Thánh Giáo Chơn Lý
Holy Teachings of True Principle
Thánh Giáo của
Đức Phù Hựu Lữ Thánh Đế Quân
Holy Teaching of the Sage – Imperial Lord Lữ Thánh Đế Quân
A Brief History
According to the Legend of the Eight Immortals and
the Thần Tiên Bút Ký,
“Chronicle of the Immortals”
(theo truyện Bát Tiên và Thần Tiên Bút Ký)
Đức Lữ-Tổ Thuần Dương Chơn Nhơn vốn là họ Lý, con nhà thế phiệt, dòng dõi trâm anh, một họ với vua nhà Đường (Lý Cao Tổ). Ngài tên là Huỳnh, tự là Bá Ngọc. Khi Ngài lớn lên được 10 tuổi thì biết làm văn, qua 15 tuổi thì ưa đánh gươm, kịp đến 20 tuổi thì tiếng tâm nổi dậy trong ngoài. Qua đến 50 tuổi mới thi đậu, bổ ra làm quan, thường lấy đức mà hóa dân. Vợ Ngài là Kim Thị sanh ra được 4 người con.
The Patriarch Lữ Thuần Dương Chơn Nhơn, was originally of the Lý clan, born into a family of hereditary rank and noble lineage, sharing a surname with the kings of the Đường (Tang) dynasty (Lý Cao Tổ, Emperor Gaozu). His given name was Huỳnh, his courtesy name Bá Ngọc. By the age of ten he was already skilled in letters; by fifteen he had taken to swordsmanship; and by twenty his reputation had risen both within and beyond his homeland. Only at fifty did he pass the examinations and enter official service, where he governed the people chiefly through virtue. His wife, of the Kim clan, bore him four children.
Lúc đó nhà Châu có Vỏ Tắc Thiên đoạt ngôi nhà Đường, chuyên quyền toan diệt cả dòng họ Lý. Ngài nghe tin nên sợ, lật đật bỏ quan, dắt vợ con trốn qua nước Ngô vào ẩn ở núi Hổ Khẩu Sơn mà tu luyện. Lúc vào núi chỉ có hai vợ chồng mà thôi, nên mới cải họ Lý ra họ Lữ. Về sau vợ Ngài qua đời, Ngài ở một mình hiu quạnh nên đổi hiệu lại là Thuần Dương.
At that time, Võ Tắc Thiên (Empress Wu Zetian) of the Châu (Zhou) usurped the throne of the Đường dynasty and, wielding absolute power, sought to exterminate the entire Lý clan. Hearing this, he took fright, hastily abandoned his office, and fled with his wife and children to the land of Ngô (Wu), taking refuge on Mount Hổ Khẩu (“Tiger’s Mouth Mountain”) to cultivate the Way. As only husband and wife had entered the mountain together, he changed his surname from Lý to Lữ. Later, after his wife passed away, he lived on alone in solitude, and so changed his name once more to Thuần Dương (“Pure Yang”).
Ngày nay trên núi Hổ Khẩu Sơn còn có một cái động gọi là Tiên Nhơn Động, người ta truyền rằng đó là động của Lữ Tổ lập ra khi xưa để ẩn mình tu luyện.
To this day, on Mount Hổ Khẩu there remains a cave called the Immortal’s Grotto (Tiên Nhơn Động); it is said, by tradition, that this is the very cave the Patriarch Lữ once established, long ago, in which to hide himself away and cultivate the Way.
Brief History of the Immortals
(An excerpt by An Giang Tử – Châu Thiện Tâm)
Thần Tiên Lược Sử
Đức Lữ Thuần Dương Chơn Nhơn (đời gọi là Đức Lữ Tổ).
(known to later generations as the Patriarch Lữ).
Theo trong truyện Bát Tiên, người ta chép không đủ về đời dỉ vảng cuả Ngài, có chỗ thêu dệt nhiều việc mờ hồ khó mà biết cho đúng với sự thật đặng. Nay may tôi gặp đặng bộ “Thần Tiên bút ký”, thấy sử ký chep rõ ràng cái ức của Ngài rất nên chơn thật, nên tôi lật đật sao lược ra đây để công hiến chư đọc giả xem cho biết một vị Đại Tiên đã liễu Đạo ở cõi Á Đông mình.
In the Legend of the Eight Immortals, the record of his past life is left incomplete, with certain passages so embroidered and obscure that the truth of the matter is hard to determine. Now, fortunately, I have come upon the volume Thần Tiên Bút Ký (“Chronicle of the Immortals”), and finding its account of his life recorded clearly and, it would seem, most faithful to the truth, I have hastened to copy an excerpt of it here, that I might offer it to my fellow readers, so that they may come to know a Great Immortal who attained the Way in this land of the East.
Trong hàng Bát Tiên, có hai vị mà ta nên đáng chú ý hơn hết: một là ông Lữ Thuần Dương, hai là ông Hàng Tương Tử. Vì có nhiều bằng cớ hiện bây giờ người ta còn nắm giữ; bởi vậy ta cần phải nghiên cứu thêm ra nữa.
Among the ranks of the Eight Immortals, there are two figures most especially worthy of our attention: the first is Lữ Thuần Dương, the second Hàn Tương Tử (Han Xiangzi). For there remain, even now, a good many pieces of evidence that people still hold concerning them; it behooves us, therefore, to study them further still.
Đức Lữ Tổ Thuần Dương Chơn Nhơn vốn là họ Lý, con nhà thế phiệt, dòng dõi trâm anh, một họ với vua nhà Đường (Lý Cao Tổ). Ngài tên là Huỳnh, tự là Bá Ngọc, lúc thuở ấu niên có thầy tướng đoán Ngài như vầy: mày dài, mắt đẹp, tráng rộng, tai dài, mặt vuôn mà rộng, râu đậm mà thưa; đó là khí tượng của hàng nho sỉ thật phải rồi. Duy Ngài bị hai cái khuyết điểm này là: trên huyệt sân long có một cái nút ruồi, dưới hàm thái dương cũng có một cái nữa; bởi vậy cho nên Ngài phải chịu khắc về đàng thê tử. Tuy là Ngài phải chịu thiệt thòi về chỗ đó, song cái chân bước đi như con hạt, hơi thở như con rùa, tiếng từ trong đơn điền tuông ra thật là quí vậy, nếu Ngài học Đạo tu tiên thì chứng phẩm liền.
The Patriarch Lữ, True Man of Pure Yang, was originally of the Lý clan, born into a family of hereditary rank and noble lineage, sharing a surname with the kings of the Đường dynasty (Lý Cao Tổ, Emperor Gaozu). His given name was Huỳnh, his courtesy name Bá Ngọc. In his childhood, a physiognomist read his features thus: long eyebrows, fine eyes, a broad forehead, long ears, a face both square and wide, a beard thick yet sparse — truly the bearing of a Confucian scholar. Yet he bore two flaws: above the “Court of the Dragon” point [between the brows] there was a mole, and below his temple there was another; on account of this, he was fated to suffer hardship in the matter of wife and children. Still, though he was to be disadvantaged in that regard, his gait moved like a crane’s, his breath like a tortoise’s, and the sound issuing from his cinnabar field [the body’s seat of inner energy] was truly precious — such that, had he studied the Way and cultivated immortality, he would have attained its fruit at once.
Khi Ngài lớn lên được 10 tuổi thì biết làm văn, qua 15 tuổi thì ưa đánh gươm, kịp đến 20 tuổi thì tiếng tâm nổi dậy trong ngoài, hềm vì công danh rất muộn trể, qua đến 50 tuổi mới thi đậu, bổ ra làm quan, thường lấy đức mà hóa dân. Vợ Ngài là Kim Thị sanh ra được 4 người con: Cam, Mỹ, Phong, Khắc.
By age ten he was already skilled in letters; by fifteen he had taken to swordsmanship; and by twenty his reputation had risen both within and beyond his homeland — yet worldly rank and fame came to him only very late, for it was not until fifty that he passed the examinations and entered official service, where he governed the people chiefly through virtue. His wife, of the Kim clan, bore him four children: Cam, Mỹ, Phong, and Khắc.
[This begins the fuller, second telling of the Patriarch Lữ’s life, drawn from Thần Tiên Bút Ký; the narrative continues in the next installment with the turning point of his encounter with the immortal Hớn Chung Ly (Zhongli Quan) and his path to enlightenment.]
Khi bấy giờ, vợ con sum hiệp một nhà trên hòa dưới thuận, trong ấm ngoài êm, tạo nên cảnh lạc thú gia đình. Ngài bèn hồi tưởng đến lời thầy tướng khi xưa đoán cho mình là trật rồi, chớ Ngài không dè lúc đó nhà Châu có Vỏ Tắc Thiên (Vỏ Hậu) đoạt ngôi nhà Đường, chuyên quyền toan diệt cả dòng họ Lý, may cho Ngài còn sống sót lại. Ngài nghe tin nên sợ, lật đật bỏ quan, dắt vợ con trốn qua nước Ngô vào ẩn ở núi Hổ Khẩu Sơn mà tu luyện. Lúc vào núi chỉ có hai vợ chồng mà thôi, vì trọi lỏi, có hai miệng làm mà ăn, nên mới cải họ Lý ra họ Lữ, cất nhà trên cái đồi núi (nham) lấy đó làm tên gọi là Nham tự là Đồng Tân. Về sau vợ Ngài qua đời, Ngài ở một mình hiu quạnh nên đổi hiệu lại là Thuần Dương.
At that time, wife and children lived together as one household, harmonious above and below, warm within and at peace without, creating a scene of true family happiness. He then recalled the physiognomist’s earlier reading of him and thought it had proven false — for he had not foreseen that, in that very era, Võ Tắc Thiên (Empress Wu, Vỏ Hậu) of the Châu would usurp the throne of the Đường and, wielding absolute power, seek to exterminate the entire Lý clan; fortunate indeed was he to have survived. Hearing the news, he took fright, hastily abandoned his office, and fled with his wife and children to the land of Ngô, taking refuge on Mount Hổ Khẩu to cultivate the Way. As only husband and wife entered the mountain — alone and solitary, with but two mouths to feed by their own labor — he changed his surname from Lý to Lữ, and, having built his dwelling upon a rocky hillside (nham), took this for his name, calling himself Nham, with the courtesy name Đồng Tân [i.e. Lữ Động Tân, by which he is known throughout East Asia]. Later, after his wife passed away, he lived on alone in solitude, and so changed his name once more to Thuần Dương.
Ngộ được đạo của ông Chung Ly Quyền (Hớn Chung Ly) truyền giáo nên từ đó Ngài phấn chí tu hành, tồn tâm luyện tánh một mình ở ẩn nơi núi Hổ Khẩu Sơn. Khi thầy (Đức Chung Ly) đi vân vu hải ngoại, có bày vẻ cho Ngài đốn cây tiện làm cái nạng, đó là vật dụng phòng khi để cùng nhau thông tiếp lúc đường xa muôn dậm khi hửu sự gì cần dùng đến, cho nên Ngài thường ra bải cát trắng trước động, cầm mó đồ ấy trầm tư mật tưởng định thần một lúc, dùng tư tưởng điển quan mà giao thông với thầy Ngài thì vật ấy quay động một hồi rồi phản chiếu hiệp ra chữ trả lời trên cát trắng, những điều nào Ngài muốn hỏi thầy Ngài. Món điệu dụng có nạng ở trên đó, người đời sau bắt chước làm theo gọi là Cơ (corbeille à bec) mà ngày nay người ta thật hành đem dùng giao tiếp thế giới hiện tại (monde visible) với cõi thế giới vô hình (monde invisible) có lẻ phát triển trước nhất do nới Đức Lữ Tổ là người sáng tạo đầu tiên chăng?
Having awakened to the Way as taught and transmitted by Chung Ly Quyền (Hớn Chung Ly, Zhongli Quan), he thereafter gave himself with renewed resolve to cultivation, preserving his heart and refining his nature in solitary retreat on Mount Hổ Khẩu. When his master (the Venerable Chung Ly) went wandering afar across distant lands, he had shown him how to fashion, by cutting and turning wood, a forked implement — a device kept in readiness so the two of them might still communicate across the myriad miles whenever some matter required it. And so he would often go out onto the white sand before his grotto, take hold of this implement, and, settling his thoughts in quiet concentration, use the power of focused will to communicate with his master; the implement would then turn and stir for a time before tracing out, in answer, characters upon the white sand to whatever he wished to ask. This forked implement was later imitated by people of subsequent generations and came to be called Cơ (French: corbeille à bec, “planchette”) — which is used to this day to communicate between the visible world (monde visible) and the invisible realm (monde invisible). Perhaps, then, it was the Patriarch Lữ himself who was its very first originator?
Cái sự thành Tiên của Ngài duy có bộ “Chẩm Trung Ký Sự” và “Dị Vân Lục” có chép việc này là rõ ràng hơn hết. Lúc Ngài gặp tên cùng sỉ Lư Sanh ở quán Hàn Đan, tên cùng sỉ ấy than với Ngài rằng: “Đã nhiều phen lở hội, công danh thất bại, vất vả thân hình, lao đao lận đận, nghèo khỗ quá, nên cầu xin Ngài nhỏ phước ra tay tế độ cho nên phận”.
As for the matter of how he attained Immortality, it is the two works Chẩm Trung Ký Sự (“Record Within the Pillow”) and Dị Vân Lục (“Record of Strange Clouds”) that record it most clearly of all. It happened that he met a destitute scholar named Lư Sanh at an inn in Hàn Đan (Handan); the poor scholar lamented to him, saying: “Time and again I have missed my chance — my ambitions for rank and fame have all come to nothing, my body worn down by hardship, buffeted by misfortune upon misfortune, and reduced to such poverty and suffering — I beg you, in your smallest measure of compassion, to reach out your hand and deliver me from this fate.”
Ngài thấy tên Lư Sinh khẩn cầu quá, bèn động tình thương, kiếm thế đặng làm cho nó thỏa chí một lúc; mới biểu tên quán vo gạo Huỳnh Lương (kê vàng) đặng đải anh ta, rồi lấy gối trong hàng nang biểu Lư nằm nghĩ thì được mọi diều sung sướng như ý nguyện. Lư vừa gối đầu lên thì hồn quê thim thiếp, đã trải qua trên con đường quan lộ rất dài: nào là vào trào ứng cử thi đậu chức Tấn Sĩ, cưới vợ đẹp tên là Thôi thị Nữ, ra làm quan, đi dẹp giặc mọi Nhung Lổ, khi đắc thắng trở về được vua vinh thăng trật phẩm công hầu; ra tiền hô, hậu ủng, oai vệ biết là bao nhiêu! Làm quan tể tướng được 10 năm, sanh con được 5 đứa, cháu được 10 đứa, thọ hưởng vinh hoa phú quí đến 80 tuổ mới qua đời; kế giựt tỉnh giấc hòe dòm lại thấy mình đang ở trong quán Hàn Đan, mà nồi kê cũng vẫn còn chua chín! Lấy làm lạ bèn thốt ra lời: “Châu ơi! Tự nãy giờ tôi nằm chiêm bao hay sao?”
Seeing how desperately Lư Sinh pleaded, he was moved to pity and sought a way to grant him satisfaction, if only for a while; so he bade the innkeeper wash rice of yellow millet (Huỳnh Lương) to prepare a meal for the young man, then took a pillow from his own sack and told Lư to lie down and rest upon it, promising he would find every wish fulfilled just as he desired. No sooner had Lư laid his head upon the pillow than his soul drifted off into slumber, and he passed through an official career stretching long and far: he sat for the court examinations and passed with the rank of Tấn Sĩ (Jinshi); he married a beautiful wife of the Thôi clan; he entered government service; he went out to subdue the barbarian tribes of Nhung Lỗ, and, returning in victory, was gloriously promoted by the king to the rank of a feudal lord — with outriders clearing the way before him and retainers thronging behind, such pomp and majesty as cannot be told! He served as Prime Minister for ten years, fathered five children and saw ten grandchildren, and enjoyed glory, honor, and riches until, at the age of eighty, he finally passed away — whereupon he startled awake from his “dream beneath the locust tree” and, looking about, found himself still in the inn at Hàn Đan, the pot of millet not yet even cooked through! Astonished, he cried out: “Châu, is it you? Have I been lying here dreaming all this while?”
Ngài bèn cười rằng: “Thì cuộc đời nó luân chuyển cũng như vậy đó mà!” Than ôi!
He replied with a smile: “And so it is that the turning wheel of life is no different from this!” Alas!
Phú quí chẳng qua ba tất đất,
Công danh chưa chín một nồi kê!
Wealth and rank amount to no more than three feet of earth,
Fame and glory not even enough to cook a pot of millet through!
Khi ấy Lư Sanh tỉnh ngộ liền, bèn lạy Ngài mà xin thọ giáo chơn truyền.
At that, Lư Sanh awakened at once to the truth, and bowed before him, begging to receive his true teaching and transmission.
Bây giờ ở xứ Hàn Đan, người Tàu có làm tấm bia khắc mấy chữ “Hàn Dang Cổ Quán” dưới ghi tích nói Lư Sanh gặp đặng Lữ Tiên v.v… Xưa nay lắm khách tao ông thi bá du lịch qua nơi miền đó, tức cảnh sanh tình, nhã ngọc phung châu, đề vịnh câu chuyện “Giấc mộng kê vàng” biết bao nhiêu cho đến ngày nay cổ tích ấy vẫn còn. Người Việt Nam ta mấy lần phụng chỉ đi sứ sang Tàu qua nơi Cổ Quán Hàn Dan cũng có tã cảnh, như cụ Nguyễn tư Giảng, cụ Nguyễn Thuật v.v… năm xưa báo Tiếng Dân có trích đăng như vầy: bài dưới đây là của cụ Nguyễn Thuật mà hải Âu tiên sanh dịch ra quốc âm.
Even now, in the region of Hàn Đan, the Chinese have erected a stele inscribed with the words “Hàn Đan Cổ Quán” (“The Old Inn of Hàn Đan”), with an inscription below recording how Lư Sanh came to meet the Immortal Lữ, and so on. From ancient times to the present, countless refined travelers and eminent poets, passing through that region and moved by the scene before them, have composed elegant verses upon the tale of the “Dream of the Yellow Millet” — and to this day the ancient site still remains. Our own Vietnamese scholars, sent more than once as envoys to China, likewise passed by the Old Inn of Hàn Đan and composed verses on the scene — men such as Cụ Nguyễn Tư Giảng and Cụ Nguyễn Thuật, among others. In years past, the newspaper Tiếng Dân once reprinted such a verse; the piece below is by Cụ Nguyễn Thuật, rendered into our national script (quốc âm) by the scholar Hải Âu.
Ngày nay trên núi Hổ Khẩu Sơn còn có một cái động gọi là Tiên Nhơn Động, người ta truyền rằng đó là động của Lữ Tổ lập ra khi xưa để ẩn mình tu luyện.
To this day, on Mount Hổ Khẩu there remains a cave called the Immortal’s Grotto (Tiên Nhơn Động); it is said, by tradition, that this is the very cave the Patriarch Lữ once established, long ago, in which to hide himself away and cultivate the Way.
Về mặt Đạo Lý, Ngài thường hay nói như vầy: “Một phần âm mà còn thì không được đắc quả thành Tiên, mà một phần dương còn chút ít thì người ta không thể chết”. Tuy là lời Ngài nói lộn lạo khó hiểu mặc dầu, chớ phương pháp luyện Đạo tu Tiên am hiểu được rồi thì cũng đã được làm Tiên phân nữa.
As to matters of the Way, he was fond of saying: “So long as a single part of yin remains, one cannot attain the fruit of Immortality; yet so long as even a small part of yang remains, a person cannot die.” Though his words may at first seem confused and difficult to grasp, once one has truly understood the method of cultivating the Way and refining toward Immortality, one has, in that very understanding, already become half an Immortal.
Ngài lại còn khuyên một câu này nữa: “Người ta mà khôi phục được cái chơn dương hao tán mất đi, biết ngưng tụ cái thanh khí lại được thì đường bước lên cõi Tiên không khó gì. Tiếc cho người thế nhơn đã loạn ở trong mà muốn che ở ngoài, vì vậy cho nên không có ai hiểu rõ được phương pháp bí truyền đạo mầu nữa.”
He offered this further counsel as well: “If a person can recover the true yang that has been dissipated and lost, and knows how to gather and condense the pure vital energy, then the path to ascend to the realm of the Immortals is not difficult at all. It is a pity that people of this world, already in disorder within, seek only to conceal it without — and for this reason no one any longer truly grasps the secretly transmitted method of the wondrous Way.”
Đời sau không còn ai tìm kiếm được thêm di tích chi của Ngài hết, họ nói có lẻ Ngài đã đắc quả siêu thăng thành Tiên rồi.
In later generations, no one has been able to find any further trace of him; it is said that he must, by then, have already attained the fruit and ascended to become an Immortal.
(Thần Tiên là Tinh Thần ngưng trụ lại, thành một điểm Linh Minh.)
(A Divine Immortal is spirit and vital essence condensed and fixed in place, becoming a single point of luminous, sacred awareness.)
An Giang Tử – Châu Thiện Tâm
Thánh Giáo
do Đức Hỗn Nguơn Thiên Sư Chưởng Quản
Rước Năm 1935
Holy Teaching received by
Venerable Hỗn Nguơn Thiên Sư
in the Year 1935
Ớ trò! Ớ các trò! Hảy đem lời Ta dạy truyền trao lại cho anh em các bạn trò, nếu ai muốn giữ gìn Chơn Lý thì phải để lòng nghe kỹ những lời Ta sẽ nói sau đây mà suy xét chín chắn trong Tâm mình, đặng trau Tánh xưa của Trời ban phú, phòng có ngày đến chốn Đại Đồng, giáp mặt Đức Chí Tôn không còn hổ ngươi rằng là không đáng mặt con cái của Người; vì đương buổi cuối cùng như bây giờ, tai Trời ách nước, sanh dân đều đứng chung trong một hoàn cảnh với nhau, nên đều phải chịu cảnh khốn khổ như nhau; kẻ lao tâm, người lao lực, giải nắng dầm sương, đổ mồ hôi, sôi nước mắt, mới vừa đủ mà chi độ là may. Còn những kẻ ỷ thế hiếp cô, ỷ mạnh hiếp yếu, ỷ giàu hiếp nghèo, ỷ khôn hiếp dại, ỷ hơn hiếp thua, thì cũng đều là đồng một loại người với nhau, mà sao chẳng biết thương nhau, lại đành phá hại lẫn nhau? Xét cho chí lý, đều bởi cái lòng tham lam mà ra. Kẻ tham công danh, người tham phú quí, nên mới gây ra những điều công lý nói đến đều phải thương tâm. Rắn là độc, hùm là dữ, nhưng còn hiền hậu hơn lòng dạ của con người.
O disciples! O all you disciples! Take My words and pass them on, teaching them to your brothers and fellow disciples. Whoever wishes to hold fast to the True Principle must set his heart to listen carefully to what I am about to say, and weigh it thoroughly within his own heart, so as to cultivate anew that ancient Nature bestowed by Heaven — against the day he may come before the Great Harmony and stand face to face with the Supreme Being, without shame at being found unworthy to call himself His child. For in this final era such as we now find ourselves, calamities of Heaven and hardships of the nation press upon all people alike, who stand together in one and the same circumstance, and so must all bear the same suffering together; some toil with their minds, others with their bodies, braving sun and dew, pouring out their sweat, boiling their very tears — and count themselves fortunate merely to have enough to survive. Yet there remain those who, relying on their position, oppress the friendless; relying on strength, oppress the weak; relying on wealth, oppress the poor; relying on their own cleverness, oppress the simple; relying on advantage, oppress the defeated — though these are all of the very same kind as their victims, how is it they do not know to love one another, but are willing instead to destroy one another? Examined to its very root, this all springs from a heart of greed. Some are greedy for rank and fame, others greedy for wealth and riches, and from this arise all those matters which, when spoken of in the name of justice, must move the heart to grief. The serpent is venomous, the tiger is fierce — yet even they are gentler of nature than the heart of man.
Các trò thử nghĩ, từ xưa tới nay biết bao nhiêu kinh sách của các vị Tiên Thánh giáng bút dạy đời, chỗ nào cũng có, nước nào cũng có, là cũng trông mong cho đời sửa đổi phong tục tàn ác, khốc hại ấy đi, đặng đem về Tánh lành của Trời ban phú. Ta đây cũng vậy, cũng đã từng đi theo sau, rung chuông gõ mõ, ráo lưởi khô môi, khuyên đời sửa mình, noi theo đường ngay lẽ phải, lánh dữ làm lành nhưng than ôi, đến ngày nay chưa thấy ai kể đếm đến.
Consider, disciples, how from ancient times to now, how many scriptures there have been, given through spirit-writing by Immortals and Sages to teach the world — present in every place, in every land — all hoping that the world would reform its cruel and destructive customs, and return to the good Nature bestowed by Heaven. I too have done the same, following behind those who came before, ringing bells and striking wooden fish, my tongue grown dry and my lips parched, urging the world to reform itself, to follow the straight path and true reason, to shun evil and do good — yet alas, to this very day I have seen no one take it to heart.
Thương cho một nỗi khác nữa, là tót trên trăm năm nay, có một bọn mượn danh hiệu của Ta, xưng mình là thầy, gọi mình là tổ, kiếm phương pháp dẫn người tu hành một cách dối trá, nào là thiêu đơn luyện hống, nào là giáng hổ thăng long, ma chẳng ra ma, Phật không nên Phật, bốc lột cướp thâu tiền bạc của người, không còn con số nào mà đếm cho được, toan làm những việc chống trời vọc nước, vạch đất, thét vàng, nhen lửa, đổi gió, rốt cuộc rồi thì chỉ thấy chốn Phong đô phải lo cất thêm ngục mới.
There is yet another matter that grieves Me: for more than a hundred years now, there has been a certain band who borrow My name and title, proclaiming themselves masters, calling themselves patriarchs, and devising fraudulent methods to lead people in cultivation — burning cinnabar and refining mercury, “subduing the tiger and raising the dragon,” neither truly demon nor truly Buddha, extorting and plundering people’s money beyond all counting, and presuming even to defy Heaven and meddle with the waters, to mark out the earth, command gold, kindle fire, and alter the winds — until, in the end, all that is accomplished is that the underworld city of Phong Đô must trouble itself to build yet new prisons.
Ta vì khóa cửa động chẳng bước ra ngoài đã trót có ba trăm năm rồi, ngày đêm lo bồi bổ Chơn Ngươn nên không hay không biết việc ấy. Đức Thượng Đế quở ta về tội để cho nhơn gian mượn tiếng làm việc trái ngược Đạo-Lý chơn chánh của Trời, dạy ta phải lo chấn chỉnh lại.
As for Myself, having sealed the door of My grotto and not stepped outside for a full three hundred years now, occupied day and night with replenishing My True Origin, I neither heard of nor knew of these matters. The Supreme Sovereign reproached Me for this fault — for having allowed people of this world to borrow My name to act contrary to Heaven’s true and righteous Way — and charged Me with the duty to set things right once more.
Năm rồi, có đôi ba trò nơi Tòa Thánh của Giáo Hội Ngọc Hoàng Đại Đế, thành tâm thượng sớ cầu khẩn xin người Giám Đốc Đạo Tràng, đặng khêu tỏ ngọn đuốc Chơn Lý của Đại Đạo. Đức Ngọc Đế y phê, phú cho ta lập công đền tội.
Last year, a few disciples at the Holy See of the Church of the Jade Emperor Supreme Sovereign, with sincere hearts, submitted a petition beseeching that a Director be appointed over the House of the Way, so as to rekindle the torch of the True Principle of the Great Way. The Jade Sovereign approved their petition, and charged Me with the task of achieving merit to atone for My fault.
Ta vì vậy, nên phải giao động phủ lại cho Liễu Chơn Quân cai quản, liền vén mây xem xuống trần gian, thiệt thấy phong tục đã suy tồi, nhơn tình thêm dối trá, đua chen nhau, xô đẩy nhau, tranh giành nhau, dốc lòng làm những việc phạm luật Trời phép nước mà lại vui cười. Ôi thôi! Biết nói sao cho cùng! Coi lại thì thấy dưới cái bóng mặt trời kia, biết bao nhiêu là tấn tuồng cay nghiệt bởi lòng sâu cay độc ác, của con người gây ra. Lòng người đã như thế rồi, biết nương nơi đâu mà dạy bảo cho được nữa.
For this reason, I had to hand over My grotto-palace to Liễu Chơn Quân to oversee, and at once parted the clouds to look down upon the world below. Truly I saw that customs had grown corrupt, human feeling ever more deceitful — people jostling and shoving one another, contending and grasping at one another, resolved even to break the laws of Heaven and the statutes of the state, and laughing gaily as they did so. Alas! What more is there to say! Looking closer, I saw beneath that very sun how many bitter and cruel dramas were being enacted, all born of the deep, poisonous malice within the human heart. With hearts already come to such a state, where was there left to turn for teaching to reach them?
Ta đến nơi Ngọc Hư Cung xin phép Chưởng Giáo Đại Sư Bá vào lục nơi Tàng Kinh Bữu Viện, thì thấy những bổn thảo kinh sách và những lời vàng đá của Tứ Đại Thánh Nhơn cùng chư Tiên Thánh giáng bút dạy đời chất đống, nếu muốn chuyên chở đi thì phải dùng sứ đến trăm voi, kéo không muốn nổi! Ôi thôi Trời Đất nào có hẹp chi với người, mà người nỡ phụ lòng Trời Đất! Kinh sách ban hành ra thì cũng ham coi, nhưng coi qua rồi kẻ thì chê là dạy rất tầm thường, kẻ thì chê dạy theo lối xưa, không hạp với thời đại ngày nay, kẻ thì gọi mình đã cao thượng rồi, nên đem lòng kiêu ngạo phê bình vào, đặng khoe tài hay với chúng bạn. Cũng có kẻ ham đọc, đọc chưa rồi trương, thì thấy con ma ngủ nó đã trì níu, có khi cũng chăm chỉ đọc, song đọc thì đọc, kinh dạy một nơi, việc làm một ngả, thành ra kinh là kinh mà người cũng là người. Than ôi! Kinh dạy đời là vụ cho đời bỏ thói mê, sửa đổi trau giồi cái tâm phàm cho nên Tâm Thánh mà thôi, dầu cho trước sau cũng vậy, xưa nay cũng vậy, có cuốn Chơn Kinh nào dạy người việc chi khác lạ nữa đâu, bởi Tâm người quá vọng, ham ước những việc cao xa viễn vong mà quên rằng cái xác thân này vẫn còn tanh hôi chưa cởi, lại đành chê rằng kinh sách thấp thỏi, coi lắm hóa nhàm, đành để những lời châu ngọc của Trời Đất dạy đặng làm vật nuôi cho no bụng loài sâu, kiến, mối, mọt. Ôi thôi! Đọc kinh sách mà chê cũ, chê xưa, chê thường, mà không chịu xét để sửa mình, thì khác nào kẻ đói thấy cơm không chịu ăn, kẻ lạnh gặp áo không chịu mặc, mà lại trách Trời phiền Đất sao nỡ để cho mình lạnh mình đói!
I went to the Palace of Ngọc Hư and sought leave from the Grand Preceptor of the Doctrine to search through the Treasury of Scriptures, and there I found manuscripts of scripture and the golden, adamantine words of the Four Great Sages, together with those of all the Immortals and Sages who have descended through spirit-writing to teach the world, piled in such heaps that, were one to try to carry them all away, a hundred elephants sent as envoys could not haul the load! Ah, how is it that Heaven and Earth have never been sparing toward mankind, and yet mankind is willing to betray the heart of Heaven and Earth! When scriptures are issued forth, people are eager enough to look at them, but having glanced through, some dismiss them as teaching only the most commonplace things, others dismiss them as following an old-fashioned manner unsuited to the present age, and others still, considering themselves already exalted, indulge a haughty heart in criticizing them, so as to show off their cleverness before their companions. There are also those eager to read who, before even finishing a single scroll, find the demon of sleep already dragging at them; and even among those who do read attentively, reading is one thing and doing is another — the scripture teaches in one direction while their conduct goes in quite another, so that the scripture remains scripture and the person remains, unchanged, the same person. Alas! Scripture teaches the world for the sole purpose of having the world abandon its delusions, and of reforming and polishing the mundane heart into a Sacred Heart; whether early or late, ancient or modern, it is ever the same — no True Scripture has ever taught people anything essentially different from this. Yet because people’s hearts are so given over to vain and lofty ambitions, they long for things remote and grandiose, forgetting that this very body of theirs is still rank and unclean, not yet shed — and so they are willing to dismiss the scriptures as too lowly, finding them tiresome upon repeated reading, and leave those pearl-and-jade words taught by Heaven and Earth to become mere fodder to fill the bellies of worms, ants, termites, and moths. Alas! To read scripture and dismiss it as old, as outdated, as ordinary, without being willing to examine oneself and reform, is no different from a starving man who, seeing rice before him, refuses to eat it, or a man freezing cold who, finding clothing at hand, refuses to wear it — and yet who then blames Heaven and reproaches Earth for allowing him to remain cold and hungry!
Kinh sách của Trời Đất hoặc giáng thế kim khẩu dạy ra, hoặc giáng cơ thần bút ghi chép, đều là những lời dạy người coi học đặng suy xét tìm kiếm những sự lỗi lầm, tì tích trong Tâm, phòng tìm phương thế sửa mình cho trong sạch mà bước đến địa vị Thánh Hiền. Thử xét coi Tứ Đại Thánh Nhơn lúc sanh tiền dạy người nói theo bực thường, thì không ngoài hai chữ Hiếu Để, dạy theo bực cao thì không qua hai chữ Tâm Tánh, dẫu cho muôn vàn lời dạy, thì cũng trọn lòng dạy người phải tuân theo bốn chữ ấy mà Tu thân. Nếu thân nầy không sửa cho xong được, thì trông chi đi đến bực nào? Dầu cho Tứ Đại Thánh đã qua đời rồi, thì chư Thần Thánh ngày nay giáng bút dạy đời cũng chẳng ngoài bốn chữ ấy. Thương hại thay cho người đời, kinh sách thấy chất chứa đầy rương đầy gác, mà hỏi lại thử coi, thì một chữ chưa thông. Đã chưa thông một chữ, nhưng mà thuộc làu cả muôn vàn cuốn kinh. Thuộc đặng chi vậy? Thuộc đặng khoe danh rằng mình thuộc kinh nhiều, cho người đời kỉnh phục. Hỏi bằng cớ sự làm, thì chỉ đem sự trì trai giái sát làm bằng chứng. Ôi thôi! Kẻ gọi mình là người tu hành đến bực Tối Thượng Thừa mà chỉ biết có bao nhiêu đó làm bùa hộ thân, thì có khác chi kẻ muốn ra làm quan chỉ biết lão thông năm xe kinh sử, dốc học cho thuộc lòng đặng đến trường mà tranh giải cử, đến khi đậu được ra làm dân mục, thì chỉ biết viết, biết nói những lời Minh Đức Tân Dân! Hỏi lại trong Lương Tâm, vậy chớ lời nói và việc làm có giống nhau không?
Scriptures given by Heaven and Earth — whether spoken directly by an Immortal descended into the world, or recorded through spirit-writing by the divine brush — are all words meant to teach people to examine and search out their own faults and blemishes within the heart, so as to find the means to reform themselves, become pure, and advance to the station of Sages and Worthies. Consider well: when the Four Great Sages lived in the world and taught the people, at the ordinary level their teaching went no further than the two words Filial Piety and Brotherly Respect (Hiếu Đễ); at the higher level it went no further than the two words Heart and Nature (Tâm Tánh). However countless their teachings may seem, they were all, at heart, meant to teach people to follow these four characters in cultivating themselves. If a person cannot even manage to reform this very body, what station can he hope to reach? Even though the Four Great Sages have long since passed from the world, the Spirits and Sages who descend through spirit-writing today still teach nothing beyond these same four characters. How pitiable, then, are the people of this age! Their scriptures fill chests and shelves to overflowing, and yet, if one asks them, they have not truly grasped even a single word of it. Not having grasped even a single word, they nonetheless have memorized by heart countless volumes of scripture. And to what end do they memorize them? Only to boast of how many scriptures they know, that the world might admire them for it. Ask them for proof of their conduct, and all they can offer as evidence is their observance of vegetarian fasting and the precept against killing. Alas! One who calls himself a cultivator arrived at the highest vehicle, yet knows only these few things to wear as a talisman for his own protection, is no different from a man wishing to become an official who knows only how to master by rote the Five Classics and Histories, cramming them into memory so as to compete for honors at the examination hall — and who, once he has passed and gone out to govern the people, knows only how to write and speak the phrases “Illustrious Virtue” and “Renewing the People” (Minh Đức Tân Dân)! Let him ask his own Conscience, then: do his words and his deeds truly resemble one another?
Cái tục ham học đặng khoe danh mua chức như vậy, lẽ thì để cho bọn làng văn nó làm, vì lòng nó còn tham công, danh, phú, quí, thương thay cái tục ấy nay nó đã tràn lan qua tới làng Đạo Đức rồi, nghĩ cũng thêm thảm!
Such a custom of studying merely to boast of one’s name and purchase rank and title might well be left to the scholars of the literary world, whose hearts are still given to greed for merit, fame, wealth, and rank — but how lamentable that this same custom has now spread even into the community of the Way and Virtue! It only adds to My sorrow to reflect on it!
Làng văn biết nói Minh Đức Tân Dân, mà chẳng biết Trung Hiếu Liêm Sỉ, làng Đạo biết nói Trì Trai Giái Sát, mà không biết Tâm Tánh Định Huệ, thì dầu cho thuộc cả muôn kinh ngàn sách, điếc cũng còn câm, mê cũng còn mộng. Một dạy mười, muời dạy trăm, dạy cho nhiều, nhóm cho đông, đặng thành một cái tục điên cuồng, chớ có ích chi, nói lắm càng thêm chua xót!
The world of letters knows how to speak of “Illustrious Virtue, Renewing the People,” yet knows nothing of Loyalty, Filial Piety, Integrity, and Shame; the world of the Way knows how to speak of “Vegetarian Fasting and Abstaining from Killing,” yet knows nothing of Heart, Nature, Stillness, and Wisdom. So that though one may memorize ten thousand scriptures and a thousand books, one remains as deaf as ever, as mute as ever, as deluded as ever, still lost in dreams. One teaches ten, ten teach a hundred, teaching spreads wide and gathers a great crowd, only to become one great collective madness — of what use is that? The more one speaks of it, the more bitter the sorrow!
Ta nay vưng lịnh Đức Thượng Đế đến đây nhắc nhở dạy dổ các trò, trò nào có duyên muốn tìm Đạo, khuyên hãy chẩm rãi chín chắn nghe theo lời ta chỉ bảo mà làm theo thì một ngày kia cũng sẽ đem mình đến Ngọc Kinh, Bổn Thân chầu Đức Thượng Đế như ta vậy.
I have now come, by order of the Supreme Sovereign, to remind and instruct you, My disciples. Any disciple who has the karmic affinity to seek the Way, I urge to listen slowly and carefully to what I set forth and to act upon it accordingly; then one day you too will be brought to the Jade Capital, to stand in person before the Supreme Sovereign, even as I do.
Bởi ta dạy đây, chỉ dùng văn tầm thường, công việc tầm thường, không dùng lời cao xa, không dùng việc làm quái gở, miễn sao cho các trò hãy vưng theo mà làm cho được. Đến chừng các việc tầm thường thấp thỏi này mà các trò làm được xong rồi, khi ấy ta sẽ chỉ cho thêm. Việc học càng ngày càng tới, việc nhỏ việc thường làm chưa xong, trông chi việc lớn việc cao làm được. Ví dụ như con chim, trước khi bay liệng cao tột mây xanh, thì nó cũng phải năng tập nhịp cánh, chừng biết sập sận được rồi, lần lần ban đầu bay gần bay thấp, thủng thẳng một ngày một quen, sau mới có thể bay xa bay cao. Các trò ngày nay, đường Đạo thì nghe nói chớ chưa thấy, có trò tuy thấy được chút ít, nhưng chơn chưa bước đến được tới thềm, vậy thì làm sao mà gọi rằng biết được? Các trò còn đương đóng cửa nhà mình, mà muốn bàn luận công việc kẻ đi đường nói chuyện vượt biển trèo non, thì biết sao mà bàn cho trúng? Nếu bàn chẳng biết ai nói đó, người nói đó quả đã có đi đến và làm đến, hay là người ấy cũng là người nghe nói mộng, tưởng mộng đặng bàn cãi với nhau trong lúc đi đường mà các trò nghe mộng theo? Nếu trong các trò, có trò nào như vậy, thì nào có khác chi kẻ muốn đi xem trò, mà chẳng chịu bước tận đến mặt kẻ đóng vai, cứ ở nhà nghe kẻ đi xem về thuật lại, ai khen hay thì khen theo, ai chê dở cũng chê theo, mà khen chê lại chế thêm giọng mặn lạt, cho người tin rằng mình thật đã đến tận tại chầu, làm như vậy nếu gặp kẻ chẳng biết thì nó tin theo cũng gọi là được cho, thoảng gặp tên kép có đóng vai, thì các trò mới định làm sao với nó? Các trò có được phép trách bầu gánh, hay người chủ rạp sao không dắt các trò đi coi hay không? Nếu các trò mà có trò nào như vậy, thì nào có khác chi con chim con kia còn đương ở tại ổ, đóng trong đám cỏ lau, cánh lông chưa mọc, một con bò mắc đậu đến, thì đã đau rồi, lại muốn bắt chước chim mẹ bay liệng giữa trời trống minh mông, ước có được cùng không? Ví dầu có ai chìu theo lòng nó muốn, đem để nó trên tận nhành cao đặng nó coi trời, thử hỏi nó có thấy được trời ra thể nào không? Nó có đứng vững được hay không? Hay là nó đứng đó đặng làm mồi cho loài ó, loài diều, hay làm vật nuôi cho ruồi cho kiến? Nếu đến nước đó, thì nó có trách ai đem nó đứng trên nhành cao làm chi, có được không?
For this reason, in what I teach here I use only plain language and plain, ordinary tasks — no lofty or far-fetched words, no strange or extraordinary feats — My sole concern being that you disciples heed them and are able to carry them out. Once you have thoroughly accomplished these plain and humble tasks, then I will show you further. Learning advances day by day; if the small, ordinary tasks are not yet accomplished, how can one hope to accomplish the great and lofty ones? Consider the bird: before it can soar high into the blue clouds, it must first practice again and again the beating of its wings; once it has learned to flap unsteadily, it flies near and low at first, growing more accustomed day by day, and only then can it fly far and high. As for you disciples today, you have only heard tell of the Path of the Way, but have not yet seen it; some among you may have glimpsed a little of it, but your feet have not yet stepped upon its threshold — how, then, can it be called knowledge? While you are still shut up within your own house, you wish to discuss the affairs of travelers who speak of crossing seas and climbing mountains — how could you possibly discuss them rightly? If, in discussing them, you do not even know whether the one speaking has truly gone there and truly done it, or whether he too is merely someone repeating a dream he heard, imagining a dream so as to argue about it on the road, while you disciples merely listen to that dream and repeat it in turn? If any of you disciples are like this, you are no different from someone who wishes to watch a play yet is unwilling to go all the way to see the actor’s own face, and instead stays home listening to another’s account of the show — praising whatever is praised, criticizing whatever is criticized, embellishing the praise and criticism with added flavor of your own, so that people believe you have truly attended the performance yourself. Done this way, should you encounter someone who does not know better, he may believe you readily enough — but should you happen to meet the very actor who played the part, what then would you do? Would you be entitled to blame the troupe, or ask the theater’s own owner why he did not personally take you to see the show? If there be any disciple among you like this, he is no different from a fledgling bird still in its nest, hidden among the reeds, its feathers not yet grown, who, the moment a cow so much as brushes against it, is already hurt — and yet wishes to imitate its mother bird soaring through the vast, empty sky. Could it possibly manage that? Suppose someone indulged its wish and set it upon the very highest branch so that it might look upon the sky — would it then truly be able to see what the sky is like? Could it even keep its footing there? Or would it merely sit there as prey for hawks and kites, or as food for flies and ants? And should it come to that end, would it then have any right to blame whoever set it upon that high branch in the first place?
Ta nay cũng vì hết lòng muốn dìu dắt các trò cho đến nơi đến chốn, chẳng vội đem để các trò trên nhành cây cao, trước khi các trò chưa đủ lông đủ cánh, chưa biết tập nhảy tập bay, nên ta chẳng nệ tiếng trò nào chê bai rằng dạy điều tầm thường thấp thỏi. Ta khuyên các trò hãy bền chí nghe theo ta thì được. Kẻ đương say mộng, chớ nên kêu la lớn tiếng làm cho nó giựt mình, e nó phát cuồng là vậy đó.
I, too, out of My whole heart’s wish to guide you disciples safely all the way to your destination, will not hastily set you upon some high branch before you have grown your full feathers and wings, before you have learned to hop and to practice flight — and so I pay no mind to any disciple who might scorn Me for teaching only such plain and lowly matters. I urge you, disciples, to remain steadfast and to heed Me, and all will be well. One who is deep in a dream ought not to be shouted at loudly, lest he be startled awake so suddenly that he loses his senses — such is My reasoning here.
Ta lúc còn ở thế, tánh cũng như các trò ngày nay vậy, muốn tọc mạch dò kiếm những máy mầu nhiệm Trời Đất, sách nào ta cũng coi, kinh nào ta cũng đọc, không chê một lời nào của bực trước ta hay là bực đồng thời với ta; nếu gặp được một câu nói nào có ý nghĩa cao sâu, ta đều trù nghĩ chín chắn, chẳng vội phê bình, chẳng kể vì lời của kẻ nghịch ý ta, mà ta bỏ, chẳng lượm lặt góp nhóp đặng đem vào trí nảo của ta mà làm thêm tài liệu cho ta trong việc học Đạo. Các trò phải nghĩ rằng: Đạo của Trời lập ra dạy đời, chẳng khác nào con đường của Vua đắp; Vua đắp đường là vụ cho dân biết đường mà đi cho đến chỗ đô thành nào của Vua đã lập cho dân tựu tập. Những chỗ đô hội nào có lịnh Vua cho phép tựu tập thì chỗ ấy là chỗ chánh, kẻ lương dân được phép đến đó tự do mà lập gia trụ, hay lui tới mà chuyên việc nông tang, thương mãi, kỹ nghệ. Kẻ có vốn nhiều thì đến nơi đô thành lớn, người vốn ít thì đến thành thị nhỏ, miễn là do theo đường chánh, lẽ ngay mà làm, đừng theo thói gian tà xảo quyệt thì thôi. Hễ ai biết nhằm con đường phải của Vua đã đắp ra đó, thì đi trúng chỗ mình muốn đi đến, đi đến rồi mà tuân theo luật lệ nhà Vua mà ở, gìn giữ sự trật tự của người thay mặt nhà Vua cai trị, thì lo chi chẳng đặng bình an tất phát.
When I Myself was yet in the world, My disposition was much the same as yours today: eager and inquisitive, seeking out the mysterious workings of Heaven and Earth — every book I looked into, every scripture I read, dismissing not a single word from those who came before Me or those of My own time; whenever I came upon some phrase of profound meaning, I would ponder it carefully and thoroughly, never rushing to judge it, and never discarding it merely because it came from the mouth of someone whose views opposed My own — but rather gathering and collecting such things into My mind, to serve as further material in My study of the Way. You disciples ought to consider this: the Way that Heaven established to teach the world is no different from a road built by a King. A King builds roads so that his people will know the way to travel to whatever capitals and cities he has established for his people to gather in. Wherever the King’s decree permits the people to gather, that place is the rightful place; there, the loyal common folk are free to settle their households, or to come and go in pursuit of farming, sericulture, trade, and craft. Those of greater means go to the great capitals; those of lesser means go to the smaller towns — so long as they travel by the proper road and act uprightly, and do not follow crooked and deceitful ways, that is all that matters. Whoever knows to follow the proper road the King has built will arrive rightly at the place he wishes to reach; and having arrived, if he abides by the King’s laws and keeps the order set by those who govern in the King’s stead, what cause would he have to worry that peace and prosperity would not follow?
Đã biết con đường chánh ấy là của nhà Vua đắp, đô thành thị tứ ấy là nhà Vua lập, người cai trị ấy là của nhà Vua phong, những bực dân cư ấy đều là người con dân của nhà Vua ở, nhưng mà kẻ nào chưa từng bước ra khỏi nhà, cũng phải coi chừng con đường mà đi mới được, chớ thấy hễ có đường đắp mà đi bướn, e phải đi chẳng nhằm đường của lương tâm mình muốn đi, mà phải mang hại, vì vậy nên hễ người nào muốn xuất thân ra đường, trước hết là phải có người thạo đường dìu dắt cho, thì đi mới trúng, cũng đừng quá tin nơi mình biết coi địa đồ, hoặc tin nơi mấy tấm thẻ dẫn lộ ấy mà đi càng; thoảng hoặc không ai dẫn lộ cho, may mà đi trúng nhằm đường, đến nhằm nơi, lại còn phải đề phòng kẻ giả mạo quan sai hoặc giao du với phường không lương thiện, ngọt mật giết ruồi, đánh lừa mà thâu hết vốn liến, đến chừng biết được thì ăn năn không kịp, chừng ấy mới tỉnh lại tiếc vì lúc trước ra đường, ỷ mình là người thông minh, nên chẳng chịu cần người dẫn lối, tiếc như vậy có ích chi chăng?
