Kinh Thuyết Giảng

Giải Thuyết Đạo Giáo

Giải Thuyết Đạo Phật

Giải Thuyết Đạo Lão

Giải Thuyết Đạo Nho

Giải Tường Thiên Chúa Giáo


Giải Thuyết Nhà Phật

Tây Phương Giáo Chủ Thích Ca,

              Giảng minh thuyết pháp Thiên hoa Liên Ðài         

                     Hằng sa số Phật hôm mai,

              Nhứt Tâm qui hướng Như Lai phước điền.

                     Có câu Phật độ hữu duyên,

              Khuyên ai ráng giữ bổn nguyên của mình.

                     Nhơn sanh vạn vật tối linh,

              Tiền nhơn hậu quả, như hình rọi gương.

                     Phật Ca hạ giáng Tây Phương,

              Xả thân cầu Ðạo, bởi thương loài người.

                     Thương vì sanh đứng giữa đời,

              Sánh cùng Thiên Ðịa, xứng Ngôi Tam Tài. 

                     Lý ưng mạnh giỏi hoài hoài,

              Có đâu già yếu, hôm mai tật nguyền.

                     Ðến cơn bịnh khổ triền miên,

              Thác rồi hết kiếp, đảo điên trăm bề,

                     Sanh rồi lại bịnh làm chi,

              Lão rồi lại tử, thảm thê vô cùng.

                     Nghĩ suy chi xiết não nùng,

              Tuyết sơn tu luyện, dày công đặng thành.

                     Quyết lòng độ khắp chúng sanh,

              Niết Bàn diệu quả, chứng minh bồ đề.

                     Rèn lòng nguyện lực đại bi,

              Vô thượng, chánh giác, kịp thì viên minh.

                     Ðạo Phật càng gẫm càng kinh,

              Bất sinh bất diệt, minh minh muôn ngàn.

                     Ðại thiên thế giới mang mang,

              Vô biên, vô lượng, thanh ngàn trang nghiêm.

                     Sắc không, không sắc, nan chiêm,

              Vô ảnh, vô tượng, cổ kim diệu huyền.

                     Tâm lưu nhứt đáng đắc nguyên, 

              Diệu trung chí diệu, hiển nhiên phi phàm.

                     Bình Tâm dưỡng Tánh cho kham,

              Tu lai cải vãng, chớ ham vọng cầu.

                     Trong mình sẵn Ngọc Minh Châu,

              Trong mình sẵn Phật, phải đâu mà tìm.

                     Trăng trong, gió lặng, nước êm,

              Gay chèo Bát Nhã, khoát rèm Chơn Như.

                     Lần lần độ bến không hư,

              Nọ bờ cực lạc, kìa bờ phi phi.

                     Vượt qua bát chánh Ðạo chi,

              Trần sa vô bất liễu tri hiện tiền.

                     Trải sang vô sắc trùng thiên,  

              Linh Sơn chứng quả, vô phiền vô ưu.

                     Mấy ai rõ thấu Ðạo màu,

              Thông hành, thể, dụng, nguyên, lưu Di Ðà.

                     Dám rằng Ðạo Ấn, Ðạo Chà,

              Khinh rằng quái đảng, gọi là dị đoan,

                     Bắc, Nam, cũng một con đàng,

              Sợi tơ khéo nhuộm, xanh vàng tại tay.

                     Rừng xanh, đố biết mấy cây,

              Ðáy sông mấy lớp, cung mây mấy từng ?

                     Ðất sao chỗ mỏng, chỗ bằng,

              Chỗ sâu, chỗ cạn, chỗ hoằng, chỗ cao ?

                     Trên Trời đố mấy ngôi sao,

              Biển nọ ai đào, núi nọ ai xây ?

                     Loài người ai tạo ra đây,

              Thế gian ai sắm, ai bày thuở nao ?

                     U ơ dường thể chiêm bao,

              Ðáy sông lặn nhào, mò vớt bóng trăng.

                     Khoe khoe, nói nói, rằng rằng,

              Sức người trí thức thắng phần thiên nhiên.

                     Lại chê báu vật mọn hèn,

              Ca sa, tích trượng, hóa duyên vô cùng.

                     Hiển vi mà rọi trên không,

              Khác nào nhắm mắt, lặn sông bòn vàng.

                     Thước đo mà hiểu dinh hoàn,

              Khác nào bầy kiến mò đàn tu di.

                     Con người chưa thấy sự gì,

              Lường Trời đong Ðất, phân bì nhọc công.

                     Ngũ hành sanh khắc vừa thông,

              Tưởng đâu đoạt hết Hóa Công mấy lò.

                     Ba ngàn thế giới diêm phù,

              Mới vừa vừa biết, năm châu mơ màng.

                     Còn ngoài ngoài nữa mênh mông,

              Ðại thiên thế giới, muôn ngàn kiền khôn.

                     Một mình Ðức Phật Chí Tôn,

              Trong ngoài hiểu thấu, chẳng còn sót chi.

                     Vị lai, quá khứ, hiện thì,

              Giảng phân kinh luật u vi rẽ ròi.

                     Trần sa bể khổ em ôi !

              Phải độ mình rồi, đặng độ chúng sanh.

                     Ðến ngày đắc quả Ðạo Thành,

              Siêu thăng thất tổ, độ thanh cửu huyền.

                     Muốn cho công quả vẹn tuyền,

              Rửa xong nghiệp chướng, tập rèn chơn công.

                     Ngụy tà, phiền não không không,

              Tam thân siêu chứng, lục thông có ngày.

                     Ở ăn mực thẳng, đường ngay,

              Cang thường mựa chớ đổi thay tấm lòng.

                     Khắp trong Tam Giáo Ðạo Ðồng,

              Gái mà tiết hạnh, thủy chung trọn đời.

                     Xử xong cho trọn Ðạo Người,

              Nhơn duyên viên giác, Phật Trời chứng cho.

                     Có người gạt gẫm kẻ ngu,

              Rằng thân phận gái, dẫu tu không thành.

                     Một là thân phận hôi tanh,

              Hai là vì bởi số sanh kiếp đày.

                     Ba vì lòng độc hiểm gay,

              Bốn là giống để làm tay chơn người.

                     Năm là yếu đuối biếng lười,

              Sáu là giống để nối giòng người dưng.

                     Bảy là thân phận chiếu chăn,

              Tám là phận phải kẻ chăn người cầm.

                     Chín là dốt nát, tối tăm,

              Mười là đa cảm, đa dâm, đa tình.

                     Dẫu cho vững chí tu hành,

              Là tu hậu kiếp, nguyện thành nam nhi.

                     Nực cười cho kẻ ngu si,

              Ðặt điều lời nói, không vì không kiêng.

                     Rõ ràng kinh luật có biên,

              Hành linh xuẩn động hữu duyên năng thành.

                     Huống chi gái cũng chúng sanh,

              Phật là Từ Mẫu nỡ đành chẳng thương.

                     Giải cho em đặng tỏ tường,

              Giải cho em biết rõ ràng kẻo nghi.

                     Dầu cho nam tử, nữ nhi,

              Ấy là sắc tướng của bề Hóa Công.

                     Phật là chuyên trọng Tánh tông,

              Tánh tông vô tướng, vô dung, vô hình.

                     Ngươn ngươn, hóa hóa, sinh sinh,

              Bổn lai sẵn có Ngươn Tinh, Khí, Thần.

                     Gọi là Tam bảo chi thân,

              Người tua trân trọng, muôn phần chớ rơi.

                     Còn phần nam nữ vóc người,

              Ấy là xác thịt của người phàm gian.

                     Tu cho đến cõi Niết Bàn,

              Siêu phàm nhập Thánh, hoàn toàn Chơn Thân.

                     Xác phàm gởi lại hồng trần,

              Chơn Thân, Tam Bửu về phăng Liên Ðài.

                     Phật không phân biệt gái trai,

              Hễ là đắc quả, thì ai cũng đồng.

                     Kìa như điểu thú, côn trùng,

              Chí Tâm một Phật, thủy chung cũng thành.

                     Giải cho em rõ ngọn nhành,

              Ráng lo ăn học, tu hành cho nên.

                     Còn nhiều nghĩa lý hiển nhiên,

              Ðoạn sau chị sẽ giảng riêng từ phần.

                     Tu hành em ráng ân cần,

              Có thân thì phải giữ thân làm đầu.

 

Thể Liên Tiên Nữ

Đàn 28 tháng 7 năm Canh Ngũ (1930)

Tây  cảnh gìn lòng độ chúng sinh.

Phương nào cũng độ khắp U Minh,

Thích môn huệ Tánh giồi Tâm tướng,

Ca giáo hư vô luyện tánh tình.

