẫn tưởng mình rằng vững vàng như núi Thái Sơn, tin rằng thân hình giả tạm nầy là vật thiệt của mình, chắc rằng sức mình đủ chống chõi với những điều chi xảy đến, chẳng chịu nhìn biết rằng ba tất hơi ấy là của Trời cho mượn, mà cũng vẫn nói rằng là của mình. Vì thế gian quá say mê về phần vật chất, quên cả Linh Hồn, đến lúc tuyệt tức rồi lại than thở tức tối khóc la van siếc sự tối tâm khờ dại mê muội buổi sanh tiền, nên phải bị luân hồi trả quả, không phương thế chi cho Linh Hồn ăn năn tự hối được cho nhẹ lổi tiền khiên.

Đã nhiều phen Chư Thần đệ sớ cầu xin ân xá cho nhiều Hồn biết tự hối như thế, nên có Lịnh Đức Chí Tôn phán dạy Chư Thần phải lo trù nghĩ phương pháp nào đặng độ dẫn các Hồn mà lập công đức. Ngôi Chị cho phép tôi đam bài nầy đến lập công, khuyên những bực tu hành có chí giúp người lúc còn sống, cũng nên giúp người lúc quá vãng, vì sự mê muội ai ai chẳng khỏi ỷ tài, đến lúc dứt hơi mới thấy Trời là chi thì ăn năn đã muộn. Vậy nên tôi có lời khuyên hãy đọc kinh nầy trong 100 ngày cho những hồn mới vừa thoát tục lánh trần xa phàm cổi xác, nghe mà tự tỉnh lấy mình, đặng làm bài sám hối cho Hồn. Mong thay!

Bạch Thắng Chơn Nhơn

Kinh Thường Dụng

Độ khắp phàm gian thóat tục trần,

Linh Hồn thức tỉnh đặng siêu thăng,

Đồng tâm nghe thấu giồi Tâm Tánh,

Tử nữ qui y trọn phước thần.

  Đạo Trời dựng Kiền Khôn một mối,

  Đạo hằng khai mạc suối tự nhiên;

     Đạo ban độ kẻ hửu duyên,

Đạo lo Hiệp Một Phật, Tiên, Thánh Thần. (1)

  Đạo mở lớp dạy Chơn Lý Đạo,

  Đạo phá tan mộng ảnh ảo bào;

     Đạo truyền chẳng sót nơi nao,

Đạo truyền cho đến thảo mao hang cùng. (2)

  Đạo thấy đặng Tiên Ròng Nam Thiệm,

  Đạo hiếm hoi biết niệm Di Đà;

     Đạo đâu Phật Phật ma ma,

Đạo chi cũng chuộng chánh tà chẳng phân. (3)

  Đạo thương xót Đạo cần khuyên nhủ,

  Đạo chỉ cho một Chủ Nhơn Ông;

     Đạo khuyên phải mến giống dòng,

Đạo khuyên phải trông Tổ Tông cội nguồn. (4)

  Đạo Trời mở dư muôn thế kỷ,

  Đạo Trời khai vô thủy vô chung;

     Đạo không nam bắc tây đông,

Đạo là hiệp nhứt Đại Đồng thế gian. (5)

  Đạo chẳng bỏ cơ hàn nô bộc,

  Đạo không vì tước lộc công hầu;

     Đạo thương đồng một như nhau,

Đạo là bác ái nghèo giàu cũng con. (6)

  Đạo dạy phải giử tròn phận sự,

  Đạo Âm Dương trật tự chẳng sai;

     Đạo là kết quả Tam Tài,

Đạo là cứu sống cho lòai người ta. (7)

  Đạo cứu sống phải hòa với Đạo,

  Đạo nào cho hồn tạo quả nhân;

     Đạo khuyên tránh bánh xe luân,

Đạo khuyên mỗi mỗi phải tuân Lịnh Trời. (8)

  Đạo đã chỉ cỏi đời chỗ trọ,

  Đạo thường khuyên biết chỗ mà về;

     Đạo đem đến kiển đến quê,

Đạo dìu dắc kẻ say mê hồng trần. (9)

  Đạo đã dạy biện phân tà chánh,

  Đạo thường khuyên phải tránh bẫy ma;

     Đạo Trời rộng bủa gần xa,

Đạo tà cũng bủa xa gần thế gian. (10)

  Đạo thương kẻ mê mang giấc mộng,

  Đạo thảm cho kẻ trọng phù hoa;

     Đạo đời chẳng biên cho ra,

Đạo mà Lý Trí lại pha Tinh Thần. (11)

  Đạo thương kẻ tài năng lỗi lạc,

  Đạo thãm cho kẻ bạc bội Trời;

     Đạo Trời dường gió ven tai,

Đạo Trời duồng bỏ ra ngòai ngẩn ngơ. (12)

  Đạo thương kẻ bơ vơ cảnh cũ,

  Đạo chọn người khuyên nhủ vỗ về;

     Đạo khuyên lời Đạo phải nghe,

Đạo khuyên nghe Đạo phải về với Cha. (13)

  Đạo thường dạy Người Ta có Một,

  Đạo khuyên rằng Người tốt Ta tươi;