Knowing, then, that this proper road was built by the King, that the capitals and towns were established by the King, that the governors are those the King has appointed, and that the inhabitants are all the King’s own subjects — even so, whoever has never yet stepped outside his own house must still be careful in choosing which road to travel, and should not, merely because a road has been built, set out upon it heedlessly, lest he find himself upon a road that does not lead where his own conscience truly wishes to go, and come to harm because of it. For this reason, whoever wishes to set forth upon the road ought first to have someone well acquainted with the way to guide him, that he may travel rightly — and should not place too much trust in his own reading of a map, nor blindly follow whatever signposts he happens upon. And should no one be there to guide him, even if by good fortune he manages to travel the right road and arrive at the right place, he must still be on guard against impostors posing as officials, or against keeping company with dishonest men — men who use honeyed words to lure flies to their deaths, who deceive and strip him of all he has, so that by the time he realizes it, repentance comes too late; only then does he awaken to regret, remembering how, when he first set out, he had trusted so much in his own cleverness that he refused the help of a guide. What good does such regret do him then?
Các trò cũng dư biết rằng con đường của Vua đắp thì có một đường thẳng, từ đông chí tây, hoặc từ nam chí bắc, đều nối luôn nhau, mà đô thành của Vua lập thì nhiều nơi, nhiều chỗ, nhiều trạm, đâu đâu cũng đều chia ra có nhiều thị thành, hương ấp, lân lý, nếu người nào không thuộc đường, trông chi không lầm lộn được, nếu người nào không phải là người đã có từng trải đường đời, thì tránh sao cho khỏi mắc kế những bợm lừa nó dẫn theo đường quanh lối lộn. Lấy đó mà suy, rất đỗi con đường trước mắt dễ thấy, con người trước mắt dễ nhìn, mà nếu có ai chẳng phải là người từng trải còn phải lầm phải lộn, phải bị nhiều kẻ gian xảo, quỉ quyệt gạt gẩm, cho đến đỗi phải hoặc hư thân mất nết, hoặc phá sản khuynh gia thay, huống chi con đường Đạo, là con đường con mắt lỗ tai các trò khó thấy khó nghe, thì lấy đâu mà phân biệt tà chánh cho nỗi, mà các trò chẳng gia tâm để ý đến?
You disciples also know well enough that the King’s road runs as a single straight line, whether from east to west or from south to north, all joined continuously together, while the capitals the King has established are scattered across many places, many stations, everywhere divided into many towns, hamlets, and neighboring villages — so that anyone unfamiliar with the road can hardly avoid going astray, and anyone without experience of the ways of the world can hardly escape falling into the traps of swindlers who lead him down winding, twisting paths. Reasoning from this: even a road plainly visible before one’s own eyes, even people plainly seen before one’s own eyes, can still cause someone inexperienced to stray and go astray, to fall prey to the crafty and deceitful — even to the point of ruining himself or bankrupting his own household. How much more, then, is this true of the Path of the Way, a road which your eyes and ears can scarcely see or hear — how, then, could you possibly tell true from false, if you disciples pay it no heartfelt attention?
Cũng thì một con đường của nhà Vua đắp đó, mà kẻ gian còn lập ra nhiều thế chia tẽ, đặng ngánh ra nhiều con đường khác mà gạt người cướp của được thay. Thương hại thay cho đời, xe trước đã ngã, xe sau không chừa, cũng cứ lầm lủi chăm chúi vui nghe theo những chước phỉnh lời phờ của bọn gian, mà chẳng chịu nghe theo lời phải của người thông thạo chỉ dẫn. Đã biết rằng lời ngay sao cũng trái tai, nhưng sao chẳng xét kỷ lại coi thử lời ngay ấy và lời ngọt dịu kia, lời nào có bổ ích cho công việc của mình toan tính?
Even upon this very same road built by the King, wicked men still contrive countless ways to branch off and fork away into other paths, so as to deceive travelers and rob them of their goods. How pitiable is the world — the cart ahead has already overturned, yet the cart behind takes no warning from it, and people go on stumbling blindly, delighting instead to listen to the flattering deceits of wicked men, unwilling to heed the sound counsel of those who truly know the way. It is well known that honest words always grate upon the ear — but why will people not examine carefully and compare such honest words against those sweet, cajoling ones, to see which of the two truly serves the good of what they intend to accomplish?
Đường đi trên con đường đời, chẳng phải có một đường bộ là phải đễ ý cho khỏi bị những sự lường gạt mà thôi, cũng còn nhiều con đường khác, như đường nước thì có sông có biển, đường rừng thì có núi có truông, đã biết mỗi nơi thì nhà Vua cai trị cũng đều có sắp đặt đề phòng cho có đồn, có ngữ đặng phòng thủ giùm cho kẻ lương dân, song bộ cũng có cướp bộ, mà thủy cũng có cướp thủy, nếu kẻ đi đường hớ hinh, hoặc ỷ mình một chút, liền thấy sự hại theo tay. Đã biết sông, biển, rừng, núi kia là của Trời lập ra, chẳng ai giả mạo được, nhưng sự lầm lạc nọ là tại nơi người chớ nào phải tại nơi Trời đâu!
The way through this world is not only the road on land that one must be watchful of, to avoid being deceived — there are many other roads besides: the water-way has its rivers and seas, the forest-way has its mountains and wilds; and it is well known that in every such place the reigning King also arranges garrisons and watch-posts for the protection of his loyal subjects — yet there are bandits on land just as there are pirates on water, and should a traveler grow careless, or place too much confidence in himself, harm swiftly follows at his own hand. It is well known that the rivers, seas, forests, and mountains were established by Heaven, and no one can counterfeit them — but the going astray upon them lies with man himself, and is never the fault of Heaven!
Người sanh ra ở đời, mỗi người đều phải có một cái mục đích, muốn đi cho tới cái mục đích của mình định cho mình ấy, thì phải cần có một con đường, song con đường của mình định đi ấy, thì phải lựa con đường cho ngay thẳng, cho bình yên, cho chánh đáng, thì sẽ để chơn vào. Con đường ấy nếu nói ra tiếng chữ thì kêu là Đạo, vì chữ Đạo nghĩa là Đường. Trời muốn làm cho nên Trời, thì Trời cũng phải giữ gìn cái mục đích của Trời, và luân chuyển theo con đường của Trời đã định, chẳng hề được phép sai chạy phân hào, nếu sái một ly, thì Trời kia cũng phải sập; Đất, Nước, Núi, Non, Sông, Biển chi cũng đều phải tan rã, huống chi Người muốn làm cho nên Người mà chẳng chịu gìn giữ cái đường làm Người cho chánh đáng?
Every person born into this world must have a purpose; and to reach the purpose one has set for oneself, one must have a road — but the road one chooses to travel must be selected for its straightness, its peacefulness, its rightness, before one sets foot upon it. That road, when named in a single word, is called Đạo (the Way), for the character Đạo means precisely Đường, “Road.” Even Heaven, in order to remain Heaven, must itself hold fast to its own purpose, and revolve according to the course Heaven itself has fixed, never permitted the slightest deviation — for were it to err even by a hair’s breadth, Heaven itself would collapse; Earth, Water, Mountains, Hills, Rivers, and Seas would all likewise fall to ruin. How much more, then, must a Person, wishing to become truly a Person, hold fast to the proper road of being a Person?
Các trò tự bấy lâu nay thường nói rằng: “Tôi học Đạo, Tôi hành Đạo”. Vậy ta nay xin hỏi: Học Đạo nghĩa là chi? Hành Đạo nghĩa là chi? Biết nói Học mà không chịu Hỏi, chịu kiếm, vậy thì học với ai? Vì hễ Học thì phải Hỏi, và phải kiếm phải xét, mới gọi là người biết Học.
For a long time now, you disciples have often said: “I study the Way, I practice the Way.” I now ask you: what does it mean to study the Way? What does it mean to practice the Way? You know how to say “I study,” yet are unwilling to ask, unwilling to seek — then with whom are you studying? For studying necessarily requires asking, and requires seeking and examining — only then can one be called a person who truly knows how to study.
Ngày nay, các trò muốn Học Đạo, vậy nên Ta chỉ con đường Đạo cho các trò, khuyên hảy ráng gia công nghe theo, chớ chê rằng lời Ta nói đây là tầm thường mà bỏ qua.
Since you disciples now wish to study the Way, I will therefore point out the road of the Way to you; I urge you to make the effort to heed it, and not to dismiss what I say here as too commonplace and pass it by.
Các trò đã đội Trời đạp Đất làm Người, rất xứng đáng Ngôi Tam Tài rồi, Ta nay thử hỏi: Vậy các trò đã chọn con Đường nào chưa? Bởi Học Đạo thì phải Hỏi, phải kiếm con Đường cho phải, cho rõ, cho biết mà học; còn Hành Đạo là đi trên con Đường của mình đã kiếm, đã Hỏi, đã Biết rõ rồi đó mới đi. Vậy nay các trò định phải đi trên con Đường nào?
You disciples already bear Heaven above and tread Earth below as human beings, and are indeed worthy of your place among the Three Powers [Heaven, Earth, and Man]. I now ask you: have you, then, already chosen your road? For to study the Way, one must ask, must seek out the correct road, must make it clear, must come to know it before studying it; and to practice the Way is to walk upon the very road one has thus sought, asked about, and come to know clearly — only then does one walk it. So now, disciples, upon which road do you intend to walk?
[The teaching continues in the next installment with Hỗn Nguơn Thiên Sư’s extended discourse distinguishing Tiên (Immortals), Phật (Buddhas), Thánh (Sages), and Thần (Deities) — arguing that all are, at root, simply People who cultivated and perfected themselves, and that none is inherently superior to another by birth.]
Ta từng nghe người trên thế gian hay xưng mình rằng: “Tôi học Đạo Tiên, tôi học Đạo Phật”. Cũng có người lại nói: “Tôi tu theo Đạo Tiên, tôi tu theo Đạo Phật”. Chớ không nghe nói rằng: “Tôi tu theo Đạo Thánh”. Cớ sao Đạo Tiên, Đạo Phật thì người chịu Học, chịu Tu, còn Đạo Thánh thì người chịu Học mà không chịu Tu? Đã không chịu Tu theo Đạo Thánh, mà lại chịu xưng mình rằng mình là người Đạo Nho. Các trò thử nghĩ coi Tiên là ai? Phật là ai? Thánh là ai ? Hay gọi Tiên, Phập, phải Học phải Tu mới thành, còn Thánh thì phải Học mà không cần Tu? Hay là gọi Tiên Phật có Con Đường đi đến, mà Thánh thì không có Con Đường đi đến, hoặc là không cần kiếm Con Đường mà đi cũng đến?
I have often heard people of this world declare of themselves: “I study the Way of the Immortals, I study the Way of the Buddhas.” Some, too, say: “I cultivate the Way of the Immortals, I cultivate the Way of the Buddhas.” Yet none say: “I cultivate the Way of the Sages.” Why is it that, for the Way of the Immortals and the Way of the Buddhas, people are willing both to Study and to Cultivate, while for the Way of the Sages, people are willing only to Study but not to Cultivate? And having refused to Cultivate the Way of the Sages, they are nonetheless willing to call themselves followers of the Confucian Way. Consider carefully, disciples: who is an Immortal? Who is a Buddha? Who is a Sage? Is it that becoming an Immortal or a Buddha requires both Study and Cultivation, while becoming a Sage requires only Study and no Cultivation at all? Or is it that Immortals and Buddhas have a Road one must travel to reach them, while Sages have no such Road to travel — or perhaps need not even seek a Road, yet arrive there all the same?
Ta hỏi như vậy, chắc các trò trả lời rằng: «Tiên Phật là Tiên Phật, là một Đấng rất tôn trọng, rất thiêng liêng, còn Thánh là người phàm, vì vậy nếu ai muốn thành Tiên, thành Phật, thì phải học chữ cho nhiều, đặng đọc sách mới hiểu rõ cách tu hành thể nào mà tu mới thành; nên cần phải Học phải Tu; còn Thánh thì phải học chữ cho nhiều, đặng thi làm quan phò Vua giúp nước mà thôi, chớ Thánh không phải là một Đấng Thiêng Liêng như Tiên Phật, nên không phải Tu mới thành được như bực Tiên Phật vậy. Nếu ai muốn thành Thánh thì phải hay chữ, phải cho thông thuộc sự tích xưa nay, đặng làm sách như Đức Khổng Phu Tử, đến khi chết rồi thì vua phong Thánh cho; hoặc là quan mà trung quân ái quốc, tử tiết hiển Thánh cho linh thiên, thì cũng là Vua phong cho mới thành, chớ không nghe ai nói ai Tu theo Đạo nào mà thành Thánh, thành Thần, bao giờ, vì vậy nên không ai Tu».
Asking you this, I expect you disciples would answer: “Immortals and Buddhas are Immortals and Buddhas — Beings most exalted and most sacred — while a Sage is merely a mortal man; and so, whoever wishes to become an Immortal or a Buddha must study a great many characters, so as to read the scriptures and truly understand how cultivation must be carried out to succeed — hence the need for both Study and Cultivation. But a Sage need only study a great many characters so as to pass the examinations and become an official who serves the King and aids the nation — for a Sage is not a Sacred Being like an Immortal or a Buddha, and so does not need to Cultivate in order to attain that station as an Immortal or a Buddha must. Whoever wishes to become a Sage need only be learned, need only be thoroughly versed in the records of past and present, so as to compose books as Confucius himself did — and once he has died, the King bestows upon him the title of Sage; or if he was an official loyal to his sovereign and devoted to his country, dying for his principles and thereby manifesting sacred power, he too is made a Sage only once the King has conferred that title. No one, however, has ever heard it said that a person Cultivated any particular Way and thereby became a Sage or a Deity — and for that reason, no one Cultivates toward it at all.”
Nếu các trò trả lời như vậy, thì các trò đã hiểu rằng: Dầu cho Tiên Phật hay là Thánh Thần, trước hết cũng là Người ta, có hình vóc như các trò, nhưng khác là Tiên Phật phải Tu mới thành, còn Thần Thánh thì phải đợi ơn Vua phong mới được, chớ không phải Tiên Phật là một Đấng vô hình, không ai sanh đẻ ra, mà gọi là tiên là Phật được.
If you disciples were to answer in this way, then you would already have understood this much: that whether Immortal, Buddha, Sage, or Deity, each was first of all a human being, possessed of a bodily form just as you are — the only difference being that an Immortal or Buddha must Cultivate in order to attain that station, while a Sage or Deity must wait upon the King’s grace to be so conferred; it is not that an Immortal or Buddha is some formless Being, born of no one, that could simply be called an Immortal or a Buddha without ever having been human at all.
Nếu tưởng như các trò, thì con Đường thành Thánh, thành Thần là phải làm làm sao cho được có Vua phong cho sau khi chết rồi, còn con Đường thành Tiên Phật là con Đường nào? Chẳng lẽ đợi học cho hay chữ đặng đọc sách rồi mới biết Tu? Còn trước khi chưa có chữ, thì phải học ở đâu, mà có nhiều người thành được bực Đại Tiên, hoặc cũng có nhiều vị hượt Phật vậy? Nếu người muốn thành Tiên Phật, phải đọc sách mới biết mà học, đặng kiếm con Đường mà tu; người muốn thành Thánh thành Thần, phải đợi Vua phong, vậy thì sách ấy ai làm? Vua ấy là người bực gì? Sao chẳng xét sách cũng là của người dặt để ra, của người viết ra, Vua ấy cũng là con người như mình. Nếu người phải đợi học sách của người đặt thì mới thành Tiên Phật, người đợi người phong mới thành Thần Thánh, nếu quả như vậy thì Chơn Lý ở đâu? Chẳng lẽ Chơn Lý cũng phải đợi có người lập ra mới là được nữa sao? Xét lại Thánh, Thần, Tiên, Phật và Vua đều là Người, mà người nầy phải đợi có người kia phong cho, hoặc làm sách mà học, thì mới được biết con Đường của mình chọn đặng đi đến mục đích của mình muốn, vậy thì người nầy hơn người kia là bởi cớ sao vậy?
If, as you disciples suppose, the road to becoming a Sage or a Deity is simply to arrange, somehow, to be conferred that title by the King after death — then what, precisely, is the road to becoming an Immortal or a Buddha? Surely it cannot be that one must first become learned enough to read the scriptures before one even knows how to Cultivate at all? And before writing existed, where did people learn, that so many nonetheless attained the rank of Great Immortal, or that there came to be so many Living Buddhas? If a person must read scriptures before he can know how to study and seek out the road of cultivation to become an Immortal or a Buddha, and if a person must wait for the King’s conferral to become a Sage or a Deity — then who, one might ask, wrote those scriptures in the first place? And what sort of being was that King? Why does no one consider that the scriptures, too, were composed by some person, written by some person, and that the King himself was likewise but a human being like oneself? If a person must wait to study the scriptures composed by another before he can become an Immortal or a Buddha, and must wait for another to confer a title before he can become a Sage or a Deity — then where, in all this, is the True Principle to be found? Surely the True Principle cannot itself be something that must wait for some person to establish it before it can be so! Consider well: Sage, Deity, Immortal, Buddha, and King are all, alike, People — yet one person must wait for another person to confer a title upon him, or must study a book that another person wrote, merely to learn the road he himself must choose in order to reach his own intended goal. On what grounds, then, could one such person be considered greater than another?
Thánh Thần Tiên Phật ấy, ai đặt tên ra cho biết mà kêu, Vua ấy ai tôn ra cho có mà đợi? Có phải cũng là người như mình, rồi mình đặt tên đặng kêu, mà người kia lại trọng, còn người mình thì khinh?
As for these titles — Sage, Deity, Immortal, Buddha — who was it that first coined the names by which we now call them? And this King — who was it that first raised him up, that one should wait upon him? Was it not likewise some person just like oneself, who then gave a name for others to use in addressing him — and yet that other person comes to be honored, while oneself remains despised?
Vua cũng là Người, vậy người đặt ra Vua để làm chi ? Để cai trị người ? Vậy thì Vua là người để cai trị người. Các trò cũng là người mà tại sao Con Người của các trò chẳng tự mình cai trị lấy Cái Người của mình. Lại phải đợi cho có cái người khác ở ngoài thân mình của mình, lại là người của người đặt ra kêu, sao lại có đủ quyền năng cai trị Con Người và Cái Người của mọi người khác? Mà lại đợi cho Cái Người kia phong cho Con Người này sau khi chết rồi mới được thành Thánh, thành Thần? Các trò xét kỷ lại coi nếu quả như vậy thì có phù hạp với Chơn Lý chăng?
The King, too, is a Person — for what purpose, then, did people establish a King? To govern the people? Then the King is simply a person appointed to govern other people. You disciples are likewise people — why, then, does your own Inner Person not govern your own Outer Person by itself? Why must you wait instead for some other person, standing outside your own body, himself merely a person whom other people have named and called King, to somehow possess sufficient authority to govern the Inner and Outer Persons of everyone else? And why must you wait for that Outer Person, the King, to confer upon this Inner Person of yours, only after death, the title of Sage or Deity? Consider this carefully, disciples: if this is truly how it is, does it accord with the True Principle at all?
Nay các trò đã chia Thánh, Thần, Tiên, Phật ra làm hai con Đường phải đi mới đến được, một là phải Học chữ cho nhiều đặng đọc sách, hai là phải có Vua phong. Ta khuyên các trò hảy chừa cái tánh mỗi việc mỗi nương cậy nơi người khác thì mình mới làm nên được đó. Kia cũng Người như mình, mình cũng Người như kia, sao mình lại đợi kia làm sách cho mình đọc, sắc phong cho mình nên mà mình chẳng tự nơi mình làm nên cho mình ? Ta phải vừa giúp Người, Người phải vừa giúp Ta, ấy mới trúng Đạo Lý cho. Nhưng mà các trò ý đã chia làm hai rồi, vậy ta cũng nương theo ý các trò, đặng giải bày rộng thêm ra dễ hiểu cho. Những bực Thánh Thần của các trò tưởng rằng đều là nhờ Vua đời sau phong cho mới được ấy, các trò nào dè đâu các bực ấy đã tự mình làm ra được Thánh Thần cho mình khi đương lúc còn sống rồi, nào cần phải có ai là người đời sau phong cho mới thành được đâu. Bởi người đời sau nhớ lại những công ơn hay là công nghiệp của con Người đời trước đã gầy dựng để lại cho mình nhờ, những người đời sau đều đáng tôn trọng và sùng bái hoài hoài chẳng quên, nên phải dùng những tiếng của Người ấy đã tự gầy dựng cho mình khi lúc sanh tiền, mà người đương đời ấy đã từng tôn xưng cho rồi, đặng nhắc nhở kêu gọi ra cho người đời sau phải đồng kêu một tiếng như vậy, đặng làm gương sự kính trọng, nên phải tôn xưng một cái danh hiệu mà thôi, dùng theo tiếng của người đời trước đã từng tặng cho rồi, chớ nào phải đợi cho người đời sau có phong mới được đâu! Người đời sau nào có phong cho Con Người đời trước được! Như Khổng Phu Tử thì đương đời của Ngài, người đã từng gọi Ngài là Thánh rồi. Những bực Trung, Nghĩa thì lúc sanh tiền, người đời cũng đã tôn xưng cho Thần Thánh rồi. Khổng Phu Tử, Lão Tử, Thích Ca Mâu Ni, buổi còn đương sống ở thế, thì người đều kêu là Thánh, chớ nào có ai chia ra đặng kêu ai rằng là Thánh. Ai là Thần, ai là Phật đâu! Bởi chữ Thánh nghĩa là Sáng, Tâm Sáng nên mọi việc đều thông hiểu biết được cả thảy.
Now, you disciples have divided the road to becoming Sage, Deity, Immortal, or Buddha into two separate paths one must travel: one, to study a great many characters so as to read the scriptures; the other, to be conferred the title by a King. I urge you disciples to abandon this habit of relying upon someone else for every single thing, for only then can you truly accomplish anything on your own. That other person is a Person just as you are, and you are a Person just as he is — why, then, do you wait for him to write books for you to read, or to bestow a title upon you to make you complete, rather than achieving your own completion by yourself? I must help others even as others must help Me — that alone accords with the true reason of the Way. But since you disciples have already divided this into two separate paths in your minds, I will follow along with your own way of thinking, so as to explain the matter further and make it easier to understand. Those Sages and Deities whom you disciples imagine to have been made such only through some later King’s conferral — little do you realize that these very figures had already made themselves into Sages and Deities while they were yet alive, with no need whatsoever to wait for any person of a later age to confer that title upon them. It is rather that people of later generations, recalling the merits and accomplishments that these earlier People had built up and left behind for their benefit, came to hold them in lasting honor and reverence, never forgetting them — and so used the very titles that these figures had already earned for themselves in their own lifetimes, titles which their own contemporaries had already bestowed upon them, simply repeating and calling out that same title so that later generations would all call them by one and the same name, as an example of proper reverence. Thus only a single title came to be honored and used, following what earlier generations had already given — it was never a matter of waiting for some later generation to confer it! How could a later generation possibly confer anything upon a Person of an earlier age! Take Confucius, for instance: already within his own lifetime, people were calling him a Sage. Those of Loyalty and Righteousness were likewise honored as Deities and Sages by the people of their own time, while they yet lived. Confucius, Laozi, and Shakyamuni Buddha were all, while still living in this world, called Sages — no one divided them up so as to call one a Sage, another a Deity, another a Buddha! For the character Thánh (Sage) means precisely Sáng, “Bright” or “Luminous” — a Bright Heart, by which all things can be thoroughly understood and known.
Các trò tại Khổng Môn và Vua các nước đương thời đều tôn Khổng Phu Tử là Thánh, nhưng Ngài chẳng dám chịu, Ngài tự gọi mình là người ham học, học thì nhớ, rồi dạy người mà không biết mệt mỏi mà thôi. Ngài lại gọi Thích Ca là Thánh ở phương Tây, vì Tây Ấn Độ không có tiếng Thánh như Trung Quốc, nên gọi những người bực Thánh là Phật, vì tiếng Phật là tiếng nói của người Ấn Độ; Ngài cũng gọi Lão Tử rằng Thánh vậy. Các trò xét đó thì biết, dầu cho Thánh Tiên Phật chi cũng đều là Người thông minh trí tuệ, ham dạy dỗ người bỏ đường tối theo đường sáng, bỏ đường quấy theo đường phải, bỏ vạy theo ngay, bỏ dữ theo lành, vụ cho mỗi người đều biết sửa mình do theo lương tâm đặng đi một Con Đường sáng suốt, kỳ cho đến chỗ tận thiện tận mỹ mới thôi. Cái chỗ tận thiện tận mỹ của Con Người mà Thánh Nhơn dạy người sửa mình cho trong sạch mới thôi ấy, nó chẳng phải ở đâu xa mà khó đi, khó làm, ấy là cái chỗ mà mỗi người đều có sẵn lúc Trời đã cho gọi là Người rồi.
Both his disciples at the Confucian school and the kings of the various states of his time honored Confucius as a Sage, yet he himself would not accept the title, calling himself merely a man fond of learning, who remembered what he learned and taught others without ever growing weary of it. He himself called Shakyamuni a Sage of the Western lands, for in Western India there was no word “Sage” as there was in China, and so those of the rank of Sage there were called Buddha instead, “Buddha” being simply the Indian word for it; he likewise called Laozi a Sage. From this, you disciples can see clearly that whether called Sage, Immortal, or Buddha, all alike were simply People of intelligence and wisdom, eager to teach others to abandon the path of darkness for the path of light, to abandon the crooked path for the straight, to abandon deceit for honesty, to abandon evil for good — striving only that each person might learn to reform himself according to his own conscience, and walk a clear and luminous road, all the way to the point of utmost goodness and utmost beauty. And this point of utmost goodness and utmost beauty of the Human Being, toward which the Sages taught people to purify and reform themselves, is not found in some far-off place difficult to reach or difficult to attain — it is that very thing which every person already possesses, from the very moment Heaven granted him the name of Human Being.
Vua cũng là Người, vậy người đặt ra Vua để làm chi ? Để cai trị người ? Vậy thì Vua là người để cai trị người. Các trò cũng là người mà tại sao Con Người của các trò chẳng tự mình cai trị lấy Cái Người của mình. Lại phải đợi cho có cái người khác ở ngoài thân mình của mình, lại là người của người đặt ra kêu, sao lại có đủ quyền năng cai trị Con Người và Cái Người của mọi người khác? Mà lại đợi cho Cái Người kia phong cho Con Người này sau khi chết rồi mới được thành Thánh, thành Thần? Các trò xét kỷ lại coi nếu quả như vậy thì có phù hạp với Chơn Lý chăng?
The King, too, is a Person — for what purpose, then, did people establish a King? To govern the people? So then, a King is simply a person set up to govern other people. You disciples, too, are people — so why is it that your own True Self does not govern your own Outer Self by itself? Why must you instead wait for some other person, standing outside your own body, a person set up by other people and merely called by that title — how could such a person possess sufficient authority to govern the True Self and Outer Self of every other person? And why wait for that Outer Self to bestow, only after death, the title of Sage or Deity upon this True Self? Examine this carefully, disciples, and consider: if this is indeed how it works, does it truly accord with Truth?
Nay các trò đã chia Thánh, Thần, Tiên, Phật ra làm hai con Đường phải đi mới đến được, một là phải Học chữ cho nhiều đặng đọc sách, hai là phải có Vua phong. Ta khuyên các trò hảy chừa cái tánh mỗi việc mỗi nương cậy nơi người khác thì mình mới làm nên được đó. Kia cũng Người như mình, mình cũng Người như kia, sao mình lại đợi kia làm sách cho mình đọc, sắc phong cho mình nên mà mình chẳng tự nơi mình làm nên cho mình ? Ta phải vừa giúp Người, Người phải vừa giúp Ta, ấy mới trúng Đạo Lý cho. Nhưng mà các trò ý đã chia làm hai rồi, vậy ta cũng nương theo ý các trò, đặng giải bày rộng thêm ra dễ hiểu cho. Những bực Thánh Thần của các trò tưởng rằng đều là nhờ Vua đời sau phong cho mới được ấy, các trò nào dè đâu các bực ấy đã tự mình làm ra được Thánh Thần cho mình khi đương lúc còn sống rồi, nào cần phải có ai là người đời sau phong cho mới thành được đâu.
Now, you disciples have divided the path to Sagehood, Deityhood, Immortality, and Buddhahood into two separate roads one must travel to arrive there: one, that one must study many characters in order to read the scriptures; two, that one must receive a King’s own bestowal. I counsel you disciples to abandon this habit of relying, in every single matter, upon someone else, before you believe yourselves capable of achieving anything at all. That person is a Person just as you are, and you are a Person just as that person is — why, then, do you wait for that other person to write the books for you to read, to bestow the title that makes you complete, rather than making yourself complete by your own effort? I must help others, even as others must help Me — only this truly accords with the Way and its Principle. But since you disciples have already divided this into two roads in your own minds, I shall follow along with your own way of thinking, and explain it further, more broadly, so that it may be more easily understood. As for those ranks of Sage and Deity you disciples imagine are attained only through a later King’s own bestowal — little do you realize that such figures had already made themselves Sage and Deity by their own effort, while still alive, needing no one, no person of a later age, to bestow the title before it could be attained.
Bởi người đời sau nhớ lại những công ơn hay là công nghiệp của con Người đời trước đã gầy dựng để lại cho mình nhờ, những người đời sau đều đáng tôn trọng và sùng bái hoài hoài chẳng quên, nên phải dùng những tiếng của Người ấy đã tự gầy dựng cho mình khi lúc sanh tiền, mà người đương đời ấy đã từng tôn xưng cho rồi, đặng nhắc nhở kêu gọi ra cho người đời sau phải đồng kêu một tiếng như vậy, đặng làm gương sự kính trọng, nên phải tôn xưng một cái danh hiệu mà thôi, dùng theo tiếng của người đời trước đã từng tặng cho rồi, chớ nào phải đợi cho người đời sau có phong mới được đâu! Người đời sau nào có phong cho Con Người đời trước được! Như Khổng Phu Tử thì đương đời của Ngài, người đã từng gọi Ngài là Thánh rồi. Những bực Trung, Nghĩa thì lúc sanh tiền, người đời cũng đã tôn xưng cho Thần Thánh rồi. Khổng Phu Tử, Lão Tử, Thích Ca Mâu Ni, buổi còn đương sống ở thế, thì người đều kêu là Thánh, chớ nào có ai chia ra đặng kêu ai rằng là Thánh. Ai là Thần, ai là Phật đâu! Bởi chữ Thánh nghĩa là Sáng, Tâm Sáng nên mọi việc đều thông hiểu biết được cả thảy.
It is only because those of later ages, remembering the merit and labor that earlier persons built up and left behind for their benefit — worthy of respect and veneration, never to be forgotten — must use the very titles those persons had already earned for themselves while still alive, titles their own contemporaries had already conferred upon them, so that later generations might call them by that same name in remembrance, setting an example of due reverence, honoring them under a single title, using the very words their own earlier age had already bestowed — rather than waiting for some later age to bestow it! Later generations could never truly bestow anything upon an earlier person! Confucius, for instance, was already called a Sage within his own lifetime, by his own contemporaries. Those of Loyalty and Righteousness were already honored as Deity and Sage by the people of their own age, while still alive. Confucius, Laozi, and Shakyamuni Buddha, during their own lifetimes in this world, were each called Sage — no one divided them up to call one Sage and another something else. Who, then, was Deity, and who was Buddha? For the word “Sage” means “Bright” — a Bright Heart, by which all matters may be fully understood.
Các trò tại Khổng Môn và Vua các nước đương thời đều tôn Khổng Phu Tử là Thánh, nhưng Ngài chẳng dám chịu, Ngài tự gọi mình là người ham học, học thì nhớ, rồi dạy người mà không biết mệt mỏi mà thôi. Ngài lại gọi Thích Ca là Thánh ở phương Tây, vì Tây Ấn Độ không có tiếng Thánh như Trung Quốc, nên gọi những người bực Thánh là Phật, vì tiếng Phật là tiếng nói của người Ấn Độ; Ngài cũng gọi Lão Tử rằng Thánh vậy. Các trò xét đó thì biết, dầu cho Thánh Tiên Phật chi cũng đều là Người thông minh trí tuệ, ham dạy dỗ người bỏ đường tối theo đường sáng, bỏ đường quấy theo đường phải, bỏ vạy theo ngay, bỏ dữ theo lành, vụ cho mỗi người đều biết sửa mình do theo lương tâm đặng đi một Con Đường sáng suốt, kỳ cho đến chỗ tận thiện tận mỹ mới thôi. Cái chỗ tận thiện tận mỹ của Con Người mà Thánh Nhơn dạy người sửa mình cho trong sạch mới thôi ấy, nó chẳng phải ở đâu xa mà khó đi, khó làm, ấy là cái chỗ mà mỗi người đều có sẵn lúc Trời đã cho gọi là Người rồi.
His own disciples at the Confucian school, and the kings of the various states of his own time, all honored Confucius as a Sage, yet he himself would not accept the title; he called himself merely a man fond of learning, who, having learned, remembered it, and taught others without ever growing weary. He, in turn, called Shakyamuni “the Sage of the Western lands,” for Western India had no word “Sage” as China did, and so called those of the rank of Sage “Buddha” instead, since “Buddha” is simply the Indian people’s own word for it; he likewise called Laozi a Sage. Examine this, disciples, and you will see: whether called Sage, Immortal, or Buddha, all alike were simply People of intelligence and wisdom, eager to teach others to abandon the dark path for the bright one, to abandon the wrong path for the right one, to abandon the crooked for the straight, to abandon evil for good — striving only that each person come to know how to correct themselves, following their own conscience, walking a single, clear and luminous path, until reaching the very point of utmost goodness, utmost beauty, and no further. That point of utmost goodness and utmost beauty in a Person, which the Sages teach people to purify themselves toward, is not found somewhere far off, hard to reach, hard to attain — it is the very thing each person already possesses, from the very moment Heaven granted them the name of Person.
Người sở dĩ hơn thú vật, là vì có cái « Đó », thú vật sở dĩ thua Người, là vì không có cái « Đó ». Nhưng chớ tưởng rằng thú vật đều không cái « Đó » hết thảy đâu, cũng có loại, nếu nó tự biết xét lấy nó và lần lần nó đi được đến địa vị như Người, thì nó liền được cái « Đó » của Trời ban, rồi nó cũng là Người như Người, mà nó cũng còn phải lo sửa mình cho được hoàn như Người một cách, thì Trời nào có phân biệt nó rằng cốt thú, mà Người là cốt Người đâu! Người với thú khác nhau là có cái « Đó » hay không có caí « Đó », hoặc đã có rồi mà làm cho mất nó thôi. Tiếc vì loài Người không chí kiên nhẫn, ít ai trước sau như một, hễ có trước, thì không sau. Có sau không trước, mà đến chừng có trước lại được rồi, thì cũng quên sau nữa, vì vậy mới phải quanh lộn xoay vần hoài trong vòng đường quấy, nên mới không được trọn trước sau như một mà hóa ra chịu sự luân hồi đặng tìm kiếm lại cho được cái « Đó ».
The reason Man surpasses the beasts is that Man possesses “That”; the reason the beasts fall short of Man is that they lack “That.” But do not imagine that every beast entirely lacks “That” — there are kinds among them, too, which, if they come to examine and know themselves, and gradually advance to the same rank as Man, at once receive that same “That” bestowed by Heaven, and become Person just as Man is Person — though they, too, must then still labor to perfect themselves fully, in the same manner as Man; for Heaven makes no distinction that one is of a beast’s substance and another of Man’s substance! The difference between Man and beast lies only in having “That” or lacking “That” — or having once had it, and then letting it be lost. It is regrettable that mankind so often lacks steadfast perseverance, that few remain the same from beginning to end — having a beginning, but no end; or having an end without ever truly having had a beginning, and by the time a proper beginning is finally reached, the end is once again forgotten — and so one is forced to circle round and round, endlessly, within the wrong path, never managing to remain whole and consistent from beginning to end, and thus falls instead into the Wheel of Rebirth, in search, again and again, of that same “That.”
Các trò thử nghĩ coi, có người nào mới sanh ra mà giàu có hay là sang trọng liền hay không? Thật vẫn là không. Ai mới sanh ra cũng vẫn trần truồng như ai vậy. Ấy là sự công bình và bình đẳng của Tạo Vật đó. Sanh ra đã trần truồng mà Cha Mẹ cũng tùy theo bổn phận, kiếm thế che kín cho, nuôi no cho, dạy dỗ cho, ấy là sự công bình và bình đẳng của Cha Mẹ đó. Đứa trẻ thì ban đầu không biết nói, rồi lần lần tự tập mình cho biết nói, ấy là sự công bình và bình đẳng của các trẻ đó. Các trẻ hễ có Học thì có Biết, có Hỏi thì có Thông, cũng như hễ có ăn thì có no, có uống thì có khoẻ, chẳng có đứa bé nào mà không vậy, ấy cũng là sự công bình và sự bình đẳng của Hóa Công vậy. Sự Biết và sự Thông ấy bởi đâu mà có? Có phải là nhờ cái « Đó » của Trời đã ban cho từ khi nào cho đến khi nào, chẳng hề lấy lại bao giờ, nên gọi cái sự Biết đó là « Lương Tri » (cái Biết đã có sẵn), còn gọi cái Thông ấy là « Lương Năng » (cái Hay Giỏi sẵn có). Vậy thì mỗi người đã đều có Sẵn trong mình rồi, chớ nào có ai thiếu đâu. Cái Biết cái Thông ấy đều là Thông Biết về con Đường Phải chớ nào có quấy bao giờ! Cái Lương Tri và Lương Năng ấy nó ở đâu? Nó đều ở trong Tâm, mà ở trong cái Lương Tâm, mới có cái Lương Tri và Lương Năng được, vì Lương Tâm cũng là cái Tâm đã có sẵn và gồm đủ sự Biết, sự Thông Hiểu và sự Phải. Hễ có Biết có Thông Hiểu, có Hay Giỏi về sự Phải, thì nào có Quấy bao giờ? Nên mới trọn đủ điều Phải, không một mảy điều Quấy, nên mới gọi là Lành, vì cái Lương Tri, Lương Năng ở trong cái Lương Tâm ấy nó đều lành lẻ không chút mẽ khờn, nức nẻ, tì tích, răn ria chi hết; nên Lương Tâm cũng gọi nghĩa là cái Tâm Trọn Lành về Con Đường Phải.
Consider this, disciples: is there any person born already wealthy or of noble rank? Truly, there is not. Everyone, at birth, is equally naked, just as everyone else is. This is the very fairness and equality of Creation itself. Born naked, each child’s own Father and Mother, according to their own duty, seek some means to clothe and cover them, to feed them to fullness, to teach and instruct them — this is the fairness and equality of Father and Mother. A child, at first, does not know how to speak, and only gradually, through its own practice, learns to speak — this is the fairness and equality among children themselves. Whenever a child Studies, it comes to Know; whenever it Asks, it comes to Understand — just as eating brings fullness, and drinking brings strength — there is no child for whom this is not so; this, too, is the fairness and equality of the Creator’s own work. From where, then, does this Knowing and this Understanding come? Is it not thanks to that very “That” which Heaven has bestowed from one time until another, never once taking it back — and so this Knowing is called “Lương Tri” (innate Knowing, already present), and this Understanding is called “Lương Năng” (innate Capacity, already present). Every single person, then, already possesses this within themselves — no one lacks it at all. This Knowing and this Understanding are always a knowing and understanding of the Right Path — never, ever, of the wrong one! Where, then, do this Lương Tri and Lương Năng dwell? They dwell within the Heart — specifically, within the “Lương Tâm” (the Conscience, the Good Heart), for only within the Lương Tâm can Lương Tri and Lương Năng exist, since the Lương Tâm is itself the Heart already fully endowed with Knowing, Understanding, and Rightness. Wherever there is Knowing, Understanding, and skill in Rightness, how could Wrongness ever arise there at all? And so it is entirely full of Rightness, without the slightest trace of Wrongness, and so is called Good — for the Lương Tri and Lương Năng dwelling within that Lương Tâm are, in themselves, wholly good, without the slightest blemish, crack, stain, or flaw of any kind; and so the Lương Tâm is also rightly called “the Heart Wholly Good” with regard to the Right Path.
Biết được con Đường Phải, theo được con Đường Phải, Thông Hiểu trọn được các Việc Phải, là nhờ cái Lương Tri và Lương Năng, nên cũng gọi nó là Tánh; Tánh ấy là « Cái Đó » là cái của Trời ban phú cho đó. Cái Tâm còn phải nhờ sức Người gìn giữ nó cho trọn, thì nó mới trọn lành, trọn phải, bằng Người không cẩn thận kềm chế nó, thì nó sẻ trở nên xấu, ra hư, ra quấy, vì vậy nên Tâm có phải, có quấy, có xấu, có tốt, có hư, có nên, có lành, có dữ, là bởi nơi Người Tạo nó ra, chớ Tánh là của Trời ban cho, chẳng hề có xấu, có quấy, có dữ bao giờ! Trừ ra khi nào Người muốn tập nó thì chịu lấy.
Knowing the Right Path, following the Right Path, fully Understanding every Right Matter — this comes thanks to Lương Tri and Lương Năng, and so this too is called “Tánh” (Nature); that Nature is precisely “That,” the very thing bestowed by Heaven. The Heart, by contrast, still depends upon a person’s own effort to guard and preserve it whole, for only then does it remain wholly good, wholly right; if a person fails to carefully restrain and govern it, it will turn bad, become corrupted, become wrong — and so the Heart may be right or wrong, bad or good, ruined or accomplished, kind or cruel, depending on how the Person themselves shapes it, whereas the Nature, bestowed by Heaven, is never bad, never wrong, never cruel at all! Except when a Person themselves chooses to train it otherwise, and so brings such a result upon themselves.
Muốn các trò mau hiểu Tâm Tánh ra thể nào, Ta đem một hột Lúa ra ví dụ cho các trò dễ bề xét mà tự hiểu lấy.
So that you disciples may swiftly understand what Heart and Nature truly are, I shall take a single grain of Rice as an illustration, that you may examine it and come to understand it for yourselves more easily.
Trời phải sanh cho có loài Người, cũng như Người phải sanh cho có hột Lúa vậy. Người là Lúa cuả Trời, mà lại là Trời của Lúa. Người sanh Lúa, nào phải vụ có đặng mà ăn nó đâu! Cũng như Trời sanh Người, nào dốc để ăn Người bao giờ. Nhưng mà Người sống bởi Lúa, cũng như Trời sống bởi Người. Người không Lúa thì Người đâu còn, cũng như Trời không Người, thì Trời nào có! Nhưng mà Lúa ấy phải nhờ có Người mới có, cũng như Người nầy phải nhờ Trời mà ra vậy.
Heaven must give rise to Mankind, just as Man must give rise to the grain of Rice. Man is Heaven’s own Rice, and yet Man is also Heaven to the Rice. Man gives rise to Rice, yet not for the mere purpose of eating it! Just as Heaven gives rise to Man, never intending to consume Man at all. And yet Man lives by means of Rice, just as Heaven lives by means of Man. Without Rice, Man could not continue to exist; just as without Man, Heaven itself would have no existence! And yet that Rice can only exist thanks to Man, just as this Man can only arise thanks to Heaven.
Lúa kia đã nhờ Người mới có, mà cũng phải có Đất mới nên, thì Người nầy cũng vậy, là cũng bởi Trời mà ra, mà phải nhờ Đất mà lớn, vậy thì: trong Lúa thì đủ Trời Đất và Người, cũng như trong Người đủ có Trời Đất và Người vậy, vỉ vậy nên Người và Lúa chẳng hề rời rã nhau được. Người phải nhờ Lúa mới sống mà Người chẳng hề ăn Lúa bao giờ.
That Rice, which exists thanks to Man, must also have Earth in order to come to fruition; and this Man, likewise, arises from Heaven, yet must depend on Earth in order to grow; and so: within the Rice are fully present Heaven, Earth, and Man, just as within Man are fully present Heaven, Earth, and Man as well — and for this reason, Man and Rice can never truly be separated from one another. Man must depend on Rice in order to live, and yet Man never, in truth, eats Rice at all.
Ta nói như vậy, chắc các trò nói rằng: « Người chẳng ăn Lúa thì Người ăn Gạo, ăn Cơm, Cơm Gạo ấy nó cũng là Lúa chớ chi, vì Cơm Gạo là vật ở trong hột Lúa. Người xay Lúa, nấu Gạo ra làm Cơm mà ăn, thì cũng là Lúa chớ chi? »
Now, having said this, I am certain you disciples will say: “If Man does not eat the Rice-plant itself, then Man eats the husked rice, eats the cooked rice — and that husked rice, that cooked rice, is still the Rice, is it not, since it is the very substance found within the grain? Man mills the Rice-plant, cooks the husked rice into cooked rice and eats it — so is that not still the Rice itself?”
Các trò rất lầm, Người nào có ăn cơm bao giờ! Người là của Trời sanh, nào có ăn vật chi của Đất sanh? Người thì phải dùng những món chi của Trời sanh đặng nuôi sống mới phải Lý cho chớ! Cái thân thể của Người kìa, Cái Người kìa, thì mới dùng hột cơm nuôi sống cho, chớ Con Người nào có dùng hột cơm mà nuôi sống đâu! Các trò mảng còn lầm Con Người và Cái Người hoài, hai vật này, nếu các trò chưa phân biện ra cho rành được trong mỗi khi các trò muốn xét một cái lý chi, thì làm sao các trò tìm kiếm được Chơn Lý cho rõ được!
You disciples are greatly mistaken — Man never, in truth, eats cooked rice at all! Man is born of Heaven — how, then, could Man eat something born of Earth? By right reasoning, Man must instead be nourished by whatever is born of Heaven itself! That body of Man there, that Outer Self — it is that which is nourished by grains of cooked rice; but the True Self of Man never, in truth, is nourished by grains of cooked rice at all! You disciples keep confusing the True Self and the Outer Self — and if you fail to distinguish clearly between these two things whenever you wish to examine any principle at all, how, then, could you ever hope to find Truth clearly?
Cũng như các trò ham nói Cách Vật Trí Tri mà không chịu thiệt Cách Vật Trí Tri, có trò chịu Cách Vật mà không chịu Trí Tri, cũng có nhiều trò chịu Cách Vật, chịu Trí Tri, mà chịu Cách Vật Trí Tri những vật hữu hình mà thôi, còn những vật vô hình thì lại bỏ qua; cũng có hiếm trò chịu Cách Vật vô hình mà Trí Tri lại dùng Cái Tri của Cái Người mà xét. Nếu như vậy hoài, thì bao giờ mới được gọi là Cách Vật Trí Tri theo Tinh Thần? Cái Tri của Cái Người là cái sự Biết sau khi Con Người có cái xác thân nầy rồi mới Biết; còn cái sự Biết trước khi Con Người có cái xác thân nầy, cái ấy là cái Lương Tri, cái sự Biết sẵn có của Trời ban cho, nó là cái Tánh đó. Nếu Người Biết dùng cái Lương Tri thì Cách Vật mới đến nơi Cùng Tột Sự Lý của nó. Có dùng cái Lương Tri ấy mà xét tột những Lý của mỗi vật, thì mới tìm được Chơn Lý, bằng chẳng vậy, thì là dùng cái Tri của Cái Người đặng xét cái Lý của cái Vật mà thôi.
It is the same with you disciples’ fondness for speaking of “Investigating Things and Extending Knowledge” without truly practicing it: some of you investigate Things without truly extending Knowledge; many of you investigate Things and extend Knowledge, yet apply this only to visible, tangible things, setting aside the invisible ones entirely; and rare indeed is the disciple who investigates even invisible things, yet in extending knowledge relies only on the Outer Self’s own kind of knowing. If this continues on and on in this way, when could it ever truly be called “Investigating Things and Extending Knowledge” in the true Spirit of the term? The Outer Self’s own knowing is a Knowing that arises only after Man already possesses this physical body; whereas the Knowing that existed before Man possessed this physical body — that is the Lương Tri, the innate Knowing already bestowed by Heaven, and it is precisely the Nature itself. Only if Man knows to make use of this Lương Tri does “Investigating Things” reach the very utmost of its own true Principle. Only by using that Lương Tri to examine fully the Principle within each and every thing can Truth be found; otherwise, one is merely using the Outer Self’s own knowing to examine the mere Principle of the mere Thing.
Phần sau nầy, Ta thấy nhiều trò hay dùng lắm. Bởi phần đông trong các trò hay dùng cái Tri của Cái Người đặng tìm cái Lý của cái Vật đã quen rồi, nên quên rằng trong cái tri nó có Lương Tri. Đã quên tri có Lương Tri nên lộn Tâm Tánh; quên rằng Tâm có Nhơn Tâm Đạo Tâm, cũng như Tánh có Thiên Tánh và Tập Tánh vậy.