Chứng cấp huyền cơ ban nữ phái,

Minh mong Ngọc Sắc hội Tiên danh,

Thế Vân xá lợi đồng vui hưởng,

Liên Các cung Quỳnh bước rộng thinh.

Thuợng ỷ chứng Đàn.

Thể sắc không không hựu bất không,

Liên hòa vạn đóa hiện vu trung,

Tiên đơn ký đắc minh Tâm Tánh,

Nữ nữ nam nam tánh diệc đồng.

Giải Thuyết Ðạo Lão

Kiền khôn thế giới một bầu,

Lão Quân Ðạo Tổ cung Dâu giáo truyền.

          Ðạo nguyên tiên, hậu, nhị thiên,

Làm đầu vạn Thánh quần Tiên trên Trời.

          Kể từ khai tịch dĩ lai,

Giáng sanh hóa Ðạo, chẳng nài công phu.

          Hư không dường thể bóng thu,

Bí truyền Tánh, Mạng, song tu huyền hoàng.

          Người tu định nhiếp Âm Dương,

Hình thân bảo dưỡng, bảo toàn linh minh.

          Tuy vân: tích khí thành hình,

Âm Dương nhị khí, khinh thanh tượng phù.

          Trọng trược ngưng hóa địa cầu,

Bắc Nam thiên trục, thiên xu chẳng dừng.

          Ngày, đêm, Nhựt, Nguyệt, Tinh, Thần,

Sanh Nhơn, sanh vật, lần lần mở mang.

          Gọi là một cõi Thế Gian,

Ngoài đây còn có ba ngàn minh mong.

          Ðạo thông Thiên Ðịa vô cùng,

Diệu truyền yếu chỉ Hóa Công dạy đời.

          Chỉnh xem ý vị của Trời,

Lặng trang êm phẳng, không hơi, không rằng.

          Chơn không, Thủy, Hỏa, đôi vừng,

Chuyển luân Nhựt, Nguyệt, lưu tuần ngày đêm.

          Hằng sa tinh tú thuộc Kim,

Như châu như ngọc để ghim nửa lừng.

          Gió đông thay đổi Hồng quân,

Ấy là chơn Mộc choáng phần không trung.

          Chuyển gầm sấm sét đùng đùng,

Ấy là chơn Thổ vẫy vùng thiên oai.

          Ngũ Hành ấy thuộc phần Trời,

Còn phần dưới đất, thì người đều thông.

          Con Người sanh ở giữa vòng,

Ðủ Trời đủ Ðất ở trong thân mình.

          Ngũ Hành còn phải chia rành,

Âm Dương, Thiên Ðịa, hình danh thể nào.

          Y gia đã có công cao,

Chia hai tạng phủ , trỏ vào Âm Dương.

          Dùng cân Tạo Hóa đặng lường,

Những đồ vật chất thuộc nguồn chơn âm.

          Hiên, Kỳ mối Ðạo cao thâm,

Người chưa hiểu thấu, nên lầm nên sai.

          Ngũ Hành phải biết có hai,

Có hình thuộc Ðất, ở Trời thì không.

          Nhơn Thân là Tiểu Kiền Khôn,

Khinh thanh, trọng trược, hiệp thành hóa sanh.

          Tạng phủ là Âm Ngũ Hành,

Còn Dương Ngũ Khí lưu hành châu thân.

          Học Ðạo càn phải biện phân,

Giữ gìn bất đổ, bất văn mới mầu.

          Phóng Tâm, âu phải rán thâu,

Thâu Tâm Ðịnh Tánh, đặng cầu Thiên Chơn.

          Tai nghe quá giận quá thương, 

Ấy là Thiên Thủy dẫn dường nơi trong.

          Bắt mùi hoặc thích hoặc không,

Thiên Kim mơi mũi, hơi lồng thấu tim.

          Miếng ngon hoặc nhớ hoặc thèm,

Lưỡi là Thiên Hỏa chiếp đem vào lòng.

          Sắc nào ưa đẹp muốn trong,

Ấy là Thiên Mộc, tại tròng con ngươi.

          Vật dục che lấp lòng Trời,

Ấy là Thiên Thổ, ý người ham mê.

          Nhãn, Nhĩ, Tỉ, Thiệt, ráng dè,

Ðiều quang Tâm ý, thiệt là Chơn Tu.

          Ngũ Hành, Thiên Ðịa mù mù,

Mà mình sẵn đủ, lựa cầu đâu xa !

          Âm Dương nhị khí của Ta,

Dục trong phân biệt, điều hòa Chơn Như.

          Gìn lòng thanh tịnh, không hư,

Lòng đừng xao dợn, đặng trừ bợn nhơ.

          Lòng đừng vọng tưởng ước mơ,

Ý tua đính tóm, chơn cơ hoàn toàn.

          Hãy xem võ trụ dinh hoàn,

Ðều đồ hư mục, chớ màng chớ mê.

          Tục rằng: sống gởi thác về,

Thần Tiên bất lão, có hề chi đâu !

          Dẹp xong ngũ tạc làm đầu,  

Quan tâm quan vật, rồi sau tập tành.

          Tam quang rọi thấu ngươn thần,

Tam Thân hiệp nhứt chơn nhơn công thành.

          Ấy là đến bực trường sanh,

Còn muốn thân hình bạch nhựt siêu thăng.

          Phải lo bồi đấp bổn căn,

Thiên kim diệu lý sẽ phân có ngày.

          Nhứt Tâm tín ngưỡng tới Thầy,

Lời rằng: tao đố không Thầy mầy nên.

          Các em sốt sắn cho bền,

Muốn cho nhà cửa vách phân vững vàng.

          Phải lo nền niếp cho an,

Có Kinh cảm ứng chỉ đàng tu thân.

          Mới đây “Thiệp Quyết Tu Chơn”

Của Thầy ban bố, công ơn vô ngần.

          Có phước nên mới có phần,

Có đâu nghe đặng lời trân trọng nầy.

          Huỳnh đình, tu luyện đêm ngày,

Tu Tâm Dưỡng Tánh, sánh tày Hóa Công.

          Kiếp đời, cá chậu chim lồng,

Trăm diều giả dối, có thung dung gì !

          Trời kia mà giả mới kỳ,

Kìa mây khi nổi, khi bay mấy hồi.

          Ðất sao chỗ lở, chỗ bồi,

Cũng là giả cuộc, có đời chi đâu !

          Người đời lúc mạnh lúc đau,

Hoặc còn hoặc chết, chiêm bao làm tuồng.

          Vi chưng ngũ tặc loạn chơn,

Tâm thần chẳng tịnh, nên vương lưới trần.

          Âm Dương, Ðạo Ðức sáng trưng,

Dùng gương vô kiệt, luyện thần hư vô.

          Phải phân tà chánh lưỡng đồ,

Bàn môn tả đạo, ai khờ phải mang.

          Nghĩ coi cũng một con đàng,

Nó chia nam bắc, rộn ràng lăn xăn.

          Ðiều ly, bổ khảm tưng bừng,

Thiêu đơn luyện hống, nhố nhăn mơ hồ.

          Ðường ngay em cứ bước vô,

Lâu nay tà giáo làm trò gì nên !

          Rán nghe lời chị dạy khuyên,

Có ngày cùng đặng bạn Tiên cung Trời.

          Pháp ngôn sơ dẫn ít lời,

Huyền gia Bửu Pháp, nhiều lời dạy sau.

Thể Liên Tiên Nữ

Đàn 1 tháng 8 năm Canh Ngũ (22-9-1930) 

Thái thỉ gây nên cuộc Hóa Công,

Thượng thương ly hận luyện Đơn Cung,

Đạo Tiên hiển hích điềm linh ứng,

Tổ Thánh roi truyền sự cảm thông.

Chứng kiến quan minh câu phổ độ,

Đàn tràng giảng giải ý chơn tông,

Thế gương bửu kính cho đời hiểu,

Liên tọa đài xây khắp Đại Đồng.

Thuợng ỷ chứng Đàn.

Thể đồng Thiên Địa diệu vô cùng,

Liên dẩn hương hề Nguyệt dẩn phong,

Tiên giác thệ tâm khai hậu giác.

Nữ ban tùng thử bộ Chơn Công.


Giải Thuyết Ðạo Nho 

Thánh Kinh Trung Hiếu làm đầu,

Dầu Nam dầu Nữ phải trau trọn niềm.

Trải xem sách vở cổ kim,

Ngàn kinh muôn điển dạy kềm thảo ngay.

Trời cao biển thẫm đất dày,

Nho gia vững đặt chẳng lay chẳng sờn.