     Đạo khuyên nghe một biết mười,

Đạo khuyên chớ để Ta Người cách phân. (14)

.  Đạo đã dạy Nhựt Tân Nhứt Nhựt,

  Đạo dạy đem Minh Đức vào lòng;

     Đạo không chuộng cách núi sông,

Đạo là trong-trắng trắng-trong ngọc-ngà. (15)

  Đạo vui vẻ hiệp hòa chủng tộc,

  Đạo gớm ghê miệng ngọt lòng gươm;

     Đạo khuyên vẹn vẽ tiếng thơm,

Đạo khuyên phải nhớ áo cơm công đền. (16)

  Đạo khuyên nhớ Đấng Trên có Một,

  Đạo dạy thường giữ tột Đức Tin;

     Đạo Trời giữ Luật Công Bình,

Từ-Bi Bác-Ái thưởng lành phạt gian. (17)

(Bài Kinh này đọc lúc linh cữu còn tại gia)

Kinh Tam Thập Tam Thiên (20)

     Thể đặng Huyền Cơ cậy Tánh Linh,

     Liêng đài vững trải bước tiền trình,

     Tiên phàm Trời chẳng chia đôi bực,

     Nữ nữ nam nam cũng Đạo Sinh.

     Trời mở Đạo dạy người thoát tục,

     Trời nào cho đóng ngục nhốt người;

Trời cho người tỉnh biết Trời,

Trời cho người biết đặng người tìm phăng. (1)

     Trời khuyên nhủ người tuân theo Đạo,

     Trời khuyên người ráng tạo quả nhơn;

Trời khuyên công quả chớ sờn,

Trời khuyên phải nhớ Bốn Ơn chớ rời. (2)

     Trời đã dạy nhớ Trời Độc Nhứt,

     Trời khuyên người tuyệt dứt phàm tâm,

Trời khuyên ráng học ráng làm,

Trời khuyên người chớ tin xàm tưởng vơ. (3)

     Trời thường dạy biết bờ biết bến,

     Trời thường khuyên chớ mến bụi hồng;

Trời khuyên một dạ một lòng,

Trời khuyên phải sợ Chí-Công Luật Trời. (4)

     Trời sẵn có ngự nơi Tâm đó,

     Trời chẳng cho dứt bỏ con Trời;

Bỏ Trời là tánh phàm đời,

Bỏ Trời nên mới dể ngươi Cao-Đài. (5)

     Trời xem thấy chẳng sai phân tấc,

     Trời là Ngôi Độc-Nhứt nơi Tâm;

Trời khuyên người chớ tưởng lầm,

Trời khuyên người chớ vọng tâm vọng cầu. (6)

     Trời cứu khắp toàn cầu thế-giái,

     Trời nào cho ai cãi lịnh Trời;

Cãi Trời thì vướng lưới Trời,

Cãi Trời phải chịu đời đời trầm luân. (7)

     Trời đã phú Chơn -Thần cho trẻ,

     Trời nào cho chia rẽ Ta Người;

Trời ban Linh-Điển không hai,

Trời cho có Một, Một Ngai Một Thần. (8)

     Trời đã phú Điển-Ân cứu trẻ,

     Trời thương người bê trễ công trình;

Trời thương Trời dạy đinh ninh,

Trời khuyên sống thác cũng nhìn Chơn-Thân. (9)

     Trời chẳng tạo bánh luân xa nọ,

     Trời đâu làm chỗ trọ cho người;

Trời khuyên người phải giúp Trời,

Trời đâu có bảo Ta Người xa nhau. (10)

     Trời thường nhắc năm châu vốn một,

     Trời thường khuyên thương ruột thịt người;

Trời rằng người đó là Trời,

Trời khuyên chớ tưởng xa với cách sông. (11)

     Trời đã sắm Chủ-Ông săn sóc,

     Trời thường khuyên phải đọc kinh Trời;

Trời thương Trời dạy ráo lời,

Trời khuyên người chớ đành rời rạt Cha. (12)

     Trời vốn một thì Ta cũng một,

     Trời có đâu miệng thốt sai lời;

Trời cho xuống kiếp giúp Trời,

Trời rằng trọn thảo đời đời an vui. (13)

     Trời để mắt xét đời chẳng lọt,

     Trời có đâu sơ sót phân hào;

Trời tuy vọi vọi rằng cao,

Trời thường săn sóc trước sau chẳng rời. (14)

     Trời ngự tại Một Ngôi trong sạch,

     Trời có đâu xa cách mà lầm;

Trời khuyên Nhứt Đức Nhứt Tâm,

Trời soi chẳng khác trăng rầm đêm khuya. (15)

     Trời răn chớ lòng chia phe đảng,

     Trời chỉ cho chổ Sáng là Trời;

Trời nêu Đuốc Tuệ rạng ngời,

Trời nêu Đuốc Tuệ nơi nơi phải nhìn. (16)

     Trời thương khắp thương sinh lạc bước,

     Trời mói ban ngọn Đuốc Lý Chơn;

Trời thường chỉ vạch nẻo trơn,

Trời khuyên chớ lóng giọng đờn quỉ ma. (17)

     Trời đã dạy Người Ta phải Hiệp,

     Trời thường răn bỏ nghiệp đảo lừa;