This latter approach, I observe, many of you disciples fall into far too often. Because so many of you have grown accustomed to using the Outer Self’s own knowing to seek the Principle of the mere Thing, you forget that within knowing itself there also lies the Lương Tri. Having forgotten that knowing contains this Lương Tri, you confuse Heart and Nature with one another — forgetting that the Heart contains both a Human Heart and a Way-Heart, just as Nature contains both a Heavenly Nature and an Acquired, Habituated Nature.
Ta nói đây khuyên các trò, trò nào đã hiểu rồi, vậy thì các trò hãy thử nghĩ sao mà Ta gọi Người không ăn cơm gạo và các trò ấy hãy xét sao mà ta dùng hột Lúa đặng ví dụ Tâm Tánh cho Ta nghe thử coi. Đem một việc tầm thường như vậy hỏi thử các trò, coi trò nào chịu Trí Tri hay là trò nào chịu Trí Lương Tri cho Ta rõ, rồi Ta sẽ chỉ lại sự Tầm Thường ấy cho mà hiểu lần trước đi.
In saying this, I counsel you disciples: whichever of you has already understood, try now to reflect on why I say that Man does not eat cooked rice, and examine for yourselves why I used the grain of Rice to illustrate Heart and Nature — tell me what you make of it. I put this ordinary matter to you as a test, to see which of you truly extends mere Knowledge, and which of you truly extends Lương Tri, that I may know clearly — and then I shall explain this ordinary matter further, so that you may come to understand it fully, one step at a time.
Bấy nay, tự bấy nay và tự bấy lâu nay, các trò hễ trò nào muốn bước vào đường Tu, thì trong lòng đã sao cho được làm Thánh làm Thần, làm Tiên làm Phật. Nên phải lo Tu. Ấy là cái Tâm của các trò rất tốt đó, vì là các trò dốc lòng làm cho được Người tốt, Người lành, người trọn tốt, Người trọn lành, Người trọn tốt trọn lành đó. Ta cũng nên khen cho. Song các trò muốn làm Thánh Thần tiên Phật, mà trò chưa bước vào một bực nào trong năm bực như ta mới vừa kể trên đây, thì làm sao mà các trò bước vào con Đường Thánh Thần Tiên Phật cho được.
Until now, from long ago and for such a long time, whichever of you disciples has wished to set foot upon the path of Cultivation has, within your own heart, longed to become Sage, Deity, Immortal, or Buddha — and so has set about Cultivation. This is, in itself, a very good Heart indeed, disciples, for you are wholeheartedly resolved to become a good Person, a virtuous Person, a wholly good Person, a wholly virtuous Person. For this, I ought indeed to praise you. Yet you disciples wish to become Sage, Deity, Immortal, and Buddha, while not yet having set foot upon even a single one of the five ranks I have just now described above — how, then, could you possibly set foot upon the very Path of Sage, Deity, Immortal, and Buddha?
Trước nay, từ bao giờ cho đến bây giờ, thì các trò mãi chia Thánh Thần Tiên Phật là bốn hạng khác nhau, vì gọi rằng trong ấy Thần là bực nhỏ hơn hết, kế đến bực Tiên, rồi đến bực Thánh, lớn hơn hết là bực Phật, mà rốt lại, các trò còn cho rằng Phật còn lớn hơn Trời. Mà nếu có ai hỏi trò Trời là chi, thì các trò không có trò nào biết đâu mà chỉ, mà cắt nghĩa, một cứ gọi cái Không Không, Xanh Xanh, Biệt Mù phía trên ấy là Trời mà thôi. Có trò cũng gọi bướng rằng Ngọc Hoàng ấy là Trời. Còn nếu có hỏi Phật Thánh Tiên Thần là chi, thì cứ chỉ cho những bụt gỗ, hoặc tượng tranh vẽ của những người nước ngoài làm ra, rồi đặt tên người nầy ở xứ nầy, tên người kia ở xứ kia, sự tích phiêu phiêu hưởng hưởng, không biết đâu làm bằng cớ chắc chắn mà nhận vào, mà các trò cũng cứ tin làm thật vậy. Nếu các trò vẫn giữ một cái Tin Vọng Tưởng Vọng như vậy hoài, thì biết bao giờ cho thoát khỏi đem cái Vọng hoài vào mình. Nếu cái Vọng còn dính chặt vào mình các trò, thì bao giờ mới rõ được Chơn Lý? Nếu không rõ được Chơn Lý thì làm sao mà đến bực Thánh Thần Tiên Phật như ý các trò muốn trước khi các trò để bước vào Con Đường Tu. Nếu chưa rõ được Chơn Lý mà bước vào Con Đường Tu, thì làm sao đi cho đến mục đích đặng đứng vào hạng Thánh Thần Tiên Phật là hạng của các trò muốn đó? Hạng nầy còn chưa biết Con Đường đặng đi đến thay, thì còn mong chi biết đặng Con Đường Trời mà ngó vào? Lỗi ấy tại đâu? Lỗi ấy bởi ai? Lỗi ấy tại sao mà ra?
Up until now, from whenever it began until this very moment, you disciples have persisted in dividing Sage, Deity, Immortal, and Buddha into four separate ranks, saying that among them Deity is the very lowest rank, followed next by Immortal, then by Sage, and greatest of all is Buddha — and, in the end, you disciples even hold that Buddha stands higher than Heaven itself. Yet were anyone to ask you disciples what Heaven truly is, not a single one of you would know how to point to it, how to explain it — you would merely gesture toward that empty, blue, and boundlessly hazy expanse above and call that Heaven, nothing more. Some of you disciples even stubbornly insist that the Jade Emperor is Heaven itself. And were anyone to ask what Buddha, Sage, Immortal, and Deity truly are, you would merely point to wooden idols, or painted images crafted by people of foreign lands, giving this figure a name from this country and that figure a name from that country, their stories vague and insubstantial, with no certain evidence by which to accept them at all — and yet you disciples continue to believe them true regardless. If you disciples continue, on and on, to hold fast to such a Faith built upon mere Fancy, upon mere Imagining, when could you ever hope to free yourselves from carrying that very Fancy within you forever? If that Fancy still clings fast to you disciples, when will you ever come to understand Truth? And if Truth is never understood, how could you ever reach the rank of Sage, Deity, Immortal, or Buddha, as you disciples wish, before ever setting foot upon the Path of Cultivation at all? If you set foot upon the Path of Cultivation without yet understanding Truth, how could you ever travel all the way to your own goal, to stand among the ranks of Sage, Deity, Immortal, and Buddha, the very ranks you disciples desire? If this rank of person does not even yet know the Road that must be traveled to arrive there, how could they possibly hope to know Heaven’s own Road, and look truly into it? Where, then, does the fault lie? Upon whom does the fault fall? From what cause does the fault arise?
Ngày nay, Ta đã vưng lịnh Đức Thượng Đế, đến đây đặng nhắc nhở các trò là người có duyên muốn tìm Đạo. Ta một khuyên các trò hãy dằn cái vọng tâm, vọng tưởng ấy xuống, đặng lần lần nghe theo lời Ta chỉ bảo cái nấc thang cho mà bước: nếu các trò vẫn cứ gọi lời ta là tầm thường nên vẫn bỏ qua hoài, không chịu nghe đặng xét cho kỹ, thì làm sao Ta chỉ cho đến cùng được.
Today, I, obeying the decree of the Supreme Being, have come here to remind you disciples, who by karmic affinity wish to seek the Way. I counsel you, above all, to press down and quiet this restless heart, this restless imagining, that you may gradually come to heed My words, as I point out, step by step, the very rungs of the ladder for you to climb: for if you disciples continue to call My words merely ordinary, and so continue to dismiss them, unwilling to listen and examine them carefully, how could I ever guide you all the way to the very end?
Ta trước đã hỏi con đường đi cho đến mà làm cho được Thánh Thần Tiên Phật, thì các trò đã chia bốn bực ấy ra làm hai con đường rồi, các trò thử nghĩ coi: Con Đường Đạo nào có hai bao giờ? Nếu Con Đường Đạo phải có hai, thì Trời phải có mấy? Chơn Lý phải có bao nhiêu? Nhơn loại phải có vô số hay sao?
Earlier, I asked about the road that must be traveled to become Sage, Deity, Immortal, or Buddha, and you disciples had already divided these four ranks into two separate roads — consider this, disciples: could the Road of the Way ever truly be two? If the Road of the Way must be two, then how many Heavens must there be? How many Truths must there be? Must there then be countless, numberless kinds of Mankind as well?
Chớ chi theo ý các trò tưởng, má các trò chịu đem lòng xét thêm đến một nước nữa, cho hiểu rằng: Thánh, Thần, Tiên, Phật ấy vẫn có một, là vì những bực ấy trước kia cũng là Người như các trò vậy, thì các trò liền hiểu rằng các bực ấy với các trò cũng là Một mà thôi, chớ nào phải là năm.
Yet if, setting aside your own preconceptions, you disciples would only take your reflection one step further, and come to understand that Sage, Deity, Immortal, and Buddha are, in truth, but One — because all such figures were, before anything else, simply People just as you disciples are — you would then understand at once that those figures and you disciples are likewise but One and the same, not five separate things at all.
Các trò thử nghĩ đặng xét coi, một con chim, từ khi còn ở trong trứng cho đến lúc biết bay liệng trên các từng mây xanh, thì cũng là Một con chim đó, hay là mấy con? Chim con nở ra không lông cánh lần lần đến biết bay, ấy là tại sao vậy? Có ai dạy nó không? Hay là nó tập nên quen? Khi nó lớn biết bay, biết chọn cây mà đậu, biết thời tiết, biết phương hướng, biết vầy bầy hiệp bạn, biết thương đồng loại, biết dìu dắt nhau sớm tối, ấy tại sao nó vậy? Có ai dạy nó không? Hay là tại nó tập nên quen? Nếu rằng có ai dạy nó nên nó biết, hoặc là tại tập nên quen, thì cái sự biết và cái sự quen của nó bởi đâu mà ra? Nó có cần chi phải dùng sách nào để lại cho nó học hay không? Hay là nó chỉ dùng cái Tánh của Trời ban phú cho nó, rồi nó có sẵn cái Luơng Tri, Luơng Năng của nó, nên tự mình nó cất cánh bay cao, và tự mình nó biết Cách từ mỗi Vật, Trí hết cái Tri của nó, đặng nó tránh khỏi bẫy khỏi dò, đặng biết phải cây mới đậu, đặng biết phải vật mới ăn, cùng là đặng biết, biết hết thảy những việc của nó phải biết mà nuôi sống cho nó và dìu dắt cho đồng loại nó? Từ khi nó ở trong trứng nở ra, đến lúc mọc lông mọc cánh, thẳng đến biết cách dìu dắt đồng loại nó, có ai đem sức ngoài vào giúp cho nó được vậy, hay là nó nhờ lấy cái sức tự nhiên của nó nên nó được vậy? Nó có biết cái sức tự nhiên của nó bởi đâu mà có hay không? Hay là nó nhờ nó tuân theo cái sức tự nhiên đó nên nó mới được tự nhiên mà biết, mà quen, mà làm theo sự tự nhiên đó mà thôi? Còn phần các trò, các trò có biết cái sức tự nhiên giúp cho nó đó là bởi đâu nó được có hay không?
Consider this, disciples, and examine it well: a bird, from the time it is still within the egg until the moment it knows how to soar upon the blue layers of cloud above — is that still One and the same bird, or has it become several? A hatchling bird, born without feather or wing, gradually comes to know how to fly — why is this so? Does anyone teach it? Or does it simply come to know through its own practice? Once grown, it knows how to fly, knows which branch to choose to perch upon, knows the seasons, knows direction, knows how to flock and gather with its own companions, knows how to love its own kind, knows how to guide one another morning and night — why is this so? Does anyone teach it this? Or is it simply through its own practice that it comes to know? Whether taught by someone, or simply grown accustomed through its own practice — from where, then, does its very capacity to know and to grow accustomed arise? Does it need any book left behind for it to study? Or does it rely only upon the Nature Heaven has bestowed upon it, already possessing its own Lương Tri and Lương Năng, so that it lifts itself into flight by its own effort, and by its own effort knows how to Investigate each Thing, fully extending its own Knowledge, so that it may avoid every trap and snare, know which tree is fit to perch upon, know which thing is fit to eat, and know — know everything it must know — in order to sustain its own life and guide its own kind? From the moment it hatches from the egg, through the growing of feather and wing, all the way to knowing how to guide its own kind — did any outside force lend it help to achieve all this, or did it rely upon its own natural capacity to achieve it? Does it itself know where that natural capacity comes from? Or does it simply follow that natural capacity, and so, through that very naturalness, come to know, to grow accustomed, and to act accordingly, nothing more? And as for you disciples — do you yourselves know from where that same natural capacity, which helps the bird, truly comes?
Ta hỏi vậy, chắc các trò trả lời rằng: Cái sức tự nhiên ấy là nơi Trời. Các trò đã gọi rằng cái xanh xanh ở biệt mù kia là Trời rồi, hoặc là vị Ngọc Hoàng nọ là Trời rồi, thì hai cái vật ấy một cái là cảnh sắc nơi không trung, còn một cái là cái danh hiệu để gọi một vị Thiên Thần của người muốn tôn trọng, mà cũng chẳng biết ai là ai, hai vật ấy là hai vật, nào phải là Trời đâu. Nó đã là hai vật, thì nó là hai vật, chớ nó nào phải là cái Lý Tự Nhiên, thì nó nào có tài gì làm được sức tự nhiên, mà đến nỗi mỗi con chim từ lúc ở trong trứng cho đến lúc thành tài, đặng theo chỉ dạy cho nó hoài? Các trò sao mỗi việc cứ ỷ lại nơi thần quyền hoài? Cái thần quyền, tự nhiên đã có sẵn có trọn trong mình từ mỗi vật rồi, sao các trò không xét? Thần quyền nghĩa là một cái Lý Chơn thật tự nhiên rất mực Thần diệu, đã trao trọn quyền cho mỗi sự mỗi vật sẵn có trong mình rồi, chớ nào phải là một vị Thần nào có quyền đặng làm cho chim bay, cho cá lội, cho đất xay, cho nước chảy đâu?
Having asked this, I am certain you disciples will answer: that natural capacity comes from Heaven. You disciples have already called that hazy, distant blue expanse Heaven, or else called that figure, the Jade Emperor, Heaven — yet these are two separate things: one is merely a visual scene within empty space, the other merely a title given to a Heavenly Spirit that people wish to honor, and no one truly knows who that figure even is — these are two separate things, and neither one is truly Heaven at all. Being two separate things, they remain two separate things, and neither is the Principle of Naturalness itself — so what capability could either possibly have to produce natural capacity, such that every single bird, from the moment it lies in the egg to the moment it becomes fully accomplished, is instructed by it continually? Why must you disciples, in every single matter, keep relying upon some divine authority? That divine authority is, in truth, already fully and naturally present within every single thing itself — why do you disciples not examine this? “Divine Authority” means precisely a true and natural Principle, wondrous in the highest degree, which has already granted full authority to every single matter and thing, already present within itself — it is not some Spirit possessing the power to make birds fly, fish swim, the earth turn, or water flow.
Các trò nên hiểu rằng: Tự Nhiên ấy là Lý, chớ chẳng phải tự nhiên ấy là Vật, còn Trời là một tiếng để dành chỉ chung, hoặc khen chung, hoặc trách chung cho Sự Lý hay Sự vật bởi Tự Nhiên mà có, mà nên, mà hư, nên Tự Nhiên ấy là tiếng để chỉ cho Lý nơi Trời, chớ chẳng phải để chỉ cho Vật của Trời; còn Thần cũng là một cái Chơn Lý bởi Tự Nhiên mà có. Sự biến hóa thay đổi trong võ trụ này, cho đến đỗi không ai lấy mực thước mà đo lường được, sự biến hóa ấy gọi là Thần; Thần nghĩa là làm vậy đó, chớ nào phải trên cao xanh tuyệt vời kia có một vị nào tên là Trời, hay tên là Ngọc Hoàng, có quyền hành, có năng lực, đủ sức thay đổi được kiền khôn thế giái đâu, mà các trò mỗi việc cứ mỗi đổ trúc cho quyền của vị thần ấy hoài.
You disciples should understand: Naturalness is Principle, not a mere Thing; and “Heaven” is a word reserved to refer, collectively, whether in praise or in blame, to the Principle or the Things that arise, succeed, or fail through Naturalness — so “Naturalness” is a word pointing to the Principle within Heaven, not to any mere Object belonging to Heaven; and “Spirit,” too, is simply a form of True Principle arising through Naturalness. The transformation and change within this universe, to such a degree that no one could ever measure it with any fixed standard — that very transformation is what is called “Spirit”; “Spirit” means precisely this working itself, not that somewhere up in that supremely lofty blue expanse there exists some figure named Heaven, or named the Jade Emperor, possessing authority and power sufficient to transform all of Heaven and Earth, this whole world — and yet you disciples, in every single matter, keep pouring out credit to the authority of that supposed spirit, again and again.
Ta nói vậy chắc các trò lấy làm lạ, chắc các trò tưởng và nghĩ rằng ta nói nghịch với Đạo, các trò nào dè các trò đã nghịch hẳn với Đạo tự bấy lâu rồi, vì các trò vẫn quên lời Đức Chí Tôn đã dạy rằng: « Đạo là Chơn Lý mà Chơn lý là Đạo », chớ nào Đức Chí Tôn có dạy Đạo là một vị Thần Thánh nào có quyền đâu! Dầu cho có Thánh Thần Tiên Phật nào nữa, là cũng phải do nơi Chơn Lý của Đạo mới có được chớ! Mà các Thánh Thần Tiên Phật ấy, lúc sanh tiền cũng phải làm thân Con Người, đã biết do theo Chơn Lý của Đạo đặng Học và Hành theo nên mới được thành thì nay các trò cũng đã làm thân Con Người rồi, sao các trò lại quên Con Đường ấy đi?
Hearing Me say this, I am certain you disciples will find it strange, certain you will think and believe that I speak against the Way itself — little do you disciples realize that you yourselves have already stood squarely against the Way for such a long time now, because you have continually forgotten the Supreme Being’s own teaching: “The Way is Truth, and Truth is the Way” — the Supreme Being never once taught that the Way is some Spirit or Saint possessing power of its own! However many Sages, Deities, Immortals, or Buddhas there may be, all of them, too, could only come to exist through the Truth of the Way itself! And those very Sages, Deities, Immortals, and Buddhas, while still alive, had themselves to take the body of a Person, and had to know how to follow the Truth of the Way, Studying and Practicing accordingly, before they could attain their rank — and now you disciples, too, already possess the body of a Person — why, then, do you disciples forget that very same Road?
Ta thường đem lòng khen các trò, biết các trò có chí ham tu lắm, hay bàn luận nên ta thường thấy các trò hay bàn luận với nhau những khoa thông thần, thông thiên, nên các trò biết chia võ trụ ra làm mấy từng mấy lớp; biết toán Trời Đất có ra đã mấy kiếp mấy đời; và đến bao giờ phải tan phải rã; biết luận theo Ấn, sáu nẻo luân hồi; biết nói theo Âu, bảy từng khí chất; nào là chất lỏng chất đặc; đâu là cõi Phật cõi phàm, hồn hồn phách phách sắc sắc thân thân; những triết lý huyền cơ cũng đem ra đặng phân biệt được, những trí tri cách vật cũng tìm đến đặng giải quyết xong; thật sự học của các trò rất lấy làm công phu lắm, thật đáng khen. Tuy vậy nhưng Ta cũng chẳng khỏi có lòng trách các trò một điều, là vì sao những sự lý viễn vong như thế, mà các trò chịu gia công tìm kiếm đặng học, đặng nhớ, đặng nói; còn một cái sự lý sát cận mật thiết trong mình của các trò, là cái mà các trò phải nhờ mà Sống, phải có mới Sanh, sao các trò lại đành quên hẳn, không chịu đem lòng suy xét đặng hiểu, đặng làm cho Sống và cho Sanh thêm ra? Nếu vậy có phải là các trò ham chuộng những điều cao xa không bằng cớ, đặng nói cho người gọi các trò là học cao biết rộng, đặng làm cho mất thời giờ của các trò và của nhiều người khác, vì phải bị những giấy tờ kẻ mộng đó, trùng trùng điệp diệp, biết mấy chuyến tàu chở xe chuyên; lại cũng vì những giọng quến kẻ mê kia, huyền huyền, diệu diệu, dám khiến được đá chạy cát bay. Vậy ta hỏi thử các trò, những sự học nói như thế, nó có bổ ích chút nào cho sự Sống của các trò hay không? Các trò đã gọi là người học Đạo, sao nỡ quên thân mình nhờ chi mà Sống, bởi đâu mà Sanh, làm sao mà Sống làm sao mà Sanh, thì làm sao mà học Đạo được? Bởi thân mình các trò đây mà các trò còn đành bỏ quên đi, nên mới tập ra tiếng xả thân đặng gạt gẫm người, đặng che chở khuất lấp cái giả cái dối, cái dốt cái quê, đặng làm cho người lầm tưởng rằng mình thật có lòng lo cứu vớt đời, nên mới khổ hạnh mới xả thân đó. Nào dè nếu một người xả thân đặng kiếm điều mơ mộng mà dạy ra nhiều người khác làm theo, lâu ngày chầy tháng, thì cái nước có những người như vậy sẽ thành một cái nước tro tàn cây mục, chớ nào có ích chi cho nhơn loại. Nếu vậy thì Tạo Hóa sanh giống Người đây để làm chi? Nếu trong các trò, có trò nào muốn xả thân, Ta khuyên hãy noi gương của Thích Ca Văn Phật thì mới gọi là trúng bằng trái lại, thì là hủy thân vô ích, hoặc là làm cách dối giả đặng đánh lừa gạt gẫm kẻ mê, tội ấy có chi lớn bằng. Các trò cũng thường nói Tu Thân, Tu Tâm, sao các trò không học cách ấy mà làm theo cho đúng, lại học chi những cách nói mộng, đặng làm cho người tin vơ?
I have often, in My own heart, praised you disciples, knowing you hold great ardor for cultivation, and are fond of discussion — I have often seen you disciples discussing among yourselves subjects such as communion with spirits, communion with Heaven, so that you disciples know how to divide the universe into so many layers, so many levels; know how to calculate how many ages, how many eras, Heaven and Earth have already passed through, and when they must dissolve and disperse; know how to argue according to the Indian tradition, the six paths of the Wheel of Rebirth; know how to speak according to the Western tradition, the seven layers of matter — this one liquid, that one solid; which is the realm of Buddha, which the realm of the mundane; soul upon soul, spirit upon spirit, form upon form, body upon body; you bring forth even the most mysterious philosophies to distinguish them clearly; you seek out even the most demanding investigations of things and extensions of knowledge, to resolve them fully — truly, your disciples’ scholarship is a matter of great, painstaking effort, and truly deserves praise. And yet, even so, I cannot help but hold one reproach against you disciples: why is it that, for matters so distant and so speculative as these, you disciples are willing to expend such great effort to seek them out, to study them, to remember them, to speak of them — while the one matter closest and most intimately bound to your own selves, the very thing by which you must Live, the very thing that must exist before you can be Born at all, you disciples are willing to forget entirely, unwilling to turn your hearts to examine it, to understand it, to make your own Living and Being grow all the fuller? If this is so, are you disciples not simply indulging a fondness for lofty, distant matters with no real evidence behind them, merely so that others may call you widely learned and deeply read, wasting your own time and the time of many others besides, burdened by mountain upon mountain of such dreamers’ own writings, countless cartloads and shiploads of them; and also led astray by the seductive, alluring voices of the deluded, mysterious and wondrous, claiming even the power to make stone run and sand fly? So let Me ask you disciples this: does such learning and such talk bring the slightest true benefit to your own Life at all? You disciples already call yourselves students of the Way — how could you bear to forget by what your own body lives, from where it is born, how it comes to Live, how it comes to Be — for how, then, could you ever truly study the Way at all? Because you disciples are willing to forget even your own very body in this way, you have come instead to practice speaking of ‘renouncing the body’ merely to deceive others, to cover over and conceal your own falsehood and deceit, your own ignorance and coarseness, so as to make others mistakenly believe you truly hold a heart set on saving the world, and so take up ascetic hardship, so-called ‘renunciation of the body.’ Little do you realize that if one person renounces the body merely in pursuit of some dreamed-up notion, and goes on to teach many others to do the same, then, as months and years pass, any nation filled with such people will become nothing but a land of dead ash and rotted wood, of no benefit whatsoever to humankind. If that were truly so, then for what purpose did Creation ever give rise to Mankind at all? If any of you disciples truly wishes to renounce the body, I counsel you to follow instead the example of Shakyamuni Buddha himself — only then could it rightly be called correct; otherwise, it is merely a useless destruction of the body, or else a false pretense staged only to deceive and mislead the deluded, and no sin could be greater than that. You disciples also often speak of ‘Cultivating the Body, Cultivating the Heart’ — why not, then, study that very method and practice it correctly, rather than studying instead these ways of speaking in dreams, merely to make others believe such empty things?
Kìa loài phi điểu có chim anh võ, loài tẩu thú có giống tinh tinh, hai loài nầy biết học tiếng người và biết nói tiếng người in như người vậy; song le nếu nó có học tiếng người cho giống đền bực nào đi nữa, thì phi điểu cũng còn là phi điểu, tẩu thú cũng nguyên tầu thú, chớ nào có thấy ích lợi chi cho nó. So lại với loài Người đã là loài biết nói rồi, sao lại còn học Nói làm chi nữa? Tinh tinh và anh võ không biết nói, nên nó phải học nói, đặng giả bộ là loài Người, còn loài Người đã biết Nói rồi, sao không học « Làm » cho đáng là loài Người, mà cũng cứ học nói như tinh tinh anh võ mà chi? Hãy thật hành lời nói của mình đã học đã biết, thì mới đáng gọi là Con Người.
Behold, among the winged creatures there is the parrot, and among the beasts there is the chimpanzee — both these kinds know how to learn human speech, know how to speak human words, closely resembling people themselves; and yet, however closely it may come to resemble human speech, the parrot remains still a mere bird, the chimpanzee remains still a mere beast — of what true benefit is this to the creature itself? Compare this, then, to Mankind, a kind that already knows how to speak — why, then, should Man still need to study Speaking at all? The chimpanzee and the parrot do not know how to speak, and so must study speech, in order to imitate the appearance of Mankind; but Mankind already knows how to Speak — why, then, not study instead how to truly “Act” in a manner worthy of Mankind, rather than continuing to merely study speech, as the chimpanzee and the parrot do? Truly put into practice the very words you have already studied and already know, and only then may you rightly be called a True Person.
Con Người sở dĩ khác hơn cầm thú là nhờ có cái Linh Tánh Linh Tâm. Bởi có Linh Tâm Linh Tánh nên Linh Hồn mới được Linh Thông hoạt bác không chỗ trở ngại. Hãy xét cho kỹ thì thấy rõ ràng rằng: Loài chim là loài phải biết bay, cái tánh bay là tánh tự nhiên của nó; loài thú là loài phải biết chạy, biết leo trèo, tánh ấy cũng là tánh tự nhiên của nó vậy. Nay tinh tinh anh võ bỏ cái tánh tự nhiên sẵn có của nó, đặng tập học nói theo tiếng loài người, là sao vậy? Là vì nó có tánh muốn tấn hóa thêm, nó biết loài người là một loài rất quí, nhưng mà nó chẳng biết sự quí của loài người là tại nơi đâu, nó tưởng rằng loài người sở dĩ được quí là tại có biết nói mà thôi, nên nó mới tập nói theo. Tuy sự muốn tấn hóa ấy có lẽ phải cho nó, nhưng nó quá cái vọng tâm đặng vọng cầu vọng tưởng những điều ngoài phận sự của nó phải làm, vì hễ có chút Vọng thì chẳng hề Chánh bao giờ. Bởi nó có cái vọng trái lẽ như vậy, nên loài người mới kiếm bắt nó đem về cầm nhốt đặng nuôi cho nó nói nghe chơi. Ban đầu nó cũng đắc chí lắm, vì khỏi thất công bay chạy đặng kiếm ăn, đã ở nhà tốt lại được đồ ăn ngon, còn có chịu khó đặng tập nói mà thôi, song sái cái tự nhiên của nó đã sẵn có, nên tự nhiên nó phải chết vì cái vọng của nó đó vậy.
The very reason Man differs from beast is thanks to possessing a Numinous Nature and Numinous Heart. Because of this Numinous Heart and Numinous Nature, the Divine Soul itself becomes able to move with full, unobstructed, living understanding. Examine this closely, and you will see plainly: birds are a kind that must know how to fly — flight is their own natural inclination; beasts are a kind that must know how to run, to climb — that too is their own natural inclination. Now, the chimpanzee and the parrot abandon their own natural inclination, already given to them, in order to practice speaking human words — why is this? It is because they possess a nature that wishes to advance further still; they know that Mankind is a most precious kind, yet they do not know wherein Mankind’s true preciousness actually lies; they imagine that Mankind’s preciousness lies simply in knowing how to speak, and so they practice speaking accordingly. Though this wish to advance may perhaps be a fitting one for them, they carry it too far, into a restless, craving heart, into reckless desire and reckless imagining, reaching beyond their own proper duty — for wherever there is even the slightest trace of such Recklessness, Rightness can never truly follow. Because of this reckless, unreasonable desire, mankind then comes to capture and confine them, keeping them merely to hear them speak for amusement. At first, they too feel quite pleased with themselves, freed from the effort of flying or running about to find food, housed comfortably, given fine food to eat, needing only to endure the effort of learning to speak — yet, having gone against their own already-given nature, they are, of course, bound to die because of that very recklessness of theirs.
Vì cớ chi cầm thú muốn tấn hóa học theo nhơn loại mà gọi rằng là Vọng? Là vì loại ấy chưa có Linh Hồn, mới vừa vừa có Thần Hồn mà thôi, nên cần phải nuôi cái xác thân cho đầy đủ, đặng thơ thới cái Thần Hồn, đến lúc cái Thần Hồn đã được trọn lành rồi thì nó sẽ tấn hóa tự nhiên.
Why, then, is it called Recklessness when a beast wishes to advance by imitating mankind? It is because such a kind does not yet possess a Divine Soul, possessing, as yet, only a Spirit-Soul — and so it must first nourish its own physical body fully, that its Spirit-Soul may be put at ease; only once that Spirit-Soul has become wholly good will it then advance of its own natural accord.
Loài Người đã vượt qua khỏi chẳng biết bao nhiêu bực, nên mới được có Linh Tâm, Linh Tánh, được có Linh Hồn rất hoạt bát; sao chẳng lo tiếp dưỡng tài bồi cho được Chí Thiện Chí Mỹ, lại đành trở lại tập ăn tập nói mà chi? Lại trong sự tập ăn tập nói chẳng biết rõ mà phân biện được, thì tự nhiên Linh Hồn phải mất, thì cái kiếp Sanh làm Người nầy chẳng là uổng lắm thay!
Mankind has already passed through countless such ranks and stages, and so has come to possess a Numinous Heart, a Numinous Nature, and a Divine Soul, most vividly alive — why, then, not attend to nourishing and cultivating it toward Utmost Goodness, Utmost Beauty, rather than turning back to merely practice eating and speaking once more? And in this practice of mere eating and speaking, failing even to know how to properly discern and distinguish matters, the Divine Soul is naturally bound to be lost — and how great a waste, then, would this very incarnation as a Person turn out to be!
Muốn xét cho biết Tâm Tánh Con Người ra thể nào, nên Ta đã đem Hột Lúa dùng làm ví dụ và bảo các trò xét lấy thì hiểu, nhưng các trò mãi tìm kiếm nơi đâu xa vời, nên không chịu xét một vật tầm thường trước mắt mà các trò thường thấy thường dùng hằng ngày.
In order to examine what the Heart and Nature of Man are really like, I took the Grain of Rice as an example and told you to examine it for yourselves so that you might understand; yet you keep searching somewhere far away, and so you are unwilling to examine an ordinary thing right before your eyes — one that you see and use every single day.
Cả thế giái chẳng có chỗ nào mà chẳng có giống Lúa cũng như chẳng có chỗ nào mà chẳng có giống Người, vì hễ có Đất thì có Lúa, có Người, mà có Người thì mới nên Đất. Thử xét coi Lúa ấy Trời sanh hay là Đất sanh? Người nầy Đất sang hay Trời sanh? Cớ sao ai cũng nói rằng hễ có Đất thì có Cỏ? Vậy Lúa kia cũng là một giống Cỏ sao? Nếu Lúa cũng là một giống Cỏ, thì Người ăn Lúa cũng như Thú ăn Cỏ sao? Có giống Thú phải ăn Cỏ, có giống Người phải ăn Lúa, mà giống Thú phải ăn Cỏ kia nó cũng biết Lúa là ngon hơn Cỏ vậy, còn cái giống Người phải ăn Lúa đây, có giống nào biết khen Cỏ là ngon hơn Lúa hay không? Nếu gọi Thú biết Lúa là ngon hơn Cỏ nên tìm Lúa đặng ăn, còn Người là một con thú biết khôn, nên trong lòng không còn phải biết tới Cỏ nữa, nên mới gieo trồng các giống Lúa đặng ăn, nếu quả như vậy, nếu quả thật như vậy, thì quả Người là một con Thú biết khôn rồi mà! Tiếc thay, đã được sanh ra đứng vào hạng là Giống Người rồi, mà nỡ để cho gọi rằng giống Thú biết khôn! Nếu loài Người quả là một giống Thú biết khôn, thì chẳng là uổng sanh cái kiếp làm loài Người lắm chăng? Vì cũng chẳng biết bao nhiêu là thú biết khôn vậy, chớ chẳng phải có một giống Người mới là biết khôn mà thôi. Thì hãy xét coi, cũng chỉ là một giống Thú với nhau, mà có con nầy lại khôn hơn con kia nhiều, vậy thì những con khôn hơn ấy cũng đều được gọi là Người hay sao? Nếu Người mà chỉ biết tự gọi mình rằng là Người, là khôn hơn Thú mà thôi, thì Người nầy sanh ra đặng làm chi? Trời sanh ra loài Thú đặng giúp đỡ cho Người, còn sanh ra loài Người đây đặng khôn hơn Thú, đặng bắt Thú giúp cho Người hay sao? Giúp cho Người đặng làm chi? Xét rõ các điều đó, thì các trò thấy rằng Người là Người, Thú là Thú, cũng như Lúa là Lúa, mà Cỏ là Cỏ vậy.
There is no place in the whole world where there is no kind of Rice, just as there is no place where there is no kind of Man; for wherever there is Earth there is Rice and there is Man — and only where there is Man does the Earth truly become Earth. Try to examine this: was that Rice born of Heaven, or born of Earth? Was this Man born of Earth, or born of Heaven? Why does everyone say that wherever there is Earth there is Grass? Is that Rice, then, also a kind of Grass? If Rice is also a kind of Grass, then is Man’s eating of Rice the same as the beast’s eating of Grass? There is a kind of beast that must eat Grass, and a kind of Man that must eat Rice; and even that beast which must eat Grass knows that Rice is tastier than Grass — but among this kind of Man that must eat Rice, is there any that praises Grass as tastier than Rice? Suppose it were said that the beast, knowing Rice to be tastier than Grass, goes seeking Rice to eat, while Man — being a beast that has grown clever — no longer needs to give Grass a thought, and so sows and plants the various kinds of Rice in order to eat them: if that were truly so, if that were truly the case, then Man would indeed be nothing but a clever beast! What a pity — to have been born and to stand within the rank of the Human Kind, and yet to allow oneself to be called a clever beast! If mankind were truly just a clever kind of beast, would it not be a great waste to have been born into this life as a Human? For there are countless clever beasts as well — it is not only the Human Kind that is clever. Consider: among beasts of one and the same kind, one is often much cleverer than another — are those cleverer ones therefore all to be called Man? If Man knows only to call himself Man, cleverer than the beast and nothing more, then what was this Man born for? Did Heaven bring forth the beasts to help Man, and bring forth Man to be cleverer than the beasts, so as to make the beasts serve him? And serve Man toward what end? Examining these matters clearly, you will see that Man is Man and Beast is Beast, just as Rice is Rice and Grass is Grass.
Các bực Hiền Triết Tiền Bối đều nói rằng : Loài Người là một vật khôn hơn muôn vật, chớ nào có nói rằng loài Người là một vật khôn hơn muôn Thú đâu. Vì vật là Vật, gồm đủ các loài, chớ chẳng phải một loài Thú đủ gọi là vật được. Cái xác thịt của Người đây cũng là một vật trong muôn vật vậy, những món chi có hình thể, có khí chất, đều gọi là Vật, nên mới có tiếng gọi chung là vật chất, nhưng phải chia ra làm nhiều chất nào là hình chất, nào là thể chất, nào là khí chất, nào là vật chất, chia như vậy cho dể phân biệt. Như Trời, Biển, Sông, Núi, Đất, Nước, Cỏ cây, Cầm Thú, Vật dụng, đều là Vật hết thảy, vì vậy nên có tiếng gọi chung là Võ Trụ Vạn Vật. Lại còn những món chi tuy vô hình, song trong óc Người có đem tư tưởng đặng tưởng tượng ra có trước có sau, có nên, có hư, có phải, có quấy, có được, có không, thì cũng gọi là Vật vậy, nhưng đổi tên nó lại kêu là Sự, vì Sự là một Vật không có hình, nhưng mà nó đã có Thể cho tư tưởng của Người tưởng tượng nó ra được, vì nó có Lý. Vì nó có Lý nên nó mới có thể đựng cái tư tưởng vào óc của Người được, nên mới có tiếng gọi là Vật Lý, Sự Lý.
The wise sages and philosophers of former times all said: Mankind is a thing more clever than the myriad things — they never said that Mankind is a thing more clever than the myriad beasts. For a Thing (Vật) is a Thing, embracing every kind of being; a single kind of beast is not enough to be called “things.” The fleshly body of Man here is likewise one thing among the myriad things. Whatever has form and substance-energy is called a Thing — hence the common word “material substance” (vật chất) — though it must be divided into several kinds: form-substance, body-substance, energy-substance, and material-substance, divided thus so that they may be more easily told apart. Heaven, Sea, River, Mountain, Earth, Water, Grass and Trees, Birds and Beasts, Utensils — all are Things, which is why there is the common name the Universe and the Myriad Things (Võ Trụ Vạn Vật). Furthermore, there are things that, though formless, are still pictured by Man’s mind in thought as having a before and an after, a success and a ruin, a right and a wrong, a gain and a lack — and these too are called Things, but their name is changed to Affairs (Sự); for an Affair is a Thing without form, yet it has a Body that Man’s thought can picture, because it has Principle (Lý). Because it has Principle, it can be held as thought within Man’s mind — and so there come to be the terms “Principle of Things” (Vật Lý) and “Principle of Affairs” (Sự Lý).
Loài Người sở dĩ được gọi rằng khôn hơn muôn Vật là nhờ có cái Đức rất Sáng của Trời ban cho. Cái Đức rất Sáng ấy gọi là Linh Tánh hay Linh Hồn. Người có Linh Tánh ấy nên mới biết cội rễ của Con Người gốc nơi Trời mà ra, từ Trời mà có, nên phải lo giúp Trời hành Đạo. Người nhờ có Linh Tánh ấy và phận sự như vậy, nên có thể giao thông với Trời. Sự giao thông ấy gọi là Cảm Ứng. Trời Người Cảm Ứng với nhau chẳng hề sai chút phân hào cũng như kim nam châm với đá từ thạch vậy ; hai vật là hai vật khác nhau, nhưng nếu chẳng gần nhau thì thôi, bằng gần nhau thì Khí Chất và Tánh Chất nó liền rút hít với nhau. Nếu chẳng được vậy, thì nghĩa là trong hai Vật ấy ắt có một Vật, hoặc kim bị sét, hoặc đá bị chết nên mất cái Tự Nhiên của nó rồi, nên cái Chất Vật của nó tuy còn nguyên đó, song cai Khí Chất hay là cái Tánh Chất của nó đã tuyệt rồi nên nó mới không hưởng ứng với nhau được. Người cũng vậy, nếu Người không Cảm Ứng được với Trời, là cũng do nơi cái Linh Căn của Người đã hư, đã mục, khiến cho Linh Tánh không còn được Linh Thông, Linh Hồn phải bị mê muội mà ra đó.
The reason Mankind is said to be more clever than the myriad Things is that it has received from Heaven the gift of a Most Luminous Virtue. This Most Luminous Virtue is called the Numinous Nature (Linh Tánh) or the Divine Soul (Linh Hồn). Because Man has this Numinous Nature, he knows that the root of Man has its origin in Heaven — comes forth from Heaven, exists from Heaven — and so he must take care to help Heaven carry out the Way. Thanks to this Numinous Nature and to this duty, Man is able to communicate with Heaven. This communication is called Resonance (Cảm Ứng — literally “stimulus and response”). The Resonance between Heaven and Man never errs by even a hair’s breadth, just as a magnetic needle and a lodestone: they are two different things, and if they are not near each other, nothing happens; but when they are near, their Energy-substance and Nature-substance at once draw and cling to each other. If this does not happen, it means that one of the two things must be defective — either the needle has rusted, or the stone has died and lost its Naturalness — so that although the material body of each remains whole, its Energy-substance or Nature-substance has been cut off, and thus they can no longer respond to one another. It is the same with Man: if Man cannot Resonate with Heaven, it is because his Spiritual Root (Linh Căn) has spoiled and rotted, so that the Numinous Nature can no longer penetrate freely and the Divine Soul has fallen into delusion.
Đã gọi rằng Trời Người Cảm Ứng với nhau được, nhưng trong sự Cảm Ứng ấy, chẳng phải tự Trời tạo trước, ấy là do nơi Người gây lấy, hễ Người gây điều lành thì được lành trả, mà gây dữ thì có dữ đền, cũng như trồng dưa thì được dưa, trồng đậu, thì được đậu vậy ; giây Cảm Ứng nối chặt Trời với Người cũng như ánh sáng dọi Hình với Bóng vậy. Giây cảm ứng do nơi đâu mà được ảnh hưởng chắc chắn như vậy? Ấy là do nơi mộ cái Lý mà thôi. Lý ấy bởi tự nơi Trời, mà Trời đã trao một Mối nơi Tâm Người rồi. Nếu Người biết gìn giữ Lương Tâm cho chánh đáng đặng làm cho trúng Lý, thì cái Mối ấy nó sẻ Cảm vào Mối Chánh nơi Trời thì tự nhiên cái Mối nơi Trời nó sẽ Ứng lại cho Trúng Lý ; bằng Mối Cảm mà sai, thì Mối Ứng sẻ lạc và Người sẻ bị rối. Nếu Mối Cảm nơi Người mà chẳng lạc, thì nghĩa là đi trúng Đường, hễ trúng Đường thì là Nhằm Đạo, nên mới có tiếng Đạo Lý. Đạo Lý lúc phát ra đặng Cảm một Mối chi, thì gọi là Tánh, nên cũng có tiếng gọi là Tánh Lý. Đạo Lý ấy tuy chứa ở nơi Tâm Con Người, mà Nguồn Cội của nó là ở nơi Trời, nếu ai biết do nơi Nguồn Cội mà làm thì trúng Con Đường Chơn Lý đó, nên mới có tiếng gọi Đạo là Chơn Lý mà Chơn Lý là Đạo vậy.
It is said that Heaven and Man can Resonate with one another, but in this Resonance, it is not Heaven that first creates it — it is Man who brings it about: if Man sows good, good is repaid; if he sows evil, evil is requited — just as planting melons yields melons and planting beans yields beans. The cord of Resonance that binds Heaven and Man tightly together is like light that casts Form and Shadow. By what means does this cord of Resonance produce so sure an effect? It is through one Principle alone. That Principle comes from Heaven, and Heaven has already placed one Thread (Mối) within Man’s Heart. If Man knows how to guard his Conscience rightly so as to act in accord with Principle, then that Thread will Stimulate the Right Thread in Heaven, and naturally the Thread in Heaven will Respond in Accord with Principle; but if the Thread of Stimulus goes wrong, the Thread of Response will stray, and Man will be thrown into confusion. If the Thread of Stimulus in Man does not stray, that means he is walking on the right Road; and to walk the right Road is to hit upon the Way — hence the term Principle of the Way (Đạo Lý). When the Principle of the Way arises and stimulates some Thread, it is called Nature (Tánh), and so there is also the term “Principle of Nature” (Tánh Lý). Though this Principle of the Way is stored within Man’s Heart, its Source and Root lie in Heaven; whoever acts by returning to that Source and Root will hit upon the Road of True Principle — and this is why the Way is called True Principle, and True Principle is the Way.
Người được gìn giữ Lương Tâm cho trọn Thiên Tánh, do theo Chơn Lý làm cho trúng Đạo Lý, mới thật là đáng gọi Con Người, là thật Người khôn hơn muôn Vật đó. Người được vậy, mới đem cả Võ Trụ Vạn Vật vào lòng, đặng làm Một với mình, mới có thể giúp ích cho nhơn loại quần sanh, mới hiểu sự thay thế cho Trời là thể nào, đặng làm cho trúng Thiên Lý, mới rõ thấu Thiên Lý là Thiên Đạo vậy. Các trò xét rõ coi Tâm Lý, Tánh Lý, Đạo Lý, Chơn Lý thảy đều do nơi một Con Đường của trời ban phú cho Người thì Con Đường ấy là ch? Có phải là Thiên Lý chăng? Bởi vậy nên có chỗ gọi Thiên Đạo là Thiên Lý nơi Tâm. Người có được Thiên Lý nơi Tâm rồi, thì mới biết làm phận sự cho trúng Đạo, nhưng mà đến lúc Thiên Lý ấy đã được ở vào Tâm rồi, thì chẳng gọi là Nhơn Lý, mà gọi là Nhơn Đạo. Bởi Người phải do nơi Lý đặng làm Đạo mà thôi – Ở nơi Người thì không có Lý, cũng như ở nơi Trời thì không có Trí. Lý là của Trời, Trí là của Người riêng, nó sanh ra bởi nơi cái Tập Tánh của Người đặng tranh lấn lẩn nhau theo cái Ý riêng của Người muốn. Vì vậy nên có tiếng gọi là Lý Trí. Người nếu dùng Lý Trí mà hành Đạo, tức là trộm danh Thiên Lý của Trời vậy. Hễ trộm danh Thiên Lý mà hành Đạo, thì tự nhiên phải phá hại Nhơn Đạo của Người vậy. Lý vẩn có Một là ở nơi Trời phú, nào có ở trong Trí của Người đem tư tưởng riêng mà tưởng tượng nó ra được cho trúng với tự nhiên bao giờ?
The Person who is able to guard his Conscience so as to keep his Heavenly Nature whole, following True Principle so as to accord with the Principle of the Way — only such a one truly deserves the name Man, the Man who is truly more clever than the myriad Things. Being thus, he can take the whole Universe and all its Myriad Things into his heart and become One with himself; only then can he benefit humankind and all beings; only then does he understand what it is to stand in Heaven’s stead, so as to act in accord with Heaven’s Principle, and understand thoroughly that Heaven’s Principle is Heaven’s Way. Examine it clearly, disciples: the Principle of the Heart, the Principle of Nature, the Principle of the Way, and True Principle all come from one single Road that Heaven has bestowed upon Man — so what is that Road? Is it not Heaven’s Principle? That is why in some places the Way of Heaven is called Heaven’s Principle within the Heart. When Man has Heaven’s Principle within his Heart, he then knows how to perform his duty in accord with the Way; but once that Heaven’s Principle has come to dwell in the Heart, it is no longer called “Human Principle” but the Human Way (Nhơn Đạo). For Man must do the Way through Principle, and no more — in Man there is no Principle of his own, just as in Heaven there is no Cleverness (Trí). Principle belongs to Heaven; Cleverness belongs to Man alone, born of Man’s habitual nature (Tập Tánh), with its jostling and encroaching upon one another according to each Person’s own private Intention — hence the term “Reason” (Lý Trí). If Man uses Reason to practice the Way, he is stealing the name of Heaven’s Principle; and to steal the name of Heaven’s Principle in practicing the Way is naturally to ruin the Human Way. Principle is always One, bestowed by Heaven; how could it ever be pictured by Man’s Cleverness, imagined out of his own private thoughts, so as to accord with the Natural?
Các trò nghe kỹ những lời Ta đã nói, rồi các trò tự xét rõ coi trong thế gian này, trên mặt trái đất này, có mấy hạng Người, Người bực nào nhiều, bực nào vừa vừa, bực nào ít, rồi các trò liền thấy bực nào phận sự để dành làm chi, chẳng cần ta phải giải nữa.
Listen closely to the words I have spoken, and then examine for yourselves — in this world, upon the face of this earth — how many ranks of People there are: which rank is many, which is moderate, which is few; and then you will see at once what each rank’s duty has been reserved for, without my needing to explain further.