Dạy người luân lý cang thường, 

Dạy người Trung Tín Nghĩa Nhơn vuông tròn.

Dạy cho biết phép biết khuôn,

Lễ nghi Ðạo Ðức cội nguồn dân sanh.

Trung Dung hai chữ chí thành,

Phát minh Thiên Ðịa lưu hành căn cơ.

Dịch Kinh chép để sờ sờ,

Hà Ðồ lại với Lạc Thơ rõ ràng.

Thánh Nhơn nghiện cứu Âm Dương,

Ngũ Hành sanh khắc tuần hườn châu nhi.

       Ðạo thông từ lúc Phục Hi,

Lần qua Ðại Võ đến kỳ Văn Vương.

Châu Công, Khổng Thánh tiếp nương,

Lập thành mối cả mở mang con người.

Từ sanh có Ðất có Trời,

Có Người mới đủ sánh ngôi Tam Tài.

Âm Dương một Lý mà hai,

Như Người một giống gái trai hai hình.

Trời thì sanh có Năm Hành,

Người thì Năm Ðức sẵn in vào lòng.

Suy ra cho tột cho cùng,

Thiên Nhơn nhứt Lý quán thông chẳng rời.

Nghĩ rồi mới rõ Ðạo Trời,

Rõ rồi nên phải bày lời dạy khuyên.

Xưa nay những bực Thánh Hiền,

Thay Trời dạy Ðạo sách biên muôn vàng.

Dạy cho khắn khích Tam Cang,

Dạy cho gắn chặt Ngũ Thường Nhơn Luân.

Thi, Thơ, Lễ, Nhạc điển phần,

Hiến chương Văn Võ noi chừng Thuấn Nghiêu.

Tam Thiên Tam Bá đủ điều,

Dùng gương tiên giác dắt dìu hậu lai.

Dạy đời chẳng sót một bài,

Tề gia trị quốc chẳng sai phân hào.

Nho gia rộng lớn xiết bao,

An dân an quốc công cao muôn đời.

Những điều cư xử làm người,

Chẳng sót một lời Ngài nỡ bỏ qua.

Ðến phần triết học cao xa,

Sánh cùng Phật Lão cũng là mỉa mai.

Kẻ sau học hỏi sơ sài,

Chia phe, chia phái, biếm bài khen chê.

Chưa thông ý vị Trọng Ni,

Mà chê Ðạo khác thuộc về dị đoan.

Chẳng dè Tam Giáo Thánh Nhơn,

Truyền trao mối cả phải nuơng theo thời.

Nói rằng Phật Lão hại đời,

Chẳng dòm Khổng Giáo hiếm người bội sư.

Ðạo nào cũng tại người hư,

Ðạo nào cũng giữ khư khư Tánh Trời.

Bổn sơ khuyên chớ đổi dời,

Chí ư chí thiện trọn đời đừng sai.

Ngọc trong nhờ cố sức mài,

Người muốn nên tài thời phải chí tâm.

Tấc vàng tấc bóng quan âm,

Ba dư mựa chớ tưởng cầm rằng chơi.

Muốn cho đứng đợt với đời,

Nhơn hòa, Ðịa lợi, Thiên thời phải thông.

Muốn rành thể dụng Hóa Công,

Âm Dương động tịnh chấp trung điều hòa.

Mọi người noi giữ giềng ba,

Gìn câu tha thiết, trát ma chớ rời.

Nhơn Tâm nguy lắm em ôi!

Gìn lòng thận độc giữ lời u vi.

Quang phòng hai chữ Trí Tri,

Chánh Tâm Thành Ý, vô khi không điền.

Hi Hiền, Hi Thánh, Hi Thiên,

Do mình trì chí tự nhiên đặng thành.

Có câu Thiên Ðịa hiếu sanh,

Họa dâm phước thiện bởi mình mà ra.

Khuyên đời khá bỏ thói tà,

Tồn Tâm dưỡng Tánh ta bà hư thân.

Khắp trong Tam Giáo Thánh Nhơn,

Người Tiên, người Phật Thánh Thần giống nhau.

Dạy điều ngay thảo làm đầu,

Làm lành lánh dữ trước sau một niềm.

Bình tâm chánh nghĩ mà xem,

Ðạo Nho Thích Giáo thù hiềm bởi đâu ?

Chẳng qua tại kẻ làm đầu,

Xảo ngôn dĩ tử loạn châu no mình.

Có câu Thiên Ðịa lưu linh,

Vô thinh, vô xú, vô hình, vô danh.

Mang mang Thiên Lý lưu hành,

Vô ý, vô tất, ngươn hanh trinh kiền.

Trung Dung bất diệt bất thiên,

Quang tiền dũ hậu danh truyền thiên thơ.

       Trạch dân tri chúa thân tu,

Dương danh hậu thế qui mô vô cùng.

Thánh ngôn thiên tải kỳ phùng,

Các em mựa chớ tấc lòng đơn sai.

Ngày đêm hôm sớm khuya mai,

Sắt kia có thuở mình mài nên kim. 

Thể Liên Tiên Nữ

Đàn 7-8 tháng giêng năm Tân Mùi (23-2-1931) 

Chí đức hóa thương sanh,

Thánh mộ tập đại thành,

Văn chương nhi võ hiển,

Tuyên Đạo định sanh kinh.

Chứng thủ Tam Tông Giáo,

Thế trình ngũ sắc quan,

Liên hoa chơn thắng cảnh,

Đàn sỉ Tánh Tâm minh.

Thuợng ỷ chứng Đàn.

Thể dụng hoàn toàn doản khuyết trung,

Liên tư khiết bạch tự nhiên dung

Tiên Thiên Đạo hiệp tam nhi nhứt,

Nữ khảm Nam Ly đoạt hóa công.


Giải tường Gia Giáo

Phương Đông sao tỏ đem điềm,

Giáng sanh tại Bết Lê Hêm Ngôi Nhì.

Gá thai trinh nữ Ma Ri,

Thánh Thần phép nhiệm trổ vì cứu dân.

Bấp têm Công Lý với Jean,

Đồng không trối quỉ sa tăng dỗ dành.

Thế gian tôi tích như sơn,

Tin thờ đường dối biến lờn nẻo ngay.

Tổ Tông tội chất dẫy đầy,

Suốt từ sáng thế nhẩn nay đến giờ.

Muốn tha cho kẻ dại khờ,

Sai con chịu gánh cam go chẳng phiền.

Ban cho trọn phép trọn quyền,

Sàng dê trấu lép chọn nguyên cội rồng.

Lại ban phép tắc vô cùng,

Thiên Thần ứng hiện, giao thông chẳng dừng.

Rộng dung cho kẻ ăn năng,

Còn làm chức vụ đặng bằng phép Cha.

Phép lành đồn khắp gần xa,

Dùng quyền chữa đuổi tà ma ám người.

Rõ ràng Con Một Chúa Trời,

Trăm điều ứng nghiệm theo lời tiên tri.

Các người đón hỏi Ra Bi,

Bảo nhau rằng gặp Mê Si cứu đời.

Sứ đồ chọn vạn lưới chài,

Giảng bày phép lạ lưới người khắp phương.

Chữa nhiều bịnh liệt dị thường,

Kẻ phung người bại mạnh dường trở tay.

Phước cho kẻ khó lắm thay,

Nước Cha dành để chực ngay mấy người.

Hiện giờ khóc lóc hổ người,

Nước Cha sẽ đặng tươi cười vẻ vang.

Hiện giờ đói khó khổn nàn,

Nước Cha no đủ rõ ràng ngày sau.

Hiện giờ trọng Chúa làm đầu,

Bị người hân huổi chớ sầu não chi.

Vì xưa các Đấng Tiên Tri,

Kẻ ngoài đối đãi cũng y một đường.

Đến chừng đến nước Thiên Đường,

Phần thưởng sẽ thấy hiển vang vô cùng.

Khốn cho những kẻ dại khùng,

Ỷ mình sang trọng chẳng lòng lo xa.

Chẳng dè kìa nước Chúa Cha,

Để dành rước kẻ người ta biếm bài.

Khốn cho những kẻ vui cười,

Kìa ngày đói khát, chực ngươi sẵn sàng.

Khốn cho kẻ đặng khen quàng,

Nghe lời thánh giả phụ phàn Chí Tôn.

Chúa Cha thương xót các con,

Vưng Cha phán dạy phép khuôn xử đời.

Dầu ai sỉ nhục tơi bời,

Ta đành cầu nguyện chớ đành oán vưu.

Dầu ai rủa sả ghét cừu,

Ta đành chúc phước chớ cưu lòng hiềm.