Trời khuyên nghiệp quấy ráng chừa,

Trời khuyên biết sớm biết trưa biết chiều. (18)

     Trời khuyên biết bao nhiêu lời ngọc,

     Trời thường khuyên phải đọc phải tìm;

Trời khuyên Trời dạy tất tim,

Trời khuyên Trời dạy cổ kim một lời. (19)

     Trời dạy biết Một Trời Chúa Tể,

     Trời khuyên người phải kể lời khuyên;

Trời khuyên Tâm Tánh phải bền,

Trời rằng Tâm Tánh là nền Chơn Tu. (20)

     Trời đã nói trí ngu phân biệt,

     Trời thương người chẳng biết biện phân;

Trời khuyên Trời dạy ân cần,

Trời khuyên tưởng đến Chơn Thân của người. (21)

     Trời đã dạy nhiều lời vàng đá,

     Trời dứt khuyên Bản Ngả phải chừa;

Trời khuyên chớ gọi sớm trưa,

Trời khuyên chớ nuối kiếp xưa quên Trời. (22)

     Trời dạy Đạo tùy thời biến diệc,

     Trời chẳng cho mài miệt bụi trần;

Trời tay cầm sẵn Luật cân,

Trời khuyên chớ để ăn năn Đại Đồng. (23)

     Trời khuyên nhớ Tổ Tông công đức,

     Trời đã khuyên nhựt nhựt mỗi tân;

Trời răn việc quấy thì đừng,

Trời răn lưỡi mối miệng lằn chớ mê. (24)

     Trời nào đếm câu thề vô dụng,

     Trời sanh người Trời cũng biết người;

Trời khuyên người phải biết Trời,

Trời khuyên người phải nhớ lời Trời khuyên. (25)

     Trời sắm sẵn một miền Bạch-Ngọc,

     Trời dành cho người đọc kinh Trời;

Trời đâu có dạ phụ người,

Trời thương những kẻ tơi bời lăng xăng. (26)

     Trời thương trẻ lựa lần than thở,

     Trời một lòng che chở con Trời;

Trời thương con dạy khắp nơi,

Trời thương con dại coi Trời như không. (27)

     Trời thương trẻ đứa rồng đứa rắn,

     Trời thương cho lúc bẳn mực Công;

Trời thuơng Trời dạy tất lòng,

Trời thương Trời mở lượng hồng nhủ khuyên. (28)

     Trời khuyên chớ đảo điên tất dạ,

     Trời khuyên đừng xảo trá qua Trời;

Trời khuyên chớ cậy già lời,

Trời khuyên Trời chỉ phải nơi mà về. (29)

     Trời trông trẻ ngày kề Bạch-Ngọc,

     Trời mới ban Hồng phúc Tam-Kỳ;

Trời khuyên chớ lộn thau chì,

Trời khuyên nhìn chỗ Trời qui mà về. (30)

     Trời đã nói Tiểu Nhi Tạo Hóa,

     Trời nào cho đạo tả môn bàn;

Trời thương Trời dạy Trời than,

Trời thương càng lắm người càng ngổ ngan. (31)

     Trời nay chỉ rõ đàng cội gốc,

     Trời khuyên người Thận Độc Chơn Thân;

Trời ban mỗi trẻ đủ Thần,

Trời cho biết cội biết căn mà nhìn. (32)

     Trời đã chỉ Ngọc-Kinh là Đó,

     Trời thường khuyên biết Có biết Không;

Trời khuyên sống thác Một lòng,

Trời khuyên phải nhớ Chí Công là Trời. (33)

Lời dặn cho bài số 20:

Đọc ba lần. Mỗi vế phải mỗi lạy, hoặc chia ra hai ban Nam Nữ luân phiên mà lạy, hay là hiệp một ban mà lạy cũng được, tùy theo sự tín ngưởng mà thôi.

Bài số 20 này, gọi là bài Tam Thập Tam Thiên, được thông dụng trong cả các lễ, dầu cho Cầu An, Cầu Bịnh, hoặc trong các giờ rảnh, lúc tang sự từ đầu đến chót, đến mảng tan, lúc nào khuya sớm đều được phép dùng nó mà đọc, ví chẳng khác như Kinh Di Đà của phái Phật vậy. Song Kinh Tam Thập Tam Thiên này có chỗ khác hơn Kinh Di Đà, là nếu dùng đến kinh này, thì phải dùng cho nhầm giờ, cho trúng giờ mới được, bằng sái giờ thì việc dùng của nó vô hiệu quả. 

Ngôi Thần Vững

Bạch phân Lý chánh gắng công tìm,

Thắng đặng phàm tâm thấu Bạch Âm,

Chơn Lý phăng cầm noi Mối Một,

Nhơn nhơn, tự tĩnh giấc muôn năm

     Ngôi Thần vững gồm thâu trăm mối,

     Vững ngôi thần mổi mổi đều thông;

        Định Thần thấu rõ ngôi trong,

Thần yên mới đặng Lục Thông vẹn tròn.

     Ngôi Thần vững hình non thể nước,

     Vững yên dường non nước lặng trang;

        Tâm Thần định tỉnh hoàn toàn,

Hào ly xao dợn  Linh Quang đâu còn.