Muốn cho các trò rõ thêm đặng xét cho trúng Lý, nên Ta đã bảo các trò hảy xét lấy hột Lúa thì rõ. Kìa Lúa với cỏ, nó khác nhau bởi chi? Hay là các trò nói Lúa là một giống có ích lợi, còn Cỏ là một giống vô ích hay sao? Giống nào cũng dều có ích cho nhơn loại hết thảy. Nếu các trò gọi Cỏ là giống vô ích, thử các trò đem một giống nào đến một chỗ đất nào không Cỏ coi các trò trồng gieo thứ giống của các trò muốn đó có được sống cùng chăng? Hỏi như vậy chắc các trò trả lời rằng: không, vì nếu Đất nào không Cỏ, thì chỗ đất ấy đã chai, hết Sanh Khí rồi, nên không thể gieo trồng vật chi, giống chi hết – Các trò rất lầm. Sao các trò không xét coi tại sao chỗ đất ấy chai, tại sao hết Sanh Khí ? Tạo Hóa nào có sanh chỗ Đất nào mà chai, hết Sanh Khí đâu. Nếu nó chai hay là hết Sanh Khí, là Duyên bởi các trò làm cho nó mất hết cái Tự Nhiên của nó mà thôi đó. Các trò đã quá dùng cái Sự Sống Tự Nhiên của nó nên nó mới chai, mới hết Sanh Khí đó. Các trò đã rút hết cái Sanh Khí của nó, đặng các trò thâu dụng làm sự ích lợi riêng cho các trò, mà các trò chẳng biết Nuôi Dưỡng lấy nó sao các trò trở lại đổ thừa rằng nó chai, nó hết Sanh Khí ? Nếu các trò chịu khó bón phân vào đặng Nuôi Dưỡng nó, rồi cho nó hấp thọ cái Lý Tự Nhiên Khí Hóa của Võ Trụ trong một thời gian, thử coi Sanh Khí của nó có trở lại và Cỏ sẽ mọc xanh rậm cùng chăng? Nếu Cỏ đã mọc xanh rậm được rồi, thì Cỏ nầy sẽ vun bồi cho miếng Đất chai hết Sanh Khí kia trở lại tươi tốt, thì nào có thứ giống nào mà các trò gieo xuống mà không mọc! Lương Tâm của Con Người cũng thế.
So that you may understand still more and examine matters so as to accord with Principle, I told you to examine the grain of Rice, and it will become clear. Look at Rice and Grass — in what do they differ? Or would you say that Rice is a useful kind, while Grass is a useless kind? Every kind is useful to humankind. If you call Grass a useless kind, then try bringing some seed to a piece of land where there is no Grass, and see whether whatever seed you wish to sow there will live or not. Asked so, you will surely answer: “No — for land where there is no Grass is already hardened and has lost its Life-force (Sanh Khí), so nothing whatever can be sown or planted there.” — You are very mistaken. Why do you not examine why that land has hardened, why it has lost its Life-force? The Creator never brought forth any piece of Earth that was hard and without Life-force. If it has hardened or lost its Life-force, that is the fate you have brought upon it, by making it lose all its Naturalness. You have overused its Natural Life, and so it has hardened and lost its Life-force. You have drained away its Life-force to take it for your own private benefit, without knowing how to Nourish it — and then you turn around and blame it, saying it is hard and has lost its Life-force! If you would take the trouble to spread fertilizer to Nourish it, and then let it absorb the Natural Principle of the Energy-Transformation (Lý Tự Nhiên Khí Hóa) of the Universe for a time, try and see whether its Life-force does not return and the Grass grow thick and green! And once the Grass has grown thick and green, this Grass will in turn enrich that hardened, Life-force-less patch of Earth and restore it to freshness and vigor — and then there is no seed you could sow that would not sprout! The Conscience of Man is just the same.
Ta dùng Đất làm tỷ dụ cho Lương Tâm Con Người, chắc các trò trách Ta nỡ dùng một Vật vô tri vô giác như vậy đặng làm tỷ dụ thí với Lương Tâm. Sao các trò chẳng xét coi cái Tri Giác là cái chi? Sao các trò nỡ gọi Đất là một Vật vô Tri Giác. Vậy chớ Vật nào có Tri Giác? Các trò tưởng Người có Tri Giác lắm sao? Các trò hãy Định Tâm lại xét lời Ta đây cho kỹ. – Tri-Giác vận động cho Thiên Lý nơi Lương Tâm, gồm có hai phần là Sự và Vật, song nó Vô Hình. Tuy nó là Vô Hình mà nó vẫn cứ thuận theo Lý Tự Nhiên. Còn cái Tri Giác vận động phần Nhơn Dục của Vọng Tâm nó cũng gồm có Sự và Vật vô hình vậy, song le hễ mỗi lần Vọng Tâm phát ra thì sa ngã qua về những Sự Vật Hữu Hình. Bởi chuộng về Hữu Hình, nên nó mới phá hại Sanh Khí và Khí Lực Tự Nhiên của nó, lại thường khi nó phải đốn phải hủy lấy cái Thiên Ngươn của nó mà nó không hay; trái lại nó còn tự đắc khoe rằng thắng được Thiên Lý. Vì sao vậy? Vì Người mảng quen dùng Lý Trí, chớ ít thấy ai tuân Đạo Lý. Thử nghĩ coi, nếu vậy thì Lương Tâm nó còn được trọn không? Còn Đất kia, cả thảy các mặt Đất kia, cả thảy các giống Đất kia, có thứ Đất nào mà tự nhiên nó, nó có phá lấy cái Sức Tự Nhiên của nó hay không? Có thứ Đất nào mà tự nhiên nó, nó có sửa cái Lương Tri của nó hay không? Có thứ Đất nào mà tự nhiên nó, nó có phá cái Lương Năng của nó hay không? Nếu tự nhiên nó, nó không phá, không sửa, không cãi Sự Tự Nhiên của nó, thì tự nhiên nó, nó ắt giữ gìn cái Lương Tri Lương Năng của nó hoài.
I used Earth as a comparison for Man’s Conscience, and you surely blame me for using so senseless and unfeeling a Thing as a comparison for Conscience. Why do you not examine what Perception (Tri Giác) truly is? How can you bring yourselves to call Earth a Thing without Perception? Then what Thing does have Perception? Do you think Man has so much Perception? Settle your Minds (Định Tâm) and examine my words carefully. — Perception that moves in the service of Heaven’s Principle within the Conscience comprises two parts, Affairs and Things, though it is Formless. Though it is Formless, it still follows the Natural Principle. As for the Perception that moves in the service of Human Desire in the Reckless Mind (Vọng Tâm), it too comprises formless Affairs and Things — but each time the Reckless Mind arises, it stumbles over toward Affairs and Things that have Form. Because it prefers the Formed, it destroys its own Life-force and Natural Energy-strength, and often must cut down and ruin its own Heavenly Root without knowing it; on the contrary, it boasts proudly that it has conquered Heaven’s Principle. Why is this so? Because Man is accustomed to using Reason, and rarely does one see anyone obey the Principle of the Way. Think it over: being so, can Conscience still remain whole? But as for Earth — all the surfaces of the Earth, all the kinds of Earth — is there any kind of Earth that, of its own natural accord, destroys its own Natural Strength? Is there any kind of Earth that, of its own natural accord, tampers with its own Innate Knowing (Lương Tri)? Is there any kind of Earth that, of its own natural accord, destroys its own Innate Capacity (Lương Năng)? If, of its own natural accord, it does not destroy, does not tamper with, does not defy its own Naturalness, then of its own natural accord it surely keeps its Innate Knowing and Innate Capacity forever.
Cái Vật mà tự nhiên nó, nó không sửa, không phá, không làm hư Lương Tri Lương Năng Tự Nhiên của nó, thì còn có Vật nào mà giữ trọn được Lương Tâm hơn nó nữa không? Ta dùng một Vật như vậy đặng tỷ dụ cho Lương Tâm Con Người, sao các trò lại có ý trách Ta và chê Đất rằng không Lương Tâm? Bởi Đất có Lương Tâm mà lại còn biết gìn giữ nguyên trọn Lương Tâm của nó, biết thi hành theo Lương Tri, Lương Năng của nó nên Thiên Tánh của nó chẳng hề sai, vì Thiên Tánh ấy là Lương Tri Lương Năng chứa đựng sẵn có trong Lương Tâm vậy.
If there is a Thing that, of its own natural accord, does not tamper with, does not destroy, does not spoil its own natural Innate Knowing and Innate Capacity — is there any Thing left that keeps its Conscience whole better than that one? I used such a Thing as a comparison for Man’s Conscience; why do you take it upon yourselves to blame me and slight Earth as having no Conscience? Earth does have Conscience, and moreover it knows how to keep that Conscience whole and unbroken, and knows how to act according to its Innate Knowing and Innate Capacity, so its Heavenly Nature never errs — for that Heavenly Nature is precisely the Innate Knowing and Innate Capacity stored within the Conscience.
Muốn cho các trò rõ chắc Lương Tâm và Thiên Tánh của giống Đất, Ta cần phải chỉ rõ thêm nữa, đặng xét cho kỹ. Có mặt Đất, giống Đất nào mà không lo làm bổn phận nó không? Bổn phận nó là gì? Là nó phải lo như các trò đã nói rằng: hễ có Đất thì có Cỏ đó. Đất có nhiều mặt, nhiều giống, nên Cỏ có nhiều thứ, nhiều loài, tùy theo chỗ đặng nó lo nó sanh nó hóa thêm ra hoài, chớ nó chẳng hề nghỉ ngơi giây phút, chẳng hề dám để trống một chỗ nào mà không có chịu được sự sanh hóa của nó, dầu cho tận dưới đáy biển, là một chỗ cỏ cây bông trái không thể mọc được, hay là tột chót đầu non, đá dựng cũng là một chỗ khó bề cho cây trái đâm chồi nức rễ, hoặc là mấy chỗ hố thẫm hang sâu, mà nó cũng kiếm đủ phương thế đặng lo sanh hóa đủ các thứ cây, củ, rong, rêu cao thấp, lớn nhỏ, đứng bò, chẳng hề thiếu sót, hoặc để hở một mặt nào; trái lại những chỗ như vậy, thì nó lại hóa ra những kỳ hoa dị thảo, cùng là những vật quí, thuốc hay hơn nữa là khác. Bổn phận của Đất là lo tròn như vậy, các trò thử nghĩ coi, nó có Lương Tâm hay không? Nó có Tri Giác hay không? Nó biết vận động hay không? Nó có làm điều chi trái với Tự Nhiên nó và mất Thiên-Tánh nó hay không? Có phải là như vậy mới gọi rằng đủ Lương Tri và Lương Năng hay không? Còn phần các trò thì sao?
To make you certain of the Conscience and Heavenly Nature of the kind called Earth, I must point it out to you still further, so that you may examine it closely. Is there any surface of Earth, any kind of Earth, that does not busy itself with its duty? What is its duty? It is as you have said: wherever there is Earth there is Grass. Earth has many surfaces and many kinds, and so Grass comes in many varieties and species, according to the place where it labors, ceaselessly bringing forth and transforming more and more; it never rests for a single moment, and never dares to leave a single place empty, without receiving its bringing-forth and transforming — even at the very bottom of the sea, a place where grass, trees, flowers and fruit cannot grow; or at the very peak of a mountain, where standing rock makes it hard for trees and fruit to sprout and root; or in deep pits and hollow caves — even there it finds every means to labor at bringing forth all kinds of plants, tubers, seaweed and moss, tall and short, large and small, upright and creeping, leaving nothing lacking and no surface bare; on the contrary, in such places it transforms itself into rare flowers and wondrous herbs, and precious things, and fine medicines besides. This is how completely Earth fulfills its duty; consider, then: does it have Conscience or not? Does it have Perception or not? Does it know how to move and act, or not? Does it do anything that goes against its own Naturalness and loses its Heavenly Nature? Is this not what is meant by having full Innate Knowing and Innate Capacity? And as for you — how is it with you?
Đất đã chẳng những biết sanh các thứ cây cỏ mà thôi, nó còn lại biết hóa sanh các thứ cá tôm rùa trạch vậy. Nó đã biết hóa sanh đủ, mà lại cũng nuôi dưởng trọn, chẳng hề bỏ một vât nào thất thường đói khát. Xét vậy coi Lương Tâm nó có sót chỗ nào không? Còn phần các trò có được như vậy hay không?
Earth not only knows how to bring forth all kinds of plants and grasses; it also knows how to transform and bring forth all kinds of fish, shrimp, turtles and loaches. It knows how to bring forth all of them, and also to nourish them fully, never leaving a single creature to go irregularly hungry or thirsty. Consider it: is there any place where its Conscience falls short? And as for you — can you say the same of yourselves?
Sông núi kia ai sanh, châu báu nọ ai sắm, lâm sản khoáng sản ấy bởi đâu mà có? Thực vật hoá vật đó nhờ đâu mà ra, có phải đều do nơi Đất tạo sẵn, sanh sẵn, chứa sẵn hay không? Cái sức Lương Tri Lương Năng của nó như vậy, có đầy đủ trọn tốt trọn lành hay không? Còn phần các trò thể nào?
Who brought forth the rivers and mountains, who furnished those precious jewels, where do forest products and mineral products come from? Where do plants and minerals come from — are they not all created, brought forth, and stored up in advance by the Earth? Such is the strength of its Innate Knowing and Innate Capacity — is it not complete, perfectly good and perfectly wholesome? And as for you — how is it with you?
Ta từng nghe Đức Chí Tôn dạy phận sự của các trò là: phải mở mang khắp cõi Hồng Hoang và lập xong danh phận Tam Tài phòng có ngày trở về Hiệp Nhứt với Người nơi Bạch Ngọc Kinh, vì vậy nên các trò chuyên lo xét cùng tột sự Lý của mỗi Vật của Tạo Hóa đã hóa sanh ra nơi trong không gian và nơi thế hạ này. Các trò đã hết sức mới tìm thấy biết được những báu vật ấy, rồi biết chia ra làm năm loài, gọi chung là Ngũ Hành, biết phân biệt ra Âm Dương Khí Chất, biết lợi dụng điển lực không gian, biết chế biến những vật hữu hình càng ngày càng tinh xảo, biết tô điểm núi sông đất nước được thêm vẻ lịch, biết giúp sức sự sanh hóa cho nhơn loài và mở mang cõi Hồng Hoang như trách nhậm của Đức Chí Tôn giao phó. Đã chẳng gọi như vậy là đủ, lại hằng ngày còn lo tấn tới hoài hoài, dốc được đến cực điểm mới vừa ý, thật các trò chẳng phụ lời Đức Chí Tôn ký thác đó. Các trò có tâm chí như vậy, lẽ đâu Ta còn để tiếng trách móc được nữa, nhưng vì ngày nay Ta vưng Lịnh đến Giám Đốc Đạo Tràng, chẳng lẽ chẳng có điều chi khác chỉ điểm thêm cho hay sao? Vậy nay Ta khuyên các trò hãy xét kỹ lại lời của Đức Chí Tôn đã dạy kia lại cho rõ thêm coi Người dạy làm sao, thì mới thấy phận sự các trò phải làm làm sao mà làm mới trúng lời dạy cho chớ!
I have heard Đức Chí Tôn teach that your duty is this: you must open up the whole Primordial Realm (Hồng Hoang) and establish the proper stations of the Three Powers (Tam Tài), so that one day you may return and become One with Him at the White Jade Palace. For this reason you have devoted yourselves to searching out, to the utmost, the Principle of every Thing the Creator has brought forth and transformed into being throughout space and in this lower world. Through your utmost effort you have come to know these treasures, and have learned to divide them into five kinds, called together the Five Elements; you have learned to distinguish Yin and Yang, Energy and Substance; you have learned to make use of the electric force of space; you have learned to refine the things of form, ever more skillfully; you have learned to adorn mountain, river, land and water with still greater beauty; you have learned to aid the generative transformation of mankind, and to open up the Primordial Realm, as the duty Đức Chí Tôn entrusted to you. Not content to call this enough, you labor day after day to advance still further, striving toward the utmost point before you are satisfied — truly you have not betrayed the charge Đức Chí Tôn confided to you. With such resolve in your hearts, how could I still have cause to reproach you? And yet, since I come today under Command to direct this Hall of the Way, is it not fitting that I point out something further still? So now I counsel you: examine again, closely, the words Đức Chí Tôn once taught, to understand more clearly just how He taught it — only then will you see just how your duty must be carried out, to be true to His teaching!
Có lẽ nào Đức Chí Tôn ân cần khuyên nhủ các trò hãy mở mang khắp cõi Hồng Hoang và lập xong danh phận Tam tài, đặng Hiệp Nhứt với Người nơi Bạch Ngọc Kinh thì có, chớ nào có dạy mở mang khai khẩn ruộng đất hoang vu rừng rú nơi thế hạ này, đặng làm của riêng lại còn góp thâu hoa lợi mà tiêu xài đâu! Các trò sao chẳng xét coi cõi Hồng Hoang là cõi nào? Biết rõ cõi ấy ở đâu thì mới lập danh phận được chớ. Tam Tài là chi? Ở đâu? Biết được thì mới lập danh phận được, bằng không biết được thì làm sao cho xong! Đức Chí Tôn dạy việc một nơi, mà các trò làm việc một ngã, bảo sao mà không vay trả trả vay!
Could it truly be that when Đức Chí Tôn so earnestly counseled you to open up the whole Primordial Realm and establish the stations of the Three Powers, so as to become One with Him at the White Jade Palace — could it truly be that He was teaching you to clear and cultivate the wild, untamed fields and forests of this lower world, to make them your own private holding, and to gather in their yield for your own spending? Why do you not examine what Realm the Primordial Realm truly is? Only once you know clearly where that Realm lies can its station be established. What are the Three Powers? Where are they? Only once you know this can their station be established — without knowing, how can it ever be accomplished? Đức Chí Tôn teaches one thing, and you carry it out another way — how, then, can there fail to be borrowing without repayment, and repayment without end?
Các trò đã biết và đã nhìn nhận lớp cao xanh lộng lộng biệt mù kia là Trời, khối hành tinh cứng đặc mà các trò đứng ở đây là Đất và các trò đó là Người, nên các trò kêu ba vật ấy là Tam Tài, vậy cá trò có hiểu Tam tài là Ba hay là Một? Nếu gọi rằng Một sao Vật có Ba? Nếu gọi rằng Ba sao Lý có Một? Mà trong lòng Ba hoặc Một, Một hoặc ba đó, có chứa những chi? Ta hỏi vậy, thấy các trò bợ ngợ, muốn trả lời, song vì chưa thông cho trọn, có trò muốn đáp rằng Ba, mà chia làm sao cho ra Ba chưa rành, cũng có trò muống đáp rằng Một, mà hiệp làm Một cũng chưa đúng. Trò nào cũng vậy, cũng đều biết rằng Một, nhưng mà tính và nói làm sao cho ra rằng Một, tự mình nghe cũng biết rằng tính và nói như vậy không được rõ, song cũng nói bướn, cãi bướn, nói hoài cãi hoài, hễ Một của ai, thì nghĩa Ba của nấy, mà nói Ba của ai thì nghĩa Một của nấy, hóa ra chẳng biết bao nhiêu là Một, mà cũng chẳng biết bao nhiêu là Ba; Trời nào thì Người nấy Đất nấy; Đất Người, Ngưòi Đất nào thì Trời của nấy; cũng bởi vì cái cách hiểu không chắc mà vẫn nói hoài cãi hoài nên ra như vậy. Đã chẳng biết bao lâu đời rồi, vẫn như vậy hoài, song cũng chẳng thấy ai chịu học, chịu hỏi, chịu tấy cho chắc rồi sẽ làm, sẽ chỉ, sẽ dạy cho người khác, nhưng cũng vẫn bàn bàn cãi cãi hoài không ai chịu nhượng ai. Cớ ấy bởi sao vậy? Đều bởi các trò chẳng chịu nhớ chắc coi trong lòng Tam Tài ấy có chứa những chi, vì vậy nên mới ai có phần phải nấy, không nhứt định, mà chẳng được hòa, rồi sanh ra sự bàn cãi chia rẽ nhau vậy đó. Ta nay cũng chìu các trò, nên phải nhắc lại cho. Đức Chí Tôn và chư Thiên đã dạy đã chỉ cho các trò biết bao phen rồi, bởi các trò chịu nói theo ý riêng mà không chịu nhớ lời dạy chánh đáng của Trời; cũng có khi đã hiểu lời dạy của Trời, nhưng lời dạy ấy sái ý của mình mà cũng mượn lấy có đặng làm chứng rồi giải ra một nghĩa khác mới chịu cho.
You have come to know and to recognize that vast, boundless blue expanse above as Heaven, the solid mass of earth on which you stand as Earth, and yourselves as Man, and so you call these three Things the Three Powers. But do you understand whether the Three Powers are Three, or One? If it is said that they are One, how is it that the Thing is Three? If it is said that they are Three, how is it that the Principle is One? And within that Three, or that One, what do they contain? When I put this question, I see you falter, wishing to answer, yet not having grasped it fully — some of you wish to answer Three, yet cannot clearly divide it into Three; others wish to answer One, yet cannot rightly unite it into One. Every one of you knows, in some fashion, that it is One, yet cannot reckon or put into words just how it is One; you yourselves sense, on hearing your own answer, that your reckoning and your words fall short of clarity, and yet you go on speaking stubbornly, arguing stubbornly, speaking on and arguing on — whoever’s “One” it is, his “Three” follows from it, and whoever’s “Three” it is, his “One” follows from it, until no one can say how many “Ones” there are, nor how many “Threes”; each has his own Heaven for his own Man and his own Earth; each has his own Earth-and-Man for his own Heaven — all because your understanding is not sure, and so you go on speaking and arguing without end. This has gone on, unchanged, for who knows how many ages, and still no one is willing to study it, to question it, to settle it firmly before acting on it, showing it to others, teaching it to others — instead there is only endless discussion and dispute, with no one willing to yield to another. Why is this so? It is because none of you is willing to fix firmly in mind just what the Three Powers contain within them — and so each holds to his own portion of the truth, nothing is settled, no harmony is reached, and dispute and division are born from it. I will indulge you once more, then, and explain it again. Đức Chí Tôn and the Heavenly Host have taught and pointed this out to you countless times already, yet you insist on speaking according to your own private opinion rather than holding fast to Heaven’s proper teaching; and even where you have understood Heaven’s teaching, if it runs against your own wishes, you borrow it merely as evidence and then twist out of it some other meaning that suits you.
Này, các trò hãy nghe Ta nhắc lại cho mà nhớ: Trời, Đất và Người, trong lòng vẫn chứa một Sự Thường mà thôi. Thường ấy nghĩa là không thay đổi, không được không có, không được không không, không đủ, không thiếu, không dứt, không ngớt, không ngừng, không nghĩ, không mau, không chậm; Thường Thường hoài mà cũng Bình Thường hoài, muôn ngàn triệu ức kiếp như Một. Đã gìn giữ Sự Thường ấy được, giữ trọn vẹn như vậy, mà còn phải có Đức Tin chắc thiệt không sai. Làm sự Thường, giữ sự Thường, làm sự Thiệt, giữ sự Thiệt, làm và giữ hoài cho Thường và cho Thiệt cho trọn sự Tin, ấy là Vật của trong lòng Trời Đất và Người chứa sẵn đó. Được Thường được Thiệt được Tin, ấy bởi nơi Lý rất chắc rất vững, có Một không Hai, lý ấy là Chơn Lý vậy. Biết được Lý rất chắc rất vững, Làm và Giữ cho Thường cho Thiệt cho Tin, là Đạo của Trời, Đất và Người vậy. Trong sự Biết và sự Làm cho được Thường được Thiệt được Tin, ấy là do nơi Sự Sống, trong Sự Sống ấy cũng do nơi Hơi được Thường, được Thiệt được Tin, Hơi ấy tức là Ngươn Khí hay là Sanh Khí vậy. Ngươn Khí ấy có Thường, có Thiệt, có Tin thì mới có Sống, nên gọi Đạo là Sự Sống. Đạo, Chơn Lý, Ngươn Khí, mà phải cho Sống, nên gọi Một mà Ba, Ba mà Một vậy. Một ấy là Chi? Là Sự Sống vậy.
Now, listen closely, and remember what I tell you again: Heaven, Earth, and Man hold within them one single Constancy, and nothing more. Constancy means: unchanging; not becoming, yet not non-existent; not becoming nothing, yet not non-nothing; neither too much nor too little; unceasing, uninterrupted, unresting; not slackening, neither hurried nor slow — Constant, Constant always, and Ordinary, Ordinary always, the same through a myriad thousand million ages as through One. To keep that Constancy, to keep it whole and entire in this way, there must also be Faith, sure and true, without error. To do the Constant, to keep the Constant; to do the Real, to keep the Real; to do and to keep, ceaselessly, both the Constant and the Real, so as to make Faith whole and entire — this is the Thing that Heaven, Earth, and Man hold ready within them. That Constancy, that Reality, that Faith are attained through a Principle utterly sure, utterly firm, One and without a second — that Principle is True Principle (Chơn Lý). To Know that utterly sure, utterly firm Principle, to Do and to Keep the Constant, the Real, and the Faithful — this is the Way of Heaven, Earth, and Man. Within this Knowing and this Doing that attain the Constant, the Real, and the Faithful, there is Life; and within that Life there is likewise a Breath that is Constant, Real, and Faithful — that Breath is precisely the Primordial Energy (Ngươn Khí), or the Life-Force (Sanh Khí). Only when that Primordial Energy has Constancy, Reality, and Faith is there Life, and so the Way is called Life itself. The Way, True Principle, and Primordial Energy must all come together into Life, and so it is said: One yet Three, Three yet One. And what is that One? It is Life itself.
Thử xét coi ba Vật kia có Vật nào dám bỏ, dám rời sự Sống hay không? Sự Sống ấy Ba Vật đồng hưởng chung với nhau, hay là mỗi Vật tự mình hưởng riêng lấy của mình? Mà có Vật nào tự mình có riêng và giữ riêng lấy cho mình hay không? Hay là phải nhờ nhau mới có? Nhờ nhau mới Sống?
Consider, then: among those three Things, is there any one of them that would dare abandon, dare depart from, Life? Is that Life something the three Things share together in common, or does each Thing possess and enjoy its own share separately? Is there any one of the three Things that has Life entirely of its own, kept for itself alone? Or must each depend upon the others in order to have Life at all — depend upon each other in order to Live?
Trời, Đất một lòng làm tròn phận sự Tài năng tự nhiên của mình và ban bố sự Sống theo bổn phận, chẳng dám sai, duy có Người thì chẳng chịu. Đã chẳng chịu lập Tài làm sự Sống cho xong hiệp đủ Ba, trái lại còn sanh tâm phá hại hai Tài kia cho được mới vừa lòng. Các trò xét coi, có Người nào mà chẳng lo chẳng tính thế thần mưu chước, dốc làm làm sao phá cho được Sự Sống của Trời Đất đặng làm trò chơi cho mình tùy theo trí của nó tính tới bực nào, hay không? Tài năng của Trời Đất là làm cho ra Sự Sống đặng giúp Người, còn Tài năng của Người lại làm làm sao cho mất Sự Sống của Trời Đất đã làm, như vây bảo làm sao gọi được là lập xong danh phận Tam Tài? Chớ chi Người đã biết tìm ra Âm Dương Ngũ Hành Khí chất Sanh khắc Biến hóa của Trời Đất thể nào đủ hết rồi, thì đáng lẽ phải dùng lấy nó, đặng lập thêm cho trọn Tài năng của mình, đặng làm cho Sự Sống ấy, Sống thêm, cho Người Sống thêm mới gọi rằng lập xong danh phận Tam Tài cho, có lẽ đâu trộm dùng những Sự Sống của Trời Đất, hoặc Hữu hình, hoặc Vô hình, đặng chế tạo ra những vật khác thay đổi cả các Sự Sống tự nhiên của nó đã sẵn có, đặng gọi là Vật của Người sanh. Thử coi những vật gọi là vật của Người làm rồi được đó, nó còn có Sự Sống hay không? Mà nếu Người đem nó ra đặng công dụng, thì Người có Sống được với nó hay không? Hay là Người dùng nó đặng phá lấy Sự Sống của Người mà Người không hay? Nếu cứ một cách như vậy mà tiến hành cho đến cực điểm của lòng Người muốn, thì biết bao giờ trở về mà Hiệp Nhứt cho được! Bảo sao không luân hồi.
Heaven and Earth, single-heartedly, fulfill their own natural Powers to the full and bestow Life according to their proper duty, never daring to fail in it — only Man will not do so. Not content to establish his own Power so as to complete Life together with the other Two, he instead sets his heart on destroying the other two Powers, and is satisfied only once he has done so. Consider, disciples: is there any Man who does not scheme and calculate by every stratagem, bent on finding some way to destroy the Life of Heaven and Earth, to turn it into a plaything for himself, according to however far his cleverness can carry him? The Power of Heaven and Earth is to bring forth Life so as to help Man; but the Power of Man is turned instead toward finding ways to destroy the very Life that Heaven and Earth have made — how, then, can this be called having established the proper station of the Three Powers? If Man, having learned to trace out Yin and Yang, the Five Elements, Energy and Substance, and the generative and overcoming transformations of Heaven and Earth to their fullest, had then rightly made use of that knowledge to complete his own Power more fully, so that Life itself might Live all the more, and Man might Live all the more — only then could it truly be said that the station of the Three Powers had been established. But how can it be right to steal the Life of Heaven and Earth, whether of Form or Formless, in order to fashion other things that alter the very natural Life already given, and then call these the Things that Man himself has brought forth? Consider these things that are called “the things Man himself has made” — do they still possess Life? And if Man puts them to use, can Man truly Live together with them? Or does Man, in using them, unknowingly destroy his own Life through them? If matters are carried forward in this fashion, all the way to the utmost extreme of what Man’s heart desires, when will there ever be a return, a becoming One again? No wonder there is no escaping the wheel of transmigration.
Các trò có hiểu cõi Hồng Hoang là chỗ nào không? Các trò một gọi Hồng Hoang là chỗ đất cát rậm rạp hoang vu chưa khai phá nên dốc khai khẩn cho thành Điền, dầu cho núi non, sông biển, rừng suối, mỏ hầm, chi chi cũng lặn hụp bươi móc đào phá tìm kiếm trân châu bửu vật; các trò gọi làm như vậy là mở mang khắp cõi Hồng Hoang đó; các trò nào dè làm như vậy là rất sái với Luật Trời và sái hẳn với lời đã dạy.
Do you understand what place the Primordial Realm truly is? You take Hồng Hoang to mean some tract of tangled, untamed wilderness not yet broken to the plow, which must therefore be cleared and turned into cultivated fields; and so whether it be mountain or hill, river or sea, forest or stream, mine or pit, you dive and dig and search and root about after pearls and precious treasures — you call this “opening up the whole Primordial Realm.” Little do you realize that in doing so you go directly against Heaven’s Law, and directly against what you have been taught.
Chẳng có trò nào trước kia Chơn Thân Chơn Thể chẳng trọn lành trọn tốt, nhưng đều bởi sự tham vọng che khuất cả Chơn Ngươn, làm cho nó phải bị tối tăm, chẳng khác Ruộng tốt trở nên Đất hoang, thì giống tốt khó bề gieo cấy. Tâm Địa của Người cũng vậy, nếu đã bị tình dục choán phủ, thì chẳng khác ruộng kia bị hoang phế, nếu ai còn chút điểm Lương Tâm thì phải lo ruồng mở và bón phân thêm cho nó. Kẻ tá canh để ruộng hư thì vốn phải hết, nếu muốn tu bổ lại thì phải nhờ nơi chủ ruộng cho vốn thêm; các trò nếu để Tâm Điền hư hao thì Chơn Ngươn đâu còn trọn, nên cũng phải nhờ nơi Chủ Nhơn Ông ban cho Linh Quang thêm mới có thể trau giồi Bổn Lai xưa trở lại hoàn toàn.
There is not a single one of you whose True Body and True Substance was not, from the first, entirely good and entirely fine — but through covetous desire, the True Root has been overshadowed and thrown into darkness, no different from good farmland turned to wasteland, in which good seed can no longer be sown. So it is with Man’s Field of Heart (Tâm Địa): once it has been overrun and covered by carnal desire, it becomes no different from that same wasted field — yet if even a single spark of Conscience still remains, it must be tended, weeded, and given fresh manure. A tenant farmer who lets the land go to ruin has spent his whole capital, and if he wishes to restore it he must depend on the landowner to grant him further capital; so too, disciples, if you let your Field of Heart fall to ruin, how can the True Root remain whole? — you too must depend on the Master and Owner to grant you further Numinous Light, before you can cultivate and restore your Original Nature to wholeness again.
Các trò đã gọi là Người có chí Tu hành, sao chẳng hiểu cõi Hồng Hoang Đức Chí Tôn dạy mở mang ấy là nơi Tâm Địa của các trò, chớ nào phải Đất cát sông núi nào đâu, sao chẳng lo vun tưới nó cho trở nên một cõi Tâm Điền? Hễ Tâm Địa hết hoang vu thì Tâm Điền được phì nhiêu, tất hóa thành một cảnh Lương Điền. Lương Điền ấy là chi? Tức là Lương Tâm đó. Lương Tâm trọn lành trọn tốt, thì Thiên Tánh được phục nguyên, được vậy nào lo chi chẳng Hiệp Nhứt với Trời, bởi đó nên Ta đã giải rằng: « Trong Người có đủ Trời Đất và Người vậy », nhưng Người có trọn Ba Ngôi ấy trong lòng cùng không, là cũng do nơi Người có chí làm và giữ Sự Thường và cho trọn Đức Tin hay không mà thôi.
You who call yourselves People of resolve in cultivating the Way — why do you not understand that the Primordial Realm which Đức Chí Tôn taught you to open up is none other than your own Field of Heart, and no tract of earth, river, or mountain at all? Why do you not labor to till and water it, so that it may become a true Field of the Heart? Once the Field of Heart is no longer wild wasteland, the Field of the Heart grows rich and fertile, and in time becomes a true Field of Goodness. And what is this Field of Goodness? It is none other than the Conscience (Lương Tâm) itself. When the Conscience is wholly good and wholly fine, the Heavenly Nature is restored to its original state, and once that is so, what cause is there to fear not becoming One with Heaven? This is why I have explained before: “Within Man there is Heaven, Earth, and Man entire” — yet whether Man truly holds these Three Thrones whole within his heart depends only on whether Man has the resolve to act, to keep the Constant, and to keep Faith whole.
Trong Người đủ Trời Đất và Người, song Vô hình. Vô hình ấy là Lý, mà là Chơn Lý đó. Nhờ Chơn Lý Vô hình, nên sanh ra Ngươn Khí. Hễ có Ngươn Khí rồi, thì Lý Khí tức nhiên phải Hiệp, rồi Sanh Sanh Hóa Hóa, nên gọi là Lý Sanh Khí Hóa. Lý Khí là Sự sống cho Vật hữu hình nên muôn muôn trùng trùng hiện tướng ra trước mắt của các trò ngó thấy được. Các trò cũng đều bởi nơi Lý và Khí Vô hình đó Sanh và Hóa, nên mới có Sự Sống Hữu hình này, nên Người cũng là Vật vậy. Đạo cũng do nơi Lý Khí mà ra, nên Đạo cũng là một Vật vậy, chớ chẳng khác. Trời Đất đều dùng cả Tài năng vô hình của Trời Đất đặng Sanh Hóa ra và làm Sống những vật hữu hình. Còn Người đây thể nào? Có lẽ nào đành cướp giựt tài năng vô hình của Trời Đất đặng làm tài sản của Người sao? Nếu vậy thì Người chưa lập được xong trọn danh phận Tam Tài của Người, vì Tài năng là Vật vô hình mà phải có Lý và Khí đặng làm sự Sống cho; còn Người thì lo đoạt Tài năng vô hình của Trời Đất đặng làm tài sản hữu hình của Người, trở lại giải nghĩa Tam Tài là Trời Đất, phải có Người nữa mới gọi là đủ Ba Ngôi, chớ nào chịu nhìn nhận rằng mỗi Ngôi đều phải lập xong cho đủ Ba Tài riêng của mình đặng làm Sự Sống chung cho nhau chẳng Ngôi nào được trái lịnh mà làm thiếu, nếu thiếu thì chỉ nghĩa lập chưa xong danh phận của mình và gọi là chưa được hoàn toàn vậy.
Within Man, Heaven, Earth, and Man are all present entire, yet Formless. That Formless is Principle — and it is True Principle. Through Formless True Principle, Primordial Energy is brought forth. Once there is Primordial Energy, Principle and Energy must necessarily Unite, and from that Union comes ceaseless Generation and Transformation — hence it is called Principle Generating Energy, Energy Transforming. Principle-and-Energy is the Life within all things of Form, and so the myriad, boundless forms appear before your very eyes for you to see. You yourselves, likewise, are Generated and Transformed out of that Formless Principle and Energy, and so it is that this Life of Form exists — which is why Man too is a Thing. The Way likewise arises out of Principle and Energy, and so the Way too is a Thing, no different. Heaven and Earth make use of the whole of their own Formless Power in order to Generate, Transform, and give Life to the things of Form. And what of Man, then? Could it ever be right for Man to seize and plunder the Formless Power of Heaven and Earth to make it his own possession? If so, then Man has not yet truly established the full station of the Three Powers — for Power is a Formless Thing, which must have Principle and Energy to give it Life; yet Man instead schemes to seize the Formless Power of Heaven and Earth and turn it into his own possession of Form, twisting the meaning of the Three Powers to say that Heaven-and-Earth, together with Man, together make up the Three Thrones — while refusing to acknowledge that each Throne must itself complete its own share of the Three Powers, so as to furnish Life in common for all three together, and that no Throne may defy this charge and fall short of it; for to fall short is precisely to mean that one’s own station has not yet been fully established, and is not yet called complete. Not yet complete, not yet whole — and still Man schemes and calculates by every means to seize for himself the Life of…
Đã chưa được xong chưa được hoàn toàn, còn thêm lo tính đủ phương thế đặng cướp đoạt Sự Sống của Trời Đất mà gọi rằng là của mình, như vậy thì biết bao giờ Hiệp Nhứt nơi Bạch Ngọc Kinh được!
Not yet complete, not yet whole — and still Man schemes and calculates by every means to seize for himself the Life of Heaven and Earth, and calls it his own; and if things go on so, when will there ever be a return, a becoming One again, at the White Jade Palace?
Lúa biết dùng trọn Tài năng, tuân theo Lý Đạo, Sanh Hóa Sự Sống, đặng Hiệp Nhứt với Người nên Ta đem hột Lúa ra làm tỷ dụ và bảo các trò phải xét thì thấy rõ được Tâm tánh nghĩa là vậy đó. Lúa là một Vật dễ thấy cho các trò dùng đặng xét hơn là Trời Đất, sao các trò chẳng chịu xét cho Ta coi? Nếu vậy sao được gọi là Cách Vật.
Rice knows how to use its Power in full, obeying the Principle of the Way, generating and transforming its own Life, so as to become One with Man — this is why I took the grain of Rice as an example and told you to examine it, so that you might see clearly what Heart and Nature truly mean. Rice is a Thing far easier for you to observe and examine than Heaven and Earth themselves — why, then, will you not examine it for Me to see? If you will not, how can this be called “the Investigation of Things” (Cách Vật)?
Các trò đã nghe Ta giảng giải rồi, ắt phải hiểu rằng Trời, Đất và Người là Ba Tài của mấy trò thường gọi đó, thì mỗi Tài đều phải đủ Ba Tài năng, mới làm được Sự Sống cho mình và làm ra Sự Sống cho muôn vật Võ Trụ. Những Sự Sống ấy đều Hòa chung với nhau, chẳng có Tài nào được dành là của riêng mình, thì mới gọi rằng mình Trọn Hiệp được Một. Mỗi Tài đã biết Hiệp Ba của mình lại làm Một Nhỏ, làm đặng Sự Sống cho mình rồi, còn lại phải Hiệp chung Sự Sống của mình đó với Sự Sống cũa Hai Tài kia mà làm Một Lớn, đặng làm cho Võ Trụ Vạn Vật đều có Sự Sống Lớn và Hiệp chung lại trọn Một với mình. Được như vậy mới được gọi là hoàn toàn.
Having heard My explanation, you must surely understand that Heaven, Earth, and Man — the Three Powers you commonly speak of — each must itself possess the Three Powers in full, in order to bring forth Life for itself and to bring forth Life for the myriad things of the Universe. These several Lives are all blended together into one, with no Power holding any part of it as its own private possession — only then can it be said that they are wholly United into One. Once each Power has United its own Three into a Small One, and thereby completed Life for itself, it must then further unite this Life of its own with the Life of the other two Powers, so as to make a Great One, so that the Universe and the myriad Things all share in a Greater Life and are wholly United, together, into One with itself. Only when this is so can it be called complete.
Nếu Trời chẳng Nhứt Tâm lo trổ hết Tài năng đặng bủa Sự Sống cho Đất cho Người chung hưởng, thì Đất Người đâu Sống được; nếu Đất Người không được Sự Sống, thì Trời kia nào còn; bởi vậy nên Ta đã có nói cho các trò hiểu rằng: « Trời không Người thì Trời nào có, mà Người nầy phải nhờ có Trời mà ra, nhờ Đất mà lớn vậy ». Một câu nói như vậy, thì các trò cũng đủ hiểu rằng: Người, Đất không Trời thì Người Đất có, mà Trời nầy phải nhờ Người Đất mà ra, nhờ Người Đất mà lớn vậy. Vạn Vật Võ Trụ đều cũng phải vậy. Các trò nên hiểu cho rộng lớn như thế, đặng rõ lòng Tam Tài có chứa những chi. Và cũng nên biết coi: làm sao Một mà Ba, Ba mà Một. Được vậy thì các trò mới rõ câu: « Tam Nhứt Tam Tam Tam Thập Lục » chớ!
If Heaven did not, with a single undivided Heart, labor to bring forth the whole of its Power so as to spread Life for Earth and Man to share, how could Earth and Man ever have Life? And if Earth and Man had no Life, how could Heaven itself continue to exist? This is why I have already told you to understand: “Without Man there would be no Heaven at all, and yet this Man could only come to be through Heaven, and could only grow through Earth.” From this single saying you should understand enough to see that Man and Earth, without Heaven, could not exist, and yet this Heaven could only come to be through Man and Earth, and could only grow through Man and Earth. So it is, too, with the whole Universe and the myriad Things. You should understand this in the broadest, most expansive sense, so as to see clearly all that the Three Powers contain within them. And you should also come to understand how it is that One is Three, and Three is One. Only then will you truly grasp the saying: “Three-in-One, Three-times-Three is Thirty-Six.”
Người từng xét mình, mới biết được rằng: Người là một Ngôi Trời Đất nhỏ, hễ Ngôi Trời Đất có những chi, thì Ngôi Người có những nấy. Sự xét biết được rất phải. Cũng còn tìm nên hiểu Người có Tinh, Khí, Thần là Ba Vật Báu. Sự tìm ấy rất nhầm. Biết được là Báu, nên toan luyện nó cho Hóa, phòng trở về Hư Vô với Trời. Sự định ấy không sai. Nhưng tiếc thay, Người mảng tự khoe lấy mình bằng Trời mà những tưởng Trời là Vật hữu hình ở nơi chốn cao xanh biệt mù kia nên dốc luyện Tinh Khí Thần cho được trường sanh bất lão, mong có ngày về với Trời đó, đặng lãnh một chức hoặc Tiên hoặc Thánh mà hưởng vô cùng khoái lạc mà thôi. Nếu sự biết như vậy, thì nào phải biết Trời là chi, nào hiểu Tinh Khí Thần là gì đâu! Mảng ước mơ, tưởng mộng như vậy, rốt cuộc rồi cũng tự hại lấy Sự Sống của mình mà lại tự gọi đến bực Chí Nhơn. Nếu Người đã biết rằng Thiên Địa Nhơn là Tam Tài, sao lại đành muốn về với Trời mà bỏ Đất đi? Hay là nói rằng xác thịt nầy về với Đất cũng là đủ rồi? Đành chia hai thân mình ra như vậy là ý nghĩa gì? Một dạy mười sai, cả nước đồng rủ nhau môt cách, trông chi thấy được tấn hóa!
Man, by examining himself, comes to know that Man is a small Throne of Heaven-and-Earth — whatever the great Throne of Heaven-and-Earth contains, the throne of Man contains likewise. This much is rightly examined and rightly known. Man has also sought to understand that he possesses Essence, Energy, and Spirit (Tinh, Khí, Thần) as his Three Treasures. This search, too, is not mistaken. Knowing them to be Treasures, Man sets about refining them so as to Transform, hoping thereby to return to the Void with Heaven. This resolve, too, is not wrong. But it is a pity that Man, in his vanity, sets himself as equal to Heaven, while imagining Heaven to be some Thing of Form dwelling far off in that boundless blue height, and so strives to refine his Essence, Energy, and Spirit merely so as to gain immortality and eternal youth, hoping one day to return to Heaven and there receive some rank of Immortal or Sage, to enjoy boundless pleasure and nothing more. If this is all that Man understands by it, then he has never truly known what Heaven is, nor ever truly understood what Essence, Energy, and Spirit are! Clinging to such wishful dreaming, Man ends only by harming his own Life, all while calling himself a Being of Utmost Perfection. If Man already knows that Heaven, Earth, and Man together form the Three Powers, how can he still wish to return only to Heaven while abandoning Earth? Or does he suppose that it is enough for this fleshly body merely to return to Earth? What sense is there in dividing one’s own being in two like this? One person teaches it wrongly, and ten repeat the error, until the whole country follows along in the very same way — how, then, can any true advancement ever be seen?
Ta nay hỏi các trò: Người đã gọi có Tinh Khí Thần là Ba Vật Báu, vật Trời Đất có Ba Vật Báu ấy không? Nếu gọi Người có Tinh Khí Thần là báu, Trời có Nhựt Nguyệt Tinh, Đất có Thủy Hỏa Phong là báu, vậy thì Trời Đất không có Tinh Khí Thần, Người không có Nhựt Nguyệt Tinh và Thủy Hỏa Phong sao? Nếu Trời Đất đã không có Tinh Khí Thần mà Người lại có đủ, thì Người còn cần chi phải chia hai thân mình ra, đặng Hiệp với Trời Đất? Nếu đã Hiệp được với Trời Đất rồi, sao Ta thấy các trò vẫn sùng bái những Vị gọi là được chức Thánh Thần Tiên Phật ấy, mà gốc cũng đều là Người như các trò vậy? Vậy thì Hiệp với Trời Đất rồi là phải, hay là ở với các trò đó, đặng hiệp vơí các trò, để cho các trò sùng bái là phải? Các trò đã có xét vậy chưa? Nếu chưa xét, vậy thì Học làm chi cái việc mà tự mình chưa xét cho biết tới Chơn Lý việc ấy nó là thể nào? Nếu các trò xét rồi, thì Tinh Khí Thần ấy ở đâu? Nó là Vật gì? Trời Đất có Vật ấy hay không? Nếu Trời Đất có nó, thì Vạn Vật Võ Trụ cũng đều có. Nếu Trời Đất không có nó, thì sao một mình các trò lại có được nó? Nếu Vạn Vật Võ Trụ cũng đều có nó, sao không thấy Vạn Vật Võ Trụ cũng đều luyện nó như cách các trò vậy? Hay là gọi Vạn Vật Võ Trụ không có Tri Giác, nên không biết luyện như cách các trò vậy? Mà sao Ta thấy duy có Vạn Vật Võ Trụ Hiệp Nhứt với Tam Tài mà không cần luyện chi hết, chỉ dùng một cái Tự Nhiên nên được mà thôi?
Now let Me ask you this: you say that Man possesses Essence, Energy, and Spirit as his Three Treasures — do Heaven and Earth possess these same Three Treasures, or not? If it is said that Man’s Treasure is Essence, Energy, and Spirit, while Heaven’s Treasure is Sun, Moon, and Stars, and Earth’s Treasure is Water, Fire, and Wind — does that mean Heaven and Earth have no Essence, Energy, and Spirit, and that Man has no Sun, Moon, Stars, Water, Fire, and Wind? If Heaven and Earth truly lack Essence, Energy, and Spirit while Man alone possesses them in full, then what further need has Man to divide his own being in two, in order to unite with Heaven and Earth? And if Man has already United with Heaven and Earth, why is it that I still see you paying reverence and worship to those beings called Sages, Spirits, Immortals, and Buddhas, when they too were, at root, People just as you are? Is it right, then, to say that they have already United with Heaven and Earth — or is it rather that they remain among you, uniting with you, so that you might rightly pay them reverence? Have you examined this for yourselves? If you have not examined it, then why study a matter at all, when you yourselves have never examined it closely enough to know its True Principle? And if you have examined it — then where do Essence, Energy, and Spirit truly reside? What kind of Thing are they? Do Heaven and Earth possess this Thing, or…
.
Trời Đất có Vật ấy hay không? Nếu Trời Đất có nó, thì Vạn Vật Võ Trụ cũng đều có. Nếu Trời Đất không có nó, thì sao một mình các trò lại có được nó? Nếu Vạn Vật Võ Trụ cũng đều có nó, sao không thấy Vạn Vật Võ Trụ cũng đều luyện nó như cách các trò vậy? Hay là gọi Vạn Vật Võ Trụ không có Tri Giác, nên không biết luyện như cách các trò vậy? Mà sao Ta thấy duy có Vạn Vật Võ Trụ Hiệp Nhứt với Tam Tài mà không cần luyện chi hết, chỉ dùng một cái Tự Nhiên nên được mà thôi?