Thù ta, ta triều mến thêm,

Ghét ta, ta lại càng thêm ơn lành.

Dầu ai đánh vả má mình,

Đưa luôn hai má cho đành lòng ai.

Dầu ai bứt lột áo ngoài,

Áo trong cũng để cho người lấy luôn.

Cho ra chớ có trong hườn,

Gìn lòng cứu giúp làm ơn kẻ thù.

Ở đời như dại như ngu,

Đừng lòng đoán xét cơ cầu việc ai.

Nầy lời căn dặn một hai,

Bền lòng tha thứ mọi người hiếp ta.

Trong tròng người mắc cây đà,

Mà lo lấy rác dùm ra mắt người.

Cây nào trái nấy mà thôi,

Lành thời lành trả, dữ thời dữ vay.

Vững vàng móng đấp nền xây,

Trên vừng đá trãng gió lay đâu sờn.

Đức Hổn Ngươn Thiên Sư


Thể Liên Tiên Nữ Thuyết Giảng

Qui Y

Triple Gem of seeking refuge in

the Buddha, the Dharma and the Sangha.

Phổ độ Tam Kỳ những bấy lâu,

Đà mừng thấy dạng bực Chơn Tu,

Sơn hà dựng dục trang anh tuấn,

Quan đại đàn nghi Đạo hiển u,

Thế giái suy đồi nhờ kẻ dựng,

Âm thinh cảm ứng tại mình trau,

Chứng cho Đệ Tử nên cơ sở,

Minh Đức Thành tâm vẹn trước sau.

Thượng ỷ chứng đàn:

Thể đắc Kiền Khôn bí diệu huyền,

Liên Đài cực lạc khám hồn nhiên,

Tiên gia khẩu thọ truyền Tâm yếu,

Nữ phái vu tư ngộ giác nguyên.

Qui Y chánh nghĩa: Về Nương,

E đường lầm lạc, phải nương có người.

Xét coi dưới Đất trên Trời,

Có ba Ngôi chánh đáng nơi cậy nhờ.

Minh mông thế giái cõi bờ,

Nhứt nương theo Phật Đại Từ Đại Bi.

Các em vụng tính hẹp suy,

Cứ tưởng rầm rì Phật ở Tây Phương.

Nào hay trước mắt chán chường,

Phật là tri giác ở lương tâm mình.

Một lòng chí kỉnh chí thành,

Rửa lòng gian ác, sạch tình tà tây.

Màng chi lớp thịt da nầy,

Sắc tân bì nhục chóng chầy rã tan.

Kinh văn đã giảng rõ ràng,

Tự Tâm tự Tánh thật đàng Qui Y.

Người đời mảng bị giấc mê,

Trần lạc ái dục, chẳng hề chịu buông.

Biểu sao tỉnh đặng Linh Hồn,

Muốn Qui Y Phật lại chôn Ngươn Thần.

Khuyên em hảy giữ lấy thân,

Trong mình đã sẵn tam thân Phật rồi.

Tánh người bẩm tại khí Trời,

Tam thân Phật Tánh trau giồi bổn căn.

Một là thanh tịnh pháp thân,

Hai là thiên ức hóa thân bồ đề.

Qui Y tự tánh kiên dè,

Báo thân viên mãn chở che hằng hà.

Tam thân thứ tự đủ ba,

Tự Tâm qui hướng, thật thà đừng gian.

Qui Y qui luật muôn ngàn,

Các em tua khá bền gan hẳn hòi.

Qui Phật giảng tóm ít hàng,

Bước qua Qui Pháp, một đàn chỉ cho.

Pháp giả Chánh dã, nghĩa to,

Ngươn Thần giữ chặt chớ vô nẻo tà.

Nhứt Tâm nhứt niệm thiết tha,

Vô nhơn, vô ngã, thiệt là không không.

Vô ưu, vô lự, thong dong,

Bất tham, bất dục, pháp trong tánh mình.

Chớ nên tu phước phóng sinh,

Có mong thì phải có tình ý tham.

Lo sao việc phải, phải làm.

Đừng toan tính trước, dành cam dành phần.

Dầu cho phước đức vô ngần,

Phước tuy có đó, tội hằng đuổi theo.

Vì chưng cố ý dệt thêu,

Phải chi gặp dịp gặp dèo làm đoan.

Vô Tâm vi thiện mới ngoan,

Hữu Tâm vi thiện, ai màng mà ham.

Biết rằng bất chánh mà làm,

Tội càng bội tứ bội tam tội thường.

Chánh là một mực bình thường,

Kìa Trời Nhựt Nguyệt, Âm Dương đêm ngày.

Dầu cho tiết khí đổi thay,

Cũng là mực Chánh chuyển day tư mùa.

Tánh em ham chuộng phù du.

Bạ đâu muốn đó như mù không cây.

Phải cho biết tối biết ngày,

Biết trong, biết đục, vạy ngay cho rành.

Phải cho trí huệ thường minh,

Nghe chơn chánh pháp, bớt sinh mê đồ.

Em ôi! Đạo Chánh ráng tu,

Tham, sân, si, ái, đường ngu ráng chừa.

Đã sanh ra phận liễu bồ,

Giữ gìn cẩn thận, hỏng hờ sao nên.

Đừng tin rằng núi có Tiên,

Tây Phương có Phật, mà quên ơn Thầy.

Đạo Thầy chánh trực ai tày,

Sáng tợ ban ngày, nào khuất lấp ai.

Tà ma ngoại đạo mỉa mai,

Tuyết tan giá rã, sương mai sá gì!

Muốn cho thấu rõ huyền cơ,

Trừ tà thì thấy đường đi trang bằng.

Luôn lời chị giải Qui Tăng,

Tam Qui gìn giữ khích khăn chớ rời.

Tăng là thanh tịnh trong vơi,

Như trời êm lặng, không mòi gió mưa.

Lòng không ham, ghét, chuộng, ưa,

Giữ cho trong sạnh bổn sơ Tánh mình.

Nhựt Nguyệt còn có hối minh,

Tăng qui nghiêm cấm tánh tình đổi trau.

Vững vàng chẳng rúng chẳng nao,

Lặng trang như nước, không chao không tràn.

Công danh phú quí chẳng màng,

Địa ngục Thiên đàng chẳng vọng chẳng mê.

Đại hùng, dõng lực, đại bi,

Vô thinh, vô xú, vô vi, mực thường.

Biết sao thiệt thiệt, hơn hơn,

Biết sao thương ghét, ghét thương cõi trần.

Kìa kìa một đám phù vân,

Mà trời thanh tịnh lần lần trong xanh.

Tăng Qui khuyên khéo giữ gìn,

Cho thanh cho tịnh như bình nước trong.

Các em xao xuyến tấm lòng,

Nước kia liền thấy vô cùng bợn nhơ.

Phong trần là cõi vất vơ,

Lòng đừng ham muốn ước mơ sự gì.

Quan Âm pháp lực thế ni,

Còn cầm thanh tịnh lưu ly ngọc bình.

Huống chi da thịt hôi tanh,

Mà lòng tính tắc, lo quanh Đạo màu.

Cười thay những bực sòng nu,

Chán đời rồi lại mượn màu che thân.

Tây phương lạy Phật nằng nằng,

Quên Phật đã rằng Phật tại Bổn Tâm.

Đại thừa ý vị cao thâm,

Giải cho em rõ đặng tằm cho ra.

Chớ rằng Đạo ở đâu xa,

Minh Tâm Kiến Tánh, liên hoa hầu kề.

Tiểu thừa thêu dặm bộn bề,

Phân môn biệt phái, lộn về đường quanh.

Qui Y Chánh Pháp chỉ rành,

Phải chuyên qui hướng trọn lành mới nên.

Còn nhiều qui luật tự nhiên

Rảnh rang chị sẽ chép biên giảng đàn.

Liên đài quốc sắc thiên hương,

Dựa hầu Thánh Mẫu, hiếm trang như mình.

Khuyên em chí kỉnh chí thành,

Có ngày cũng sẽ tượng tranh Liên Tòa.

23-24 tháng 7 năm Canh-Ngũ (1930)


Phát Minh

Đàn 18 tháng 7 năm Canh Ngũ (1930)

Lý tuân ý chỉ phán nhơn gian,

Thái thượng Tam Thanh tấu Thánh nhan,

Bạch chỉ kim ngôn hồng tự điểm,

Thể Liên Tiên Nữ giáng đài Đàn.

Thuợng ỷ chứng Đàn cho Thể Liên Tiên Nữ dạy Đạo.

Này năm mười chín trăm ba,

Giáng cơ để vận nôm na ít lời.

Rằng khuyên phụ nữ trong đời,

Chớ rằng thấp thỏi mà cười mà khinh.