     Nguồn Chơn Lý là nguồn Chơn Thể,

     Thể người đây vốn Thể cuả Trời;

        Người, Trời một Thể, một Ngôi

Người tua thể lấy Tánh Trời đừng phai.

     Trời ban Tánh Ngôi Hai Lý Một,

     Trời ẩn trong Lý Một nơi người;

        Ngôi Hai Lý Một là Trời,

Ngôi Hai Lý Một, Một Trời ẩn trong.

     Tâm biết Một, sáu thông mới vững,

     Đèn Lý Chơn cảm ứng nào sai;

        Tánh Tâm thanh tịnh Lý bày,

Tánh Tâm định tỉnh Ngôi Hai mới tròn.

     Tâm Tánh hiệp, vào khuôn Chơn Thể,

     Mới rõ người là Thể của Trời;

        Tánh người sáng suốt muôn đời,

Tánh người có một từ Trời có ra.

     Nguồn Chơn Lý đâu pha lý trí,

     Nguồn Lý Chơn muôn kỹ chẳng mòn;

        Lý Sanh vạn vật thể non,

Mà khuôn Chơn Lý  vuông tròn, Có, Không.

     Tầm Lý Một ở trong Ngôi Chủ,

     Lý ở trong bao phủ trong ngoài;

        Tầm cho trúng lý Ngôi Hai,

Lý trong tầm mãi đường ngay mới tường.

     Đường Chơn Lý là đường chung hiệp,

     Hiệp nơi người mới hiệp với Ta;

        Tánh Tâm hòa hiệp một nhà,

Hiệp xong mới hiệp Người Ta, Ta Người.

     Người hiệp Một với Ta một mối,

     Ta hiệp Người mới gọi Người Ta;

        Ta Người hiêpđặng mới hòa,

Ta Người hiệp Một nào Ba với Trời.

     Ngôi Chúa Tể chẳng rời muôn vật,

     Vật ở trong mới thật của Người;

        Vật trong đồng một thể Người,

Vật trong thiệt vật trong Người sanh ra.

     Vật ở Người với Ta không khác, ,

     Vật ở ngòai đâu khác với Người;

        Vật trong thấu vật mới hay,

Vật trong thấu đặng không ngòai Tâm ta.

     Vật ở Người với Ta đồng Một,

     Vật ở ngòai chung Một với lòai;

        Vật trong chung Một nào hai,

Vật trong chung Một, vật ngòai Lý Sanh.

     Người chia vật không minh vật-lý,

     Vật ở ngòai đồng Lý, Lý Sinh;

        Vật trong thấu Lý mới minh,

Vật trong thấu đặng Lý Sinh mới tròn. 

Lời dặn:

Vì có Lịnh dạy phải dùng bài trên đây đặng đọc trong lúc người bịnh ngặc nghèo hấp hối và dùng đọc trước linh cữu trong lúc còn tại gia, nên chúng tôi xin ấn hành ra cho chư đạo hửu dùng. Trong lúc đọc, như người bịnh còn hơi thở chưa tuyệt tức, thì để nguyên bài mà đọc, không sửa dổi lại chữ. Nếu người bịnh đã dứt hôi thở rồi, và lúc linh cữu còn tại đường, thì hai chữ Nhơn Nhơn trên bài xưng Thánh danh phải đọc lại là Linh Hồn.


Sám Hối Kinh

Sám Hối Kinh – Thanh Tịnh Phẩm

Thể phách tinh anh thật báu Trời,

Liêng cung ung đúc tượng đôi đôi,

Tiên Thiên Khí Hóa trong trong trắng,

Nữ vị nam ban gốc một ngôi!

Kính chào mừng Sư-Thúc,

Đệ tử vưng lịnh Diêu-Trì-Cung đem ban Kinh Sám-Hối cho Nhơn-Sanh để phòng ngày sau có người muốn bước chơn vào Con Đường Chơn-Lý thì hãy nương theo đây mà tu tỉnh đặng dọn lấy mình cho trong-sạch. Đã dọn mình trong-sạch rồi, thì mới biết Tu-Tâm Dưỡng Tánh là làm sao. Biết Tu Tâm Dưỡng Tánh rồi thì mới hiểu Chơn Thân Chơn Thần của mình là món gì, bởi đâu mà có, có ra đặng làm gì. Nếu ai biết rằng mình nầy, xác nầy phải nhờ có Chơn Thân Chơn Thần nên mới gọi là Chơn Thể, thì hãy noi theo Kinh nầy đặng xét mình mà định lấy Chơn-Tâm. Chơn-Tâm đã định rồi, thì Chơn Thân Chơn Thần Chơn Thể mới gọi là trong sạch, khi ấy Chơn-Hồn mới có. Khi Chơn-Hồn đã có ứng vào Thân Thần Thể rồi, khi ấy gọi là Chơn Nhơn. Đến khi đến tới địa-vị Chơn-Nhơn rồi, còn cần phải giờ phút lo định-tỉnh mà tu-tỉnh lấy Chơn-Nguơn của mình cho thật hoàn toàn, phòng đến ngày bước đến thềm Ngọc-Kinh khỏi bị Chư Thiên, Chư Thánh, Chư Thần dòm xét trách quở mà phải tháo lui.