Do Heaven and Earth possess this Thing, or not? If Heaven and Earth possess it, then the myriad Things of the Universe must possess it as well. If Heaven and Earth do not possess it, how is it that you alone possess it? And if the myriad Things of the Universe do possess it, why do we never see the myriad Things of the Universe refining it, the way you set about refining yours? Or shall we say that the myriad Things of the Universe lack Perception, and so do not know how to refine it as you do? Yet how is it that I see the myriad Things of the Universe already United with the Three Powers, needing no refining at all, attaining it simply through their own Naturalness?
Thử đem một Giống Lúa là một Vật trong Vạn Vật ra đặng xét, thì thấy rõ duy có Giống Lúa mới dùng đặng Tâm Tánh Tự Nhiên đặng Hiệp Nhứt với Tam Tài mà nó chẳng hề luyện Tinh Khí thần của nó mảy nào.
Take just one kind of thing among the myriad Things — the grain of Rice — and examine it, and you will see clearly: Rice alone makes use of its natural Heart and Nature to become United with the Three Powers, and never once does it refine its Essence, Energy, or Spirit.
Các trò từ khi Đức Chí Tôn chọn và ban cho một Điểm Linh Quang, dạy giáng phàm công quả, thì các trò đã trải qua nhiều lớp có chứa bốn chất Địa Thủy Hỏa Phong mới làm nên thân Người nầy được, thì Lúa cũng vậy. Từ khi Người chọn làm Hột Giống rồi, thì nó cũng phải trải qua nhiều phen hứng chịu mưa nắng bùn lầy với Địa Thủy Hỏa Phong mới đi đến ruộng đặng làm nên cây Lúa. Trong những lúc phong trần như vậy, nó phải dùng hết Khí Lực, thâu hết Tinh Lực, trông đến ngày đặng nó chuyển hết Thần Lực đặng có trổ ra gié lúa được. Đến khi cây lúa trổ ra gié rồi, thì gié nầy sanh những chi? Nó sanh toàn những Hư Tâm, trong Hư Tâm ấy, nó sẵn có Tinh Lực, Khí Lực và Thần Lực của nó thâu rút Tinh Khí Thần của Đất, chực sẵn để dành đợi lúc Trời ban Tinh Khí Thần của Trời cho khắp vạn vật, thì nó mở cái Hư Tâm nó ra đặng hứng trọn vào cho đầy đủ , rồi khép lại chứa vào đặng làm một Hòn Ngọc của nó riêng. Hòn Ngọc nầy chứa đầy một cái Tánh Tốt, là để dành giúp Trời ban Sự Sống cho Người, đặng Người đủ Tinh Khí Thần mà giúp Trời sanh các Sự Sống khác cho Vạn Vật Võ Trụ đó thôi! Tánh Lúa chẳng có Sáu Tình xấu như cay, đắng, mặng, lạt, chua, chát, duy có Ba Đức tốt là béo, ngọt và thơm , nên mới được trọn lành; không một chút tình dục, nên mới được chánh đáng, dầu ở trong hoàn cảnh nào nó cũng Nhứt Tâm Nhứt Đức. Xét vậy thì đủ thấy Lúa, đã dùng hết Tinh Khí Thần của nó nhiều lớp, đặng thâu đựng đủ Tinh Khí Thần của Trời, Đất và Người vào trong Tâm nó, đặng thành ra một Hột Ngọc để giúp Sự Sống cho Người giúp Trời, nên Ta đã nói: « Người là Lúa của Trời mà lại là Trời của Lúa. Trong Lúa đủ Trời Đất và Người, cũng như trong Người đủ Trời Đất và Người vậy, vì vậy nên Con Người và Lúa chẳng hề rời rã được ». Lúa đã dùng hết sự Sống của nó đặng giúp Trời của nó làm bổn phận, mà biết bao nhiêu là giống cỏ phá hại nó, lấn lướt nó, chẳng hề cho nó được tự nhiên, lại cũng có thứ cỏ dám mạo hình thể của Lúa đặng gạt gẫm Người, mà những giống như vậy, nó đã nhiều lại mạnh hơn Lúa bội phần. Tuy nhiều và mạnh hơn Lúa như thế, song Lúa tốt hay xấu, sống hay chết cũng tại nơi Người mà thôi! Nếu Người biết chịu cực ra sức làm làm sao cho cỏ ấy trở lại làm phân cho Lúa, thì nào có hại chi! Bằng chẳng vậy, thì nào có trách chi cỏ hiếp Lúa. Người biết sửa mình cũng vậy. Nếu biết trị Tình Dục cho thành Đức Dục, thì Người nào lại chẳng nên, chớ có ai diệt cho tắt tình dục bao giờ! Nếu Người diệt tắt tình dục thì Người ấy đâu còn có Sự Sống! Cũng như Đất không cỏ thì Đất ấy nào có màu mở mà nuôi Lúa. Cỏ giết Lúa hay là nuôi Lúa, đều bởi nơi Người chịu đem hết Tinh Khí Thần của mình, đặng trông nom vào sở ruộng đó hay không mà thôi. Vì vậy nên Ta nói « Người là Trời của Lúa, Người nào ăn Lúa bao giờ ».
From the moment Đức Chí Tôn chose you and granted you a Point of Numinous Light, instructing you to descend into the mortal world to build up merit, you have passed through many stages, gathering the four elements — Earth, Water, Fire, and Wind — before this body of a Man could come to be; and it is the same with Rice. From the moment Man chose it to be his Seed, it too had to pass through many trials — enduring rain and sun and mud amid Earth, Water, Fire, and Wind — before it could reach the field and become a stalk of Rice. Through all these hardships of wind and weather, it must use up the whole of its Energy-strength, gather in the whole of its Essence-strength, and look forward to the day it may pour forth the whole of its Spirit-strength, so as to bring forth its ear of grain. And once the stalk of Rice has put forth its ear, what does that ear bring forth? It brings forth nothing but Empty Hearts — and within each of these Empty Hearts already lie its own Essence-strength, Energy-strength, and Spirit-strength, drawn up from the Essence, Energy, and Spirit of the Earth, held ready and waiting for the moment Heaven bestows Heaven’s own Essence, Energy, and Spirit upon all the myriad Things; then it opens its Empty Heart to receive that gift fully in, and closes again to store it away, so as to form a Pearl all its own. This Pearl is filled entirely with a Good Nature, held in reserve to help Heaven bestow Life upon Man, so that Man may have Essence, Energy, and Spirit enough to help Heaven bring forth still further Life for the myriad Things of the Universe — nothing more! The Nature of Rice has none of the Six ill Passions — bitter, sour, salty, bland, sharp, or astringent — but only Three good Virtues: richness, sweetness, and fragrance — and so it remains wholly good; it carries not the least trace of carnal desire, and so it remains wholly upright, and whatever circumstance it finds itself in, it keeps One Heart, One Virtue. Considering this, one sees plainly that Rice, having spent the whole of its own Essence, Energy, and Spirit through many stages, gathers in the full Essence, Energy, and Spirit of Heaven, Earth, and Man into its own Heart, so as to become a Pearl that helps bring Life to Man and helps Heaven — which is why I have said: “Man is Heaven’s Rice, and yet Man is Rice’s Heaven.” Within Rice, Heaven, Earth, and Man are all present in full, just as within Man, Heaven, Earth, and Man are all present in full — and so Man and Rice can never truly be separated. Rice has given the whole of its own Life to help its Heaven fulfill its duty, and yet how many kinds of weeds harm it, crowd it out, and never let it grow in peace — some weeds even dare to counterfeit the very shape of Rice, so as to deceive Man; and such weeds are far more numerous, and far stronger, than Rice itself. Yet however numerous and however strong they may be, whether Rice thrives or withers, lives or dies, depends on Man alone! If Man is willing to labor and strive to turn that weed back into fertilizer for the Rice, what harm is there in it at all? But if Man will not do so, then he has no cause to blame the weed for oppressing the Rice. It is the same with Man learning to correct himself. If he knows how to govern Carnal Desire so as to turn it into Virtuous Cultivation, what Man could fail to become good — for who has ever truly extinguished desire altogether! If Man could truly extinguish desire entirely, he would have no Life left at all! Just as Earth without weeds would have no richness left to nourish Rice. Whether the weed kills the Rice or nourishes the Rice depends entirely on whether Man is willing to give the whole of his own Essence, Energy, and Spirit to tend that field. This is why I have said, “Man is the Heaven of Rice, and Man never truly eats Rice at all.”
Một Hột Giống của Người gieo xuống, thì thấy trong một kiếp của nó, nó đã lập xong hoàn toàn công quả của nó rồi đặng nó trở về với Người và đem về cho Người biết bao nhiêu hột, so lại với Đức Chí Tôn ban cho Người một Điểm Linh Quang làm Giống, mà đã bao nhiêu kiếp rồi, thì Người thể nào? Có đem được một Hột Giống đó trở về cho Đức Chí Tôn hay không? Sao Người lại trách Ta đem Tâm Tánh Người mà sanh với Lúa? Lúa biết dùng hết Lương Tri Lương Năng, biết chịu Mở Hư Tâm ra đặng rước Tinh Khí Thần của Trời nơi không trung đặng đem vào làm Ngọc; biết giúp sức cho Trời của nó Hiệp Nhứt với Trời của Người, nên mỗi kiếp nó đều lập danh phận Tam Tài của nó xong, có phải là nhờ nó biết Đạo Lý của nó hay không? Còn Người thì trái hẳn là tại sao vậy? Có phải là do nơi Người chẳng chịu Mở Tâm cho trống đặng rước lấy những lời dạy dỗ của Trời mà đem vào làm Ngọc cho mình hay không? Đã chẳng chịu mở Tâm ra đặng rước lấy lời Châu tiếng Ngọc của Trời, mà lại chịu chất chứa những sự ô tạp uế trược sanh ra bởi hoàn cảnh của Đất, đành vui lòng làm những việc trái ngược với Đạo Lý Chơn Chánh, chẳng sợ Luật Trời, không kiên phép nước, là tại sao vậy? Có phải đều do nơi môt cái Vọng Tâm mà ra hay không? Có phải là do quá tin cậy nơi cái Lý Trí của Người hay không? Có phải là do nơi chưa biết dùng sự Cách Vật Trí Tri, mà lại tự khoe mình rằng là Cách Trí đã được tôt bực hay không? Một việc Ta nói « Người chẳng ăn Lúa », mà trò trỏ lại nói rằng: « Người chẳng ăn Lúa thì Người ăn cơm gạo », một việc như vậy còn chưa rõ, mà vội khoe mình rằng biết Cách Trí !
A single Seed that Man sows will, within its one lifetime, already have completed the whole of its meritorious work, returning to Man and bringing back to Man ever so many more grains in return — compare this with Đức Chí Tôn granting Man a single Point of Numinous Light as his Seed, and after however many lifetimes have passed, how does Man fare? Has he yet brought even a single Grain of that Seed back to Đức Chí Tôn? Why, then, do you blame Me for comparing your Heart and Nature to Rice? Rice knows how to use the whole of its Innate Knowing and Innate Capacity; it knows how to open its Empty Heart to receive Heaven’s own Essence, Energy, and Spirit from the open air, and bring it in to form its Pearl; it knows how to help its own Heaven Unite with the Heaven of Man — and so, in every lifetime, it fully establishes its own station among the Three Powers. Is this not simply because it knows its own Principle of the Way? But Man is exactly the opposite — why is that?
Còn Người thì trái hẳn là tại sao vậy? Có phải là do nơi Người chẳng chịu Mở Tâm cho trống đặng rước lấy những lời dạy dỗ của Trời mà đem vào làm Ngọc cho mình hay không? Đã chẳng chịu mở Tâm ra đặng rước lấy lời Châu tiếng Ngọc của Trời, mà lại chịu chất chứa những sự ô tạp uế trược sanh ra bởi hoàn cảnh của Đất, đành vui lòng làm những việc trái ngược với Đạo Lý Chơn Chánh, chẳng sợ Luật Trời, không kiên phép nước, là tại sao vậy? Có phải đều do nơi môt cái Vọng Tâm mà ra hay không? Có phải là do quá tin cậy nơi cái Lý Trí của Người hay không? Có phải là do nơi chưa biết dùng sự Cách Vật Trí Tri, mà lại tự khoe mình rằng là Cách Trí đã được tôt bực hay không? Một việc Ta nói « Người chẳng ăn Lúa », mà trò trỏ lại nói rằng: « Người chẳng ăn Lúa thì Người ăn cơm gạo », một việc như vậy còn chưa rõ, mà vội khoe mình rằng biết Cách Trí !
But Man is exactly the opposite — why is that? Is it not because Man will not open his Heart wide to receive Heaven’s teachings and bring them in to form his own Pearl? Not content to open his Heart to receive Heaven’s Pearl-and-Jade words, he instead lets himself fill up with the filth and corruption bred by earthly circumstance, content to do things that run directly against True Principle, fearing neither Heaven’s Law nor the laws of the land — why is this so? Is it not all born of a single Reckless Mind (Vọng Tâm)? Is it not born of placing far too much trust in Man’s own Reason (Lý Trí)? Is it not because Man does not yet know how to practice true Cách Vật Trí Tri (the Investigation of Things and the Extension of Knowledge), and yet boasts that his own Investigation has already reached its finest pitch? I said just one thing — “Man does not truly eat Rice” — and already you turn it back on Me, saying, “If Man does not eat Rice, then what does Man eat but cooked rice!” — not even this one matter is yet clear to you, and already you rush to boast that you have mastered Investigation and Knowledge!
Quả thật cũng nên khen các trò là tận tâm xét thấu đến trong hột lúa có chứa những chất chi là bao nhiêu phần, để dùng làm việc gì, song xét như vậy đặng nuôi Cái Người cho đủ món mà thôi. Các trò làm như vậy gọi là Cách Vật, mỗi vật mỗi vật cũng vẫn xét cho cùng tột những chất đã có chứa sẵn sàng trong mình nó rồi, gọi vậy là Trí Tri nào dè đâu làm như vậy là Cách sự chết của Cái Vật đó đặng Trí cho chết cái Tri của mình, chớ nào có Sống bao giờ! Sao các trò chẳng chịu học Cách thử coi cái Vật làm Sự Sống của Lúa ở đâu mà bắt chước nó, đặng làm thêm Sự Sống cho mình, sao đành nói rằng Người ăn cơm gạo? Cơm gạo có làm Sống được Người đâu?
It is true, and worth commending, that you have devoted your hearts to examining thoroughly just how many kinds of substance a grain of rice contains, and to what use each may be put — but you examine it only so as to nourish this fleshly Self of yours, and nothing more. What you do in this way is called Cách Vật (the Investigation of Things), examining each and every Thing down to the last substance already stored within it, and you call this Trí Tri (the Extension of Knowledge) — little knowing that what you do in this way is to Investigate the death of that Thing, so as to bring your own Knowing to death along with it — for in this there is never any true Life at all! Why will you not instead study how to examine where the true Life-giving substance of Rice actually lies, and take it as your model, so as to add still further Life to your own — why do you insist, instead, on saying that Man eats cooked rice? Can cooked rice truly give Man Life at all?
Ta đã nói: « Người là của Trời sanh, nào có ăn vật chi của Đất sanh, Người thì phải dùng những món chi của Trời sanh đặng nuôi sống ». Chớ chi các trò chịu Trí Lương tri đặnd xét lời Ta nói, thì đã rõ chỗ ta muốn nói rồi.
I have already said: “Man is born of Heaven, and eats nothing born of Earth at all; Man must instead partake of what Heaven brings forth, in order to be nourished and to Live.” If only you were willing to bring your Innate Knowing to bear in examining these words of Mine, you would already understand plainly what I mean by them.
Các trò thử xét coi: trên mặt Đất nầy có vật nào chịu mở cái Tâm ra cho trống mà rước lấy Tinh Khí Thần nơi không gian đặng làm Vật quí của mình hay không? Các trò chớ gọi Lúa ngậm sương mà lầm. Lúa nào ngậm sương bao giờ! Sương đó bao giờ làm cho thành Ngọc Trời, mà các trò gọi rằng là gạo đó cho được! Thử coi, sương nó nhuần gội cho vạn vật, mà có vật nào ngậm nó thành được một chất chi hay không? Biết bao nhiêu là vật có hứng sương, đựng sương vào mình, mà nào có thành được một vật chi dâu! Sương tắm mát cho vân vật thì có, chớ nào sương có làm Hột Ngọc cho Lúa được! Nếu sương đó đựng vào một chỗ nào, trong một giống cây cỏ nào, mà sương đó không tan ra, thì chỗ ấy phải hóa ra một thứ sâu phá hại thì có, chớ nào có thành được Hột Ngọc Trời bao giờ! Các trò nên xét kỹ lại: Chớ gọi Lúa ngậm sương thành gạo mà lầm. Lúa hứng Thần Khí Tinh của Trời mà thành Ngọc mà các trò gọi la gạo đó.
Consider this for yourselves: upon the face of this Earth, is there any thing at all that opens its Heart wide to receive Essence, Energy, and Spirit out of open space, and takes it as its own Precious Thing — other than Rice? Do not mistake this and say that Rice merely drinks in the dew. Rice never once drinks dew! Dew could never become Heaven’s Jade — how, then, could you call that same substance “cooked rice”? Consider: dew bathes and moistens the myriad Things, yet is there any Thing that, by drinking it in, ever comes to form any substance at all from it? Countless Things receive dew, hold dew within themselves, yet none of them ever comes to form any true substance from it at all! Dew may bathe and cool the myriad Things — but dew could never form the Pearl of Rice! If that dew should settle in some one place, within some one kind of plant or grass, and fail to evaporate away, that place instead turns into a kind of blight or pest that does harm — never could it become Heaven’s Pearl! Examine this closely, then: do not mistake Rice’s drinking of dew for the forming of its grain. Rice gathers in Heaven’s own Spirit, Energy, and Essence so as to form its Pearl — and it is this that you call “rice.”
Đây Ta giải Thần, Khí, Tinh của Trời ra cho các trò nghe. Phải nghe cho kỹ, xét cho rõ, hiểu cho thấu lý, nghiêm cho tinh tường, thì mới thông được và thấy được một phần mối chánh lý mà sửa mình cho khỏi lầm lạc theo các mối khác. Nếu sái, thì thành sái mất Đường ngay của Trời phú cho lúc ban sơ.
Here I will explain to you Heaven’s Spirit, Energy, and Essence (Thần, Khí, Tinh của Trời). Listen closely, examine carefully, understand it down to its Principle, and weigh it with the utmost precision, and only then will you grasp, and come to see, one true thread of right Principle by which to correct yourselves and keep from straying after other, false threads. For if you go astray even slightly here, you will lose the true Road that Heaven bestowed upon you from the very beginning.
Các trò chớ quá nghe lời những đứa giả mạo danh Ta, nó gạt gẫm các trò, nó bảo phải luyện Tinh Khí Thần sẵn có trong mình đó đặng làm Thần Tiên. Các trò chớ có vọng tâm nghe như vậy mà phải uổng công sanh ra làm được kiếp Người. Tinh Khí Thần sẵn có trong mình rồi đó, nó là một vật cặn bã của máu thịt xác phàm, nó là một vật phải có nhờ sức ăn uống đặng nuôi nó, thì nó mới sống, bằng không thì nó phải chết. Nếu các trò lo luyện lấy nó, thì chính là các trò muốn lo luyện một vật phải có ngày chết được mà thôi. Cái vật chết được như vậy, bao giờ thành được vật chi quí.
Do not listen too readily to those who falsely borrow My name to deceive you, telling you that you must refine the Essence, Energy, and Spirit already within your own body so as to become an Immortal or a Spirit. Do not let a Reckless Mind lead you to listen to such words, lest you waste in vain this life you were given as a Human being. The Essence, Energy, and Spirit already within your body are but the residue and dregs of flesh, blood, and mortal frame — things that depend on food and drink to be nourished in order to live, and that must otherwise die. If you set yourselves to refining this, you are laboring only to refine a thing that is bound, one day, to die. A thing so bound to die can never become anything truly precious.
Nầy các trỏ hãy nghe cho kỹ:
Now listen closely, disciples:
Thần của Trời Đất và Người là chi?
What is the Spirit (Thần) of Heaven, Earth, and Man?
Ấy là một cái Lý mầu nhiệm vô cùng, không đo lường được, rất kín đáo, rất thanh tịnh, rất êm lặng, rất sâu xa, rất cẩn mật, rất dè dặt, rất mật thiết, rất u vi, rất quan trọng, rất châu đáo, rất tinh tế, mà nó lại rất lưu chuyển, rất hoạt động, hoặc ẩn, hoặc hiện, rất hoạt bát, biến hóa vô cùng, không một vật nhỏ nào, chỗ kín nào mà nó chẳng suốt thông, không một vật lớn nào, chỗ trống nào mà nó không thấu hiểu. Nhỏ hết sức nhỏ như một cái chót lông, một cái tế toái vi trùng, Thần cũng có thể ngự nơi ấy được. Lớn hết sức lớn là cả Võ Trụ Kiền Khôn thế giái, Thần cũng thấu suốt qua thong thả. Thần nhờ chi mà được như vậy? Chỉ nhờ có một cái sức mạnh là rất Điềm Tĩnh mà thôi.
It is a wondrous Principle without limit, beyond all measure, utterly hidden, utterly pure and still, utterly quiet, utterly deep, utterly guarded, utterly reserved, utterly intimate, utterly subtle, utterly weighty, utterly thorough, utterly fine — and yet it is also utterly fluid, utterly active, now hidden, now manifest, utterly quick and lively, transforming without limit; there is no thing so small, no place so hidden, that it does not penetrate fully through; there is no thing so vast, no space so empty, that it does not fully comprehend. Smallest of the small — a single tip of a hair, a single mote of a microbe — the Spirit can dwell there just the same. Vastest of the vast — the whole Universe, Heaven and Earth, and every world — the Spirit penetrates it fully through, and no place is left empty of it.
Thần nhờ chi mà được như vậy? Chỉ nhờ có một cái sức mạnh là rất Điềm Tĩnh mà thôi.
By what does Spirit come to be this way? By one strength alone — utter Stillness (Điềm Tĩnh).
Trời Đất làm sao có được Thần?
How, then, do Heaven and Earth come to possess Spirit?
Những cơn lặng lẽ êm đềm, những lúc yên tịnh, vắng vẻ, Trời không một chút gió khua, Đất không một tiếng trùng động, Nước không một lượn sóng xao, bốn phía, trên dưới chẳng một vật chi lay chuyển, thanh vắng lặng trang như tờ giấy trải, như bình nước lóng, ấy là lúc Thần cuả Trời Đất đương điều hòa cả Võ Trụ Vạn Vật và gầy ra có được Sanh Khí đó.
In those hours of deep calm and gentle quiet, in moments of utter stillness and emptiness — when Heaven stirs with not the least breath of wind, when Earth trembles with not the faintest tremor, when Water ripples with not a single wave, when on every side, above and below, nothing whatsoever moves, and all is hushed and smooth as a sheet of paper laid flat, as a vessel of water fully settled — that is the hour when the Spirit of Heaven and Earth is harmonizing the whole Universe and all its myriad Things, and bringing forth Life-Force.
Thần của Trời Đất như vậy, và Trời Đất phải dường ấy mới có được Thần, thì Người cũng phải Thể lấy cách ấy mà tự mình gầy ra Thần cho Người. Thần như vậy mới là Chơn Chánh, mới gọi là Ngươn Thần, Thần như vậy mới thấu được cả chỗ Hư Không tế toái và lập nên hình thể Vô Vi.
Such is the Spirit of Heaven and Earth, and only by being thus can Heaven and Earth come to possess Spirit; so too must Man take this very same manner as his model, to cultivate his own Spirit for himself. Only Spirit formed in this way is True and Right, only this may rightly be called Primordial Spirit (Ngươn Thần); only Spirit formed thus can penetrate fully into the most subtle reaches of the Void, and take form as the Formless made manifest.
Khí của Trời Đất và Người là chi?
What is Energy (Khí) of Heaven, Earth, and Man?
Thần của Trời Đất đã điều hòa rồi, nên gầy ra được một giống gọi là Khí; ấy là một Giống Hơi Vô Hình mà có sức Hóa Sanh muôn vật. Giống Hơi nầy gốc bởi Thần mà ra, nên nó làm căn bổn cho muôn Vật được Sự Sống, nên gọi là Ngươn Khí. Giống Hơi ấy gồm có Âm và Dương ở trong, ngó không thấy, rờ không đụng, duy có dùng Lý mà hiểu. Nó đã có từ lúc chưa có Trời Đất. Trời Đất nhờ có nó nên mới thành lập được Trời Đất và Hóa Sanh muôn Vật khác cho đến vô cùng vô tận; mà Trời Đất cũng nhờ có nó hoài hoài làm căn bổn cho Vạn Vật, nên Vạn Vật mới có Sự Sống đặng nuôi lấy Ngươn Thần của mình mà Hiệp Nhứt lại làm Một với Trời Đất. Bởi vậy nên gọi Thần có Khí mới Sanh, Khí nương Thần nên Hóa. Một sanh Hai là vậy đó. Hai sanh Một cũng là vậy đó.
Once the Spirit of Heaven and Earth has been brought into harmony, it gives rise to a kind of substance called Energy — a Formless kind of Breath possessing the power to Generate and Transform the myriad Things. This Breath has its root in Spirit, and so becomes the very foundation by which the myriad Things receive Life, and is therefore called Primordial Energy (Ngươn Khí). This kind of Breath contains within it both Yin and Yang; it cannot be seen by the eye, cannot be touched by the hand, and can be grasped only through Principle. It already existed before there was any Heaven or Earth at all. It is by means of this that Heaven and Earth themselves came to be established, and by means of it that they Generate and Transform the countless other Things without end; and Heaven and Earth, too, depend upon it continually as the foundation for the myriad Things, so that the myriad Things may have Life enough to nourish their own Primordial Spirit and become United, as One, with Heaven and Earth. This is why it is said: Spirit must have Energy in order to give birth, and Energy relies upon Spirit in order to Transform. This is what is meant by “One gives birth to Two,” and this, too, is what is meant by “Two gives birth to One.”
Đã gọi Khí là một Vật Vô Hình làm căn bổn Sự Sống cho muôn Vật, phải dùng Lý mới hiểu, vậy các trò muốn tìm Lý ấy đặng xét, Ta cũng chỉ cho mà nghiệm.
Since Energy is said to be a Formless Thing forming the very foundation of Life for the myriad Things, and can be grasped only through Principle — if you wish to seek out this Principle so as to examine it, I will show you how to put it to the test.
Nhửng lúc Trời Đất êm lặng, ấy là lúc Trời Đất Ngưng Tụ Ngươn Thần lại, ấy là lúc Trời Đất Định Tâm đặng Dưởng Thần đó; những lức ấy Người gọi là Đứng Trời. Trời nào có đứng bao giờ! Nếu Trời đứng thì muôn Vật đâu còn Sự Sống! Muôn Vật có Sanh là nhờ nơi Khí Âm, được Lớn là nhờ nơi Khí Dương, nên những lúc thanh vắng muôn giống tiếng nơi Không Giang đều nín lặng ấy là lúc Trời Đất Định Tâm, nuôi cho sung Ngươn Thần và ung đúc cho ra Ngươn Khí đó. Đã gọi Khí là một Giống Hơi song Hơi nầy không thấy Thở, vì không thấy Thở nên Người mới gọi là Đứng Trời. Tuy không thấy Thở mà có Thở ở trong rất đầm ấm êm ái.
In those hours when Heaven and Earth are utterly still, that is the hour when Heaven and Earth are gathering and condensing their Primordial Spirit together — the hour when Heaven and Earth Settle their Mind so as to Nourish their Spirit. Such hours are what Man calls “Heaven standing still.” But Heaven never truly stands still at all! If Heaven truly stood still, how could the myriad Things retain any Life at all? The myriad Things are Born through Yin Energy, and Grow through Yang Energy; and so, in those hushed hours when every sound throughout all of space falls silent, that is precisely the hour when Heaven and Earth Settle their Mind, nourish their Primordial Spirit to fullness, and distill it forth into Primordial Energy. Since Energy is said to be a kind of Breath, and yet this Breath shows no sign of Breathing, it is for this reason that Man calls it “Heaven standing still.” Though no Breathing is seen, there is Breath within it all the same, most warm, most gentle, most at ease.
Chớ tưởng Trời Đất không Thở mà lầm, cũng chớ gọi Người nhờ Thở mới Sống mà hại. Sự Sống nhờ Hơi mà được, nhưng Hơi phải thay đổi mới Sống. Hơi thay đổi được nên gọi nó là sự Thở. Nhưng sự Thở phải êm lặng, nhẹ nhàng, không xao, không động, thì nuôi Hơi mới được. Sự Thở, tuy có vô có ra, lên xuống, song nó đều quan hệ với nhau, phải cho liên tiếp một cách liên lạc, mà chẫm rãi rất khéo léo, đừng cho nó đứt khúc một tý nào, thi nó mới bao bọc gom gói và luân chuyển lấy Hơi, khiến cho Hơi đi một vòng tròn, không thấy được mối manh chỗ nào, nên sự vào ra lên xuống của nó không ai hay biết được. Sự Thở như vậy mới có Sanh Hóa. Nếu sự Thở không được điều hòa như vậy, thoạt mau thoạt chậm, thoạt mạnh thoạt yếu, hoặc lớn hoặc nhỏ, hoặc dài hoặc ngắn, hoặc đứt khúc một lúc ở giửa, thì sự Thở ấy không được Thường, không được Thiệt, và không được Tin. Nếu nó như vậy thì nó nào có làm Sự Sống cho Vật chi đâu! Hãy xét vầy thì biết: những lúc Đứng Trời, hoặc giông gió bảo tố, hoặc Đất Động, hoặc Lửa Núi tưới phung, hoặc nưóc biển tràn đầy, ấy là do nơi sự Thở của Trời Đất không được Thường Thiệt và Tin đó. Những lúc như vậy muôn Vật ra thể nào?
Do not fall into the error of imagining that Heaven and Earth do not Breathe at all, nor into the opposite error of thinking that it is only through Breathing that Man himself lives. Life is attained through Breath, yet that Breath must be forever changing in order to sustain Life; and because that Breath can change, it is called Breathing. But this Breathing must be calm and quiet, light and gentle, without disturbance, without agitation — only then can it truly nourish the Breath. Though Breathing has its going forth and its coming in, its rising and its falling, these are all bound together and interdependent; they must follow one another in an unbroken, connected way, slowly and with the utmost skill, never allowing the least break or interruption — only then can it properly enfold, gather in, and circulate the Breath, causing the Breath to travel a full circle with no beginning or end to be found, so that no one can ever perceive just where it goes out or comes in, rises or falls. Only Breathing of this kind brings about true Generation and Transformation. If the Breathing is not thus harmonious — now swift, now slow, now strong, now weak, now great, now small, now long, now short, or broken off partway through — then that Breathing has neither Constancy, nor Reality, nor Faith. And if it is so, how could it ever give Life to anything at all! Consider, then, and you will understand: in those hours of “Heaven standing still,” when there comes instead a raging storm, or an earthquake, or a mountain of fire pouring forth its flood, or the sea overflowing its bounds — all this comes from the Breathing of Heaven and Earth having lost its Constancy, its Reality, and its Faith. In such hours, what becomes of the myriad Things?
Ngươn Khí của Trời Đất lúc đã dưỡng được Ngươn Thần rồi, thì nó bay ra một giống Hơi đầm ấm, mát mẻ, không nóng không lạnh. Nhứt là lúc giửa ban đêm cho đến lúc bình minh, ấy là lúc Trung Tâm của Trời Đất đương Định đó.
Once the Primordial Energy of Heaven and Earth has nourished the Primordial Spirit, it breathes forth a kind of warm, cool Breath — neither hot nor cold. This is especially true in the hours from the depth of night until dawn, which is the hour when the Center of Heaven and Earth is in Deep Settlement.
Các trò hãy dùng Chơn Thân hứng lấy Thanh Khí nơi không trung và dùng Chơn Lý mà khảo cứu cho kỹ được, thì các trò thấy rỏ ràng rằng: cái Giống Hơi này nếu dùng con mắt mà xem thì không thấy nó được, hay là lóng tai mà nghe, thì cũng không biết nó ở đâu, tuy có dùng Lý nơi Chơn Thân Chơn Thể mà hứng thì thấy và biết được cái Mầm Giống của Sứ Hóa Sanh của Trời Đất ngụ ở trong cái Giống Hơi mát mẻ ấm áp lúc Trời thanh tịnh vắng vẻ êm lặng khỏe khoắn ấy mà thôi.
You yourselves must use your True Body to draw in this Pure Energy from open space, and use True Principle to examine it closely, and you will then see plainly: this kind of Breath cannot be seen by looking with the eye, nor known by straining to hear it with the ear; only by using Principle within your own True Body and True Substance to draw it in can you see and know the very Seed-Sprout of Heaven and Earth’s power of Generation and Transformation, dwelling within that cool, warm Breath in those hours when Heaven is pure, still, quiet, hushed, and at ease.
Ta đã gọi Hơi ấy Vô Hình, các trò chớ gọi lúc ấy là lúc có sương, vạn vật nhờ hứng lấy sương đặng Sống mà lầm, vì sương là một giống khác, nó hữu hình; bởi nó hữu hình nên hể mặt nhựt mọc lên thì nó tan, bằng nó chẳng tan mà nó đọng vào một chỗ nào, thì chỗ ấy phải hóa ra một thứ sâu bọ phá hại.
I have called this Breath Formless — do not mistake it for dew, and do not think that the myriad Things draw life from drinking in dew, for dew is a different kind of thing altogether, one that is Formed; and because it is Formed, it evaporates the moment the sun rises, and if it does not evaporate but instead settles in some one place, that place turns into a kind of blight or pest that does harm.
Còn Ngươn Khí kia thì chẳng vậy, nó trở lại điều hòa với Dương Khí đặng làm sự ấm áp cho kiền khôn thế giái mà trưởng dưởng vạn vật. Nếu ban ngày mà Ngươn Khí đứng lại thì Trời Đất phải Ngột. Nếu Trời Đất Ngột thì muôn vật thế gian đâu còn ! Vì vậy nên Ngươn Khí chẳng hề Đứng mà chẳng hề Ngột bao giờ, vì nó là Sanh Khí lưu chuyển rất Thần.
But Primordial Energy is not so. It instead harmonizes with Yang Energy to bring warmth to the whole Universe and nourish the growth of the myriad Things. If, during the day, Primordial Energy were to come to a halt, Heaven and Earth would suffocate; and if Heaven and Earth suffocated, how could the myriad Things of this world still exist? This is why Primordial Energy never once halts, never once suffocates — for it is Life-Force circulating in its most Spirit-like way.
Người học Đạo phải Thế lấy lời Ta giải đây mà tự mình gầy ra sức điều hòa Trời Đất trong thân Người, cho được Thần Khí trong sạch và yên lặng chớ vọng tưởng tin càng mà sanh sự khổ cho thân thể.
The student of the Way must take these words I have explained here as his own model, cultivating within his own person that same harmonizing power of Heaven and Earth, so that his Spirit and Energy may become pure and tranquil — and must not, through reckless, presumptuous belief, bring suffering upon his own body instead.
Tinh của Trời Đất và Người là chi?
What is Essence (Tinh) of Heaven, Earth, and Man?
Các trò muốn hiểu Tinh là chi, hãy nhớ lại lời chơn truyền của Nghiêu Thuấn, kẽ trao người lãnh cho đến Khổng Khưu thì mới rõ. Cả Tam Tài đều chú trọng nơi một điều Tinh nầy. Có Tinh mới Nhứt được, có Nhứt mới Tinh được. Nếu Tinh không Nhứt thì Tinh kia cũng hỏng, nếu Nhứt không Tinh thì Nhứt ấy phải tan. Vì Tinh gốc bởi nơi Thần và Khí đã được Chơn Nhứt mà sanh ra, nên mới gọi Một mà Ba, Ba mà Một. Một là Ba là phân ra Đạo có ba Thể, đồng một vật mà khác tên đặng cho biết mà xét, còn Ba mà Một là tóm lại cho rõ Đạo tuy Ba Thể mà Sự Dụng vốn có Một, đều bởi nơi Vô Vi mà có. Có Vô Vi mới sanh ra Thể, Tướng, Dụng, và dựng nên ngàn hình muôn trạng trong võ trụ ; hình trạng ấy đều là những chỗ chứa cho Đạo có Thể mà đứng, đặng tỏ bày Bổn Tánh của Ngôi Độc Nhứt vốn rất trong sạch, chi thiện chí mỹ, nhờ có Tinh nên mới được vậy.
If you wish to understand what Essence truly is, recall the true transmission of Nghiêu and Thuấn, handed down from one to receive to the next, all the way to Confucius, and only then will it become clear. All Three Powers alike center upon this one matter of Essence. Only with Essence can there be Oneness, and only with Oneness can there be Essence. If Essence lacks Oneness, that Essence itself fails; if Oneness lacks Essence, that Oneness itself dissolves. Because Essence has its root in Spirit and Energy having achieved True Oneness and given birth to it, it is said to be “One yet Three, Three yet One.” “One is Three” means dividing the Way into Three Bodies — the same single thing under different names, so that it may be examined and understood; “Three is One” means gathering them back together, to make clear that though the Way has Three Bodies, its Function is fundamentally One, all arising out of the Formless (Vô Vi). It is from the Formless that Body, Aspect, and Function are born, forming the thousand shapes and myriad forms throughout the Universe; and these shapes and forms are all vessels in which the Way may take its Body and stand, so as to manifest the Original Nature of the One Sole Throne — utterly pure, utterly good, utterly beautiful — and this is possible only because of Essence.
Tinh là một vật rất sáng sủa, rất trong sạch, rất tốt đẹp, quí nhứt, trọng nhứt, mà lại là bản tánh, bản chất của Ngươn Thần và Ngươn Khí đó.
Essence is a Thing utterly radiant, utterly pure, utterly beautiful, the most precious and most weighty of all things — for it is the very root-nature, the very root-substance, of Primordial Spirit and Primordial Energy.
Thử xét coi một vật của nhơn tạo, muốn cho tốt đẹp còn phải dày công trao giồi mới được tinh xảo tuyệt diệu thay, huống chi một vật của Tạo Hóa dụng hết Chơn Thần gầy ra Ngươn Khí đặng hóa sanh vạn vật mà chẳng tinh anh thuần túy sao? Mặt Trời, mặt trăng kia, bởi đâu có ánh sáng, mà hai cái ánh sáng ấy lại khác nhau ? Ấy cũng bởi cái Tinh của Thần và Khí của hai vật ấy đều khác nhau. Sự Sáng tuy chẳng đồng mà sự Sống vốn chẳng lạ, là vì Thần Khí Tinh của hai vật ấy đều nhầm Chơn Lý của Đạo vậy. Cái Tinh như vậy mới gọi rằng Tinh, nó vì sanh bởi Ngươn Thần Ngươn Khí của Trời Đất đã điều hòa trong lúc Định Tâm mà ra. Trung tâm của Trời Đất được Định, nên võ trụ mới yên lặng, nhờ vậy nên Ngươn Thần đọng lại được mà sanh ra Khí Tinh; vì vậy nên Thần không Tinh không Khí thì không đủ gọi là Ngươn Thần; mà Khí không Thần không Tinh, hoặc Tinh không Thần, không Khí, đều không được gọi là Ngươn Khí Ngươn Tinh. Một sanh Ba là vậy đó. Ba về Một là vậy đó.
Consider: even a thing made by human hands, if it is to become truly fine, still requires long labor and careful polishing before it can reach such marvelous refinement — how much more so, then, a Thing of the Creator’s own making, formed by pouring the whole of True Spirit into shaping Primordial Energy, so as to Generate and Transform the myriad Things — could this fail to be utterly pure and refined? Whence come the light of the sun and the light of the moon, and why do these two lights differ from one another? This too comes from the Essence of the Spirit and Energy of these two things being different from each other. Though their Light is not the same, their Life is no different at all — for the Spirit, Energy, and Essence of both alike accord rightly with the True Principle of the Way. Essence of this kind alone deserves to be called Essence, for it is born out of the Primordial Spirit and Primordial Energy of Heaven and Earth, harmonized in the hour of Settled Mind. When the Center of Heaven and Earth attains Settlement, the whole Universe grows still and quiet, and through this the Primordial Spirit is able to condense and give birth to Essence-Energy. This is why Spirit without Essence and without Energy is not enough to be called Primordial Spirit; and Energy without Spirit and without Essence, or Essence without Spirit and without Energy, cannot rightly be called Primordial Energy or Primordial Essence. This is what is meant by “One gives birth to Three,” and this, too, is what is meant by “Three returns to One.”
Ngươn Khí thuộc Dương nên Ấm, mà trong Ấm có Mát, Ngươn Tinh thuộc Âm nên Mát, mà trong Mát có Ấm, thẩy đều là Vật Vô Hình. Tuy là Vô Hình, song đều là Thần. Nhờ có Thần nên bay ra khắp Kiền Khôn Võ Trụ Sanh Sanh Hóa Hóa cho Vạn Vật mới được. Thần bay ra khắp võ trụ là Thần nương Khí ; Khí có Thần nên bay ra làm Sự Sống mà Sự Sống nầy gốc có Tinh, biết thấu được vậy mới rõ Thần Khí Tinh thuộc về Tiên Thiên, rất điềm tỉnh yên lặng vô hình, đứng về phương diện Tinh Thần, trong Thể của nó đủ Tướng Dụng của Đạo, nên nó mới Hành ra được sự Sanh Hóa và Trưởng Dưỡng muôn vật. Còn Tinh Khí Thần của kẻ mượn danh hiệu Ta đặng dạy dỗ các trò ấy, nó là Hậu Thiên Hữu Hình, tùy theo hoàn cảnh ô trược mà biến hóa, thuộc về vật chất, nào có sanh hóa chi được những việc thuộc về Đạo Lý, nên kiếm thế làm trái ngược Đạo Lý của Chơn Lý của Trời, mà lại tự khoe mình rằnh hay hơn Trời, cao hơn Trời, mà cũng tự xưng mình là Tiên Thiên Đại Đạo vậy.
Primordial Energy belongs to Yang, and so is Warm, yet within that Warmth there is Coolness; Primordial Essence belongs to Yin, and so is Cool, yet within that Coolness there is Warmth — both alike are Formless Things. Though Formless, both alike are Spirit. It is only through Spirit that they can spread throughout the whole Universe, Generating and Transforming without end, giving Life to the myriad Things. That Spirit spreading throughout the Universe is Spirit relying upon Energy; Energy, having Spirit within it, spreads forth to become Life itself, and this Life has its root in Essence. Knowing this thoroughly, one understands that Spirit, Energy, and Essence together belong to the Prior Heaven (Tiên Thiên) — utterly still, utterly quiet, utterly Formless, standing wholly on the side of the Spiritual, and within their own Body already possess the Aspect and Function of the Way, and so are able to carry out Generation, Transformation, and the growth and nourishment of the myriad Things. But the Essence, Energy, and Spirit of those who falsely borrow My name to teach you belong instead to the Later Heaven (Hậu Thiên) — things of Form, changing according to whatever corrupt circumstance surrounds them, belonging to the realm of mere material substance, utterly incapable of generating or transforming anything that truly belongs to the Way. Such people instead seek every means to act directly against the True Principle and the Way of Heaven, all while boasting that they themselves are cleverer than Heaven, loftier than Heaven, and even styling themselves the Great Way of the Prior Heaven.
Ta đã giải sao rằng là Tiên Thiên, sao là Hậu Thiên rồi, vậy thì các trò phải gia tâm mà xét đến cho được cực-điểm, khi ấy mới hiểu thấu thêm sự Thánh Thần Công Dụng của Chơn Lý Đại Đạo gồm ở trong bài giảng nầy, đặng các trò đem vào Chơn Thân Chơn Thể cho hiểu Tâm Tánh của Người là chi. Chớ làm, chớ nghe, và chớ tin những điều chi lộn với cách Ta giảng đây mà phạm Thiên Điều. Nếu phạm Thiên Điều thì Luật Trời đâu thứ. Các trò được vậy mới thấu được Ngọc của Trời là chi. Hiểu rồi, làm được rồi mới được gọi rằng là không thẹn với tiếng là Trời của Lúa vậy, mới chẳng phụ tiếng là Con của Thầy vậy.
Now that I have explained what the Prior Heaven is and what the Later Heaven is, you must give your hearts to examining it to the very utmost; only then will you understand more fully the Sacred and Spiritual Function of the True Principle of the Great Way contained in this discourse, and bring it into your own True Body and True Substance so as to understand what the Heart and Nature of Man really are. Do not do, do not listen to, and do not believe anything that muddles what I explain here, lest you transgress the Heavenly Statutes — and if the Heavenly Statutes are transgressed, Heaven’s Law will not forgive. Only when you have done this will you grasp what Heaven’s Jewel is. Only when you have understood it, and put it into practice, can you be said not to shame the name “Heaven of Rice,” and not to betray the name “Child of the Master.”
Quí quá thay cho những trò có chí tập sự vào khoa Cách Vật Trí Tri của Ta đương chỉ bảo. Nếu mỗi trò đều được như vậy, thì lo chi chơn không bước đến được Cung Tường của Ta. Sự học là vụ phải gia công suy tầm cho lắm thì mới trông thấy được, dầu cho một vật chi nhỏ mọn cũng còn phải lắm công phu khảo cứu mới có thể hiểu thấy, huống chi Đại Đạo là một vật Vô Hình, thì lại càng phải dụng công nghiên cứu lấy cho lắm mới rõ được làm sao gọi rằng Chơn Lý, thì mới trông tìm ra mối manh của Đại Đạo. Đại Đạo đã là một vật Vô Hình từ xưa đến nay chưa từng có người đem ra chỉ bảo cho chán chường rành rẽ, cũng cứ chỉ và giải một cách bóng dáng, làm cho kẻ muốn học Đạo mỗi người nghe hiểu một cách riêng, rồi tự mình tưởng rằng mình đã tìm ấy là trúng, chớ nào chịu biết rằng Đại Đạo chẳng hề dùng Trí riêng của người đem vào tưởng tượng cho hiểu được. Cũng bởi tự người dùng Lý Trí riêng của mình đặng cân, đặng gióng, đặng đo, đặng lường Chơn Lý, nên mới có sai lạc vào ngả khác mà không ai chịu sửa mình. Ta nay vưng lịnh Đức Thượng Đế đến đây Giám Đốc Đạo Tràng, thấy rõ sự sai lầm của các trò như vậy, nên Ta phải dùng những vật có hình đem ra làm tỷ dụ cho các trò dể suy gẩm, song Ta lại còn phải khuyên nhủ các trò, nhắc nhở các trò, chớ hiểu lầm những vật Ta đã đem ra cho có hình ấy nó thật phải là trúng Đạo rồi đâu, vì còn phải biết thêm rằng: tuy hiện thời nó là vật có hình, nhưng nó vẫn là bởi nơi Vô Hình mà có đó. Biết được Vật gốc bởi Vô Hình nên sanh Hữu Hình nầy, rồi nó cũng còn phải do nơi cái Hữu Hình nầy đặng mượn làm Thể dùng thâu rút các vật Vô Hình nơi Võ Trụ không gian kia, mà Sanh Sanh Hóa Hóa thêm ra muôn vàn Sự Vật khác, mới có thể giúp công cho Tạo Hóa. Biết được như vậy, mới đủ phân biệt sao gọi rằng Tướng, sao gọi rằng Dụng của Vật cho trúng Đạo Lý, đặng đem ra làm công dụng cho các trò cho phải chỗ.
How precious are those disciples who have resolved to practice the science of Cách Vật Trí Tri (the Investigation of Things and the Extension of Knowledge) that I am now teaching! If every disciple were like this, why worry that their feet would fail to reach My Palace Walls? Learning demands great labor of searching and reflection before anything can be seen; even a small, humble thing takes much work of study before it can be understood — how much more, then, the Great Way, which is a Formless Thing, and so requires all the more labor of study before one can know what is meant by True Principle and find the first thread of the Great Way. The Great Way, being a Formless Thing, has never from ancient times to now been pointed out and explained to the full by anyone; it has only been indicated and explained in shadowy fashion, so that each person who wishes to learn the Way hears and understands it in his own private way, and then supposes that what he has found must be right — never willing to recognize that the Great Way can never be understood by bringing to it one’s own private Knowledge and imagination. It is precisely because each person uses his own private Reason to weigh, to plumb, to measure, and to calculate True Principle that people have strayed into other paths, and no one is willing to correct himself. Now I have come, by command of the Supreme Being, to direct this Hall of the Way, and seeing plainly this error of yours, I have had to take things that have Form as illustrations so that you may reflect on them more easily. But I must also counsel you and remind you not to misunderstand the things of Form that I have set before you, as if those things were themselves already the Way — for you must further understand that although they are, for now, things of Form, they nonetheless come from the Formless. Knowing that things have their root in the Formless and thus give rise to the Formed, you must also know that this Formed thing must then be borrowed as a Body, by means of which to draw in the Formless things of the spacious Universe, and thereby Generate and Transform still more countless Affairs and Things, so as to be able to help the Creator in His work. Knowing this, you can then distinguish rightly what is meant by the Aspect and what is meant by the Function of a Thing, in accord with the Principle of the Way, and put it to use as your work in its proper place.