Người người đều sẵn Tánh lành,

Phật Trời ban phú cho mình ban sơ.

Bởi hay lắc lẻo hỏng hờ,

Hãy tua gìn giữ nghe lời chị khuyên.

Tiên, phàm, tuy có hai tên,

Muốn cho thoát tục thành Tiên khó gì!

Hãy tua hôm sớm tu trì,

Giồi mài Bổn Tánh qui y Linh Hồn.

Phật Trời Đạo Thể Chí Tôn,

Lòng người nham hiểm ba vuông bảy tròn.

Đua chen trí xảo tài khôn,

Lâu ngày Bổn Tánh hao mòn Chơn Nguyên.

Dẫu cho cửu chuyển Thần Tiên,

Không trau Chơn Tánh, tự nhiên lụy mình.

Huống chi phận gái hậu sinh,

Quên đường Đạo Đức, nên hình thể chi?

Các em vụng tính hẹp suy,

Thấy đời rằn rực cứ đi theo đời.

Ham ăn, ham nói, ham cười,

Ham bề vật chất, ham mùi phù vân.

Sao không suy xét cân phân,

Mấy đời cõi tạm cho bằng quê xưa.

Hồng trần phơi nắng tắm mưa,

Sao bằng Tiên cảnh không trưa không chiều.

Hồng trần khổ hạnh trăm điều,

Sao bằng Tiên cảnh tiêu diêu thanh nhàn.

Hồng trần là chốn lửa than,

Bọt nước sôi tràn thấy đó mất đây.

Ai ai chẳng hiểu lệ nầy,

Thác rồi nắm đặng trong tay vật gì?

Đua chen khôn dại thị phi,

Tắc hơi nín thở còn chi đâu là?

Sao bằng giữ mực thực thà,

Rảnh rang xác thịt, ta bà Hồn linh.

Cang thường Đạo thể trọn lành,

Phật Trời qui luật chí thành phương vân.

Hồng trần trọn Nghĩa trọn Nhân,

Hồn linh mới bước đến từng mây cao.

Thiện Tâm chẳng dạ lãng xao,

Thiên đường mới đặng ra vào thung dung.

Một lòng một dạ thỉ chung,

Sớm thơm danh giá, thác phong rỡ ràng.

Hãy xem Thần Thánh muôn ngàn,

Đều người nghĩa khí trung cang mới thành.

Gái mà tiết liệt trung trinh,

Gái mà tiết hạnh, Thiên đình bia tên.

Cung Diêu, Cung Quế, Cung Sen,

Hàng luôn Tiên Nữ, dảy liền Tiên Nga.

Rèm châu, vách ngọc, cột ngà,

Thủy tinh bao phủ, sáng loà như gương.

Người đời yêu chuộn thủy xoàn,

Nào hay đồ vụng đài trang Tiên toà.

Người đời yêu chuộng vinh hoa,

Nào hay bị cái giây ma khớp đàm.

Cõi phàm mà thấu Đạo Trời,

Kìa trang Tiên Thánh cũng người phàm gian.

Giàu sang sánh với cơ hàn,

Giàu sang còn dễ bước đàng chơn tu.

Đố ai phân biệt trí ngu,

Mây bao bịt phủ sương mù mịt giăng.

Người ngu mối Đạo biết phân,

Người khôn chừng thấy ăn năn muộn rồi.

Thấy vầy nên chị ngùi ngùi,

Thương em chị phải tới lui giảng bày.

Tam Kỳ sẵn mối Đạo Thầy,

Khá tua ráng sức cho dày công phu.

Thời giờ thắm thoát bóng cu,

Một ngày qua khỏi, ngàn thu không tìm.

Nữ sanh là phận các em,

Không lòng sốt sằng, càng thêm lạc lầm.

Chị xin Đức Mẹ chế châm,

Cho chị giáng bút, thánh âm phân trần.

Mẹ cho chị xiết nỗi mừng,

Nên chị vội vã ân cần đến đây.

Phái Nam đã đủ chơn tay,

Phái Nữ đến rày, xem thiếu chị em.

Nghĩ coi tự cổ chí kim,

Làm thân con gái mỏng mềm súc thua.

Hêu đòi cờ bạc hốt vùa,

Nết xấu ráng chừa, đặng giữ thân danh.

Khuê môn phận gái đã đành,

Đến việc tu hành lại cũng rút co.

Đường ngay ít kẻ đắn đo,

Đường gai nẻo gốc lần mò lủi đi.

Phật Trời thương xót xiết chi,

Đã bày ngũ giới, tam qui rẽ ròi.

Ngặt lòng tín ngưỡng lôi thôi,

Có việc cầu Trời khẩn Phật tứ tung.

Từ đây khuyên khá rèn lòng,

Nghe lời chị bảo, chí công tập tành.

Công phu, công khoá, công trình,

Phân rành chương thứ phân minh tỏ tường

.

Thể Liên Tiên Nữ


Kinh Giác Mê

Chưởng quyền thưởng phạt thay Trời,

Giáo truyền Đại Đạo độ người trầm luân

Thiên điều mắc mỏ muôn phần,

Tôn đường Chơn Lý gặp Xuân tư mùa.

Kinh Vô Vi

 

Ngọc chiếu hào quang giọi đủ màu,

Hoàng ngôn khen tặng kẻ cung dâu

Thượng hòa hạ lục vui chi bẵng,

Đế Đạo danh nêu rạng Ngũ Châu

Thầy chào các con. Thầy cho các con bình thân.

Các con, hằng lâu Thầy không rảnh để dạy các con một bài Đạo. Thầy cho các con một bài, ráng tìm hiểu sẻ biết được mùi Đạo. 

Các con phải nhớ rằng:

Chơn Lý là Đạo mà Đạo là Chơn Lý.

Vậy nghe thi:

Hai chữ Vô Vi mối Đạo Thầy,

Bốn mùa thay đổi cứ vần xây,

Chim bay cá lội hoa đua nở,

Ai thấy thợ nào có để tay.

Để tay sao gọi được Vô Vi,

Các trẻ lầm nghe nghĩ cũng kỳ,

Rộn rực lăng xăng tuồn dối trá,

Rằng đua công quả chốn trường thi.

Trường thi ai lập ở nơi nao,

Nào thấy đâu là cái bản rao,

Hễ có bảng rao là vật chất,

Khuyên đời khá tỉnh giấc chiêm bao.

Tỉnh giấc chiêm bao ớ trẻ bầy,

Đừng tìm non núi hoặc cung mây,

Cao Đài vốn ở lòng con đó,

Bỏ tánh tham si sẽ gặp Thầy.

Gặp Thầy cùng chẳng tại nơi lòng,

Bã lợi mồi danh lóng sạch trong,

Thấu rõ thế gian muôn tượng đó,

Nó đều không có cũng không không.

Không không có có, có chi đâu,

Có đó, rồi không thật rất mầu,

Muốn có, có cho, không cũng được,

Có không hỏi thử chỗ cao sâu.

Cao sâu phút chốc bỗng trang bằng,

Thể Đạo dường như nước với trăng,

Một lại ba, rồi ba lại một,

Khuyên đời định tỉnh chớ lo xằng.

Lo xằng thêm hại, các con ôi !

Tan hải xưa nay cuộc lở bồi,

Đạo chẳng bảo lo, lo trái Đạo,

Ai mà trái Đạo ắc hư rồi.

Hư rồi khó dựng nói càng thương,

Khuyên nhủ nhơn sanh tỉnh mộng trường,

Sóng gió ấy là nguồn mạch nước,

Gió êm sóng lặng nước như thường.

Nước lặng như thường chẳng đổi day,

Tự nhiên xây vận thể đêm ngày,

Gìn lòng giữ trọn Chơn Như Tánh,

Hai chữ Vô Vi mối Đạo Thầy.

Định Tường đêm 18 tháng 7 năm Nhâm Thân (1932)

Lời giảng của Đức Bửu Tinh: 

Vô Vi là Vô sở bất Vi: có làm mà chẳng thấy làm, chẳng thấy làm mà có làm; chẳng thấy có mà thiệt có, mới thiệt là Sự Sống Thiên Nhiên như bốn mùa vần xây, vạn vật sanh yên.

Điển Vô Vi là một mối Điển có một cái sức mạnh thiêng liêng cùng một gốc với với Nguồn Ngươn Khí. Nguồn Ngươn Khí có cái sức mạnh này mới vận chuyển thành Đạo, vì Đạo là Nguồn Ngươn Khí Hóa Sanh. 