Kinh nầy quí trọng dường thế, xin Sư-Thúc hãy trân trọng về sự ban hành. Nếu phải người thì Sư-Thúc hãy ban ra, bằng chẳng phải người mà Sư-Thúc không cẩn-thận, thì sự ban hành ấy lỗi về phần Sư-Thúc.

Đệ-tử xin Sư-Thúc an vị đặng chứng cho Đệ-tử chép Kinh trao cho Sư-Thúc.

Đệ-Tử xin chép Thanh Tịnh Phẩm, Sám Hối Kinh.

Mây giăng khuất khiến trăng mờ tỏ,

Mây ngờ trăng giảm chỗ tinh thần,

Mây rằng mây phủ khắp từng,

Mà mây có biết Thần trăng thể nào?

Thần trăng vốn ở Cao Ngọc Khuyết,

Thần bao giờ có Thiệt có Hư,

Thiệt Hư là tại mây ngờ,

Mây ngờ mây mới tưởng mờ được trăng.

Lòng trăng vốn trong ngần vặc vặc,

Mây dầu che qua mặt một hồi,

Mựa rằng chậu úp khôn soi,

Mảy thu đâu lọt mắt Trời như giăng.

THẦY Chúa Tể mấy từng cao ngự

THẦY nào sanh đứa dữ như con,

THẦY sanh THẦY phú đủ hồn,

THẦY sanh THẦY dạy chẳng còn sót chi.

Nay con tỉnh biết suy biết nghĩ,

Xác thân vì ma quỉ dỗ dành,

THẦY ôi con dại đã đành,

THẦY ôi con dại lạy trình tội xưa.

Con bị quỉ dối lừa gạt gẫm,

Dắt con vào hố thẳm hang sâu,

Lạy THẦY con dại van cầu,

Lạy THẦY con dại chực chầu CHÍ TÔN.

Con thú thiệt tội con THẦY xét,

Lạy xin THẦY nhìn biết lấy con.

Tội con tội chất dường non,

Tội con dường cát lấp vuông Hằng Hà.

Con dại dột bị ba quỉ giục,

Nên mắc vòng Tham Độc hại mòn,

Hại con đến mất Linh Hồn,

Hại con Tham Muốn chẳng còn sót chi.

Tham muốn được phân bì với thế,

Tham muốn sao thân thể cho sang,

Tội Tham con thiệt dẫy tràn,

Tội Tham con vướng muôn vàn thứ Tham.

Miệng con nói con ham phước đức,

Mà lòng tham sẵn chực một bên,

THẦY ôi con thiệt yếu hèn,

Lòng tham dại dột tập quen lâu đời.

Tham cho đến tưởng Trời không thấy,

Tham cho cùng việc quấy nói hay,

Tham giành ruộng đất cò bay,

Tham giành tước lộc khoe hay khoe tài.

Nhỏ tham nhỏ xây xài đừng thiếu,

Lớn càng tham đúng điệu mới vừa,

Tội tham rày tới con chừa,

Lạy THẦY tha thứ sớm trưa chầu THẦY.

Đầu cúi lạy xin bày tội Giận,

Tội Giận nanày còn lấn tội tham,

THẦY ôi tay lỡ nhúng chàm,

THẦY ôi con mến cõi phàm nên Mê.

Rày con nhớ cảnh quê hương cũ,

Nhờ ơn THẦY nhắc nhủ bấy lâu,

Dâng hương con nguyện khấu đầu,

Con xin khai tội trước sau nhờ THẦY.

Tánh nóng nảy chứa đầy chuyện giận,

Hình như người chực sẵn chuyện gây,

Trong lòng buồn bực chẳng khuây,

Câu mâu lỗi phải la rầy hanh hao.

Lòng bứt rứt chuyện nào cũng giận,

Sớm cùng trưa chẳng thuận với ai,

Lỗi xưa tích cũ nhớ dai,

Chặt lòng chẳng chịu nguôi ngoai bao giờ.

Cưu giận cũ vẩn vơ chặt chịa,

Lòng dặn lòng chẳng nghĩa nào quên,

Phải thời gặp dịp thì đền,

Mật thoa cửa miệng gươm rèn đợi cơn.

Cũng có tánh hay hờn hờn mát,

Mà trong lòng ngứu nát như tương.

THẦY ôi con dại THẦY thương,

Tội hờn, tội giận nhiều trường gớm ghê.

THẦY đại độ chở che con dại,

Mến hồng trần con phải tội mang.

Hồng trần thiệt chốn lửa than,

Vướng trần con phải giận tràn đầy hông.

Biết sao kể cho cùng tội giận,

Trăm việc chi cũng giận cũng hờn,

Tại con Tham Muốn phần hơn,

Tại con Tham Muốn mà trơn trợt hoài.

Tham thì thâm từ đây con biết,

Giận hết khôn con quyết xin chừa.

THẦY ôi con lạy xin thưa,

Thưa rằng quỉ giận nó lừa gạt con.

Vì Hờn Giận hết khôn mất trí,

Hóa ngu si nên quỉ phỉnh phờ,

Vô minh che ám trẻ thơ,

Lạy THẦY cứu trẻ đến bờ Giác-mê.