Các trò đã nghe Ta giải cái sức Tiên Thiên Vô Hình kia nó sanh ra Hậu Thiên Hữu Hình này rồi, vậy thì các trò cần biết thêm rằng Hậu Thiên Hữu Hình nầy có rồi, thì nó còn phải làm sao cho gọi rằng phù hạp với Đạo Lý Chơn Chánh, chớ hễ đã là hữu hình rồi mà chẳng rõ sự công dụng của nó phải làm thế nào, thì lâu ngày nó sẽ phải hoại, bằng làm sái sự công dụng chơn chánh của nó lại càng mau hoại thêm, chớ bao giờ có dùng vật hữu hình mà luyện nó cho hoàn hư không, như kẻ mạo danh Ta mà dạy các trò tự bấy lâu nay đó bao giờ? Vì nếu hễ dùng vật Hậu Thiên Hữu Hình mà luyện, tức thì sẽ thấy luyện Tinh thì Tinh kiệt, luyện Khí thì Khí khô, Tinh Khí đã bị khô kiệt rồi, thì đâu còn Thần mà hoàn hư vô? Dầu cho Tinh Khí ấy lúc chưa khô kiệt thì nó đã hoá làm một chất đàm thiêu nhớt, sình ứ động trong châu thân ngăn lấp huyết mạch làm cho khí huyết không phương vận động thì có, chớ nào có thành được Diên Hống chi đâu! Vì vậy Ta đã nói rằng: « Tinh Khí Thần là vật Hậu Thiên Hữu Hình, thuộc về vật chất, tùy theo hoàn cảnh ô trược mà biến hóa, nào có sanh hóa chi được những việc chi thuộc về Đạo Lý ». Kẻ tả đạo bàn môn dối Trời, gạt Người, hại Đạo đến thế là cùng! Thương cho cái gọi là Con Người đến đây mà còn chưa chịu thức tỉnh!
Having heard Me explain how the power of the Formless Prior Heaven gives rise to this Formed Later Heaven, you must next understand that once this Formed Later Heaven exists, it must be made to accord with the True and Upright Principle of the Way; for if a thing of Form is not understood in the right use it is meant for, then in time it will decay, and if it is put to wrong use, contrary to its true and proper function, it will decay all the sooner. Never has anyone been able to use a Formed thing to refine it back to the Void, as those who have falsely borrowed My name have been teaching you all this time! For if a thing of the Formed Later Heaven is used for such refining, then in refining the Essence, the Essence is exhausted; in refining the Energy, the Energy dries up; and once Essence and Energy have been exhausted and dried up, where is there any Spirit left to return to the Void? And even while the Essence and Energy have not yet dried up, they have already turned into a sticky, phlegmy sludge, stagnating within the body, blocking the blood vessels so that blood and Energy can no longer move — that much is certain; but nothing resembling the “Cinnabar and Mercury” (Diên Hống) is ever produced! This is why I have said: “Essence, Energy, and Spirit [of the body] are things of the Formed Later Heaven, belonging to material substance, changing according to whatever corrupt circumstance surrounds them, and utterly incapable of generating or transforming anything that belongs to the Principle of the Way.” That practitioners of false paths and side-doors should deceive Heaven, cheat Man, and harm the Way to such a degree is beyond all bounds! How pitiful, that the beings called Man should have come all this way and still refuse to awaken!
Giống Lúa (Ta gọi là Giống Lúa đó) biết tuân theo Đạo nên chịu mở Hư Tâm ra, hứng lấy Thần, Khí, Tinh của Trời Đất vào mình đặng làm Ngọc. Ngọc ấy do nơi Vô Hình sanh ra Hữu Hình (Ta gọi là Ngọc mà các trò gọi là Lúa đó). Vậy nay các trò hãy vạch thữ coi trong thân nó có những chi đặng nó Sanh Sanh Hóa Hóa được? Các trò biết kiếm cho được như vậy mới gọi là Cách Vật, mới gọi là Trí Tri. Biết Cách Trí như vậy, mới làm được Sự Sống cho Con Người, vì biết Cách Trí như vậy mới thấy Đạo Lý, vì Đạo là Sự Sống. Biết đem Sự Sống của Đạo mà dùng, thì mới gọi là biết Đạo. Biết được Đạo rồi mới tuân theo Luật Đạo đặng làm Sự Sống, giúp Trời cứu Người được cho. Nếu các trò chẳng biết khoa Cách Trí của Ta chỉ, mà trái lại các trò vẫn dùng khoa Cách Trí theo Lý Trí của các trò đã thường dùng bấy lâu nay, thì các trò vạch Lúa ra nào thấy được Ngọc của nó! Các trò thử nghĩ coi, một khi đã vạch nó ra rồi, thì nó đã hư cái lớp Không Tâm của nó mà các trò gọi là vỏ đó. Vừa phá cái vỏ nó ra rồi, thì Lúa kia đã chết, nào còn Sự Sống đặng cứu Người? Các trò đã vạch cho lột cái vỏ Lúa, thì các trò thấy gạo mà thôi. Gạo là gạo chớ nào phải là Ngọc. Gạo nuôi được Sự Sống cho Cái Người, chớ nào nuôi được Sự Sống cho Con Người bao giờ. Gạo tuy rằng nuôi Sự Sống cho Cái Người, mà có khi Cái Người còn phải bịnh phải chết vì gạo nữa! Gạo đã chẳng phải là vật nuôi cho trọn sống Cái Người, thì nào nó có làm chi cho sống Con Người được đâu? Vì vậy nên Ta đã nói rằng: « Con Người chẳng hề ăn cơm gạo » là vậy đó.
The Rice Seed (this is what I call it, the Rice Seed) knows how to follow the Way, and so is willing to open its Empty Heart and receive the Spirit, Energy, and Essence of Heaven and Earth into itself so as to form Jewel. This Jewel is born of the Formless into Form (I call it Jewel, and you call it Rice). Now, then — open it up and see: what is there within its body that enables it to Generate and Transform? Only when you know how to find out this much can it be called Cách Vật, can it be called Trí Tri. Only when you understand Cách Trí in this way can you create Life for the Human Person, for only by understanding Cách Trí in this way can you see the Principle of the Way, since the Way is Life. Knowing how to put the Life of the Way to use is what it means to know the Way. Only after knowing the Way can you follow the Law of the Way to make Life, helping Heaven to save Man. If you do not know the science of Cách Trí that I am teaching, and instead go on using the science of Cách Trí based on your own habitual Reason, as you have been doing all this time, then when you split Rice open, how will you ever see its Jewel? Think about it: once it has been split open, the outer layer of its Empty Heart — which you call the husk — is ruined. The moment you break the husk, that Rice has died — where is there any Life left to save Man? Once you have split the husk off the Rice, all you see is white rice. White rice is white rice — it is not Jewel. White rice can sustain the Life of the Body-Person (Cái Người), but it can never sustain the Life of the True Person (Con Người). And even though white rice sustains the Life of the Body-Person, there are times when that Body-Person falls sick and even dies because of it! If white rice cannot even sustain the Body-Person to the end of a full life, how could it possibly sustain the True Person? This is why I said: “The True Person never eats cooked rice.“
Vậy thì Con Người ăn những chi mà Sống?
Then what does the True Person eat, in order to Live?
Ta đã nói Giống Lúa biết tuân theo Đạo, nên chịu mở Hư Tâm ra hứng lấy Tiên Thiên Vô Hình vào mình đặng làm Ngọc cho nó, vậy thì đủ rõ biết rằng Tiên Thiên Vô Hình ấy là Chơn Lý của Đạo, một khi Lý ấy đã đựng vào Tâm của Lúa rồi, thì nó thành ra Hậu Thiên Hữu Hình; nó đã thành hình rồi, thì Đạo ấy Lý ấy kêu là Ngọc, vậy thì Con Người phải dùng Ngọc ấy mà nuôi sống, vì Ngọc ấy mới chánh là Đạo Lý của Vũ Trụ đựng vào trong thân của Lúa, chớ Gạo kia nuôi cho khắp cả mọi vật đều được, nào phải để riêng nuôi cho Cái Người của Con Người mà thôi đâu! Ngọc kia mới nuôi cho Con Người được. Vậy muốn tìm cho biết Ngọc, thì phải tìm cho thấy Chơn Lý Đại Đạo đã ẩn ở trong thân Con Người, cũng như tìm cho thấy Chơn Lý Đại Đạo đã ẩn ở trong thân của Lúa vậy. Thấy được vậy rồi mới rõ Đạo là Ngọc của Người để dành nuôi và làm Sự Sống cứu Người. Người cần phải mở cái Hư Tâm của mình ra đặng hứng lấy nó vào mình đặng làm Ngọc thì mới có được Sự Sống cho mình đặng giúp Sanh Hóa cho Trời.
I have said that the Rice Seed knows how to follow the Way, and so is willing to open its Empty Heart and receive the Formless Prior Heaven into itself to form its Jewel; from this it is plain that this Formless Prior Heaven is the True Principle of the Way. Once that Principle has been contained within the Heart of the Rice, it becomes the Formed Later Heaven; and having taken form, that Way, that Principle, is called the Jewel. So the True Person must use this Jewel to sustain his Life, for this Jewel is precisely the Principle of the Way of the Universe contained within the body of the Rice — whereas white rice can feed every kind of creature alike, and was never set apart to feed only the Body-Person (Cái Người) of the True Person! Only the Jewel can feed the True Person. And so, if you wish to know the Jewel, you must find and see the True Principle of the Great Way hidden within the body of Man, just as you must find and see the True Principle of the Great Way hidden within the body of the Rice. Only having seen this will you understand that the Way is Man’s Jewel, kept in reserve to nourish him and to make the Life that saves him. Man must open his own Empty Heart to receive it into himself and form his Jewel, and only then will he have Life of his own, by which to help Heaven in Generation and Transformation.
Bởi các trò thường dùng Cái Trí của Cái Người đặng Cách Cái Lý của Vật mà gọi rằng Cách Vật Trí Tri, làm thể ấy chính là dùng Lý Trí của Cái Người đặng Cách Sự Lý Vật Chất của Cái Vật, chớ nào phải là chụi Trí Lương Tri của Con Người đã sẳn có, đặng Cách cho đúng tột Tinh Thần Sự Lý của Vạn Vật Võ Trụ đâu? Nếu dùng theo Lý Trí của các trò đặng Cách Vật, thì Ta thấy các trò xét biết Lúa là một vật để nuôi sống cho Người, nếu Người muốn sống thì phải xay Lúa cho ra Gạo, phải chà phải giả Gạo ấy cho trắng, phải nấu cho chín thành Cơm mà ăn mới sống. Hoặc cũng có trò lại khảo cứu các tánh chất trong hột Lúa có những chi, đặng chế biến Gạo ấy cho thành Bột có thể dùng trong những món ăn khéo léo khác mà gọi là nuôi sự sống cho Người. Các trò làm như vậy gọi là Cách Vật, làm như vậy gọi là Trí Tri. Xét coi cái khoa học của trò Cách Trí như vậy, tìm tánh chất của các Vật thể ấy, nếu đem ra đặng biến hóa càng nhiều càng tinh xảo chừng nào, thì Ta thấy càng chế thêm ra nhiều thứ thuốc độc để hại sanh mạng của Người cho mau tiêu diệt thì có, chớ nào có ích lợi chi cho Sự Sống của Người đâu, mà sao Ta coi các trò lại ưa chuộng những khoa học hóa học ấy hoài? Phải biết Khoa Hóa Học là khoa vụ tìm cho ra sự Sanh Sanh Hóa Hóa của Võ Trụ, vụ giúp sự Trường Sanh cho Chơn Thân Chơn Thể Con Người kìa chớ! Muốn tìm cho ra khoa Hóa Học Trường Sanh, thi phải dùng khoa Cách Trí của Ta đã chỉ, là phải Trí Lương Tri đặng Cách Sự Vật cho Tinh Thần mà thôi. Muốn theo khoa Cách Trí Tinh Thần thì phải nhớ rằng: Vạn Vật Võ Trụ với Người đây vốn đồng Một Sự Sống như nhau, vì đều bởi Một mà ra, bởi Một mà nên. Nếu ai không biết đến Một nầy, thì ắt phải tiêu diệt. Đã là Một rồi, song Một ấy lại hóa ra Hai. Hai nầy là Hồn và Xác, tuy gọi Hai song vốn có Một. Vậy nên Vạn Vật Võ Trụ với Người không lạ chi, vẫn là Một, vì thảy đều có Hồn và Xác như nhau, và cũng đều do nơi Một kia mà có vậy, dầu cho cầm thú, cỏ cây cũng đều có Hồn và Xác như Người, song Người là một Vật Quí hơn các Vật trong Vạn Vật, vì Người trọn đủ phần Hồn hơn. Hồn của Người như là như là Ngọc của Lúa vậy. Lúa kia còn phải có Ngọc mới được Sống thay, huống chi Người này lại không có nó sao? Vậy nên Con Người phải dùng Ngọc của Lúa đặng nuôi Sự Sống cho Ngọc của Người. Mà Ngọc của Người là chi? Ấy là phần Hồn đó. Sao chẳng nhớ rằng: « Hồn con là Ngọc của Thầy ».
You habitually use the Cleverness of the Body-Person (Cái Người) to “investigate” the Principle of Things, and call this Cách Vật Trí Tri; but doing so is precisely using the Reason of the Body-Person to investigate the material principle of a material thing, and not relying on the Innate Knowing (Lương Tri) that the True Person already possesses, so as to investigate fully to the very Spirit and Principle of the myriad Things of the Universe! If you use your own Reason to investigate things, I see that you find out that Rice is a thing that sustains Man’s life, and that if Man wishes to live, he must mill the Rice into white rice, polish and pound that white rice until it is white, and cook it until it becomes cooked rice, in order to eat and live. Or some of you study what substances lie within the grain of Rice, so as to process that white rice into flour to be used in other clever dishes, and you call this nourishing life for Man. What you do in this way you call Cách Vật; what you do in this way you call Trí Tri. Consider this science of Cách Trí of yours, hunting out the properties of each material body: the more you transform them, and the more skillfully, the more I see you producing all sorts of poisons that destroy Man’s life all the faster, and never anything truly beneficial to Man’s Life — so why do I see you forever prizing those chemical sciences? You must understand that the science of Chemistry (Hóa Học, literally “the science of Transformation”) is the work of finding out the Generation and Transformation of the Universe, and of helping bring about Long Life for the True Body and True Substance of Man! To find the true science of Life-Prolonging Transformation, you must use the science of Cách Trí that I have shown you, which is simply to use Innate Knowing to investigate Affairs and Things down to their Spirit. If you wish to follow the science of Cách Trí of the Spirit, you must remember that the myriad Things of the Universe and Man are, at root, of One Life, for all come from One and are made into being by One. Whoever does not know this One must surely perish. And yet, though it is One, that One becomes Two: these Two are the Soul (Hồn) and the Body (Xác), and though called Two, they are fundamentally One. So the myriad Things of the Universe and Man are no different from one another — they are still One — since all alike have a Soul and a Body, and all alike arise from that same One; even the beasts, the grasses and the trees have a Soul and a Body as Man does; yet Man is a more precious Thing than the other things among the myriad, because Man is more complete in his portion of the Soul. Man’s Soul is like the Jewel of the Rice. Rice itself must have a Jewel in order to Live — how could Man alone lack one? So the True Person must use the Rice’s Jewel in order to nourish the Life of Man’s own Jewel. And what is Man’s Jewel? It is the Soul (Hồn). Do you not remember the saying: “My child’s Soul is the Master’s Jewel.“
Nếu các trò muốn lột cái vỏ của Lúa cho ra Gạo, thì Lúa đâu còn sự sống? Nếu không còn sự sống, thì giống Lúa của Ta nói đâu còn? Nếu giống Lúa không còn, thì đâu còn kiếm được Ngọc mà nuôi Sự Sống cho Ngọc của Người được Trường Sanh Trường Tồn? Nếu vậy thì Giống Người đâu còn có nữa? Nếu Giống Người đã tuyệt, thì Vạn Vật Võ Trụ phải ra thế nào? Các trò hãy nhớ lời Ta nói rằng: « Trời không Người thì Trời nào có. Trời nầy phải nhờ Người, Đất mà ra, nhờ Người, Đất mà lớn vậy. Vạn Vật Võ Trụ cũng đều phải vậy ». Biết rõ vậy mới hiểu rằng: « Trời Sống bởi Người, mà Người không Lúa thì Người đâu còn, cũng như Trời không Người thì Trời nào có? »
If you insist on stripping the husk off the Rice to get white rice, where is the Rice’s life then? And if there is no life left, where is the Rice Seed of which I have spoken? And if the Rice Seed is no more, where will you ever find the Jewel with which to nourish the Life of Man’s Jewel, so that it may attain Long Life and Lasting Existence? If so, then the Seed of Man is no more! And if the Seed of Man is extinguished, what becomes of the myriad Things of the Universe? Remember My words: “Without Man, there would be no Heaven at all. This Heaven must come to be through Man and Earth, and grow through Man and Earth; so too the myriad Things of the Universe.” Knowing this clearly, you will understand: “Heaven lives through Man, and without Rice there is no Man — just as without Man, there is no Heaven.”
Xét đủ các lời Ta đã chỉ, thì các trò đủ hiểu hễ ai là Người muốn tìm Đại Đạo thì vụ phải rõ Chơn Lý là sao. Có tìm được Chơn Lý mới xét đủ các lời Ta đã chỉ, khi ấy mới hiểu Đại Đạo vụ phải rõ Chơn Lý cho được. Có tìm được Chơn Lý mới thấy Hồn Xác Con Người thể nào. Muốn biết Hồn Xác Con Người thể nào lại càng phải xét cho ra Hồn Xác của Giống Lúa mới được, vì Người là Lúa của Trời, mà lại là Trời của Lúa. Muốn biết Người đây mà là Người nào chính là Người của Trời chọn làm Giống Người, đặng Sanh Sanh Hóa Hóa ra Người Giống giúp Trời, thì Người phải tự xét lấy mình coi mình phải chọn lấy Lúa nào ra làm Giống Lúa đặng Sanh Sanh Hóa Hóa ra Lúa Giống giúp Ngưòi, xét vậy thì đủ rõ.
Having examined all that I have pointed out, you should understand that whoever is a Man who seeks the Great Way must clearly know what True Principle is. Only by finding True Principle can you examine all the words I have shown you, and only then will you understand that the Great Way demands that True Principle be made clear. Only by finding True Principle will you see what the Soul and Body of Man truly are. And to know what the Soul and Body of Man are, you must all the more examine the Soul and Body of the Rice Seed, for Man is the Rice of Heaven, and yet also the Heaven of Rice. If you wish to know just what kind of Man this Man is — namely, the Man whom Heaven has chosen to be the Seed of Man, to Generate and Transform Seed-Men who will help Heaven — then Man must examine himself, and ask which Rice he himself must choose as Seed Rice, to Generate and Transform Seed-Rice that will help Man. Examine it thus, and it will be entirely clear.
Kẻ nông biết Lúa ẩm lép thì không thể mọc, nên không chọn làm Lúa Giống, thì Trời kia cũng vậy, nếu chọn Giống Người, thì lẽ nào lại để cho những ai không no đầy Đạo Đức làm Người Giống sao? Muốn cho được Lúa Giống cho tốt, thì người nông dầy công phu biết mấy, nên hễ đến mùa lúa chín, thì phài rảo bước đi từ bụi, chọn gié nào sai hột và no đủ, tước đem về ca củm phơi nắng lấy sương cho vừa cho đều rồi còn phải lựa kỹ từ hột một không cho lộn lạo: được chắc ý rồi, mới chịu đựng kính vào lu vào vò, để dành làm giống cho mùa ruộng năm tới. Hột Lúa nào được chọn kỹ như vậy mới gọi rằng là Hột Giống, vì nó đã tích trử no đầy Tiên Thiên Tam Bữu trong lúc đơm nhụy cho đến lúc trổ bông và nó đã hứng chịu Hậu Thiên Tam Bữu trong những lúc nên trái cho đến lúc phơi phong rồi. Đủ Tiên Thiên Hậu Thiên hiệp nhứt vào mình rồi mới gọi là trọn Chơn Ngươn. Hột Lúa nào được chọn có đủ như vậy, mới gọi Hột Lúa ấy là Hột Lúa Giống vì nó no đầy Tứ Đại Giả trong mình nó.
A farmer knows that damp, hollow grains cannot sprout, and so does not choose them as Seed Rice; Heaven is the same: if Heaven is choosing the Seed of Man, could it possibly let those who are not full of Virtue and the Way be the Seed-Men? To have good Seed Rice, the farmer must labor long and hard. When the season of ripe rice comes, he must walk from clump to clump, choosing the stalks heavy with full and plump grains, stripping them off and bringing them home to be stored, drying them in the sun and letting them take the dew just so, evenly; and then he must select them carefully, grain by grain, letting none be mixed in. Only when he is satisfied does he reverently place them in jars and urns to keep as seed for the next season’s field. A grain of Rice chosen this carefully is called a Seed Grain, because it has stored to fullness the Prior Heaven’s Three Treasures during the time from flowering to the heading of the ear, and has received the Later Heaven’s Three Treasures during the time of fruiting and of drying in the sun and wind. Only when the Prior Heaven and the Later Heaven are fully united within it can it be called the complete True Primordial (Chơn Ngươn). A grain of Rice chosen with all this fullness can be called a Seed Grain because it is full to the brim with the Four Provisional Great Elements (Tứ Đại Giả).
Nhờ sự chọn kỹ lưỡng như vậy, nên mỗi một Hột Giống đến ngày trở ra ruộng thì đủ sức vận động lấy Chơn Ngươn ấy đặng biến hóa Tứ Đại Giả có sẳn trong mình, thành ra một cái Hình Thể mới, gầy dựng nên một gia tộc đông đảo có đoàn thể, có cơ sở riêng, đủ thế lập lấy mình đặng hấp thụ Không Khí Trời Đất đương lưu chuyển trong vòng Tứ Giả nơi mấy từng không gian kia. Cái cơ sở riêng ấy là chi? Là cái Vỏ non của mỗi Hột Lúa lúc vọt ra khỏi mình Mẹ nó đó. Đến đây là rồi bổn phận của Hột Giống, mà cái Võ non kia bắt đầu phải làm sao cho trọn bổn phận mình đặng làm cho nên Hột Lúa đó.
Thanks to this careful selection, each Seed Grain, when the day comes for it to return to the field, has strength enough to set that True Primordial in motion, to transform the Four Provisional Great Elements already within itself into a new Form and Body, founding a large family with its own community and its own base, strong enough to stand on its own and absorb the Air of Heaven and Earth as it circulates within the circle of the Four Provisional Elements in the several layers of space. And what is that base of its own? It is the tender Husk of each grain of Rice at the moment it shoots forth from the body of its Mother. Here the duty of the Seed Grain is done, and the tender Husk must now begin to work out how to fulfill its own duty, so that it may become a true grain of Rice.
Muốn nên được Hột Lúa, thì cái Vỏ non nầy bắt đầu từ đây phải tập mình hứng lấy sương nắng cho quen Không Khí nơi không gian, cho nở nang mạnh mẻ các cơ quan trong những đường gân sớ thịt, làm cho nó có sức mỡ ra khép vào trong những lúc phải cần dùng. Cái tiếng mà các trò nói Lúa hé Vỏ ngậm sương làm gạo đó, đến đây các trò hiểu chưa? Ấy là cái Vỏ phải hứng sương nắng cho quen để dành làm việc bổn phận mà thôi, chớ sương nào có làm Gạo cho được. Sương nắng để tự nhuận và ấm áp cỏ cây bông trái cho được đúng mức mà thôi.
To become a true grain of Rice, this tender Husk must, from this point on, train itself to take in dew and sun, so as to grow used to the Air of open space, letting the organs along every vein and fiber of its flesh open and expand, giving it strength enough to open and close as needed when the time comes. Do you now understand what is meant by the saying that “Rice parts its Husk to hold the dew and so becomes grain”? It means only that the Husk must take in dew and sun so as to grow accustomed to them, in readiness for its own duty — dew itself never makes the grain! Dew and sun serve only to moisten and warm the grass, trees, flowers and fruit, each to its proper measure, and nothing more.
Hột Giống lập xong cơ sở để lại cho Vỏ non, tuy để laị có một cái Vỏ không không mà thôi, song trong ấy có một cái chất rất quí để dành sao có thể làm Hình đặng hứng lấy Ngọc Trời. Chất ấy, các trò gọi là Ngòi. Nhờ có chất nầy mà Vỏ non đến khi đủ sức mở và khép tự nhiên rồi, thì nó bắt đầu hứng lấy Tiên-Thiên Tam Bữu nên các trò gọi là Nhụy, chớ các trò nào rõ ấy là một cái Hư Tâm có sẳn Tánh khéo làm Nhơn Duyên cho nó, nên biết rước những Khí Vô Hình ở ngoài đem vào đựng cho đầy đủ, đặng làm Chơn Tâm mà nuôi lấy Chơn Thân Chơn Thể của nó đâu!
Once the Seed Grain has finished laying this foundation, it leaves behind for the tender Husk what seems to be nothing but an empty shell — yet within that shell lies a most precious substance, held in reserve so that it may take Form and receive Heaven’s Jewel. That substance you call the Germ (Ngòi). Thanks to this substance, once the tender Husk has grown strong enough to open and close on its own, it begins to take in the Prior Heaven’s Three Treasures, and this is what you call the Nhụy (the flowering bud) — though you never truly understood that this is in fact an Empty Heart already possessing a Nature skilled at serving as its own Causal Bond (Nhơn Duyên), so that it might know how to draw in the Formless Energy from outside and fill itself to the full, so as to form its own True Heart (Chơn Tâm) by which to nourish its own True Body and True Substance!
Tuy biết rằng Tiên Thiên Tam Bữu là Khí Vô Hình, song trước khi nó đựng được vào Hư Tâm kia, nó cần phải trải qua biết mấy từng Không Gian thay đổi biết mấy lần không khí, trong thời gian ấy nó phải pha trộn biết bao nhiêu Khí Chất của Tứ Giả, nhứt là từng ở gần trái Địa Cầu này. Cho đến lúc Hư Tâm kia hứng chịu Khí Chất Hậu Thiên Tam Bữu cho nên Hình mà các trò gọi là Gạo đó, thì chất nầy là một chất để dành nuôi lấy Ngọc Trời vô hình ở trong thân nó mà thôi, cũng như phép y phương dùng hơi Gạo đặng nuôi nhiều vị thuốc quí vậy. Xét vậy thì đủ thấy trong Gạo phần nào thuộc về Tiên Thiên Tam Bữu thì là phần Linh Hồn, phần nào thuộc về Hậu Thiên Tam Bữu thì là phần Anh Hồn, phần nào pha trộn của Tứ Giả thì thuộc về Thần Hồn, còn Vỏ kia là cái xác đựng Tam Hồn vậy. Vì vậy Ta đã nói rằng trong Lúa có Hồn và Xác, nên hễ ai lột Vỏ Lúa ra đặng lấy Gạo thì Lúa kia đã chết, nào có làm được Sự Sống cho Con Người.
Though it is known that the Prior Heaven’s Three Treasures are a Formless Energy, before it can be held within that Empty Heart it must pass through who knows how many layers of space, through who knows how many changes of air, and in that time it must mix with no small measure of the Energy-Substance of the Four Provisional Elements, especially in the layer nearest this Earth. Only once the Empty Heart has taken in the Energy-Substance of the Later Heaven’s Three Treasures, so as to take on the Form that you call white rice, does this substance become a thing held in reserve to nourish the Formless Jewel of Heaven within its own body — just as in medicine, the vapor of rice is used to carry and nourish many a precious remedy. Examine this closely, then, and you will see plainly: within the rice, whatever portion belongs to the Prior Heaven’s Three Treasures is the portion of the Numinous Soul (Linh Hồn); whatever portion belongs to the Later Heaven’s Three Treasures is the portion of the Bright Soul (Anh Hồn); and whatever portion is mixed from the Four Provisional Elements belongs to the Spirit Soul (Thần Hồn) — while the Husk itself is simply the Body (Xác) that holds these Three Souls. This is why I have said that within Rice there is Soul and there is Body — and so, whoever strips off the Husk of Rice to get at the white rice has already killed that Rice, and it can no longer make true Life for the True Person.
Các trò phải biết Trí Lương Tri như vậy, đặng Cách cái Vật của Hột Lúa, thì rõ mỗi Hột Lúa trong mình nó đều hứng chịu Tam Bữu của Tiên Hậu Thiên khác nhau chớ chẳng đồng, nên cũng thì một Hột Giống đem gieo xuống đất sanh sản ra nhiều chồi nhiều tược, mỗi chồi mỗi tược lại trổ ra nhiều gié, mỗi gié đâm ra nhiều nhánh, mỗi nhánh có nhiều bông; có nhiều như vậy nó mới lập gia tộc đoàn thể cơ sở về sau cho nó được, song gốc có Một Hột Giống mà thôi; mà sao lúc trổ bông trái lại không đồng nhau, gié thì thưa, gié thì sai, gié thì lép nhiều, gié thì chắc nhiều, có gié thì trọn chẳng tốt, có gié lại không một hột chắc nào, có gié lại vào gạo không đầy, cũng có gié phải khô tại bụi trong lúc các gié khác đương trổ bông, có gié lại dốc ra thứ giống khác hẳn với Hột Giống khi trước, có gié lại trổ đôi ba thứ giống khác nhau. Ấy là nói trong một Hột Giống đó, còn nói chi đến trong một vuôn ruộng gieo xuống biết bao nhiêu Hột Giống, thì nó lại càng trổ ra khác nhau thế nào? Tại sao mà nó không đồng với nhau như vậy? Các trò thử nghĩ xét coi. Thử Trí cái Lương Tri đặng Cách cái Vật Hột Lúa này cho Ta nghe thử.
You must apply Innate Knowing (Trí Lương Tri) in this way so as to Investigate the Thing (Cách cái Vật) that is the grain of Rice. Then you will see clearly that each grain of Rice receives within itself the Three Treasures of Prior and Later Heaven in differing measure, not in equal measure. A single Seed Grain sown into the earth brings forth many shoots and many tillers; each shoot and tiller in turn puts out many panicles; each panicle sends out many branches; each branch bears many flowers. Only by becoming this many can it found its family, its community, and its base for the future — yet at the root there is only One Seed Grain. Why then, when it flowers and bears grain, does it not come out even? One panicle is sparse, another heavy-laden; one has many empty grains, another many full ones; one panicle is wholly poor; another has not a single full grain; another fills its rice only partway; another withers on the clump while the rest are still flowering; one panicle throws out a variety wholly different from the original Seed Grain; and another yields two or three different varieties at once. And that is speaking of a single Seed Grain only — what then of a whole field, into which who knows how many Seed Grains are sown? How much more differently must they turn out! Why are they not alike? Think it over and examine it. Try applying your Innate Knowing to investigate this Thing, the grain of Rice, and tell Me what you find.
Ta khuyên các trò phải xét nơi Hột Lúa mà thôi, đừng kiếm cớ khác đổ thừa tại gió, tại sâu bọ thời tiết chi hết, vì những vật ấy đều là vật ở ngoài. Các trò chính xét coi, nếu đổ thừa tại vật này phá, vật kia hại như vậy, là tại không ai chịu Trí Lương Tri cho cùng Lý của Sự Vật, nên mới đổ thừa qua loa như vậy cho rồi chuyện. Nếu cứ như vậy hoài thì biết bao giờ cho thoát kiếp Luân Hồi, vì một Sự Lý như vậy mà không chụi xét cho cùng mà sửa lại cho kỹ, cho khéo, cho hay, thì bao giờ mới biết Sự Lý của Võ Trụ Vạn Vật, thì trông chi Hiệp Nhứt cho được.
I urge you to examine the grain of Rice itself alone, and not to look for other excuses, laying the blame on the wind, on insects, or on the weather — for all of these are external things. Examine it squarely: if you blame this thing for ruining it and that thing for harming it, it is because no one is willing to apply Innate Knowing to the very end of the Principle of Affairs and Things, and so they toss the blame elsewhere carelessly just to be done with the matter. If it goes on like this forever, when will you ever escape the wheel of transmigration (Luân Hồi)? For if you will not examine even one Affair and its Principle like this to the very end, and correct it carefully, skillfully, and well, when will you ever come to know the Principle of the Universe and all Things — and how then can you hope to attain Union in One (Hiệp Nhứt)?
Nếu đổ thừa cho gió làm bay nhụy nên hóa lép, hoặc là ngậm sương không đều nên không đủ gạo, thì sao cũng là đồng một bụi lúa với nhau, trổ với nhau một lượt, sao lại có gié nầy đủ, gié lại không? Cũng thì đồng một gié với nhau sao lại có hột vầy hột khác? Nếu vậy thì phải tại gió đâu! Gió nào có làm bay nhụy ở trong vỏ cho được! Hoặc là đổ thừa cho sâu bọ thì cũng vậy, sao gié có sâu, gié lại không?… Gió làm cho cây Lúa ngã hoặc gãy, nên lớp Lúa nào nằm phía trên thì phải lừng phải hư, chớ gió không làm cho Lúa bay nhụy, hứng sương không được, nên hóa lép bao giờ. Còn sâu là tại cây Lúa nào có bệnh, nhánh lá nó không được hứng lấy sương nắng một cách tự nhiên, nên sương đọng vào mấy chỗ bệnh ấy, rút vào trong ruột cây Lúa, không tan ra được mới hóa sâu, chớ không phải cây Lúa tự nhiên sanh ra con sâu được.
If you blame the wind for scattering the flowering bud (Nhụy) so that the grain turns empty, or blame uneven dew-taking for a shortage of rice, then how is it that within one and the same clump, flowering all together at once, one panicle is full and another is not? And within one and the same panicle, why is one grain this way and another that? Then it cannot be the wind! How could the wind scatter a bud enclosed inside the Husk? Or if you blame insects, it is the same: why does one panicle have insects and another not?… The wind may make the rice stalk fall over or break, so that whatever layer of rice lies on top must sprout in the wet and spoil; but the wind never makes Rice scatter its bud, unable to take in the dew, and so turn empty. As for insects, they arise because a rice plant is diseased: its branches and leaves cannot take in the dew and sun naturally, so dew pools in those diseased spots and seeps into the core of the stalk; unable to disperse, it turns into insects. It is not that a rice plant naturally gives birth to insects.
Gió là gió, Lúa là Lúa, hai vật đều làm bổn phận tự nhiên của mình, cớ chi gió lại làm cho đến đổi Lúa ngã, gãy, lừng, lép hư hao? Chắc các trò thường thấy những đám ruộng nào Lúa đương trổ hễ gặp gió thổi mạnh thì ngã rạp hóa ra lừng lép, nên các trò đổ lỗi cho gió, sao các trò không trách tại cây Lúa sao không chịu đứng vững vàng, đừng để làm ngã, làm gãy, làm xiêu thân mình của nó? Hay là các trò nói tại Lúa trúng, bông Lúa sai quằn, nếu gió mạnh thì đứng không nỗi nên phải ngã. Các trò tưởng như vậy là rất lầm. Gió thổi làm cho bay những vật nào đóng ngoài thân cây Lúa, như sương như sâu, đặng giúp cho Lúa, chớ không bao giờ làm hại Lúa, còn Lúa ngã gãy là tại cây Lúa nào quá tham, hưởng qua sự tự nhiên nên mới ngã. Hễ vật nào làm quá sự trung bình thì đều phải bị hại.
Wind is wind, and Rice is Rice; each does its own natural duty — so why should wind bring Rice to the point of falling, breaking, sprouting, emptying, and going to waste? No doubt you have often seen fields where the rice, just as it heads out, meets a strong wind and lies flattened, then spoils and turns empty, and so you lay the fault on the wind. Why do you not reproach the rice stalk for not standing firm — for letting itself be felled, broken, and bent? Or perhaps you say it is because the Rice yielded so well, its heads so heavy they bow, that in a strong wind it cannot stand and must fall. If you think so, you are greatly mistaken. Wind blows away whatever clings to the outside of the rice stalk — dew, insects — in order to help the Rice; it never harms the Rice. A rice stalk falls and breaks because that stalk was too greedy, taking in more than its nature allows; that is why it falls. Whatever thing goes beyond the Mean (Trung Bình) must suffer harm.
Sao chẳng xét cũng thì một đồng Lúa một sở ruộng, cũng đồng bị một ngọn gió như nhau, cớ chi có chỗ ngã gãy hư hao, có chỗ lại không? Mấy chỗ không hư hao ấy Lúa cũng trúng chớ nào phải không? Nếu các trò chịu gia tâm Trí cái Lương Tri thêm một chút nữa, thì các trò sẽ thấy cái cớ làm sao cho Lúa ngã gãy hư hao ấy là tại Tham Tâm của Hột Lúa thái quá, hưởng quá sức tự nhiên của nó, nên gốc rạ chịu không nỗi với sức bông trái quá no, quá sai, làm cho quá sức chịu của nó nên nó đứng không được vững chớ nào phải tại gió làm ngã đâu. Còn những chỗ kia cũng đồng một sự trúng như nó mà không bị hư hao, là nhờ bông Lúa chỗ ấy biết dùng sự Trung Bình sức Tự Nhiên của mình đặng hứng lấy Ngọc Trời cho vừa, còn sự đóng và mở của Vỏ Lúa cũng làm bổn phận theo năng lực tự nhiên, nên sự hấp thụ Tam Bữu nơi Không Trung không thái quá, nhờ có sự Trung Bình ấy nên gốc rạ đủ sức chịu đựng với sức gió mới đứng được vững vàng đó.
Why not consider: it is one and the same plain of rice, one field, struck by one and the same gust of wind — so why is there falling, breaking, and ruin in some places and not in others? The rice in those unspoiled places yielded well too, did it not? If you are willing to set your mind to applying Innate Knowing just a little further, you will see that what causes Rice to fall, break, and spoil is the excessive Greedy Heart (Tham Tâm) of the grain itself, taking in beyond its natural strength, so that the root-stubble cannot bear the weight of heads too full and too heavy, beyond what it can carry. And so it cannot stand firm — it was not the wind that felled it. Those other places, which yielded just as well yet suffered no ruin, owe it to their rice heads knowing how to use the Mean of their own Natural strength, receiving Heaven’s Jewel in right measure; and the closing and opening of the Husk likewise fulfilled its duty according to its natural capacity, so that its absorption of the Three Treasures from open space was not excessive. Thanks to this Mean, the root-stubble had strength enough to withstand the wind, and so it stood firm.
Các trò phải nhớ rằng: Muôn Vật trong Võ Trụ đều đồng Một Thể với nhau, chẳng có một vật nào chẳng làm việc tùy theo bổn phận mình; mà trong sự làm việc cũng không được thái quá hay là bất cập, phải đều tuân theo một Luật Bình Thường cho trúng Đạo Lý: nếu chẳng phải vậy thì là một sự Biến lạ thường đó thôi. Đạo chỉ biết có một sự Thường, không hề biết đến sự Biến. Hễ có Biến thì là sái Đạo. Hễ vật nào sái Đạo thì có hại.
You must remember this: all Things in the Universe are of One Body together; there is not a single thing that does not work according to its own duty. And in that work there must be neither excess nor deficiency (thái quá hay bất cập) — all must follow one Law of Constancy (Luật Bình Thường) so as to accord with the Principle of the Way. Otherwise, it is merely some strange Aberration (Biến). The Way knows only Constancy (Thường); it never knows Aberration. Wherever there is Aberration, there is deviation from the Way. And whatever thing deviates from the Way comes to harm.
Vậy thì bổn phận Vỏ non của Hột Lúa là phải mở ra khép vào lúc nào mới gọi cho rằng trúng Đạo Lý trong những lúc phải cần dùng. Ấy là những lúc Lúa mở Hư Tâm ra rước Tiên Hậu Thiên Tam Bữu vào làm Chơn Tâm đặng nuôi Chơn Thân cho nên Hình ấy, đều là những lúc nó phải làm bổn phận đó, nếu nó biết tuân luật Thường, thì hễ nó mở vừa đủ sức rồi thì nó phải đóng lại và giữ kín đó, được vậy thì những bông trái đó nào có quá no quá sức, làm cho đến đổi nặng quằn, khiến cho gốc rạ đứng không được vững vàng mà gây ra sự thiệt hại ngày sau, bí gió thổi cho đến đỗi phải gẫy phải hư! Nếu nó đã đựng vừa đủ sức rồi mà nó chưa chịu khép kín lại, còn mở ra đặng thâu hứng thêm nữa, thì chỉ nghĩa rằng nó đã biến cái Hư Tâm làm cái Tham Tâm nên Lúa mới bị hại. Song nếu chính đương lúc ấy mà nó Hồi Tâm nhớ lại rằng nếu tham như vậy là hại, tức thì nó đóng kín lại, thì những chất nào đọng đủ trong Hư Tâm ấy phải chảy ra và đọng lại một chỗ khác nào trong những chỗ nó đọng được, thì chất nầy liền pha trộn với nước sương, nó sẽ biến nên một thứ Hình như Giống Trái, song có màu khác, mà các trò thường gọi rằng hễ ruộng nào có Trái Lúa chỉ nghĩa rằng ruộng ấy trúng lắm, chủ ruộng rất có phước. Chẳng có phước sao được! Nếu chất ấy không chảy ra thì Lúa phải ngã phải hư. Rất mừng cho chủ ruộng nào có Lúa biết làm trọn bổn phận như vậy. Vì sao chất ấy hễ đọng vào một chỗ nào lại hóa sanh ra được một thứ trái? Là gì hễ có một chút chất Tam Bữu đã trải qua cảnh Tứ Giả rồi mà được đọng vào một nơi đâu, thì chất ấy pha lộn với Sương Nắng rồi trở nên một thứ Hoa hay Quả chi chi chẳng luận, tùy theo Vật Chứa và tùy theo Chất Vật và Chất pha trộn mà Hóa nên Hình và màu sắc.
The duty of the grain’s tender Husk, then, is to open and close at just the right moments, as needed, if it is to be called in accord with the Principle of the Way. Those moments are when Rice opens its Empty Heart to receive the Three Treasures of Prior and Later Heaven to become its True Heart (Chơn Tâm), which nourishes its True Body so that it takes Form — these are all the moments when it must perform that duty. If it knows how to obey the Law of Constancy, then as soon as it has opened enough for its strength, it must close again and keep itself sealed. In that way its heads would never grow too full, beyond its strength, so heavy they bow, leaving the root-stubble unable to stand firm and bringing on harm later, until a gust of wind breaks and ruins it! But if, having already taken in enough for its strength, it still will not close, and opens further to gather more, it means it has changed its Empty Heart into a Greedy Heart — and so the Rice comes to harm. Yet if, at that very moment, it Turns its Heart back (Hồi Tâm), remembers that such greed is harmful, and at once seals itself shut, then whatever excess has collected in that Empty Heart must flow out and settle somewhere else where it can collect. That substance then mixes with the dew-water and transforms into a kind of Form like a Fruit, but of a different color — what you mean when you commonly say that a field with “Rice-fruit” (Trái Lúa) is a field that has yielded richly, and its owner is greatly blessed. How could he not be blessed! Had that substance not flowed out, the Rice would have fallen and spoiled. Great joy to the owner of any field whose Rice knows how to fulfill its duty like this! Why does that substance, collecting in some place, give rise to a kind of fruit? Because whenever even a little of the substance of the Three Treasures, having passed through the realm of the Four Provisional Elements, collects somewhere, it mixes with dew and sun and becomes some kind of Flower or Fruit — whatever it may be — taking its Form and color according to the Vessel that holds it, the Substance of the thing, and the substances mixed into it. [Translator’s note: “Trái Lúa” (“rice-fruit”) appears to refer to the dark, ball-like growths sometimes found on ripening rice heads, which Vietnamese farmers traditionally took as a sign of a bumper harvest.]
Hậu Thiên Tam Bữu nơi Không Gian lớp gần mặt Địa Cầu có nhiều chất Tứ Giả rất hỗn tạp, không được thuần túy, mà rất nặng nề cứng cỏi nên sanh ra nhiều màu nhiều giống, Tánh chất đều không được giống nhau, bởi cõi ấy chứa đựng nhiều Vật Chất và Khí Chất bởi sức trần gian biến hóa. Giống Người cũng vậy, nếu Người nào Khí bẩm hứng chịu Tứ Giả nầy, thì dầu cho sanh ra bởi một cha mẹ, một nòi giống song vì Tánh Chất pha trộn hỗn tạp nên Tánh tình cũng phải khác. Đã khác nhau bởi cớ ấy thì bảo sao Tâm Tánh không khác nhau cho được! Giống Người là Giống khôn hơn muôn Vật mà còn vậy thay, huốn chi Giống Lúa! Vì cớ như vậy nên tuy là Lúa trổ cũng đồng một bụi, một tược một gié, mà lại nảy ra nhiều Hột nhiều Giống chẳng đồng. Tuy vậy nhưng cũng bởi gié nào, hột nào vì cái Vỏ non không làm bổn phận cho tròn hay là Hư Tâm không được Chánh, còn mê hoặc, thích hứng chụi lấy những Khí Chất hỗn tạp, nên nó mới có thể đựng vào đó được.
The Later Heaven’s Three Treasures, in the layer of space near the face of the Earth, contain much of the Four Provisional Elements in a most confused mixture — impure, and very heavy and hard. They therefore produce many colors and many kinds, with Natures unlike one another, because that realm holds many Material and Energetic Substances transformed by the forces of the dusty world. The human race is the same: if a person’s endowed Energy (Khí bẩm) has received these Four Provisional Elements, then even if born of the same father and mother and the same lineage, the temperament must differ, because the Nature-substance is mixed and confused. Being different for this reason, how could their Heart and Nature (Tâm Tánh) not differ! If this is so even of the human race, wisest of all Things, how much more so of the race of Rice! For this reason, though the Rice heads out from one and the same clump, one tiller, one panicle, it brings forth many grains of many kinds, not alike. Even so, it is because a given panicle or grain had a tender Husk that did not fulfill its duty, or an Empty Heart that was not Upright (Chánh) and still deluded, delighting to take in confused and mixed Energy-Substances — only so could such substances be held within it.
Các trò hãy xét cho kỹ hai tiếng Nòi Giống thì đủ hiểu rõ thêm. Phàm loại chi, Vật chi, thiệt nòi thiệt giống, thì rất ít, trái lại hình thể giống nhau mà không thiệt nòi thiệt giống thì rất nhiều. Đạo cũng vậy, Chơn Lý cũng vậy, vì Đạo là Chơn Lý, Chơn Lý là Đạo, thì Chơn Lý hay là Đạo đâu kiếm được có Hai có Ba! Hãy nghe Ta giải thêm, Đạo Sanh bởi Lý, Hóa ra bởi Khí, nên có câu: « Lý Sanh Khí Hóa ». Lý đây nghĩa là Chơn Lý, còn Khí là Ngươn Khí đó, nên mới gọi tắt là Chơn Ngươn. Chơn Ngươn tuy là hai tiếng nói tắt bởi Chơn Lý và Ngươn Khí mà ra, song nó cũng có nghĩa riêng là: « Thiệt chính Gốc đầu bài ». Có đủ Chơn Ngươn mới có thể dựng nên Võ Trụ Vạn Vật mà Sanh Sanh Hóa Hóa vô cùng vô tận vô thỉ vô chung, nên mới có hình tỷ dụ cho Đạo là Một cái « Vòng Trống » kêu là Vô Kiệt, chớ Đạo nào có Hình thể bao giờ! Xét cho hiểu rõ chắc như vậy, mới rõ Gốc Cái, Giống Cội, Nòi Chánh của Đạo Thể bởi đâu, rồi cứ do nơi đó đặng phăn theo, đặng tìm lấy Tướng và Dụng cho được. Được như vậy mới có thể chi phối cho Hiệp Lý, khi ấy mới vui biết sao gọi Một mà Ba, Ba rồi về Một. Phàm vật chi cũng phải cho Hiệp Lý mới đáng gọi là Một Vật, có Sanh có Hóa, có Thành, đừng thái quá, đừng bất cập; Kịp đến lúc Thành rồi thì cũng phải cho Hiệp Lý đặng Sanh Hóa thêm bất tiêu bất diệt. Vật như vậy mới thiệt là Giống Cội Gốc của Nòi Chánh thuở ban sơ. Nòi Giống ấy là chi? Ấy là Chơn Ngươn đó. Mà trong Chơn Ngươn còn phải chọn cho được Ngươn Chơn mới thiệt gọi Nòi Giống Gốc Nguồn cho.