Nhị Thập Thủ Liên Hường

Thánh Huấn của Thánh Thất Kiên Giang

24 tháng 6 năm Canh-Ngũ (20-7-1930)

Ngọc ngà châu báu của Trời ban,

Hoàng cảnh sao xem thấy nhộn nhàn,

Thượng phẩm cung tường ai dễ thấu,

Ðế quyền đâu sái mảy trần gian.

Các con lớn nhỏ thấy càng thương,

Lắc lở gần đi muốn lạc đường,

Tin cậy lời ma sao sốt-sắng,

Ước ao kinh Thánh lại lương khương.

Gương trong chớ để chi phơ phất,

Tơ trắng đừng cho chút vấn vương.

Một mảy lòng sai mau sửa lỗi

Ðừng cho trần khí nhiễm đàn tràng.

Ðàng tràng cao thượng mới vừa yên,

Còn muốn mang lời với Tán Tiên,

Pháp Chuyển sanh đều may khỏi dữ,

Ma cơ viện cớ ắt không hiền.

Chanh ranh bánh trước đà lăn úp,

Chợp rợp xe sau đợm ngửa nghiêng,

Công việc muốn làm, làm chẳng hỏi,

Khen cho mãi mãi để Thầy phiền.

Thầy phiền nào có ích chi đâu?

Vụng tính không ngừa việc trước sau,

Thấy dại chẳng răn thêm luốt lát,

Bởi thương ít phạt lại lau chau.

Từ đây quy luật thêm nghiêm ngặt,

Mãi tới chương trình cứ sửa trau,

Chánh quả được thành cho giáng bút,

Cấm đừng kẻ khẩn lại người cầu.

Khẩn cầu ai có chứng cho đây,

Khéo sắm nề cho quỷ phá chay,

Ruộng sẵn, tiền dư, toan phá của,

Mưa sa, nước ngập, khó gieo cày.

Năm lừa, bẩy lọc, vừa mừng đấy,

Một lỡ, hai lầm, gẫm xót thay.

Có chút lòng thành tua gắng sức,

Chớ sa nẻo vậy, bỏ đường ngay.

Ðường ngay kỉnh Phật với thờ Trời, 

Chớ thấy thương rồi lại dễ ngươi,

Một dạ thành tâm quên gắn bó,

Trăm điều ma quỷ dục tơi bời.

Gai chông án mặt tua ruồng bỏ,

Ðạo Ðức gìn lòng mới thảnh thơi,

Có chí thì nên lâu phải được,

Bồng lai, nhược thủy, sức đua bơi.

Ðua bơi chi cái thú yêu tà?

Nước trí non nhơn sẵn vốn ta,

Kinh kệ sân vàng , vòng Thái Ất,

Mốc mưa bụi đỏ báu Di Ðà.

Trăng trong, gió mát nào eo hẹp,

Cội cả, nguồn sâu chớ bỏ qua,

Tam giáo dạy ròng lòng tín ngưỡng,

Có đâu Phật Phật lại ma ma!

Phật ma, ma Phật chẻ lòng tin,

Yêu quái chìu theo sửa tánh tình,

Ðạo hạnh nếu không già pháp tướng,

Ngươn Thần hằng phải loạn danh thinh.

Bồ đoàn sớm tối tiêu tiền nghiệt,

Bửu tọa hôm mai giác hậu sinh.

Khờ dại đáng thương, thương mới dạy,

Ðố ai lấp được mắt Thần minh.

Thần minh bất vị thói gian hùng,

Lánh hé ngờ qua luật chí công,

Ẩn bóng Tam Kỳ, tuồng Ðạo Ðức,

Bia danh Thượng Ðế, bộ thung dung.

Chữa mình mượn tiếng đời ân xá,

Phỉnh chúng lầm đường tội bất dung.

Lộng lộng lưới thưa đâu dễ lọt,

Ðể cho đứa nịnh nhuộm màu trung.

Trung thành can trực chẳng vơ quàn,

Mới được danh đồn tiếng dậy vang,

Mạch nước báu dân lòng sắt đá,

Của chùa mối Ðạo dạ son vàng.

Tu trì chỉ nẻo khuyên đem lối,

Công quả tìm phương khá dẫn đàng,

Sau trước một lòng bồi cội phước,

Thi ân đùm bọc đứa cơ hàn.

Cơ hàn vấn vít đứa hàn vi,

Ðời có từ tâm phải nghĩ suy,

Bố thí nét son bia Ngọc bản,

Quả công sớ trắng tấu đơn trì.

Dẫu rằng dưới thế không hay đó!

Chớ tưởng trên Trời chẳng biết chi.

Nền thấp phải bồi, bồi mới vững,

Ráng lo công quả thất Tam Kỳ.

Ngọc trắng lồng cung điện.

Hoàng danh vững sắc son,

Thượng thanh quyền Chủ Tể,

Ðế tọa vững sông non.

Tam Kỳ hóa Ðạo chốn Kiên Giang,

Nhơn thấy dày công bước vững vàng,

Khổ hạnh luật nghiêm theo phép Phật,

Trường trai Thầy chế lúc bua quan.

Hồi hương động đến Như Lai Ðiện,

Ngọc quế đồng vui Tổng Cửu Phang,

Trước đã sẵn phê con thấy hiểu,

Nhơn công thiết lập nhứt trai đàn.

Trai đàn còn hiếm bực Chơn Tu,

Dạy dỗ đem tai lóng chực hầu,

Phải mặt danh hiền, danh phải chuộng,

Thêm người Ðạo Ðức, Ðạo thêm mầu.

Trưa chiều công quả Tam Kỳ Miếu,

Khuya sớm hương hoa Ngũ Phụng Lầu,

Dìu dắt đoàn em khuôn tánh hạnh,

Trước sau cho vững chí công phu.

Công phu bền bỉ bởi tiền duyên,

Bính đắc kỳ công thật đáng khen,

Ngũ nhạc mối chia dầu sức ráng, 

Kiên Giang gốc chánh phải lo kiều.

Ðứng đầu trong họ bằng dời đổi,

Nối gót theo mình phải đảo điên,

Ðâu quý cho bằng quê đất tổ,

Chín mười cân gióng giá Thiêng Liêng.

Thiêng Liêng ung đúc giá danh người,

Nghi chọc chi cho Sóc nhạo cười,

Ngọc phải trau dồi người đức hạnh,

Con tua bền bỉ chí tài bồi.

Nết vui tánh tốt đời yêu mến,

Ðất béo nguồn sâu cội tốt tươi,

Công quả còn non tua ráng sức,

Tự nhiên mùi xạ gió đưa hơi.

Gió đưa hơi mát cảnh Cao Ðài,

Người đó chuông kình khách vãng lai,

Nghe kệ tánh phàm khuyên sửa đổi,

Lóng kinh lòng tục ráng giồi mài,

Vững thân Ðạo Ðức khuyên lơn bạn,

Mang tiếng Từ Bi tủi hổ trai,

Bay nhảy phải noi gương chánh đáng,

Ngựa hay nhờ biết sức đường dài.

Ðường dài thâm thẩm lắm con ôi!

Biển sóng thuyền chinh chớ thả trôi,

Bảy liệu ba lo đừng lấp lững,

Một vai hai gánh mựa lôi thôi,

Tình anh nghĩa bạn đền đâu phỉ,

Khế vợ nợ con trả chữa rồi,

Ðã có ơn cho gương Quản Thược,

Chưn không bén đất chạy đền bồi.

Ðền bồi phu phỉ nghĩa tào khương,

Niệm có nhờ ơn Ðức Trước Sơn,

Rạch Giá nêu danh bia rực rỡ,

Sông Rồng để tiếng tạc quê hương,

Thể Liên đang buổi nghe kinh sám,

Ðồng Tử nhằm cơn khóa học đường,

Nhắn nhủ Kỳ Phùng mau bủa cuộc,

Tam Kỳ đường cả bước bương bương.

Bương bương cho kịp hội Liên Hoa,

Muôn kiếp một kỳ thấy Thích Ca,

Thế giái mịt mờ cơn hỗn độn,

Kiền khôn điên đảo buổi ta bà,

Ðồ Thơ bút tích Tư rồi Tám ,

Ðạo giáo nguyên lưu Một phải Ba , 

Sóng gió khó ngừa thuyền Bát Nhã,

Mở cho đường cả Tát Ma Ha.

Ma Ha Ngọc Ðế cũng là Thầy,

Rộng mở Trời Nam ngắm cảnh đây,

Nhử cá mồi tôm đành đoạn dạ,

Bắt hùm bêu lợn nỡ nào tay,

Vạch đường chỉ ngõ ruồng gai gốc,

Quạt gió lồng sương vén ngút mây,

Khờ dại lắm nên con phải nhọc,

Ôi thôi! nín miệng gượng làm khuây.