Ba quỉ độc nào dè đến thế,

Khiến cho con bê trễ công trình.

Ngu si nào tại vô-minh,

Ngu si vì bởi không tin lời THẦY.

Đầu cúi lạy cao dày lượng cả,

Nới hồng ân hỷ xả tội con.

Con ngu con tưởng rằng khôn,

Đã ngu lại dại còn chường đem khoe.

Con ngu dại quá mê sắc tướng,

Nên con gieo nghiệp chướng dẫy đầy.

Hết khôn hóa dại hóa ngây,

Còn đem Lý sự đặng gây bướng càn.

Mê sự lý chẳng tường Chơn Lý,

Nên đa mang lũ quỉ ngu si.

Quỉ ma kết lũ níu trì,

Lời ngây chẳng lọt cũng vì vọng tâm.

Tâm Tham Vọng gây mầm tội lỗi,

Hóa kiêu căng quên cội kiểng xưa.

Mưu mô kết lũ vầy bè,

Đặng khoe trí thức có chê nhạo người.

Lòng tập nhiễm theo đời vật chất,

Nên hóa ra tâm thuật phàm phu.

Tưởng khôn mà thấy càng ngu,

Có ngu mới thấm đứa mù quến ma.

Ngu cho đến Cái TA không biết,

Nhìn nó rằng cái THIỆT của mình.

Mê lo cho nó trường sanh,

Tham cầu cho nó cao danh lớn quyền.

Tham muốn được ăn trên ngồi trước,

Trăm việc tham lấn lướt hơn người.

Lòng tham được việc thì cười,

Tham không vừa ý đất trời ngửa nghiêng.

Con xét thiệt con điên con dại,

Bởi Sân Si Tham Ái nhiều đời.

Con rày nhìn tội THẦY ôi,

Lạy THẦY tha thứ việc rồi của con.

Nghiệp hay nói méo tròn quấy phải,

Xét tội này thiệt hại chẳng vừa.

Lạy THẦY trẻ dại cúi thưa,

Cũng vì căn kiếp lớp xưa di truyền.

Miệng ăn nói việc hiền hóa dữ,

Hay đồ mưu sanh sự bớt thêm,

Gây cho ra việc thù hiềm,

Kế gian chứng dối, thúc kiềm nhỏ to.

Tánh chim chuột ăn no bươi phá,

Việc của người vạch lá tìm sâu,

Dò la chắp nối mượn màu,

Trắng đen chớp nhoáng bắc cầu sang sông.

Miệng hiểm độc thêm lòng sâu sắc,

Miệng mở ra mượn Phật dối Trời.

Bạn bè tin tưởng bằng lời,

Tin rồi mắc bẫy kêu Trời khó kêu.

Kế Khẩu nghiệp nhiều điều gian quỉ,

Lo đánh lừa ích kỷ hại nhơn.

Trả vay nhơn quả chi sờn,

Miễn cho phỉ dạ nghĩa nhơn kể gì.

Miệng thường nói Tham Si nghiệp báo,

Lòng cũng lo đừng tạo Quả nhơn.

THẦY ôi! Độc lắm hóa lờn,

Bởi dây ma chướng nó đờn trong tim.

Con dốc Tu mới tìm Chơn Lý,

Lý vừa phăng thì quỉ phá tan.

Phá con nghĩ nghị trăm đàng,

Bán nghi bán tín cãi bàn ý riêng.

Ý bàn riêng quỉ liền xuyên tạc,

Khiến cho con phải lạc đường Chơn,

Khiến con hay giận hay hờn,

Khiến cho Khẩu nghiệp quên Nhơn quên Nghì.

Con muốn chi phi phi thị thị,

Mà thị phi rủ rỉ bên tai.

Đường hư cũng biết lầm sai,

Song ai nói đến thì bài bác luôn.

Con cũng biết trời non đất biển,

Nhờ ơn THẦY Đạo chuyển kỳ ba.

THẦY ôi con dại thứ tha,

Bởi con nghiệp chướng quá già lộn xây.

THẦY thương xót cả bầy con dại,

Cho chúng con trở lại Ngọc Kinh.

Bởi con chuộng cái vô minh,

Bởi con muôn việc ỷ mình rằng khôn.

Hễ ỷ khôn rốt dồn hóa dại,

Biết vậy rồi cũng lại tự cao,

Tưởng rằng cuộc thế ảo bào,

Nào hay mượn Đạo, Đạo nào có cho.

Đạo dạy cho phải lo hành đạo,

Đạo nào cho mượn Đạo tạo danh.

THẦY ôi tại quỉ Thất tình,

Vô minh che khuất Tánh lành của con.

THẦY hỡi THẦY! Thương con khờ dại,

Con từ đây xét lại tội xưa,

Tội xưa lổi cũ con chừa,

Dứt dây Tam độc mẹo lừa gạt con.

Ý vô minh đời dồn kiếp chứa,

Giỏi tập rèn bảy đứa quỉ ma.

Thế Thần mưu kế ta-bà,

Tìm phương đắc chủ cho ra khỏi đàng.

Ra khỏi đàng mê man cảnh sắc,

Nắm cương rồi càng gắt dây cương.