Examine closely the two words Nòi Giống (true Breed and Seed), and you will understand still more clearly. Of every kind and every thing, those of truly pure breed and true seed are very few; while those alike in outward form yet not of true breed and seed are very many. So too with the Way, so too with True Principle — for the Way is True Principle and True Principle is the Way; where could one find a second or a third of it! Listen as I explain further: the Way is Born of Principle and Transformed through Energy — hence the saying “Principle Gives Birth, Energy Transforms” (Lý Sanh Khí Hóa). Principle here means True Principle (Chơn Lý); Energy is Primordial Energy (Ngươn Khí); and so, for short, the two are called Chơn Ngươn (True Primordial). Though Chơn Ngươn is an abbreviation of Chơn Lý and Ngươn Khí, it also has a meaning of its own: “the very true Source, the head of the line.” Only with Chơn Ngươn complete can the Universe and all Things be established, Generating and Transforming without end, without exhaustion, without beginning, without close. That is why the Way is likened to an “Empty Circle” called Vô Kiệt [likely Vô Cực, the Limitless] — for when has the Way ever had a physical Form! Only when you examine and understand this clearly and surely will you know where the Root-Trunk, the Ancestral Seed, the True Breed of the Body of the Way (Đạo Thể) comes from; and then, starting from there, you can trace onward to find its Aspect and Function (Tướng và Dụng). Only then can you order all things in Accord with Principle (Hiệp Lý), and then you will know the joy of how One is Three, and Three returns to One. Every thing must accord with Principle to deserve the name of One Thing, having Birth, Transformation, and Completion — neither excess nor deficiency; and once Completion is reached, it must still accord with Principle so as to go on Generating and Transforming, never wasting away, never perishing. Only such a thing is truly the Ancestral Seed, the Root of the True Breed of the primordial beginning. What is that true Breed and Seed? It is Chơn Ngươn. And within Chơn Ngươn one must further select until one attains Ngươn Chơn (the Primordial True) — only that may truly be called the Breed and Seed of the Root-Source.
Các trò hãy nhớ lời Ta đã giảng về khoa Tiên Thiên và Hậu Thiên là chi rồi, vậy thì các trò đã hiểu Đạo là Đạo, Đạo không phải thuộc về Tiên Thiên, Đạo là Đạo, Đạo cũng không phải thuộc về Hậu Thiên. Đạo là Đạo, không phải Tiên Thiên Hậu Thiên chi được gọi là Đạo. Đạo là con Đường. Tiên Thiên Hậu Thiên đều là con Đường của Đạo Sanh Hóa ra đặng lập nên Kiền Khôn Võ Trụ đó thôi. Đạo là Chơn Ngươn ở cùng khắp trong Vạn Vật, dầu cho Điểu Thú Căn Cai Côn Trùng Thảo Mộc chi chi cũng đều có Đạo ở trong cả thảy. Nếu vật nào sái Chơn Ngươn đều phải bị Đào Thải bởi Luật Tự Nhiên.
Remember the words I have already given you on the subject of Prior Heaven and Later Heaven; you will then understand that the Way is the Way. The Way does not belong to Prior Heaven; the Way is the Way, and does not belong to Later Heaven either. The Way is the Way; neither Prior Heaven nor Later Heaven may be called the Way. The Way is the Road. Prior Heaven and Later Heaven are both simply roads along which the Way Generates and Transforms, so as to establish Heaven-and-Earth and the Universe. The Way is the Chơn Ngươn present everywhere in all Things: birds and beasts, [căn cai — meaning uncertain in the source], insects, grasses and trees — all without exception have the Way within them. Whatever thing departs from Chơn Ngươn must be Weeded Out (Đào Thải) by Natural Law.
Các trò nghe kỹ lời này rồi, đủ rõ Đạo Lý là chi rồi thì cũng đủ hiểu vì sao Lúa phải bị ngã gãy hư hao, và vì sao cũng chung cùng nhau một bụi một gié mà nó lại trổ ra nhiều Giống khác nhau. Nếu các trò đã rõ đã hiểu rồi thì các trò đủ chắc rằng lời Ta giải không sái với Đạo Lý chơn chánh của Võ Trụ và Vạn Vật. Chẳng những Lúa bị Tham Tâm hay là Mê Hoặc Tâm làm cho nó đến đỗi hư hao và sai lạc Nòi Giống mà thôi, dầu cho Vạn Vật cũng vậy, dầu cho Nhơn Loại cũng vậy, cũng đồng một Luật chung của Tạo Hóa. Than ôi! Còn nói chi đến Lúa lép Lúa lừng kia! Bởi Tâm nó đã chết nên mới không biết mở ra đặng hứng lấy Ngọc Trời, hoặc là nó mê muội biến nhác, nên làm bổn phận không tròn, không chịu mở ra và đóng lại cho nhằm thời tiết, nên gió mới có thể lọt vào làm cho Nhụy nó bay hết, hoặc là bay bớt một vài phần, nên nó phải chịu phần lép phần lừng đó; chớ gió đâu có kiếm thế tàn phá nó đâu. Gió đối với Lúa cũng như Hoàn Cảnh đối với Người, đều có phần tốt và phần xấu; song xấu hay tốt là tùy theo Tâm của Lúa và của Người tự chọn lấy mà rước vào mình đó thôi.
Having listened closely to these words and understood clearly what the Principle of the Way is, you will also understand why Rice must fall, break, and spoil, and why, sharing one and the same clump and panicle, it brings forth many different kinds. If you have seen and understood this, you can be sure that My explanation does not stray from the true and upright Principle of the Universe and all Things. It is not only Rice whose Greedy Heart or Deluded Heart (Mê Hoặc Tâm) leads it to ruin and to the corruption of its true Breed — all Things are the same, and humankind is the same: one shared Law of the Creator. Alas! Need I even speak of empty rice and spoiled rice! Because its Heart has already died, it no longer knows how to open to receive Heaven’s Jewel; or else it is deluded and grown idle, so it does not fulfill its duty, will not open and close at the proper season — and so the wind slips in and blows away all its bud, or some part of it, and it must bear its portion of emptiness and spoilage. It is not that the wind goes looking for ways to ravage it. Wind is to Rice as Circumstance (Hoàn Cảnh) is to Man: each has a good side and a bad side; but whether it turns out bad or good depends on the Heart of the Rice, and of the Man, which itself chooses what to welcome into itself.
Ta đã bảo các trò xét vì sao Ta đem Hột Lúa ra làm tỷ dụ Tâm Tánh loài Người cho Ta nghe, Ta có ý trông, song chưa thấy trò nào làm cho y lời Ta muốn; Ta biết các trò lúc ban đầu còn bợ ngợ, e giải không trúng, chớ chi các trò cố gắng tìm tòi để ý thêm vào, thì lâu ngày phải trúng chớ nào không; nào dè đâu lâu ngày chừng nào, rốt cuộc thì lại bỏ qua. Thật chưa thấy có trò nào cho khỏi có trước không sau, hoặc có sau rồi lại không trước. Nếu vậy mà muống làm Thánh, Thần, Tiên, Phật thì có lẽ nào được! Ta cũng đã giải cho nhiều rồi, mà coi lại các trò cũng chưa chịu để tâm vào mà chịu tìm chịu xét. Ta cũng vui, vui giùm thấy các trò cũng chưa đổi tánh xưa nết cũ đã có từ bao giờ cho đến bây giờ ấy. Nếu tánh ấy còn đeo còn mang nó hoài vào mình, thì biết bao giờ đi cho đến nơi đến chốn? Đã biết tánh các trò như vậy rồi, nhưng bổn phận Ta phải nói, nên Ta cũng vẫn vui mà giải thêm, ưóc trông trong các trò có trò nào chịu nghe chịu xét chăng?
I told you to examine why I brought out the grain of Rice as an illustration of the Heart and Nature of humankind, and to report back to Me. I have waited in hope, yet not one of you has done as I wished. I know that at first you were still awkward, afraid your explanations would miss the mark — if only you had striven to search and attend further, in time you would surely have hit it; who would have thought that, however long it took, in the end you would simply let it drop. Truly I have yet to see one of you free of having a beginning without an end, or an end without a beginning. If that is so, how could you hope to become Sages, Deities, Immortals, or Buddhas! I have explained a great deal already, yet looking at you, none of you has yet been willing to set your heart to it, to search and examine. And so I am “glad” — glad on your behalf to see that you have still not changed the old natures and old habits you have had from who knows when until now! If you keep carrying those natures with you forever, when will you ever reach your destination? Knowing your natures to be so, it is still My duty to speak; so I gladly explain further, hoping that among you there may be one willing to listen and examine.
Tâm Tánh của loài Người chẳng khác chi Tâm Tánh của Hột Lúa, nên, hư, tốt, xấu, lành, dữ chi cũng do nơi nó mà ra. Ta nói vậy, Ta thấy có trò thầm nói rằng: Điều ấy ai cũng biết vậy, cần chi Ta phải nói, vì ai ai cũng vậy, chuyện chi hoặc hiền hoặc dữ đều bởi nơi Tâm mà ra. Nếu trò nào tưởng như vậy thì rất lầm, lầm là lầm vì chưa biết Tâm Tánh là chi, mà tự bấy nay hễ ai mở miệng ra giải về khoa Đạo Lý, thì cũng đều mượn hai tiếng Tâm Tánh ra đặng nói cho dể nghe, mà rốt cuộc thì Tâm Tánh nói đó đều là một lời nói ảo huyền, chớ cũng chưa thấy ai biết nó là gì. Nếu có ai biết được rồi, sao không thấy ai chịu xét coi lành hay dữ ấy tại đâu mà Tâm Tánh nó có sẳn đặng nó ra? Lành, dữ, nên, hư, xấu, tốt là tại Trời mà ra thì có, chớ nào phải tại nơi Tâm Tánh có sẳn bao giờ! Bởi Người cảm thế nào, thì Trời Ứng lại cho thế ấy, chớ Tâm Tánh vốn là Hư Không, nào nó có chi đâu mà gọi rằng nó có lành hay dữ trưóc sẵn? Tâm có sẵn một cái Tánh Sáng thì có, song cái Sáng của nó có sẵn đó, lại vì các trò làm cho nó phải Tối tâm lu lờ, vì vậy nên nó không phân biệt làm sao gọi rằng lành, dữ, nên, hư, tốt, xấu, phải, quấy, chi nữa, đặng nó quyết đoán thì có, chớ nào nó có sẵn những Tánh ấy bao giờ? Những cái Tánh như vậy, đều do nơi các trò tạo nó ra, chớ nào nó có sẵn! Các trò phải biết rằng: Các trò là các trò, chớ các trò không phải là Tâm Tánh, mà Tâm Tánh cũng không phải là các trò, cũng như Tâm Tánh là Tâm Tánh, chớ Tâm Tánh không phải là Đạo, mà Đạo cũng không phải là Lý, cũng như Lý không phải là Trời vậy; vì mỗi vật đều là mỗi vật, khác nhau rất xa, cũng như Trời là Trời, chớ Trời nào phải là Đất! Nhưng mà trái lại, các trò vốn là Trời đó, Trời vốn là các trò đó! Vì sao được vậy? Được vậy là nhờ nơi Tâm biết phân biệt và quyết đoán đó. Nếu Tâm phân biệt và quyết đoán được, thì muôn việc chi mới do nơi đó mà ra chớ!!! Tâm phân biệt và quyết đoán được là Tâm phải Hư Không kìa mới được.
The Heart and Nature of humankind are no different from the Heart and Nature of a grain of Rice: success or failure, good or bad, kindness or cruelty — all come forth from it. As I say this, I see some of you thinking silently: “Everyone knows that already; why must He say it? Everyone knows that whatever is gentle or cruel comes forth from the Heart.” Whoever thinks so is greatly mistaken — mistaken because you do not yet know what Heart and Nature are. Until now, whenever anyone opens their mouth to expound the Principle of the Way, they borrow the two words “Heart and Nature” (Tâm Tánh) to make their speech pleasing to the ear; yet in the end the Heart and Nature they speak of is only a vague and illusory phrase, and no one has yet shown that they know what it truly is. If anyone did know, why has no one been willing to examine where kindness or cruelty comes from, as if the Heart and Nature held them ready-made to come forth? Kindness and cruelty, success and failure, good and bad come about from Heaven, yes — but never from anything already present in the Heart and Nature! For as Man resonates, so Heaven responds in kind (cảm — ứng). The Heart and Nature are in origin Empty Void (Hư Không) — what do they hold, that one could say they possess kindness or cruelty beforehand? The Heart does hold within it a Bright Nature (Tánh Sáng); but you have caused that Brightness to grow Dark and clouded, so that it no longer discerns what is kind or cruel, success or failure, good or bad, right or wrong, so as to make its judgment — that much is so; but when has it ever held those natures ready-made? Natures such as these are all created by you yourselves — they were never there beforehand! You must know: you are you, not the Heart and Nature; and the Heart and Nature are not you — just as the Heart and Nature are the Heart and Nature and not the Way; and the Way is not Principle, just as Principle is not Heaven. For each thing is its own thing, differing very far, just as Heaven is Heaven — when is Heaven ever Earth! And yet, on the contrary, you are in origin Heaven, and Heaven is in origin you! How can that be? It is thanks to the Heart that knows how to discern and to decide. If the Heart can discern and decide, then all ten thousand affairs proceed from there!!! And for the Heart to discern and decide, it must be Empty Void.
Tâm Tánh đã được Hư Không rồi, mà các trò lại còn phải biết phân biệt sao gọi là Hư, sao gọi là Không, dùng sự phân biệt nầy mà xử trí những Sự Lý hay là Sự Vật tiếp xúc hằng ngày hằng giờ cho trúng tiết, thì khi ấy Tâm nó mới là Sáng, các trò mới gọi là Trời. Vì vậy nên Người học Đạo trước hết phải cần dùng sự sửa Tâm Tánh cho được Hư Không hoài mà lại còn phải biết mỗi khi phát ra đặng ứng sự tiếp vật đều phải chọn cho nhằm mà dùng mới gọi là phù hạp với Đạo Lý. Được phù hạp thì muôn việc đều Hòa đều Nên, nếu chẳng vậy thì muôn việc đều Nghịch đều Hư, nên Ta mới nói: Nên, hư, xấu, tốt chi cũng do nơi Tâm Tánh mà ra đó.
Once the Heart and Nature are Empty Void, you must still know how to distinguish what is called Hư (Empty) and what is called Không (Void), and use that distinction to deal rightly, in proper measure, with the Affairs, Principles, and Things you meet every day and every hour — only then is the Heart Bright, and only then may you be called Heaven. That is why one who studies the Way must first of all cultivate the Heart and Nature to remain ever Empty Void, and must further know, each time it goes forth to respond to affairs and meet things, how to choose rightly what to use — only that can be called in harmony with the Principle of the Way. In harmony, all things are Harmonious and all Succeed; otherwise, all things go Contrary and all Fail. That is why I said: success and failure, good and bad, all come forth from the Heart and Nature.
Ra sự nên, hư, tốt, xấu là tại Tâm, còn lãnh sự nên, hư, tốt, xấu là tại phần các trò phải lãnh, sao các trò chẳng chịu xét coi Tâm Tánh của các trò ngày nay nó được thế nào? Phần Ta thì hiện nay Ta thấy Tâm Tánh các trò đều chưa tấn hóa. Ta đây hỏi: Nếu để Tâm Tánh một bực như vậy hoài, thì Con Người của các trò đứng vào hạng nào?
The bringing forth of success, failure, good, and bad lies with the Heart; the receiving of success, failure, good, and bad is your own portion to receive. Why will you not examine what state your Heart and Nature are in today? For My part, I see that the Heart and Nature of every one of you have not yet progressed. I ask you: if you leave your Heart and Nature at one level like this forever, in what rank will your True Person stand?
Đã gọi Tâm Tánh vốn Hư Không nên mới được có Tánh Sáng, nhưng còn phải biết Hư là làm sao, Không là thể nào, lúc nào gọi rằng Hư, lúc nào gọi rằng Không, thì mới rỏ cách dùng nó cho phải chỗ phải cách, mới có thể làm cho Sáng sự Sáng của nó, bằng chẳng biết rõ, ắt mỗi khi muốn dùng, thì làm sao cho khỏi sai, khỏi lộn sự Sáng của nó. Nếu sai, nếu lộn thì là Vọng. Nếu Vọng thì chẳng phải Chơn. Tâm đã chẳng được Chơn, thì có lẽ nào kềm chế sự Vọng được, vì Vọng là tại nơi mất sự Chơn mà ra. Người kềm chế Tâm chưa được, là vì chưa biết Tâm là chi đó. Người chưa biết Tâm là chi, là vì chưa thông hai nghĩa Hư và Không đó. Hư hay là Không mà còn chưa hiểu, thì có lẽ nào mà hiểu Sự Sáng của nó mà dùng! Dùng sai Sự Sáng của Tâm Tánh thì làm sao phân biệt và quyết đoán cho trúng việc phải, việc nên việc lành? Nếu dùng nó chẳng trúng, thì Người phải Mê hoặc với Sự Vật hay là Sự Lý mà tách xa ra khỏi Chơn Tâm Chơn Tánh rồi, hoặc là vì Mê hoặc Sự Vật mà phải bó buộc theo nó, hoặc ưa chuộng nó mà chứa chất nó vào, thì Người với Tâm Tánh đã chia rẽ, Người là Người, Tâm Tánh là Tâm Tánh, nếu vậy thì Tâm Tánh nào còn có Hư Không? Đã chẳng còn được gọi là Hư Không, là Người chẳng rõ cái Thiệt Hữu Thường Hữu của nó thế nào, cái Thiệt Tướng Chơn Tướng của nó làm sao, khiến cho bụi trần che bít Chơn Linh của nó, rồi lại làm cho sự Tham Dục của mình càng Vọng thêm, càng chất chứa chồng chật bao phủ thêm hoài vào mình, thì sự Sáng của Tâm Tánh đâu còn, đến lúc như vậy thì như Ta đã nói: Các trò là các trò, Tâm Tánh là Tâm Tánh, mỗi vật đều là mỗi vật, chớ còn biết lấy chi mà phân biệt sự phải, quấy, hư, nên, lành, dữ nữa được! Có phải là những Tánh ấy đều do nơi các trò tạo nó ra, chớ nào phải Tâm có sẳn?
Since the Heart and Nature are said to be Empty Void in origin, and so to possess a Bright Nature, one must still know what Hư is and what Không is like, and at what moment it is called Hư and at what moment Không. Only then will you know how to use it in the right place and the right manner, so as to make its Brightness shine. If you do not know clearly, then each time you wish to use it, how can you avoid mistaking and confusing its Brightness? Mistaking and confusing it is Delusion (Vọng). Delusion is not the True (Chơn). If the Heart is not True, how could it restrain Delusion — since Delusion arises from losing the True? A person cannot yet restrain the Heart because they do not yet know what the Heart is. They do not yet know what the Heart is because they do not yet comprehend the two meanings, Hư and Không. If one does not even understand Hư and Không, how could one understand its Brightness so as to use it! Using the Brightness of Heart and Nature wrongly, how can one discern and decide rightly what is right, fitting, and good? Using it wrongly, one must be Deluded by Things or by Affairs and be separated far from the True Heart and True Nature — either deluded by Things and bound to follow them, or loving and prizing them and piling them up within. Then Man and Heart-Nature are divided: Man is Man, and Heart-Nature is Heart-Nature. If so, how could the Heart and Nature still be Empty Void? No longer able to be called Empty Void, one does not know its Real Being, its Constant Being (Thiệt Hữu Thường Hữu), nor its Real Aspect, its True Aspect (Thiệt Tướng Chơn Tướng). One lets the dust of the world cover and block its True Spirit (Chơn Linh), and then one’s own Greed and Desire grow ever more deluded, piling and heaping and wrapping more and more around oneself. Then where is the Brightness of Heart and Nature? At that point it is just as I said: you are you, Heart-Nature is Heart-Nature, each thing is its own thing — and what is left with which to discern right and wrong, failure and success, kindness and cruelty! Is it not so, then, that these natures are all created by you, and not already present in the Heart?
Đã biết Hư với Không nghĩa có cũng đều là trống không, trống lổng vậy, song trong sự Trống ấy, Thể, Tưóng, Dụng nó đều khác nhau, mà lại khác nhau rất xa. Nếu muốn cho các trò rõ nghĩa hai vật ấy, thì Ta nay phải đem một vật vô tri giác đặng ví dụ cho các trò thấy mà hiểu. Chớ tưởng rằng vật vô tri giác mà không có Hư Tâm và Không Tâm, cũng như các trò chớ khinh rằng Đất không có Lương Tri và Lương Năng vậy mà lầm.
We know that Hư and Không both mean empty — hollow, blank. Yet within this Emptiness, their Body, Aspect, and Function (Thể, Tướng, Dụng) all differ, and differ very far. To make the meaning of these two clear to you, I must now take an insentient thing as an illustration so that you may see and understand. Do not imagine that an insentient thing has no Empty Heart (Hư Tâm) and Void Heart (Không Tâm) — just as you must not make the mistake of looking down on Earth as having no Innate Knowing and Innate Capacity.
Kìa một tấm pha ly mà Người gọi là Kiến đó, nếu để nó đứng ra trước mặt, thì những Người vô tâm vô ý chẳng hề thấy có nó, vì những vật chi ở phiá sau lưng nó, thì Người đều thấy rõ ràng, dường như không có nó đứng chận ở giữa vậy; kịp đến lúc có thợ biết dùng biết chế ngân tinh đặng tráng vào phía sau lưng nó, thì Người kêu nó lại là tấm Gương. Gương hay Kiến chi cũng là một tấm pha ly ấy mà tên lại khác nhau, là tùy theo có tráng ngân tinh đặng làm cho nó hiện ra Chơn Tướng của nó hay là không đó mà thôi. Song đến khi Chơn Tướng của nó đã phát hiện, thì sự Trong sự Sáng của nó đã đổi, mà đổi một tánh cách khác xa hơn xưa, là vì những vật chi ở phía sau lưng nó, thì Người không còn thấy được nữa, mà trái lại, những vật chi ở phía trước mặt nó, thì đều thâu vào mình nó đặng chiếu ra cho Người thấy rõ.
Look at a pane of glass, what people call Kiến (clear glass). If it stands before one’s face, careless and inattentive people never notice it at all, for they see everything behind it plainly, as if nothing stood blocking in between. But once a craftsman who knows how to prepare and apply silvering (ngân tinh) coats its back, people call it instead a Gương (Mirror). Mirror or clear glass, it is the same pane of glass, yet its name differs according to whether or not it has been silvered so as to reveal its True Aspect. But once its True Aspect has appeared, its Clarity and its Brightness have changed — changed to a character far different from before. For whatever lies behind it, people can no longer see; and on the contrary, whatever lies before it, it takes into itself so as to reflect it back for people to see clearly.
Vì sao cũng một tấm pha ly ấy, trước sau màu Trong đều không giống nhau, Sự Sáng không giống nhau, cho đến cách rọi cách chiếu cũng đều khác nhau như vậy? Là bởi Kiến nó là Hư Tướng còn Gương là Không Tướng vậy. Xét vậy thì hiểu rõ nghĩa Hư và Không rồi, Hư hay là Không đều nghĩa là Trống nhưng sự Trống của Hư là sự Trống chẳng có sự trở ngại, Trống thấu suốt từ trước ra sau, từ tả qua hữu, vuôn tròn chi cũng đều thông thấu, ấy là Có mà Không, Không mà Có vậy. (Có vật mà Không vật, Không vật mà Có vật). Còn sự Trống của Không thì lại khác hẳn, Không nó đã nó đã sẵn có một cái Thiệt Tướng làm căn bản cho nó rồi, ấy là ngân tinh đó. Mà ngân tinh này chánh là của một tay thợ khéo chế vào cho nó đó. Nó đã có được Chơn Tướng Chơn diện mục của nó rồi, thì nó mới có thể ứng đối với những vật tương đối với nó, đặng nó rọi ra không sót phân hào, nên nó mới phân biệt và quyết đoán được: nhưng vì đến khi nó quyết đoán mỗi vật rồi, thì nó chẳng hề lưu trử chất chứa vật ấy vào mình nó, nên nó mới được gọi là Không. Ấy cũng Có mà Không, Không mà Có như Hư vậy, song hai cách Có Không Không Có nầy kkhác nhau xa.
Why does the very same pane of glass differ before and after in its Clarity, in its Brightness, and even in the way it shines and reflects? Because clear glass is an Empty Aspect (Hư Tướng), while the Mirror is a Void Aspect (Không Tướng). Examine this and you will understand the meaning of Hư and Không. Hư and Không both mean Empty; but the emptiness of Hư is an emptiness without obstruction — empty clear through from front to back, from left to right; square or round, everything passes through. That is Being yet Not-Being, Not-Being yet Being (there is a thing, yet no thing; no thing, yet a thing). The emptiness of Không is wholly different: Không already has a Real Aspect as its foundation — namely, the silvering. And this silvering was put there by the hand of a skilled craftsman. Having attained its True Aspect, its True Face, it can respond to whatever things stand before it, reflecting them without missing a hair’s breadth; thus it can discern and decide. Yet once it has decided each thing, it never retains or stores that thing within itself — and so it is called Không. That too is Being yet Not-Being, Not-Being yet Being, just like Hư; yet these two ways of Being-and-Not-Being differ greatly.
Ta trưóc nói Tâm Tánh không có chứa sẳn sự hư, nên, lành, dữ chi hết, những sự ấy do nơi Người tạo nó ra mà thôi. Tâm nó vốn là Hư Không, mà có Tánh Sáng, vậy thì sao gọi là Hư, sao gọi là Không, các trò nghe Ta giải có lẽ cũng dư hiểu rồi. Nếu đả hiểu thì chẳng lẽ còn có chỗ nào đáng dùng Kiến mà lại dùng Gương, hay là đáng dùng Gương mà lại dùng Kiến được. Nếu dùng như vậy mà bảo làm sao cho thiệt Sáng? Gương Kiến chẳng Sáng thì chẳng hại chi cho Gương Kiến. Nếu Tâm Tánh chẳng Sáng thì có hại cho các trò không?
I said before that the Heart and Nature hold no failure, success, kindness, or cruelty ready-made; those are created by Man alone. The Heart is in origin Empty Void, possessing a Bright Nature; so what is called Hư and what is called Không, having heard My explanation, you have probably understood well enough. If you have understood, then surely there can no longer be any place where clear glass ought to be used and you use the Mirror, or where the Mirror ought to be used and you use clear glass. If you use them so, how can there be true Brightness? If the Mirror and the glass are not bright, no harm comes to the Mirror or the glass. But if your Heart and Nature are not Bright — is there harm to you, or not?
Tâm Tánh loài Người, lúc ban sơ gốc là Hư, kịp đến khi lớn lên rồi, nó trở nên Không. Hư hay là Không chi cũn đều có sự Sáng riêng của nó cả thảy. Song trong cái Không càng phải chủ ý đặng phòng ngừa cho lắm. Hãy xét thữ coi, nếu tấn pha ly kia chẳng đặng một tay thợ khéo chế ngân tinh cho thật tinh anh vào, thì cái Gương ấy nó ra thế nào? Hoặc để cho các tay giả mạo rằng thợ, đem lọ lem bôi vào mà tưởng rằng là ngân tinh, thì cái ấy còn có Sáng hay không? Con Người cũng vậy, muốn Tâm Tánh cho được Chơn Không, cho được Chí Thiện, thì chớ để cho Manh Sư chỉ dẫn. Tuy đã biết vậy rồi, nhưng còn phải ngừa sự tranh Sáng với nhau mà hại việc, như Gương Kiến tranh Sáng với nhau vậy. Song le Gương với Kiến hai vật chẳng hề tranh sự Sáng với nhau, sự tranh ấy là do Người làm chủ Gương Kiến mà ra, nên Ta phải gọi là Mê Hoặc đó. Vì đâu mà có sự Mê Hoặc? Là vì Tâm bị sa vào cái Tánh Chấp Kiến, Hữu Ngã, nên lầm sự Sáng đi rồi hóa thành Vọng Kiến mà không hay, mà hễ Vọng thì có hại. Thử nghĩ coi, cái Gương kia nó có chất chứa vật chi trước sẳn vào mình nó rồi nó mới rọi ra hay không? Mà nó có lầm vật nào không? Nó không lầm không sái là nhờ nó thật Không nên nó được quyết đoán. Vật vô tri giác mà còn như vậy thay, huống chi Lương Tâm Thiên Tánh cuả loài Người! Vì vậy nên ta trước có chỉ cho các trò rằng: Người Học Đạo phải sữa Tâm Tánh cho Hư Không là vậy đó.
The Heart and Nature of humankind, at the very beginning, is at root Hư; once one grows up, it becomes Không. Hư or Không, each has a Brightness of its own. But within Không one must take especially great care to guard against danger. Consider: if that pane of glass were not silvered with truly fine silvering by a skilled craftsman’s hand, what would that Mirror become? Or if pretenders to the craft were allowed to daub it with soot, thinking it silvering — would it still be bright? Man is the same: if you wish your Heart and Nature to attain True Void (Chơn Không), to attain the Utmost Good (Chí Thiện), do not let a blind teacher (Manh Sư) guide you. Even knowing this, you must still guard against vying with one another for Brightness, to the ruin of the work, as if Mirror and clear glass were vying for Brightness. Yet Mirror and glass never vie with one another for Brightness; the vying comes from the Man who owns them — that is why I must call it Delusion. Where does Delusion come from? From the Heart falling into the nature of Clinging to Views and Having-a-Self (Chấp Kiến, Hữu Ngã), so that it mistakes its Brightness and, without realizing it, turns it into Deluded Views (Vọng Kiến) — and wherever there is Delusion there is harm. [Translator’s note: the Master plays on the word “Kiến,” which means both “clear glass” and “view.”] Think on it: does that Mirror store anything within itself beforehand, and only then reflect? And does it ever mistake one thing for another? It neither errs nor strays because it is truly Void, and so it can decide. If even an insentient thing is so, how much more the Conscience and Heavenly Nature (Lương Tâm Thiên Tánh) of humankind! That is why I showed you before: one who studies the Way must cultivate the Heart and Nature to be Empty Void.
Triết Lý Phật Đà đã có luận câu « Sắc tứ thị Không, Không tức thị Sắc » và « Sắc bất vi Không, Không bất vi Sắc », tức là giải nghĩa Không của Hư Không nầy đó. Sắc tức là vạn tướng hiện có ở ngoài đó, cũng như Ta nói các Vật ở trước mắt tấm Gương vậy, nó đều Có mà Không, Không mà Có vậy. Có Không Không Có là Có Không Không Có ở trong lòng tấm Gương vậy. Gương nào Có chi đâu mà đều Có hết thảy, mà nào Có chi đâu! Như vậy mới gọi Chơn Không. Tiếc vì chưa ai chịu luận tột Lý đến Hư và Không cho phân biệt. Chẳng phải Phật Đà luận chưa phân biệt, ấy là kẻ học theo Phật Đà chưa biết quyết đoán cho phân biệt, mỗi người đều chấp nê theo cái thành kiến của mình mà luận, nên sự luận chẳng được quán triệt, thường hay mâu thuẩn với nhau, nên mới có những sự cãi cờ cãi gió không nhứt định, rốt cuộc có ai cho một cái Lý thứ ba nữa gọi là Tâm Động, rồi hai gả kia tức nhiên phải gọi là tuyệt đối cho rồi, chớ nào phải là tuyệt đối, vì ai giải theo thuyết nấy mà thôi. Học Đạo mà giải như vậy thì muôn vàn kiếp cũng chưa đến bến. Ta vì vậy nên mới có ít lời dạy để cho các trò dùng làm căn cứ, hãy do theo đó đặng bước vào Con Đường Chơn Lý mới đến được cho. Hư hay là Không mỗi vật đều có Bổn Thể, Thiệt Tướng và Công Dụng của nó riêng. Khắp cả Thế Giái – như Tam Thiên Đại Thiên Thế Giái của Phật Đà nói – thì không có một Thế Giái nào mà chẳng có Hình Thể của nó riêng. Ví dụ: Cái Trống lổng, không không từ mặt Địa Cầu cho đến chỗ cao ngất tuyệt vời, chỗ gọi là Trời đó, nó cũng có Hình Thể của nó vậy chớ nào có Trống không đâu! Nếu nó Trống thì sao Người thấy được cái Hình Tướng của nó mà gọi chỗ ấy là Trống? Nếu biết được nó Trống, thì là vì nó có cái Thể và cái Tướng của nó nên mới cho tên cho nó đặng phân biệt với chỗ chẳng Trống đó. Bởi chỗ Trống ấy là Trống với phàm nhãn, chớ nào phải Trống với Chơn Lý vì trong chỗ ấy nó chứa biêt bao nhiêu là Thể Chất Hình Chất đặng làm Công Dụng cho Hóa Công! Phàm nhãn chẳng thấy những chất vô hình ấy, vội cho chỗ ấy là trống không. Nếu vậy Gió kia, Hơi thở nầy cũng đều là vô hình tướng sao? Kẻ Phàm Tâm Nhục Nhãn dùng cái Phàm Thức sẳn có cân lượng của Phàm Thân mà đem ra phê phán sự Công Dụng của Đạo, ấy sao chẳng tự xét lấy mình vậy? Ta khuyên các trò, nếu trò nào muốn tìm Chơn Lý của Đại Đạo, hãy Trí cho hết cái Lương Tri đặng suy tầm mỗi Vật cho đến được chỗ Chí Thiện của nó, thì lo chi Thánh, Thần, Tiên, Phật chẳng có sẵn trong Tâm mình.
The philosophy of the Buddha has expounded the sayings “Form is precisely Emptiness, Emptiness is precisely Form” (Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc) and “Form is not other than Emptiness, Emptiness is not other than Form” — and these explain the meaning of Không within Hư Không. Form (Sắc) means the ten thousand aspects appearing outside, just as I spoke of the things standing before the Mirror: they all Are yet Are Not, Are Not yet Are. This Being-Not-Being, Not-Being-Being is the Being-Not-Being, Not-Being-Being within the heart of the Mirror. The Mirror holds nothing, yet holds everything — and yet what does it hold? Only this may be called True Void (Chơn Không). The pity is that no one has yet been willing to reason Hư and Không through to the end of their Principle and distinguish them. It is not that the Buddha failed to distinguish them; it is that those who study after the Buddha have not known how to decide the distinction. Each clings stubbornly to his own preconceived view as he reasons, so the reasoning never penetrates to the end; they often contradict one another, and so arise those endless quarrels over “the flag moving or the wind moving,” never settled — until finally someone offers a third Principle, called “the Mind moving,” and then the other two must, of course, be declared absolutely refuted. Yet that is no absolute at all, for each simply explains according to his own theory. [Translator’s note: an allusion to the famous story in the Platform Sutra, in which two monks argue whether the flag or the wind is moving, and the Sixth Patriarch Huệ Năng (Huineng) answers that it is their minds that move.] If one studies the Way and explains it like this, ten thousand lifetimes will pass without reaching the shore. That is why I give you these few words of teaching as a foundation; follow them in order to step onto the Road of True Principle, and only then will you arrive. Hư and Không each have their own Original Body, Real Aspect, and Function (Bổn Thể, Thiệt Tướng, Công Dụng). Throughout all Worlds — as in the “three-thousand great-thousand worlds” (Tam Thiên Đại Thiên Thế Giái) of which the Buddha spoke — there is not one World that does not have its own Form and Body. For example: the hollow emptiness from the face of the Earth up to the loftiest heights, the place called Heaven, has its own Form and Body too — it is not truly empty at all! If it were empty, how could people see its Form and Aspect so as to call that place Empty? If one can know that it is Empty, it is because it has its own Body and Aspect, and so it is given a name to distinguish it from what is not empty. That place is empty only to ordinary eyes, not empty to True Principle, for it holds who knows how many Substances and Forms to serve the Function of the Creator! Ordinary eyes, not seeing those Formless substances, hastily take that place to be empty. If so, are that Wind and this Breath also without form and aspect? Those of ordinary heart and fleshly eye take the ordinary understanding, already weighed and measured by the ordinary body, and use it to pass judgment on the Function of the Way — why will they not examine themselves? I urge you: whoever among you wishes to seek the True Principle of the Great Way, apply your Innate Knowing to the utmost to search out each Thing until you reach its Utmost Good (Chí Thiện) — then why worry that Sages, Deities, Immortals, and Buddhas are not already present in your own Heart?
Ta đem một vật vô tri giác kia là tấm pha ly làm tỷ dụ cho nghĩa Hư và Không như Kiến và Gương cho các trò thấy dễ hiểu, dễ biết, dễ nhớ, phòng có dùng cái tỷ dụ ấy đem rộng lớn cao xa thêm lên mà xét các việc khác đó thôi, khuyên các trò hãy chớ lầm nhận rằng Kiến Gương kia vốn là Tâm Tánh đó. Ta cũng đã có dùng Hột Lúa ví dụ Hư Tâm Không Tâm nọ ra cho các trò nghe rồi, mà các trò chẳng chịu tìm kiếm cho thông thêm, có lẽ vì Tâm Tánh Hột Lúa là vật biết tri giác chút ít nên các trò chẳng chịu khó để ý vào, vì vậy Ta phải dùng Tâm Tánh pha ly là vô tri giác mà còn được Hư Không như vậy, đặng cho các trò khỏi phải thất công tìm hiểu. Vậy khuyên các trò hãy dùng cách phân biện ấy đặng xét trong thân mình, coi Tâm Tánh của mình ở đâu và nó ra thể nào?
I took an insentient thing, a pane of glass, as an illustration of the meaning of Hư and Không — clear glass and Mirror — so that you might see, understand, and remember it easily, and so that you might carry that illustration further, higher, and wider to examine other matters. I urge you: do not mistake the glass and the Mirror for the Heart and Nature themselves. I had already used the grain of Rice to illustrate that Empty Heart and Void Heart for you, yet you would not search further to understand it more fully — perhaps because the Heart and Nature of a grain of Rice is a thing with a little awareness, so you would not take the trouble to attend to it. That is why I had to use the Heart and Nature of glass, a thing with no awareness at all that is nonetheless Empty and Void like this, to spare you the effort of searching to understand. So I urge you to use this way of distinguishing to examine your own body: where is your Heart and Nature, and what is it like?
Ta nhắc lại một lần nữa cho các trò nhớ rằng: Người Tu, Người Sửa mình, là vụ Sửa Tâm mình cho Trong-Sạch, cho Trong-Trống, cho Trong-Sáng, đặng dùng nó mà tìm cho Thấy Đạo, chớ chẳng phải Sửa được Tâm Tánh thì Đạo có ở tại Tâm rồi đâu, chớ tưởng vậy mà lầm. Đã Sửa Tâm Tánh Trong, Sạch, Trống, Sáng, rồi còn phải biết cách gìn giữ nó hằng ngày, hằng giờ, đừng để chút mảy mún vật dục nào có thể đóng dính, che khuất nó được, khi ấy mới được gọi là Sửa Tâm Tánh đó. Đến chừng Tâm Tánh khỏi còn phải thất công gìn giữ mà Trần Tục chẳng hề dính, chẳng còn phải săn sóc mà Tình Dục chẳng hề che, Sanh, Tử, Tử, Sanh chẳng hề mừng sợ mà cũng chẳng biết nó là vật chi, thì khi ấy, lúc ấy, chừng ấy, Người mới có thể gặp Đạo được. Gặp được Đạo là Tâm đã Sánh, Tánh đã Thông, nên Đạo mới có thể Ứng vào nơi chỗ Thông chỗ Sáng ấy, không cầu không kiếm mà cũng có, chẳng cần gìn giữ mà cũng có Thường hoài. Đạo Thường hoài, Đạo Thiệt hoài, mà Đạo cũng giữ Đức Tin của Đạo hoài cho chắc Thiệt hoài, chắc Thường hoài, chẳng hề thất Tin, chẳng hề rời xa Người nào Tâm Tánh đã Sáng, đã Thông mà đã gặp được Đạo. Vì vậy Ta nói: Tâm chẳng phải là Đạo, mà Đạo cũng chẳng phải là Tâm, nếu ai Vọng Chấp gọi Đạo là Tâm, Tâm là Đạo, thì muôn kiếp luân hồi cũng chưa thoát.
I remind you once more so that you will remember: one who Cultivates, one who Corrects himself, has the task of correcting his Heart to be Pure-and-Clean, Clear-and-Empty, Clear-and-Bright, so as to use it to seek until he Sees the Way. It is not that once you have corrected the Heart and Nature, the Way is already present in the Heart — do not make that mistake. Having corrected the Heart and Nature to be Clear, Clean, Empty, and Bright, you must still know how to guard it every day and every hour, letting not the slightest speck of material desire cling to it or cover it — only then may it be called correcting the Heart and Nature. When the Heart and Nature no longer need effortful guarding, yet the dust of the world never clings; no longer need tending, yet passion and desire never cover them; when Birth and Death, Death and Birth bring neither joy nor fear, and one does not even know what they are — then, at that hour, at that moment, at that stage, can a person meet the Way. To meet the Way is for the Heart to be already Bright and the Nature already Penetrating, so that the Way can respond in that Penetrating and Bright place: without seeking or searching, it is there; without needing to be guarded, it is there Constantly. The Way is ever Constant, the Way is ever Real, and the Way keeps its own Faith ever sure, ever Real, ever Constant — never breaking Faith, never parting from anyone whose Heart and Nature are Bright and Penetrating and who has met the Way. That is why I say: the Heart is not the Way, and the Way is not the Heart. Whoever, clinging deludedly, calls the Way the Heart and the Heart the Way, will not escape transmigration in ten thousand lifetimes.
Nhưng mà chẳng phải rằng Tâm đã Sáng, Tánh đã Thông, đã gặp được Đạo như vậy rồi, mà được gọi là đủ bổn phận cho Người Tu, hãy còn phải cho có các đồng chí mới được, nhưng vì Ta đương còn cần phải giải cho rồi Hồn Xác của Hột Lúa, rồi Ta sẽ giải qua sự Tu cho các trò hiểu thêm.
But it is not that once the Heart is Bright, the Nature Penetrating, and the Way met, one may be said to have fulfilled the whole duty of one who cultivates; one must still have fellow companions (đồng chí). However, since I still need to finish explaining the Soul and Body of the grain of Rice, I will afterward explain Cultivation further so that you understand more.
Các trò nghe Ta giảng, ắt hiểu rằng: Trời Đất và Người là Ba Tài, mà mỗi Tài đều phải có đủ Ba Tài Năng, nghĩa là đều phải trọn đủ Trời Đất và Người Hiệp lại làm « Một nơi Mình », thì mới làm được « Sự Sống cho Mình » và làm ra « Sự Sống cho muôn Vật trong Võ Trụ ». Các trò đã hiểu rằng: Những « Sự Sống » ấy đều phải Hòa chung với nhau làm Một, chẳng Tài nào được xưng rằng: riêng là của mình riêng, được vậy, thì mới đáng gọi mình trọn Hiệp được Một. Mỗi Tài đã biết Hiệp Ba, đặng làm « Sự Sống Một » cho mình rồi, lại còn phải « Hiệp chung Sự Sống Một » của mình ấy, với hai « Sự Sống Một » của hai Tài kia lại, đặng làm « Sự Sống Đoàn Thể chung », lại cũng còn phải làm làm sao cho mỗi Vật trong Võ Trụ cũng đều được có « Sự Sống Nhỏ » của nó, phòng cho mỗi Vật ấy biết « Hiệp Sự Sống Một Nhỏ » ấy lại, mà Hòa chung lại làm « Một Sự Sống Lớn » với « Một Sự Sống Đoàn Thể chung » kia, đặng làm « Một Sự Sống Vô Cùng Vô Tận ». Được như vậy, mới đủ gọi rằnh là « Lập xong danh phận Tam Tài » cho và mới được gọi là « Hoàn Toàn Trách Nhậm » đó.
Having heard My teaching, you surely understand that Heaven, Earth, and Man are the Three Powers (Ba Tài), and that each Power must possess all Three Capacities — that is, each must fully contain Heaven, Earth, and Man united as “One within Itself.” Only then can it make “Life for Itself” and make “Life for all Things in the Universe.” You have understood that these “Lives” must all be harmonized together as One, and that no Power may claim, “This is mine alone”; only then is it worthy to be called wholly united in One. Once each Power knows how to unite the Three to make “One Life” for itself, it must further “unite its own One Life” with the two “One Lives” of the other two Powers, to make “One Shared Communal Life.” And it must still make sure that each Thing in the Universe also has its own “Small Life,” so that each Thing may know to “unite its Small One Life” and harmonize it with “One Great Life” and with that “One Shared Communal Life,” so as to make “One Life Without End, Without Exhaustion.” Only when this is achieved may one be said to have “established the station of the Three Powers,” and only then be called “Fully Responsible” (Hoàn Toàn Trách Nhậm).
Ta nói vậy, Ta thấy trong các trò, có trò ngơ ngáo, không để ý đến đặng nghe Ta nói vậy là nói chi, mà lại để ý nghi ngờ rằng: Có lẽ nào Người sanh ra ở trên mặt Địa Cầu này, chỗ ăn, chỗ ở, chỗ sanh nhai nghiệp nghệ, chỗ đi đúng, chỗ giao thiệp, so lại với trái Địa Cầu kia, thì khác nào một con kiến bò trên một chiếc thuyền hàng hải, biết đời nào cho giáp; có lẽ nào mà Người Hiệp chung sự tài năng của mình với những sự tài năng của Người khác trong Điạ Cầu nầy lại mà làm Một với mình cho được. Huống chi lại còn phải Hiệp chung sự tài năng của Trời Đất và Vạn Vật Võ Trụ? Đả không thể Hiệp như vậy được thay, lựa là còn phải làm làm sao cho ra Sự Sống của Trời Đất và Người cho Hiệp với Võ Trụ Vạn Vật lại làm Một nữa, thì lại là một việc càng không thể hiểu biết cho thấu, huống chi lại phải làm cho được! Xét lại coi, thì Sự Sống là một Sự Thiêng Liêng Huyền Bí của Tạo Hóa, thân Người đây làm cho Người Sống còn không được thay, huống chi phải làm làm sao cho được « Một Sự Sống Đoàn Thể Chung cho đến Vô Cùng Vô Tận »!
As I say this, I see that some of you are bewildered, not attending to what I am saying, but instead doubting: “How can this be? A human born on the face of this Earth — where he eats, where he lives, where he earns his living and plies his trade, where he goes about, where he deals with others — compared with that whole Earth, is like an ant crawling on an ocean-going ship: when could it ever go round it all? How could a person unite his own talents and capacities with the talents and capacities of all the other people on this Earth, to make them One with himself? Still less unite them with the capacities of Heaven and Earth and all Things in the Universe? If even that cannot be done, then to bring the Life of Heaven, Earth, and Man together with all Things in the Universe as One is something still further beyond understanding — let alone accomplishing! Consider: Life is a Sacred Mystery of the Creator; this human body cannot even keep a person alive, let alone make ‘One Shared Communal Life Without End, Without Exhaustion’!”
Trò đó, những trò đó, những trò hồ nghi bợ ngợ như vậy đó, cũng vì bởi không trọng Thân mình, không trọn Đúc-Tin mà xét lời Ta giảng bổn phận làm Người, làm Người thế hạ nầy đó, rồi tưởng rằng lời Ta nói viễn vong cao xa mờ mịch bóng dáng, làm cho các trò phải ngã lòng thối chí, không muốn để ý mà nghe thêm cho rõ, cho tường tận tim tế chu tất. – Trò nào đó, tưởng như vậy cũng là phải cho trò đó – . Tại sao mà Ta khen rằng phải? Là tại tự mình của trò đã chia Người của trò ra làm hai bộ phận rồi. Người của trò mà trò còn không biết hiệp lại làm Một, trò chỉ biết có Cái Ta Cái Người của trò mà thôi, mà trò cũng chưa biết Cái Ta Cái Người của trò nó ra thế nào nửa, thì nào trò có thể nhìn nhận rằng: Cả thảy Người Vật ở Thế Gian này đều là ruột thịt của trò, đều là giống thương yêu triều-mến trò đâu! Lại trò cũng chia Trời Đất của trò trong mình trò là khác, còn Trời Đất của ruột thịt trò, và của Vạn Vật trong Võ Trụ nầy là khác nữa. Trò đã chia manh, chia mún Trời Đất và Vạn Vật rồi, mà trò còn chia Người của Trời Đất ra cũng là không biết bao nhiêu Người rồi, như vậy bảo sao trò không thể Hòa và Hiệp lại đặng « Một Sự Sống Đoàn Thể chung cho đến Vô Cùng Vô Tận ». Hễ ai nói rằng: Người ta sống ra bởi nơi Vô Thỉ, thì trò chịu nghe, chịu tin phục, mà chẳng chịu biết Vô Thỉ là đời nào; còn ai giải Người Sống hoài cho đến Vô Cùng Vô Tận, thì trò lại bảng lảng sửng sốt không chịu nghe, không chịu xét, không chịu tin, mà cũng chẳng rõ Vô Cùng Vô Tận là chi. Nếu trò cứ hoài như thế mãi, thì sự Hòa sự Hiệp làm sao trò biết được, huống hồ chi là làm! Ta khen trò phải, là phải cho cái Trí tưởng của phần riêng trò đó. Nếu vậy hoài, thì có thể nào mà trò vào cửa Đạo cho đến được.