Làm khuây làm lảng đặng làm gương,

Nào biết nơi nào chốn lửa hương,

Ôm ấp cấp ca đồ vật chất,

Se sua đua tính cuộc thương trường,

Nghĩa Nhơn chẳng thấm sương đôi giọt,

Ðạo Ðức không đầy giấy nửa trương,

Vì lỗi lầm nên Cha xá tội,

Các con lớn nhỏ thấy càng thương.

24 tháng 6 năm Canh-Ngũ (20-7-1930)

Thể đức như gương chiếu cỏi Trời,

Liên châu năm sắc rạng nơi nơi,

Tiên phàm khuyên chớ đua hay giỏi,

Nữ kỷ nam cang rán chọn lời.

Ðạo Thầy huyền diệu thấu sao cùng,

Thức tỉnh người mê cõi Á-Ðông,

Mở dạy Trung Nguyên Ngôi Thái Kiệt,

Rải gieo Nam Việt giống Thần Nông.

Ngoài trong đen trắng năm ba số,

Phải trái vàng xanh một ít vòng,

Ðậm lợt mỏng dày cao với thấp,

Hiểu chăng hoặc có khách non bồng.

Non Bồng ai khiến đến thày-lay,

Biết đó sao chưa biết đặng đây,

Tiểu Mụi núp gương cam phận túy,

Ðại Bàn phơi cánh ngóng Trời Tây.

Ðừng rằng cảnh Phật vui chuông trống,

Mà đón lòng người lướt gió mây,

Nầy thấy, nầy chưa, nầy ướm hỏi,

Trầm luân mài miệt cuộc no say.

No say quên lửng nhứt phi tam,

Thập bác nguyên nhân nhị cửu hàm,

Trần tịnh trần sa oai Phục-Hổ,

Ðiển trừ yêu nghiệt báu Già lam.

Ðạo cao khuyên gắn công Ma Niết,

Học quản tua gìn chữ Khiết tham,

Người hỡi, người ơi, người khá tỉnh,

Chớ chia kẻ Bắc lại người Nam.

Người Nam kẻ Bắc lại sum vầy,

Khuyên chớ trầm trồ sự dở hay,

Hùm được thêm oai nhờ sức gió,

Rồng nên vẽ đẹp bởi chìu mây.

Vô biên vô lượng đành không dễ, 

Bất kỵ bất cầu mới thiệt hay,

Chín chín nạn dư vừa thấy Phật ,

Thấy rồi rõ Phật ở mình đây.

Mình đây nhiều kiếp biết tu hành,

Biết được mau lo độ chúng sanh,

Nhơn quả trả vay tuồng sóng lượng,

Công danh thành bại bức mây tranh.

Cờ cao túng nước mau xoay thế,

Nhà rộng Trời khuya kịp điểm canh,

Áo bả hài gai chuông tỉnh mộng,

Tài tình khuyên kẻ mựa cành nanh.

Cành nanh quá lắm ích chi đâu,

Tự cổ đồn bia tiếng bể dâu,

Liên lạc vướng mành mưu chước nhện,

Oai phuông tuông nọc thế thần sâu.

Ðã sanh Người báu so Trời Ðất,

Thì để danh lành sanh trước sau,

Sáu chữ Di Ðà nguồn cội cả, 

Học cho thông suốt mối cơ mầu.

Cơ mầu Thầy mở dạy miền Nam,

Hào kiệt khuyên mau lánh khớp dàm.

Gióng trống giác mê qua bể ngạn,

Rung chuông khải ngộ đến Lôi Am.

Hư vô Kiến Tánh noi Ca Giáo,

Thanh tịnh Tu Tâm học Lão Ðam,

Kìa bến, nọ bờ, đây lạc thổ, 

Màu nào xanh đặng lấn hơn chàm.

Hơn chàm đặng thấy có TamThanh,

Mà đặng cùng không cũng tại mình,

Ðạo Lý Cao Kiên lo chạy cứu,

Công trình Trung Tín nỡ ngồi khoanh.

Minh mông sóng khổ đua chìm đắm,

Chợp rợp trường tu thiếu học hành,

Dầu cạn, đèn khêu, người ngáy giấc,

Chưa hay Trời đã quá năm canh.

Năm canh chuông mõ chẳng ngơi tay,

Khuyên nhủ anh em dậy rửa mày,

Long Hổ Ðiển Quang vầy hiệp đó,

Thần Tiên Xá Lợi sẵn sàng đây.

Ngàn năm một kiếp nên bồi bổ,

Mười tám trăm đều chịu trở day,

Khôn dại đua chen chi nước bọt,

Thôi thôi ráo tiếng giả làm khuây.

Làm khuây đặng có nghĩ trong lòng,

Hà Lạc Ðồ Thơ số tứ tung,

Bắc đẩu chốt then sao chói rạng,

Tây phương hình dạng cõi Hư Không.

Vô-Vi ấy Ðạo phi Chơn Tướng,

Hữu dụng cho người chiếm Hóa Công.

Khuyên rửa Tánh phàm noi Thánh Huấn,

Ðạo Thầy huyền diệu thấu sao cùng. 

17 tháng 9 năm Tân-Vì (1931)

Kinh Thuần Dương Chơn Nhơn (1)


Chào chư Thiên Phong Chức Sắc

     Kìa nhựt nguyệt đôi vừng luân chuyển,

     Nọ Ngũ hành u hiển giao thông;

Nào là Bác Quái, Cửu Cung,

Vạn thiên tinh tú trùng trùng bủa giăng.

     Đạo có Một, một căn, một cội,

     Chia làm ba mà mối cũng đồng ;

Chữ rằng : Thiên Địa chí công,

Họa nhơn ác tích, phước tùng thiện duyên.

     Thành chánh quả, hoặc Tiên, hoặc Thánh,

     Phải trau mình qui chánh, khử tà;

Trong trần bát vạn tà ma,

Đảo điên trước mắt, nếu sa ắc lầm.

     Tây phương có Lôi Âm Giáo Chủ,

     Huệ nhãn xem khắp đủ năm châu ;

Xa cừ, mã não, trân châu,

Lưu ly, hổ phách, toàn cầu không hai.

     Nam phương sẵn Kim Đài, Ngọc Khuyết,

     Ngọc Đế quyền định quyết âm dương ;

Âm dương Trời Đất kỷ cương,

Hóa sanh vạn vật phú cường lê dân.

     Đông với Bắc phân vân tâm tánh,

     Tiên chẳng tiên, Phật Thánh lương khương ;

Quyền sai Đế Thích chủ trương,

Tùy theo thiện ác hai đường xử phân.

     Còn một cõi hải quần muôn khóm,

     Phật xem dường một xóm yêu tà ;

Để dành dày kẻ tinh ma,

Để dành đày đứa không Cha không Thầy.

     Ta giải rõ công Thầy gầy dựng,

     Đặng cho đời kỉnh Đấng Chí Tôn ;

Kìa sao vực hóa nên cồn,

Kìa sao biển nổi nên hòn núi cao.

     Cõi nhược thủy, bồng dinh chẳng lạ,

     Nào phải là vượt quá Năm châu ;

Hễ ai rõ đặng Đạo mầu,

Thiên đàng, Phật quốc đâu đâu cũng gần.

     Bài thứ nhứt giải phân năm cỏi,

     Bài thứ nhì sẽ nói nguồn cơn ;

Này câu Thánh kệ giác chơn,

Dạy cho hiểu rõ căn dương đầu bài.

Vậy có kệ rằng :

Hỗn độn xưa kia vốn một bầu,

Chia là nhiều khóm, kể Năm Châu,

Rộng Trời nên tách sông nhiều ngọn,

Gom mối chung về áo một bâu.

Ai sẵn kiếp tu, nghe nữa tiếng, 

Người không lòng chánh, lóng ngàn thu, 

Cạn xin đàn nội Nam hòa Nữ, 

Trai giới nghiêm minh sẵn chực hầu.


Kinh Thuần Dương Chơn Nhơn (2)

     

Nhơn rảnh lúc bồ đoàn tu luyện,

     Khóa động thần dạo viếng Kiên Giang;

Thử xem phong cảnh trần gian,

Tứ dân tứ thú, mùa màng năm nay.

     Trời đã định cao dày như một,

     Lục tràn bờ chẳng sót nơi nao;

Cảnh Tiên, Tiên gọi rằng cao,

Cảnh trần xem thấy ngạt ngào sanh linh.

     Vậy mới biết hư, dinh, tiên, trưởng,

     Đều do quyền Giáo Chưởng Sư Tôn;

Khắp trong thế giái kiền khôn,

Đố ai thoát khỏi cái khuôn của Trời.