Khớp dàm ngựa phải lạc đường,

Bôn ba, gạt vượn quên đường tự nhiên.

Đạo đâu bảo chia quyền lấn thế,

Đạo nào cho phân rẽ ta người.

Vô minh giục trẻ biếng lười,

Biếng lười nên quỉ mượn Trời gạt con.

Đã gạt con lại còn tự phụ,

Khen con đà thấu đủ huyền cơ,

Khiến con quên bến quên bờ,

Quên nhân nghĩa trước theo cơ hội này.

THẦY hỡi THẦY thơ ngây con trẻ,

Vì luân hồi xiết kể ngàn muôn.

Quỉ khen được trớn đi luôn,

Cũng vì cái Ý tưởng khôn hơn người.

Con nhìn Trời nhớ Trời khôn xiết,

Ý níu trì mài miệt vô minh.

Bảy ma giờ khắc đón rình,

Xui con lâm vấp tình hình chứa chan.

Giờ Định Tỉnh con than thở phận,

Định tâm-thần rõ trận giặc ma.

Ma nầy nào phải đâu xa,

Ma nầy bởi trẻ lộn pha vào mình.

Trộn vào mình rồi tin lại tưởng,

Tin-tưởng nhiều xu hướng càng sâu.

Ý kia Thân nọ một màu,

Lại thêm Tâm Vọng trước sau nhuộm nhồi.

Thân lầm vấp mấy đời nghiệp chướng,

Cũng vì Tâm vọng-tưởng, vọng cầu.

Ý hay dối trá làm màu,

Làm màu chân thật vàng thau ai tường.

Ý dại tưởng nhiều phương gạt gẫm,

Ngày những đêm sẵn sắm mối manh,

Lừa cơn phải dịp phui phanh,

Sai Thân khiến Miệng sứa sanh nhịp nhàng.

Ý hại Thân muôn ngàn sự khổ,

Tâm thần đều bị nó mà hư,

Khiến quên bờ bến Chơn Như,

Khiến nên tư-tưởng tưởng tư phàm trần.

Lúc định tâm xét Thân nhiều tội,

Nhiều tội vì chuộng dối bỏ chơn.

THẦY ôi con dại như muôn,

Mà con những tưởng con khôn qua THẦY.

THẦY từng nói ơn THẦY như biển,

Xin thương con lười biếng dại khờ,

Tu hành ngơ ngáo, ngáo ngơ,

Thả ra cuộc thế dễ khờ hơn ai?

Quỉ lục dục nhiều bài độc ác,

Xuôi cho con biếng nhác trăm bề,

Nghe Kinh thì não thì nề,

Nghe đờn thì tríu thì mê quên nhà.

Con đâu muốn lòng ma miệng Phật,

Mà quỉ ma sẵn chực kề bên,

Hớ hinh liền bị nọc tên,

Nọc tên thiệt độc ăn liền thấu tim.

Con lười biếng quên kìm lòng chặt,

Khiến vậy nên rước giặc vào nhà.

Lạy THẦY lượng cả thứ tha,

Con nguyền bỏ nết lơ là mớ mê.

Tội con xét trăm bề tội lỗi,

Vì đua chen với cõi nhãn tiền,

Quên nơi cội gốc Thiêng Liêng,

Quên lời hứa nguyện ròng chuyên Đạo THẦY.

Mười lời nguyện gió bay cửa sổ,

Mười lời khuyên chẳng cố vào lòng,

Kệ kinh dẫu đọc như không,

Ngoài tuy sốt sắng mà trong bơ thờ.

Tánh lười biếng chần chờ khó gỡ,

Mà làm tuồng tở mở siêng năng.

Buôn Trời bán Phật thì hăng,

Xét mình sửa lỗi thiệt bần thần thay.

THẦY hỡi THẦY thơ ngây con dại,

Vì luân hồi mãi mãi không hay,

Tưởng theo thời thế quơ chài,

Nào hay trên nóc có THẦY cầm cân.

THẦY ôi THẦY muôn phần xin thứ,

Con nhìn con tội dữ tràn trề,

Quá nghe đờn quỉ hóa mê,

Tham theo sắc tướng quên nghe lời THẦY.

Kinh Thiệp-Quyết dạy bày cặn kẽ,

Đạo Luân Thường gốc rễ nhơn-sanh,

Nghĩa, Nhơn, Trung, Hiếu mối manh,

Dạy cho khắn khít giữ mình chớ sai.

Con nào nhớ những bài dạy ấy,

Bởi Ý con bắt cạy khéo khôn,

Ý con với Trí một phồn,

Ý sao Trí vậy Lý tuôn trộn trà.

Lý trộn vào liền sa Tả đạo,

Tả-đạo làm điên đảo thị phi.

Sang giàu hiếm kẻ tôn ti,

Chỉ hươu là ngựa nói gì cũng xong.

Con dại dột theo vòng Lý Trí,

Bởi ham mê ích kỷ tự cao,

Quên câu thế sự ảo bào,

Đeo theo vật chất dồi dào phàm thân.

Theo vật chất kiếp trần đau khổ,

Mà cũng theo đến chỗ đến nơi,

Dầu làm phong hóa tàn tồi,

Miễn cho vinh mặt một hồi cũng ưng.