     Cám cõi thế rảo nơi cảnh Phật,

     Dưng chút thành cho Đức Từ Bi;

Trông xem Thánh Thất Tam Kỳ,

Vẻ vang, tề chỉnh, còn ghi đành rành.

     Cảnh thiệt cảnh thanh nhàn u nhã,

     Lại nhằm nơi điền dả phì nhiêu;

Lúa vui ngày Thuấn trời Nghiêu,

Người mừng ca trổi tiêu thiều Thánh ngôn.

     Xưa có chữ: “Ngọc Côn, Kiêm Lệ”,

     Nay rõ ràng: “Lang Quế Thành Tâm”;

Nào Trời có kém trăng rằm,

Khuyên người gìn giữ quan âm tấc thành.

     Dừng gót ngọc xem rành Ngọc Bản,

     Thấy rõ ràng: Nhơn, Giảng, Đài, Nghi;

Hỏa dương Bính, Vị hềm chi,

Xui cho Kỷ tỵ đô ty chưa thành.

     Mừng đặng thấy chày kinh gióng tỉnh,

     Khuyên chúng sanh tu tỉnh kỳ thân;

Trắng trong, trong trắng, trong ngần,

Kim liêng, Ngọc tọa có phần dành sau.

     Rày ai chắc ngọc, thau, vàng, đá,

     Sau tỏ tường: Kim mã Ngọc đường;

Mới hay Thánh huấn chiêu chương,

Mới hay Thánh Thất đường đường âm dung.

     Vài vận mượn thanh phong để tiếng,

     Mười câu làm minh kiển thần chung;

Khuyên người: Hiếu, Để, Tín, Trung,

Khuyên người sau trước thỉ chung một lòng.

Thuần Dương Chơn Nhơn

(1935)

Nhắn các chư đệ tử nơi Định Tường

Nhắn Thái Nhơn Thanh Sơn  (Đức Bửu Sơn)

Trăm ngàn hoa cỏ một non xanh,

Hoa đượm màu tươi cỏ đượm mình,

Hoa cỏ hiểu chăng công Vũ Lộ,

Hiểu chăng hoặc có tiếng ca Oanh.

Ca Oanh thảnh thót giọng u nhàn,

Nam Bắc bao gồm điệu chứa chan,

Cội phước giây oan ai có rõ,

Trớ trêu mối chỉ nhuộm xanh vàng.

Xanh vàng mối chỉ nhuộm tình đời,

Mối Đạo nào ai chống nổi Trời,

Tòng bá tuyết sương khoe tiết tháo,

Càng sương càng tuyết lại càng tươi.

Càng tươi càng đẹp vẽ Tinh Thần,

Chấp chưởng Đạo Trời há nại thân,

Thân hữu thân sanh thân phải tử,

Tử sanh Nhân Quả, Quả rồi Nhân.

Quả Nhân, Nhân Quả chớ đeo đai,

Biển khổ ngày đêm chớ miệt mài,

Mượn nước Từ Bi nhành Bác Ái,

Tuần tuần thiện dụ độ Anh Tài.

Anh Tài chớ nệ cuộc lâu mau,

Tuyết đóng càng thêm núi đẹp màu,

Gánh nặng đường xa thêm đá dựng,

Đường xa chớ hỏi dặm là bao.

Hỏi dặm là bao có ích gì,

Sông lần lần chảy tháng lần đi,

Tháng thành thế kỷ, sông thành biển,

Sông biển đâu nào có hỏi chi.

Hỏi chi thêm bần chí công tu,

Chơn Lý cao thâm giữ một màu,

Vững dạ mựa sờn cơn khổ huống,

Càng lâu càng vững trãi ngàn thu.

Ngàn thu bồi bổ khối Thiêng Liêng,

Mừng được cho ai gặp bạn hiền,

Gặp bạn khuyên ai nương ý bạn,

Sao cho rộng mở cảnh sông Kiên.

Sông Kiên suối nước dợn long lanh,

Quế đượm hơi Tiên trải mấy cành,

Thỏ thẻ đờn Oanh nguồn róc rách,

Trăm ngàn hoa cỏ một non xanh.

Nhắn Ngọc Chiếu Thanh.

Ruồng thông gay gốc đến non Tiên,

Giốc gặp Chơn Sư học bửu truyền,

Sức mạnh công dầy thương bấy trẻ,

Cho hay Phật vốn ở Tâm Điền.

Tâm Điền là gốc cội Người Ta

Bìm sắn đừng cho loán phủ nhà,

Nổi ngọn truyền đăng tan hắc ám,

Mặc tình thong thả cõi Ta Bà.

Ta bà thế giái khắp Năm Châu,

Có cái chi hơn cái Đạo mầu,

Thông được Đạo rồi Trời cũng một,

Một Trời, một Đất, một Hoàn cầu.

Hoàn Cầu đã biết gọi là Năm,

Có lớn chi đâu chớ tưởng lầm,

Sánh với Tu Di dường cát bụi,

Khuyên con Chơn Lý ráng phăng tầm.

Phăng tầm cho rõ Đạo là chi ?

Chớ để ngày qua bước trễ kỳ,

Rõ được thế gian tuồng mộng ảo,

Buồn lòng mượn cớ tụng A Di.

A Di Phật ấy có đâu xa,

Chánh lý dầu ai cũng Phật Đà,

Lục dục khuyên con mau dứt bỏ,

Còn đeo một mảy hóa tà ma.

Tà ma hại Đạo cũng vì ai?

Cũng tại bùi nghe tiếng dịu tai,

Ngọt mật chết ruồi lời sẵn ví,

Đừng ai phỉnh mượn tiếng Cao Đài.

Cao Đài Đại Đạo, Đạo Trời sanh,

Đạo dạy người phân chuyện dữ lành,

Đạo chẳng khuyên lo hành sắc tướng,

Đạo lo giải cứu vọng nhơn tình.

Nhơn tình điên đảo nhắc càng thương,

Bào ảnh say mê chốn mộng trường,

Ngon ngủ quên lo khi tỉnh giấc,

Giựt mình mới rõ cuộc huỳnh lương.

Huỳnh lương đã rõ cuộc không không,

Nẻo chánh khuyên con giữ một lòng,

Ruộng sẵn, người dư, mầm giống tốt,

Từ đây Chơn Lý sức ruồng thông.

Nhắn chư đệ tử khác nơi Định Tường.

Đường Chơn Lý Định Tường chẳng nể,

Sanh Vọng Tâm chia rẽ đệ huynh,

Sớm trưa lo việc chống kình,

Chẳng lo bồi đắp danh thinh Cao Đài.

Đạo cao trọng, mấy ai thấu Đạo,

Trời Từ Bi, lại thạo dối Trời,

Mãn lo ích kỷ gạt đời,

Mà quên Thiên Mạng của Trời phú trao.

Thương sanh chúng Thầy nào tự trọng,

Hạ mình lo giải Vọng nhơn tình,

Chọn nơi làm gốc dân sinh,

Trung Ương bền chặt giữ gìn Đạo Chơn.

Nhưng hiềm nỗi tiếng đờn kém giọng,

Dạ Từ Bi Thầy phóng Thiên Ân,

Giao Ca quyền được Sớ dâng,

Định Tường Ân Xá người cần Lý Chơn.

Thọ Thiên Ân mựa sờn tấc dạ,

Kể từ nay sắc đá giúp Thầy,

Trung Ương lui tới sum vầy,

Vuôn tròn bổn phận cho dày quả công.

Trời tuy thưa, mảy long chẳng sót,

Thiệt với Trời kẻo lọt biên trần,

Dối Trời đâu khỏi mắt Thần,

Dối Trời là hại Chơn Thân của mình.

Khuyên các trẻ giữ gìn Đạo Lý,

Đạo, Lý rành, Chơn Lý mới mong,

Lý Chơn Tâm Tánh, dồi xong.

Thiệt hành một Lý, vượt vòng phàm phu.

Phải nhớ chữ Bạch cu quá khích,

Phải gìn câu Triêu Tịch Tư Tư,

Con ôi, Mấy đứa nhàn cư, 

Làm sao gặp được Chơn Sư Bí Truyền.

Y sớ dưng Thầy liền hạ bút,

Phong các con hưởng chút Hồng Ân,

Từ đây Trật Tự ráng phân,

Tự do, bình đẵng, lần lần bỏ đi.

Đừng miệng đọc Từ Bi, Bác Ái,

Mà lòng lo mặt, trái, phỉnh người, 

Các con Nam Nữ nghe lời,

Con Trời thì phải sợ Trời, nghe con?