Ba mươi sáu răng, đóng trăng cái lưỡi,

THẦY biết con tội bởi miệng mồm,

THẦY ôi miệng khít như nơm,

Cũng vì cái Ý chực hờm mở phanh.

Lưỡi biết chi rằng hành rằng tỏi,

Lưỡi biết chi rằng giỏi rằng khôn.

Cũng vì Lý-Trí dập dồn,

Ý thêm bài biện hại mòn cái thân.

Xác thân này vẫn cần với thế,

Lý Trí kia với Ý vô hình,

May phần một lúc khoe vinh,

Chẳng may thì để Thân Hình chịu nhơ.

THẦY ôi THẦY! Con khờ con dại,

Biết làm sao trở lại Ngọc Kinh.

Trần gian thiệt chốn bùn sình,

Trần gian thiệt chốn hôi tanh trăm bề.

Chốn trần gian khéo khoe náo nhiệt,

Hại Thân Hồn mài miệt mẩn mê,

Bạc vàng nhà cửa ngựa xe,

Phấn giồi sắc lịch khuất che Linh Hồn.

Nay con xét biết khôn đã muộn,

Biết muộn rồi thật uổng Thân danh.

Thân này vốn của Trời sanh,

Trời nào sanh khổ đặng hành phạt Thân!

Thân miễn cưỡng dọn chưng khoe khoét,

Làm ra tuồng loà loẹt hợm đời.

Nơm lờ tay kẹt than ôi!

Đạp gai gai lể kêu Trời cứu Thân.

Nghĩ biết khôn ăn năn đã muộn,

Có xác người đeo tướng lười ươi.

Uổng đời, uổng kiếp đành rồi,

Hồi đầu chịu tội Cha Trời thứ dung.

Con chí nguyện sửa lòng Thanh Tịnh,

Quyết về đường Chơn Chánh ban sơ.

Tội xưa lổi cũ con chừa,

Trăm năm như nháng dây dưa hại đời.

Đầu cúi lạy bày lời Sám Hối,

Xét con rồi con hỏi lấy con.

Nguyền rằng biển cạn non mòn,

Chẳng còn đeo đuổi theo khuôn luân hồi.

BAN HÀNH KINH

Tân An, ngày 30 tháng 7 năm 1939

Nhằm ngày 14 tháng 6 năm Kỷ Mão

Tây Sư Tinh Quân

KINH SÁM HỐI

SÁM = nghĩa là xét mình, xét những tội lỗi của mình đã phạm tự bấy nay.

HỐI = nghĩa là ăn năn cải quá, xin cầu nguyện từ rày nhẫn sau không tái phạm như vậy nữa.

Kinh nầy đã cho ra từ năm Nhâm-Thân (1932), song khi ấy tôi không thể in ra cho nổi, kịp đến lúc tôi làm Chủ Bút tờ Đuốc Chơn-Lý cũng muốn đem ra ấn hành vào tờ ấy đặng công dụng cho Nhơn-sanh thức tỉnh, biết noi theo Chánh-giáo mà xét mình trong những lúc định tâm, hoặc là dùng nó mà đọc trong những giờ ban khuya thanh vắng lặng lẽ mà suy gẫm từ câu từ chữ, phòng nhờ lấy nó làm cây gậy dò đường cho mình biết tội lỗi mà chừa, hay là làm cây Đuốc-Huệ rọi đường cho thấy tỏ nẻo Chơn-Chánh mà đi. Tiếc thay lúc ấy lại vì nhiều duyên cớ khiến cho chậm trễ, vì vậy mà kinh nầy chưa ra đời.

Nay nhơn lúc rảnh, lục soạn những Thánh Ngôn Cơ Bút tự xưa nay đặng sắp lại cho có thứ lớp, thấy bài kinh nầy hỡi còn nằm trong một tập giấy xưa, trong lòng ngùi ngùi cảm động, nên chép lại nguyên văn gởi cho anh em ai là người đồng chí coi lấy mà dọn mình cho trong sạch, tưởng cũng là một điều bổ ích vậy.

NHÀ CHUNG 10 THÁNG SÁU 1939

(23 tháng tư năm Kỷ-Mão)

THOẠI HÀ Nguyễn Hữu Phùng


Kinh Sám Hối

(Thường nhựt – Đọc hằng ngày)

Quỷ lục dục thất tình cám dỗ,

Nhờ Ơn Trên ủng hộ đòi phen,

Xét thân ngu dại thấp hèn,

Tham, sân, si, ái đua chen chẳng chừa.

Biết chước quỷ đánh lừa phá hoại,

Yếu Đức Tin nên phải lụy mình,

Trách thay xác thịt hớ hinh,

Ăn năn đã muộn tội tình khó dung.

Luật Thầy định chí công thưởng phạt,

Bởi tại con muốn chác diều hư,

Con nhìn muôn tội có dư,

Cầu Thầy mở lượng Đại Từ, Đại Bi.

Con nhứt định Qui Y Sám Hối,

Con nhứt tâm sửa đổi hằng ngày,

Thầy ôi! Con thiệt thơ ngây,

Cải tà quy chánh, xin Thầy rộng dung.