You, those of you, those of you who doubt and fumble like this — it is because you do not value your own Body, do not hold full Faith, as you weigh My teaching on the duty of being Human, of being a Human of this lower world. You think My words remote, lofty, hazy as a shadow, and so you lose heart and lose your will, no longer wishing to attend and hear more so as to understand clearly, thoroughly, minutely, completely. — Whoever among you thinks so is right, for your part. — Why do I say “right”? Because you yourself have already divided your own Person into two parts. You do not yet even know how to unite your own Person into One; you know only your “Self” (Cái Ta) and your “Outer Person” (Cái Người), and you do not yet even know what your Self and Outer Person are like — so how could you acknowledge that all people and things in this World are your own flesh and blood, all beings that love and cherish you! Moreover, you divide the Heaven and Earth within yourself as one thing, and the Heaven and Earth of your own kin and of all Things in this Universe as another. Having split Heaven and Earth and all Things into fragments, you go on to divide the People of Heaven and Earth into who knows how many people — so how could you not be unable to harmonize and unite into “One Shared Communal Life Without End, Without Exhaustion“? When someone says that people came to life from the Beginningless (Vô Thỉ), you are willing to listen and believe, without caring to know what age the Beginningless was; but when someone explains that a person lives on forever, Without End, Without Exhaustion, you turn vague and startled, unwilling to listen, examine, or believe — and you do not know what Without End, Without Exhaustion means either. If you keep on like this, how could you even understand Harmony and Union — let alone practice them! I said you were right: right according to your own private reasoning. If it stays this way forever, how could you ever reach the gate of the Way?
Ta đã từng đem sự Trường Sanh của Giống Lúa ra giải cho các trò dể hiểu dể thấy sự tài năng của nó, biết làm hoàn toàn phận sự của nó, cho các trò nghe, đặng so sánh lại với phận sự của các trò mà làm cho chu đáo, song Ta thấy các trò nghe qua loa rồi bỏ qua không chịu xét, nên không mấy ai chú ý đến mà hiểu cho thấy cho kỹ mấy chỗ cơ quan của Hột Lúa đặng làm tỷ dụ mà đặt để vào thân mình cho trúng chỗ, vẫn cứ nết cũ, hoặc đọc sơ qua rồi gát cất, hoặc nghe thoáng rồi gió bay, như vậy làm sao mà học cho đến những chỗ yếu lý huyền cơ của Đạo được, vì sự học Đạo phải càng ngày càng tới mới được cho. Cũng có trò chăm chỉ học lắm, như học và lượm lặt những chỗ gọi là hiểu đó, còn những chỗ gọi là khó hiểu thì lại cũng bỏ qua, rồi chấp xiên vá quàn lăng xăng lộn xộn, thiếu trước hụt sau, phui pha cho lấy có, học như vậy lại càng thêm hại chớ có bổ ích vào đâu. Đến chừng chịu gắng chí gia công tìm tòi tới nữa, thì ngày giờ hư phí đã biết bao nhiêu rồi, khi ấy mới thấy những chỗ mình đã gọi rằng là hiểu khi trước ấy, thì là một sự hiểu rất lạc lầm, bởi tại nơi mình bỏ qua những chỗ mà mình gọi khó chẳng tìm, đến nay xét lại mới ăn năn, sự mình ham bươn chạy là vấp nặng, rồi than thở với ai? Tuổi trên đầu nào có biết chờ biết đợi! Ta vì thấy vậy, nên Ta phải đành gát sự giải Hột Lúa lại một bên, đợi các trò coi thể nào, rồi Ta sẽ giải tiếp.
I have already set forth the Long Life of the race of Rice to help you understand and see its capacities, how it fulfills its duty completely, so that you might compare it with your own duty and carry yours out thoroughly. Yet I see you listen carelessly and pass it by without examining, so that hardly any of you attend to it and understand and see carefully the workings of the grain of Rice, so as to take them as an illustration and apply them rightly to your own bodies. You keep to your old habits: either reading it over briefly and then putting it away, or hearing it in passing and letting the wind carry it off. How then can you study as far as the essential principles and hidden workings of the Way? For the study of the Way must advance further day by day. There are also some of you who study very diligently — learning and gathering up the parts that seem understandable, but skipping over the parts that seem hard to understand, then patching and stitching things together haphazardly, jumbled and confused, missing the front and short at the back, slapdash just to have something. Studying like that does more harm than good. By the time such a one finally resolves to strive and search further, who knows how much time has been wasted; only then does he see that what he once called understanding was a badly mistaken understanding, because he skipped over the parts he called hard and would not search them out. Looking back now, he repents: his eagerness to rush ahead made him stumble badly — and to whom can he complain? The years upon one’s head do not know how to wait! Seeing this, I have had to set aside the explanation of the grain of Rice for now, to wait and see how you fare, and then I will explain further.
Nay muốn cho các trò dễ hiểu dễ thấy hơn nữa, thì Ta phải dùng một Vật khác làm tỷ dụ cho các trò dùng đó mà suy nghiệm, thì thấy vật ấy nó đã biết làm được Một Sự Sống Nhỏ của nó, rồi nó lại biết « Hiệp Sự Sống Nhỏ của đồng loại nó mà làm Một Sự Sống Lớn với Một Sự Sống Đoàn Thể Chung Vô Cùng Vô Tận ».
Now, to make it still easier for you to understand and see, I must use another Thing as an illustration for you to ponder. You will see that this thing already knows how to make its own One Small Life, and further knows how to “unite the Small Lives of its own kind to make One Great Life with One Shared Communal Life Without End, Without Exhaustion.”
Trong các trò, có trò đã dùng con kiến bò ở trên thuyền hàng hải làm ví dụ cho loài Người trên mặt Địa Cầu, ấy trò đó còn dùng một vật biết đi, biết chạy, biết làm ăn, biết đoàn thể, biết làm phận sự, mà trò đó lại gọi rằng không phương thế chi Hiệp Sự Sống Chung cho đến Vô Cùng Vô Tận được. Trò đó dùng cái tỷ dụ ấy nên đoán vậy là rất phải cho phần trò đó vậy. – Nay Ta dùng một Vật không biết cử động, nếu nó đứng đâu ở đâu, thì đứng đó ở đó hoài cho đến chết mới thôi, mà nó lại biết Hòa Hiệp Trời Đất Người và Vạn Vật Võ Trụ lại làm Một Sự Sống Chung với nó, mà nó cũng biết Hiệp Sự Sống Nhỏ của nó đó, đặng Hoà Hiệp Một Sự Sống Đoàn Thể Chung mà làm Một Sự Sống Vô Cùng Vô Tận – . Chắc các trò gắp nghe và muốn nghe gắp cái tên vật ấy lắm chớ! Mà cũng chắc trong các trò cũng có trò đương nghĩ nghị coi Vật ấy là Vật gì chớ! Phải, trò nào đương nghĩ nghị cũng phải, mà trò nào muốn nghe gắp cũng phải, ai cũng đều phần phải nấy, song trò nào gắp nghe ấy là Tâm Vọng, muốn nghe coi cho mau, chớ nào có chịu khó đâu! Ta muốn chưa nói, song vì thương có trò đương nghĩ nghị ấy, e cho trò suy nghĩ lắm rồi lạc mất đường ngay đi, nên Ta phải nói đây. Vật của Ta dùng đây, nào có ngoài cái sự biết của các trò đâu, mà các trò cũng có trò đã hiểu rồi, song không chịu xét thêm cho cùng Lý, rồi bỏ qua không biết phăng đến nữa cho đến chỗ chí mỹ đó thôi! Vật ấy nào lạ chi với các trò, ấy là loài Thảo Mộc Hoa Quả đó. – Những vật nầy nào có biết đi, biết chạy, biết làm ăn chi như loại kiến kia đâu, mà nó biết Hiệp Sự Sống của nó, đặng làm Sự Sống như loài kiến vậy. Ấy là vì sao vậy? Là nó có một cái Biết, là Biết làm hoàn toàn trách nhậm của nó, y như Tài năng của Trời ban phú cho nó, chẳng hề dám canh cải, nên nó mới hoàn toàn trách nhậm của nó được.
Among you, one of you used the ant crawling on an ocean-going ship as an illustration of humankind on the face of the Earth. That one used a creature that knows how to walk, to run, to make its living, to form a community, to carry out its duty — and yet said there was no way to unite a Shared Life Without End, Without Exhaustion. Using that illustration, it is quite right that he should judge so, for his part. — Now I will use a Thing that cannot move: wherever it stands, there it stands forever until it dies; yet it knows how to harmonize and unite Heaven, Earth, Man, and all Things in the Universe into One Shared Life with itself, and it knows how to unite its own Small Life so as to harmonize into One Shared Communal Life and make One Life Without End, Without Exhaustion. — No doubt you are impatient to hear, and eager to hear quickly, the name of that thing! And no doubt some of you are pondering what Thing it could be! Yes — whoever is pondering is right, and whoever wants to hear quickly is right too; each has his own share of rightness. But whoever is impatient to hear has a Reckless Heart (Tâm Vọng), wanting to hear it fast and unwilling to take any trouble! I would rather not say yet; but out of love for those of you who are pondering, fearing that you will think so hard you lose the straight road, I must say it now. The Thing I use here is nothing outside your knowledge, and some of you already understand it, but would not examine further to the end of its Principle, and passed it by without tracing it onward to its utmost beauty! That Thing is nothing strange to you: it is the kingdom of Grasses and Trees, Flowers and Fruits (Thảo Mộc Hoa Quả). — These things do not know how to walk, run, or make a living like the ants, yet they know how to unite their Life so as to make Life just as the ants do. Why is that? Because they have one kind of Knowing: they know how to fulfill their responsibility completely, exactly according to the Capacities Heaven endowed them with, never daring to alter them — and that is why they can fulfill their responsibility completely.
Mổi trò, mỗi trò nào cũng vậy, cũng đều biết rằng hễ Người sanh có ra ở đời, thì ai ai cũng dều phải có một cái gia trụ riêng, chẳng lớn thì cũng nhỏ, đặng làm chỗ để che thân và nghĩ ngơi, hoặc làm chỗ hội hiệp thân tộc liên hữu mà trù nghĩ các phương thế mình đã định, sẽ định, đặng làm công việc của mình đương làm, đã làm, hoặc sẻ làm trong cái đời của xác thịt đương tạm gởi đây. Gia trụ nầy nó đã phải cần dùng đỡ sương nắng mưa gió cho xác thân phàm nầy, mà nó lại còn phải cần dùng để nuôi dưỡng cho xác thân tinh thần mới gọi là đủ. Vì sao vậy? Vì nếu tinh thần không thơ thới, thì sự lo liệu, tính toán, trù nghĩ việc chi không được mở mang trí não, nên sự suy nghĩ không được chu đáo. Sự che chở cho xác thân vật chất nầy, thì ai ai cũng đều hiểu được, còn nuôi dưỡng xác thân Thiêng Liêng thì ai cũng hiểu, mà ít ai làm được, hoặc có Người làm được, nhiều Người có thấy làm ra vẻ được, song ít có Người hiểu rõ sự mình làm ấy là để cần dùng vào việc chi cho thân mình, mảng nói rằng: hễ có nhà cửa ra rồi, thì phải có nó cho xinh đẹp cái nhà mà thôi, chớ nào hiểu rằng nó có đặng nuôi dưỡng cho xác thân Thiêng Liêng đâu! Các trò cũng gắp muốn biết coi Ta muốn cần dùng sự chi hay là vật chi ch cái nhà, mà nó lại nuôi dưỡng Tinh-Thần Thiêng-Liêng được lấm chớ? Có chi đâu là lạ, là mới, mà không biết! Ấy là phải cho có chỗ đặng lập Một Cảnh Vườn Hoa đó. Ta nói Cảnh Vườn Hoa, nghĩa là Ta nói phải cho có Cảnh có Vườn và có Hoa vậy. Hoa không Vườn thì Hoa nào đẹp! Vườnkhông cây thì Vườn nào có Cảnh! Cảnh không Hoa lhông Vườn thì Cảnh nào xinh!
Each of you, every one of you, knows that whoever is born into the world must have a dwelling of his own, large or small, as a place to shelter the body and to rest, or a place to gather kin and friends to plan the means one has settled on or will settle on, for the work one is doing, has done, or will do in this life of the flesh that is only lodged here for a time. This dwelling must serve to keep dew, sun, rain, and wind off this mortal body, but it must also serve to nourish the spiritual body; only then may it be called complete. Why? Because if the spirit is not at ease, one’s planning, reckoning, and deliberating cannot open up the mind, and so one’s thinking cannot be thorough. Sheltering this material body, everyone understands; nourishing the Sacred Body, everyone understands too, but few can do it; or some can do it — many are seen to make a show of doing it — yet few understand clearly what their doing is for, as regards themselves. They only say: “Once you have a house, you must have this to make the house pretty,” with no understanding that it is there to nourish the Sacred Body! You too are no doubt eager to know what thing or what matter I wish a house to have, that it could so nourish the Sacred Spirit? There is nothing strange, nothing new, nothing unknown about it! It is that one must have a place to establish a Flower-Garden Scene (Cảnh Vườn Hoa). When I say Flower-Garden Scene, I mean there must be a Scene, and a Garden, and Flowers. Flowers without a Garden — how could the Flowers be lovely! A Garden without trees — how could the Garden have a Scene! A Scene without Flowers, without a Garden — how could the Scene be beautiful!
Người nào có chí khí lớn, nếu được gặp thời thế thuận thì có thể lập Cảnh Vườn Hoa lớn, dủ thứ thảo mộc hoa quả, hầu có đủ dùng dưỡng tinh thần cho sung túc mạnh mẻ, khoẻ khoắn phòng có đủ nghị lực mà chịu đựng trong những việc to tác, lớn lao trong đời phải cần dùng; bằng gặp phải thời thế chẳng đặng thuận, thì cũng có: kìa rải rác một vài nhánh Hoa thơm, nọ lơ thơ một ít chòm cỏ lạ; hoặc dự trử sẵn một nơi có khóm cây, sẵn bóng mát, cũng phòng thủ sẵn có chỗ phong cảnh gió mát trăng trong. Ấy chi vậy? Là để nưng đỡ tinh thần lúc đương khuẩn bách đó! Những chỗ như vậy nếu lại thêm được có thuận cảnh, thì lại nhẹ nhàn biết mấy. Ấy một gia trụ còn phải cần dùng có Cảnh Vườn Hoa là vậy đó chớ nào phải để dùng làm cho đẹp mắt Người, hay là thêm vẻ lịch sự cho cái nhà đâu!
A person of great resolve, if he meets favorable times, may establish a great Flower-Garden Scene, with every kind of plant, flower, and fruit, enough to nourish the spirit to fullness, strength, and vigor, so that he has the strength of will to bear the great and weighty affairs that life demands. If he meets unfavorable times, he may still have: here a few scattered sprays of fragrant Flowers, there a sparse tuft of rare grasses; or he may keep in reserve some spot with a clump of trees and their cool shade, keeping ready a place with cool breeze and clear moon. What is all this for? It is to sustain the spirit in times of hardship! And if such places are also paired with favorable circumstances, how much lighter and more at ease one feels. That is why a dwelling must have a Flower-Garden Scene — not to please people’s eyes, nor to add elegance to the house!
Người bực Đại Hiền Triết, dầu có một bụi cỏ mọc trước sân mà phải chỗ, thì cũng không đành dẩy bỏ hay là cắt bớt nó, huống chi được một Cảnh Vườn Hoa chẳng lớn cũng nhỏ. Ấy là để chi vậy? Là để đặng xét cái thế lực tự nhiên của bụi cỏ ấy nó trổ hết tài năng trưa, chiều, sớm, tối của nó thể nào, mà nó đởm đương với khí tiết Trời Đất cùng là hấp thụ sự Sanh Hóa Âm Dương ra làm sao phòng có ngày nó Hiệp Hòa với Võ Trụ Vạn Vật đặng, huống chi có một Vườn Hoa mà có Cảnh!
A person of the rank of Great Sage and Philosopher, even if a single clump of grass grows in a fitting spot before his courtyard, cannot bring himself to pull it out or cut it back — how much more so if he has a Flower-Garden Scene, large or small. Why is that? So as to observe how that clump of grass, by its own natural force, puts forth all its capacities at noon, evening, morning, and night; how it bears up under the climate and seasons of Heaven and Earth, and how it takes in the Generation and Transformation of Yin and Yang — so that one day it may come into harmony with the Universe and all Things. How much more so, then, a Flower Garden with a Scene!
Thảo Mộc Hoa Quả đều là vật trồng đâu ở đó, không có chơn đi được như loài kiến, song nó khác hẳn với loại nầy vì kiến không biết Hòa Hiệp với Tam Tài và Vạn Vật Võ Trụ, còn Thảo Mộc Hoa Quả lại có đủ Tài năng mà Hòa Hiệp đủ. Vì sao vậy? Là vì nó nhờ có đủ nghị lực, kiên nhẩn, nên tuy nó không chơn tay, song nó biết đi và đi được khắp cả hoàn cầu thế giái. Thử nghĩ coi, những kỳ hoa, dị thảo bởi đâu mà có? Có phải loại nầy bởi nơi cao sơn tuấn lãnh sanh ra trước nhứt hay không? Trước hết thì nó ở nơi chốn thanh vắng u tịch như vậy, ít có dấu chơn Người đạp đến sao nay lại thấy các nơi thành thị, đô ấp cùng là chốn rẩy bái thôn quê, khắp cả hoàn cầu đâu đâu cũng đều có giống ấy? Xét cho chính lại mà coi, có phải là nhờ lúc nó ở đầu non chót núi, hố thẳm hang sâu ấy, giống nào, giống nào cũng đều biết làm tròn bổn phận tùy theo giống của nó, hoặc giống có mùi hương hay là có sắc đẹp, hoặc giống có lá tốt hay là có trái ngon, thì cũng đều cứ vậy lo cho nên giống, nên tài của mình mà thôi, chẳng hề bỏ phận sự mà đi tranh giành với tài năng của giống khác. Lại nó cũng biết trổ hết tài cán đặng vượt khỏi những loại giống như nó vậy mà không có chi làm lợi ích xinh đẹp cho phong cảnh, đất nước non sông, chỗ nó sanh ra. Nó dầu cho có đứng trơ trọi một mình trong những đám vô dụng kia, thì nó cũng một mực theo bổn phận mà trì chí thủ thân, chẳng hề bị giống vô dụng làm cho nó thay đổi Tâm Tánh nó. Nó đã có chí khí nhẫn nại như vậy, nên mới thắng nỗi loại kia và trỗ đủ tài năng đặng Hiệp với Hóa Công mà tô điểm cho non song đất nước, cho sanh sản ung đúc cho có nó ra đó được. Nhờ vậy, nên một khi có khách du lịch thế giái, xa xa nghe thấy khí tượng và khí sắc của nó, tuy rằng ở trong bụi săng cỏ mà chẳng giống với săng cỏ, nên liền đẹp lòng vui mắt thỏa thích tinh thần, hai đàng tuy không nói không rằng chi với nhau, mà đã tâm đầu ý hợp, nên mới hòa hiệp với nhau được; Hoa Quả, Thảo Mộc kia chẳng mời mà khách du lịch nọ phải giày sành đạp sỏi lướt bụi tuôn gai đến tận nơi mà chào mừng mà rước nó về ở chung cho được mới là hả hơi phỉ chí.
Grasses and Trees, Flowers and Fruits are all things that stay wherever they are planted; they have no feet to walk like the ants. Yet they differ wholly from the ants, for ants do not know how to harmonize and unite with the Three Powers and all Things in the Universe, while Grasses and Trees, Flowers and Fruits have every capacity to harmonize and unite fully. Why is that? Because they possess full strength of will and perseverance; and so, though they have no hands or feet, they know how to travel — and they have traveled across the whole face of the globe. Think on it: where did the rare flowers and unusual grasses come from? Were they not first born on lofty mountains and steep ridges? At first they dwelt in such quiet, hidden, lonely places, where human feet seldom trod — so why do we now see them in cities and towns, in fields and villages, everywhere across the globe? Examine it rightly: is it not because, when they dwelt on the mountaintops and peaks, in deep chasms and caves, each kind knew how to fulfill its duty according to its kind? Whether a kind had fragrance or beauty of color, fine leaves or tasty fruit, each simply kept to perfecting its own kind and its own talent, never abandoning its duty to go competing with the talents of other kinds. And each knew how to put forth all its talent so as to rise above the kinds like itself that contributed nothing of benefit or beauty to the landscape, the land, and the rivers and mountains where it was born. Even standing all alone amid those useless masses, it kept faithfully to its duty, holding to its will and guarding itself, never letting the useless kinds alter its Heart and Nature. Having such resolve and endurance, it was able to overcome the others and put forth all its capacities, uniting with the Creator to adorn the rivers and mountains, the land and the country, which bore and nurtured it into being. Thanks to this, whenever a traveler of the world, from far away, catches sight of its bearing and its color — in the midst of brush and weeds, yet unlike brush and weeds — he is at once delighted at heart, pleased to the eye, satisfied in spirit. Though the two say nothing to one another, they are already of one heart and one mind, and so they can harmonize together. Those Flowers and Fruits, Grasses and Trees never invite him, yet that traveler must tread over shards and gravel, push through brush and thorns, to come right to where it is, greet it, and bring it home to live with him — and only then is he content and fulfilled.
Một khi nó đã từ giả chốn sơn lâm tịch mịch của nó rồi, nó theo bên Người tri kỷ của nó đến phương xa, chẳng biết đâu là đâu, đặng lập quê quán mới, nó đã chẳng nại phong thỗ cùng là thời tiết thích hợp với nó cùng chăng, nó vẫn cứ một niềm cương quyết nhẫn nại đi cho đến chỗ và tùy theo thỗ tánh với khí hậu của Trời Đất nơi chỗ ấy, cùng là sự tài bồi vung quến của Người bạn thân, nó tận lực hòa hiệp với Ba Tài nầy đặng trổ hết Tài năng của nó làm cho nó có Sự Sống danh dự nơi quê xa đất khách, cũng một mực như lúc nó ở tại chót núi đầu non vậy. Hoa Quả Thảo Mộc làm được Sự Sống như vậy, có phải là nó biết Hiệp Ba lại đặng làm « Sự Sống Một Nhỏ » cho nó hay không?
Once it has bid farewell to its silent mountain forest, it follows its kindred spirit (Người tri kỷ) to distant lands, who knows where, to establish a new homeland. It does not shrink from asking whether the soil and the climate suit it; it keeps one firm, enduring resolve, traveling until it arrives, and then — according to the nature of the soil and the climate of Heaven and Earth in that place, and the cultivation and care of its dear friend — it strives with all its might to harmonize with these Three Powers, putting forth all its Capacities so as to have an honorable Life in that faraway land and foreign soil, just as it had on the mountaintop. When Flowers and Fruits, Grasses and Trees make Life in this way, do they not know how to unite the Three to make “One Small Life” for themselves?
Khi nó đã làm được « Sự Sống Một Nhỏ » cho nó rồi, nó mới bắt đầu lo « sự Hiệp Chung với Vạn Vật », nó đơm nhành, kết trái, khoe lá, đua màu, bắn mùi, dưng đẹp, đặng dưng cho Người vung quén nó và cho cả những Người biết yêu thương nó. Trong những lúc như vậy, chẳng những một mình nó chụi dưng riêng sự xinh đẹp của nó có mà thôi đâu, nó lại biết chung sức với những vật đồng loại đồng ở trong một hoàn cảnh đặng quây vầy cho nó được một đoàn thể, chẳng chút tranh đua, thảy đều một lòng một dạ trổ hết Tài năng so sánh với nhau cho đến bực tận thiện tận mỹ, tươi cười với nhau một cách êm đềm lặng lẻ, nguyện dưng hết cả sự quí báu của nó đã làm ra được « Sự Sống » cho Chủ Nhơn Ông nó xem, chẳng hề giấu giếm làm phụ lòng Người ấy. Ấy có phải là nó đã biết làm được « Một Sự Sống Một Nhỏ » của nó rồi, nó lại còn biết « Hiệp Sự Sống Một Nhỏ » kia, đặng làm « Một Sự Sống Lớn cho Đồng Loại » của nó đó không?
Once it has made “One Small Life” for itself, it then begins to see to “Union with all Things.” It puts out branches, bears fruit, displays its leaves, vies in color, sends forth fragrance, offers its beauty — offering it to the person who tends it and to all who know how to love it. At such times, it does not offer its beauty alone; it also knows how to join forces with others of its kind in the same surroundings, gathering into a community, without the least rivalry, all of one heart and one mind, putting forth all their Capacities side by side until they reach the summit of utmost goodness and utmost beauty, smiling on one another gently and quietly, vowing to offer up all the treasure of “Life” they have been able to make for their Master of the House to see, never hiding anything so as to fail that person’s trust. Is this not a thing that already knows how to make its own “One Small Life,” and further knows how to “unite that Small One Life” so as to make “One Great Life for its own Kind“?
Chẳng những nó và đồng loại nó « Hoà Hiệp Một Sự Sống Lớn » mà thôi, nó lại còn biết dưng Tinh Thần cho Tạo Vật là khác nữa. Hoa tủa mùi hương, Cỏ chưng lá đẹp, cây thì nói sao cho cùng! Kìa giống có trái thì đổi thay đủ sắc, nọ giống có lá thì khoe dọn đủ màu, tàng thì nhánh rước chim reo, cội lại bóng chào khách ngụ; ấy là điều bề ngoại dung của nó ung đúc sẵn sàng đầy đủ để giành ngày Hòa Hiệp với Vạn Vật Hữu Hình nơi chốn Thời Gian đó. Đã chẳng phải vậy gọi rằng là đủ, hãy xét phần nội dung của nó kìa mới thấy mà kinh cho. Lúc ban ngày bóng Trời vừa mọc, bảy sắc hào-quang đều ánh chiếu vớí ngàn hồng muôn tía, trên rọi xuống, dưới rọi lên hòa hòa hiệp hiệp, cảm cảm ứng ứng với nhau. Đặng rưóc đặng nhuộm thêm vẻ đẹp màu xinh, làm tươi tươi mướt mướt cho nhau; lúc ban đêm bóng nguyệt vừa hừng, trăm giống mùi thơm phưởng phất chực sẵn gương trong đặng có xông mùi hương chưng vẻ đẹp. Cả thảy đồng loại nó đều hòa lẫn những tinh anh quí báu của mình, Hiệp Nhứt với nhau chẳng hề chia rẽ, dốc làm được một Khối Tinh Anh Thuần Túy, đặng đợi có chút gió lồng lên, thì phút đã nghe ngào ngạt bốc tận mây xanh rải tuôn bốn cõi. Một cảnh cũng vậy, cả các cảnh đều cũng vậy, cho đến tận năm châu thế giới cảnh nào cũng như cảnh nấy, cũng đều làm một phận sự như nhau, vì bởi các giống ấy có ra là cũng đồng Một Gốc mà có, là Gốc nơi cao sơn tuấn lảnh, nơì chốn thanh vắng u tịch kia mà có ra đó vậy. Từ lúc Vô Thỉ của chúng nó cho đến ngày nay, chúng nó đều Sanh Sanh Hóa Hóa ra hoài, choán khắp cả thế giái, góp nhóp « Một Sự Sống Lớn đặng Hiệp với Một Sự Sống Đoàn Thể Chung với Tam Tài làm Một Sư Sống Vô Cùng Vô Tận » vậy. Tài năng của Thảo Mộc Hoa Quả như thế, ai lại gọi rằng Cảnh Vường Hoa là một chỗ để khiển hứng cho kẻ tao nhơn mặc khách, để giải muộn cho kẻ tài tử giai nhơn mà thôi! Sao chẳng xét đến chỗ công cao đức cả của nó, chỗ nó giúp ích và bồi bổ tinh thần cho những bực chí sĩ làm biết bao công việc vĩ đại không chỗ nói được.
Not only do it and its kind “harmonize and unite into One Great Life“; they also know how to offer their Spirit to Creation. Flowers pour out fragrance, grasses display fine leaves, and as for trees, words cannot say enough! Here the fruiting kinds change through every hue; there the leafy kinds show off every color; the canopy’s branches welcome singing birds, the trunk’s shade greets passing travelers. Such is their outward appearance, nurtured and made ready in full, keeping for the day of harmonizing and uniting with all Formed Things in the realm of Time. Yet that is not all; look at their inner content, and only then will you be amazed. By day, as soon as the Sun rises, its seven-colored radiance shines with a thousand reds and ten thousand purples — shining down from above, shining up from below, harmonizing and uniting, resonating and responding with one another — to receive and to dye ever more lovely color, making one another fresher and lusher. By night, as soon as the moonlight brightens, a hundred kinds of fragrance drift about, waiting before that clear mirror so as to waft their scent and display their beauty. All of their kind mingle their precious essences, united as One, never divided, devoting themselves to forming One Pure Mass of Essence, waiting for the slightest wind to rise — and in a moment one smells it, rich and heady, rising to the blue clouds and pouring out to the four quarters. So it is in one scene, so in every scene, to the farthest of the five continents of the world: each scene like every other, all carrying out the same duty, because all these kinds came forth from One Root — the Root in the lofty mountains and steep ridges, in that quiet, hidden, lonely place. From their Beginningless until today, they have gone on Generating and Transforming without cease, spreading across the whole world, gathering “One Great Life to unite with One Shared Communal Life together with the Three Powers, making One Life Without End, Without Exhaustion.” Such being the Capacities of Grasses and Trees, Flowers and Fruits, who would call the Flower-Garden Scene merely a place to amuse refined poets and literati, or to relieve the boredom of gallants and beauties! Why not consider their lofty merit and great virtue — how they help and fortify the spirit of resolute men who accomplish who knows how many great works beyond telling?
Ta nói rằng cái Tinh Thần nội dung của Hoa Quả Thảo Mộc hiệp với hơi gió, lên tận đến mây xanh, rãi tuôn ra bốn cõi chắc nhiều trò không tin lời Ta, gọi rằng Ta nói cho suông lời, chớ chẳng lẽ hương hoa đâu có thể như vậy được! Ấy các trò tự khi lấy mình các trò đó, chớ nào Ta có nói dối đâu! Thử xét coi: Một đốt hươmg trầm của các trò dùng đặng cầu nguyện đó, nó đã là một món vậy khô khan, tinh ba không còn, lại là một vật chất không có được thanh khí hư hoa kia, mà các trò còn có thể mượn nó mà dưng đặng khấn cáo trong khi hữu sự, và tin rằng mùi hương ấy sẽ bay đến được chín từng mây bạc thay! Huống chi cả khối tinh thần của Hoa, của Vườn Hoa, của Cảnh Vườn Hoa đương lúc đầy đủ tinh tấn, hiệp nhau lại, thêm có gió trong giúp sức và Thần, Khí, Tinh của Nhựt, Nguyệt, Tinh đã thâu thập và tô điểm Tinh lực, Khí lực, Thần lực của nó nhiều phen rồi, mà nó đi đến được tận Cung Bạch Ngọc sao?
When I say that the inner Spirit of Flowers, Fruits, Grasses, and Trees joins with the breath of the wind, rises to the blue clouds, and pours out to the four quarters, no doubt many of you do not believe Me, saying I am only talking, that flower-scent could not possibly do such a thing! It is you who are underestimating yourselves — I am not lying! Consider: a stick of incense that you burn in prayer is already a dry, dead thing, its essence gone — a material thing lacking that pure, empty, flowering breath — and yet you can still use it as an offering when you petition in time of need, and believe that its scent will rise to the ninth layer of silver clouds! How much more, then, the whole mass of Spirit of the Flowers, of the Flower Garden, of the Flower-Garden Scene at the height of its fullness and vigor, joined together, aided further by the pure wind, and with the Spirit, Energy, and Essence of the Sun, Moon, and Stars having gathered and adorned its own Power of Essence, Power of Energy, and Power of Spirit many times over — could it not reach all the way to the White Jade Palace (Cung Bạch Ngọc)?
Các trò cũng chớ tưỏng rằng khi nó đã về đến Ngọc Kinh của nó rồi mà nó thôi làm phận sự của nó đâu! Nó lại còn biết tìm đến chổ chánh gốc của nó bởi đâu mà có nó sanh ra ở thế hạ nầy, ở chốn núi non thanh vắng đó, đặng Hiệp lại một lần nữa cho thêm được Tánh Chất và Khí Chất Thanh Tịnh Thiêng Liêng, rồi nó còn đem những chất ấy ban bố cho đồng chủng chúng nó ở tại thế gian, đặng tấn hóa mới mẻ tươi tốt khéo léo lạ lùng xinh đẹp thêm hoài cho đến vô cùng vô tận. Trái lại, nếu giống nào chẳng chịu giữ theo bổn phận, chẳng chịu Hiệp Nhứt với Tam Tài cùng Vạn Vật Võ Trụ thì giống ấy phải tuyệt chủng.
Nor should you imagine that once it has returned to its own Jade Capital (Ngọc Kinh) it ceases to do its duty! It also knows how to seek out its true origin — from what source it was born into this lower world, into those quiet mountains — so as to unite once more and gain still more of the Pure, Still, Sacred Nature-substance and Energy-substance; and then it brings those substances back and bestows them on its kin in the world, so that they evolve ever new, fresh, skillful, wondrous, and lovely, without end, without exhaustion. Conversely, whatever kind will not keep to its duty, will not unite in One with the Three Powers and all Things in the Universe, must become extinct.
Kiến là một vật rất siêng năng, có đoàn thể, có trật tự, rất cần kiệm, có đủ tánh chất giữ trong và ngừa ngoài cũng như ong kia vậy. Song xét lại coi, nó có những tánh ấy mà chi? Có ích chi cho nó và cho Người hay không? Hay là nó có tánh ấy đặng đủ tư cách tài năng mà lo phương thế phá hại các vật khác để dành tư ích cho nó mà thôi? Sao chẳng xét những vật chi sống ở thế gian đều bị chủng tộc của nó phá mà hao mòn, những vật chi của Người sắm, của Tạo Vật sanh, cũng bị chủng tộc nó xoi đục mà hư hại? Chủng tộc mảng biết bòn tha, rút rỉa của vật khác cho đầy lòng tham của nó mà thôi nào có thấy nó đến đâu mà không lo trộm cắp vật liệu của Người đặng đem về làm của riêng nó đâu. Nào có thấy nó chung hiệp với loại nào bao giờ. Hễ nó ở chỗ nào, thì thấy chỗ ấy phải mục nát, phải tốn kém, phải mòn mõi với nó thì có!! Mỗi giống đều tách riêng ra, chẳng hề biết chung hiệp với đồng loại, mà nó lại biết hễ bầy của nó vừa được đông đảo, thì liền lo tách bầy ra tư riêng, cố tranh cho được làm kiến vương, cũng như đoàn ong tranh xưng chức ong chúa vậy. Ôi thôi! Các loại đã chẳng biết Hiệp mà lại giỏi cách chia bầy tách ổ, loại như vậy nào có biết đồng chủng là chi mà phòng trông biết được Vạn Vật Võ Trụ mà Hiệp! Bởi nó là một giống phá hư sanh mạng của Tạo Vật sắm ở thế hạ này, nên Người hễ thấy nó đến đâu thì lo tàn sát nó đó luôn luôn. Loại ở một chỗ nào còn chẳng được yên thân thay, trông chi đi cho giáp được chỗ nào! Sao cac trò là Người đã gọi mình là khôn hơn muôn vật, mà nở bỏ sự quí báu sẵn có của mình đi, lại đành đem thân mình mà so sánh với kiến?
The ant is a most diligent creature, with community, with order, most thrifty, possessing every trait for guarding within and defending against without, just like the bee. But consider: to what end does it have these traits? Do they benefit it, or benefit Man? Or does it have these traits only so as to have the means and capacity to scheme at destroying other things, keeping the private gain for itself? Why not consider that all things living in the world are eaten away by its kind; that whatever Man has acquired, whatever Creation has produced, is bored through and ruined by its kind? Its kind knows only how to scavenge and strip from other things to fill its own greed. Where has it ever gone without scheming to steal people’s goods and carry them home as its own? When has it ever been seen joining with any other kind? Wherever it lives, that place must rot, must suffer loss, must be worn down by it!! Each colony keeps apart, never knowing how to join with its own kind; and as soon as its swarm has grown numerous, it at once sets about splitting off privately, striving to become ant-king, just as a swarm of bees vies for the title of queen. Alas! Kinds that do not know how to Unite, yet are skilled at splitting swarms and nests — how could such kinds know what kinship is, let alone hope to know the Universe and all Things so as to Unite with them! Because it is a kind that destroys the lives that Creation has provided in this lower world, people always set about exterminating it wherever they see it. A kind that cannot even live at peace in one place — what hope has it of traveling everywhere! Why then would you, who are People and call yourselves wiser than all Things, bear to throw away the treasure you already possess, and consent to compare yourselves with ants?
Ta đã giải tài năng của Thảo Mộc Hoa Quả và của ong kiến thế nào rồi, các trò lẽ cũng phải hiểu Tài Năng của mỗi trò là làm sao, phòng có thể « Hiệp Đoàn Thể Chung mà làm Một Sự Sống Vô Cùng Vô Tận đặng cho hoàn toàn trách nhậm » chớ lẽ nào không? Tuy các trò đã biết hễ đứng ra làm Người, thì phải có trách nhậm, bằng chẳng vậy thì hổ với cỏ cây, chẳng khác ong kiến, song các trò còn cần phải hiểu rõ coi Tài Năng của mỗi Tài ra làm sao, thì các trò mới biết mà nhứt định tùy theo Tài Năng của mính mà làm, thì làm mới phải việc và đủ sức, vì mỗi trò đều có Tài riêng Sức riêng. Cũng cò phải biết Hiệp là Hiệp làm sao mới được gọi là Một, Hòa là Hòa thể nào mới được gọi là Hòa Hiệp được! Hiệp mà chẳng Hòa, khác nào buổi chợ đông, đã phải có Người canh giữ trật tự mà nào khỏi sự hình phạt!
I have explained what the Capacities of Grasses and Trees, Flowers and Fruits, and of bees and ants are like; surely you must now understand what each of your own Capacities is, so as to be able to “unite in Shared Community and make One Life Without End, Without Exhaustion, so as to be Fully Responsible” — must you not? Though you already know that whoever stands up as a Human must bear responsibility, or else be shamed before the grass and trees and be no different from bees and ants, you still need to understand clearly what the Capacity of each Power is; only then will you know how to decide to act according to your own Capacity, so that what you do is fitting and within your strength — for each of you has your own Talent and your own Strength. You must also know how Uniting must be done to be called One, and how Harmonizing must be done to be called Harmony and Union! Union without Harmony is like a crowded market day: there must be people to keep order, and still there is no escaping punishment!
Trăm nghề ở đời, mỗi nghề đều phải có nhiều vật dụng, nhiều đồ phụ phối, nhiều thức văn sức, hòa hiệp lẫn nhau cho phải kiểu mẫu, thì nghề ấy mới xinh mới khéo, mới đúng tài năng của nhà nghề. Mỗi món vật dụng, mỗi phần phụ phối, mỗi món tài liệu, mỗi kiểu mẫu văn sức, đều bởi nhiều tay nhiều công của nhiều nhà nhiều nghề nhiều công làm ra mới được có, mà ai biết chọn lựa sắp đặt vào cho có lớp lang, cho phải trật tự, cho hạp màu sắc, đặng Hiệp lại cho Hòa với nhau cho thành được một món khéo, được như vậy mới gọi rằng rành nghề. Rất đỗi nghề mà còn phải vậy thay, huống chi Người là chủ trăm nghề! Trong trăm nghề rút lại có Tứ Dân, Tứ Thú là nghề có danh tiếng lưu truyền đến nay, trong ấy có bực Sĩ, là người biết học, đứng bực trước. Tuy nghề nào cũng phải có học mới biết, song nghề Sĩ là nghề học Chữ, lại càng khó hơn, mắc mỏ hơn, vì Chữ là lời nói của bực Hiền Triết Tiền Bối nói ra, người sau chép lại, hoặc là người đương đời với mình mà ở cách xa, viết ra thành pho thành sách, mà mình tìm kiếm đặng khảo cứu nên khó mà truy cứu cho đúng nghĩa lý với lời nói của những người viết ấy muốn nói. Bởi vậy nên chữ Sĩ là chữ để chỉ nghĩa để dùng kêu những người nào đã tận tâm nghiên cứu nghĩa lý trong văn tự cho được cùng lý, biết phân biện rõ rệt chơn ngụy mà hành động theo cho đúng đắng, hay là kế chí hoặc phụ sức vào diễn giải phiên dịch ra cho người sau biết rõ chỗ thật, lẽ phải, đường ngay, cho khỏi lầm lạc, chớ nào phải kẻ cập sách đi học vụ thi cho đậu đặng ra làm quan vinh thân phì gia ăn trên ngồi trước trăm họ mà được kể vào hạng Sĩ đứng trước hàng Tứ Dân, Tứ Thú cùng là trăm nghề khác đâu.
Of the hundred trades in the world, each requires many tools, many accessories, many kinds of ornament, harmonized and combined in the proper pattern; only then is the trade beautiful and skillful, true to the craftsman’s capacity. Each tool, each accessory, each material, each ornamental pattern is made by many hands, much labor, many households, many trades; and whoever knows how to select and arrange them in proper layers, in proper order, in matching colors, uniting them in Harmony to form one skillful piece — only that person may be called a master of the trade. If even a trade must be so, how much more Man, who is master of the hundred trades! Among the hundred trades, distilled down, there are the Four Classes of People (Tứ Dân) and Four Callings (Tứ Thú), famous and handed down to this day; among them is the rank of Scholar (Sĩ), the one who knows how to study, which stands first. Though every trade requires study to be known, the Scholar’s trade is the study of the Written Word, which is harder and more difficult still, because the Written Word is the speech of Sages and Philosophers of earlier generations, written down by later people — or by contemporaries living far away — compiled into volumes and books, which one must seek out and investigate; so it is hard to trace out the true meaning and principle the writers intended. Therefore the word “Sĩ” (Scholar) is a word meant to name those who have devoted their hearts to studying the meaning and principle of written texts to the very end of their Principle, who can distinguish clearly the true from the false and act rightly according to it, or who carry on that aim, or lend their strength to expounding and translating it so that later people know clearly what is true, what is right, what is the straight road, and are not led astray — not those who carry books off to study for the examinations so as to pass, become officials, bring glory to themselves and fatten their households, eating above and sitting before the hundred families, and so be counted among the Scholars standing at the head of the Four Classes, the Four Callings, and the hundred other trades.
Bực Sĩ là một bực rất vinh diệu như thế, mà bực Sĩ ngày nay sao Ta trông đến thì dều là kẻ Sĩ trong làng văn tràn lan qua đến lập nhà nơi nền Đạo Đức như Ta đã từng than thở, miệng tuôn ra những giọng Hòa Hiệp mà lòng cưu kết những sự phân chia, ngấm nghầm lo kết Đảng dựng phe, ăn không ở rảnh, kẻ tính lập danh, đứa toan thủ lợi! Ôi thôi! Đã xưng mình rằng bực Sĩ Quân Tữ mà lòng dạ sâu độc như thế, cân lại với nọc của loài ong kiến, thì thấy sức nặng nhẹ nhau cũng không hơn kém nhau là mấy lượng đó! Cách hành động như vậy nào khác chi kẻ sợ cọp một trên núi, nên nuôi muôn sói đầy nhà, kẻ ghét mũi nhọn mà treo gươm bén hộ thân, sự hại đã thấy trong lưng trong nhà sẵn. Người lòng dạ như vậy, bảo sao cho nó Làm Sự Thật, Hiểu Sự Sống của Đoàn Thể Chung cho được!
The rank of Scholar is so glorious a rank — yet why is it that when I look at the Scholars of today, they are all scholars of the literary world who have spilled over and built their houses upon the foundation of the Way of Virtue, as I have often lamented: their mouths pour out words of Harmony and Union, while their hearts harbor division, secretly scheming to form factions and build cliques, eating without working, living idle, this one plotting to make a name, that one aiming to grab profit! Alas! They call themselves Scholar-Gentlemen (Sĩ Quân Tử), yet their hearts are so venomous that, weighed against the sting of bees and ants, the difference in weight is scarcely a few ounces! Such conduct is no different from one who, fearing a single tiger on the mountain, keeps ten thousand wolves filling his house; or one who hates sharp points, yet hangs a keen sword at his side for protection — the harm is already right there at his waist, inside his house. People with hearts like that — how could they Do what is Real and Understand the Life of the Shared Community!
Có trò lại tưởng rằng: Tài Năng của Người thì hiểu được rồi, nếu Người gắng chí gia công thì có lẽ phải có Người làm được; Tài Năng của Đất cũng có thể hiểu được, song chưa rõ cách Hòa Hiệp thế nào, nhưng có lẽ ráng tìm cũng phải thông; duy có Tài Năng của Trời, thuộc về sự Sanh Hóa, thì không có thế nào mà làm cho giống như Trời được, vì Trời thấy đó mà khó hiểu, cũng không ai biết Trời là chi cho rõ ràng. Trời đã không hình mà cũng không nói năng chi cho ai nghe, thì có thế nào cho Người biết rõ cách thức phải làm làm sao mà Hòa mà Hiệp cho trúng? – Các trò tưởng vậy rất lầm. Trời tuy không nói mà biết nghe. Người đã gọi là biết nói, sao không nghe tiếng nói của Trời? Người trách Trời không nói là tại Người không chịu nghe đó thôi! Bởi Người không chịu nghe, nên các trò mới không thông hiểu tiếng nói và việc làm của Trời dạy, Trời chỉ, đặng mà làm theo cho trúng, phòng có Hòa Hiệp lại với Trời đó, chớ Trời nào không nói, khó thấy, như các trò tưởng vậy! Thử nghĩ coi Trời biết đi, biết chạy, biết vận chuyển, biết làm, biết thấy, biết nghe, biết thưởng phạt, mỗi việc đều Thường đều Thiệt đều Tin chắc, mà lẽ nào lại không biết nói! Người gọi Người biết nói, sao lại không chịu nghe, chịu xét coi Tài Năng của Trời nói ra làm sao, dạy làm sao, mà làm theo cho trúng, đặng Hiệp lại với Trời cho Hòa? Nếu nói rằng Trời không biết nói, sao Ta thường nghe các trò thường nói rằng: Trời sai, Trời khiến, Trời dạy, Trới biểu. Những tiếng nói như vậy, duyên cớ bởi đâu mà các trò nói? Đã biết nói như vậy, sao lại còn trách Trời rằng không biết nói? Có phải là miệng trò biết nói mà tại trò không biết nghe tiếng của mình nói hay không? Tiếng của mình nói mà mình không biết nghe thay, huống chi là tiếng nói của Trời!
Some of you think: “The Capacity of Man can be understood; if a person strives with resolve and effort, perhaps someone could achieve it. The Capacity of Earth can be understood too, though how to harmonize and unite with it is not yet clear — but perhaps by trying hard to search, one would come to comprehend it. Only the Capacity of Heaven, which concerns Generation and Transformation, cannot possibly be imitated, for Heaven is seen yet hard to understand, and no one clearly knows what Heaven is. Heaven has no form and says nothing for anyone to hear — so how could a person know clearly the method by which to harmonize and unite rightly?” — You are greatly mistaken to think so. Heaven, though it does not speak, knows how to hear. Man is called one who knows how to speak — why then does he not hear the voice of Heaven? Man reproaches Heaven for not speaking only because Man will not listen! Because Man will not listen, you do not comprehend the voice and works of Heaven, by which Heaven teaches and points the way, so that you may follow it rightly and harmonize and unite with Heaven — it is not that Heaven does not speak and is hard to see, as you imagine! Think: Heaven knows how to go, to run, to revolve, to work, to see, to hear, to reward and punish — each thing Constant, Real, and Faithful — so how could it not know how to speak! Man calls himself one who can speak — why then will he not listen and examine how the Capacity of Heaven speaks, how it teaches, so as to follow it rightly and unite with Heaven in Harmony? If you say Heaven cannot speak, why do I so often hear you say: “Heaven sends,” “Heaven bids,” “Heaven teaches,” “Heaven tells”? From what cause do you say such words? Knowing how to say such things, why still reproach Heaven for not knowing how to speak? Is it not that your mouth knows how to speak, but you do not know how to hear your own voice? If you cannot hear even your own voice, how much less the voice of Heaven!
Ta thử chỉ cho các trò coi một vài việc đặng xét lấy, thì thấy rõ nghe rõ sự làm và tiếng nói của Trời. Các trò xét rồi thì không còn gọi lời Ta nói là không bằng cớ hiển nhiên. Ta thử hỏi các trò: sự làm, sự thở, sự thấy, sự nghe, sự nói, hằng ngày hằng giờ hằng phút của các trò ấy, bởi những vật nào các trò phải cần dùng, đặng làm cho những sự kia phải làm cho trúng, cho phải, cho nên? Các trò nghe hỏi rồi, đều trả lời rằng: Năm sự ấy đều do nơi phần giác quan mà ra, còn sự làm ra cho trúng cho nên ấy, là do nơi sự Biết trong Tâm phát ra sai khiến cho năm giác quan tuân theo mà làm. – Trả lời như các trò vậy, thì Tâm nầy đã có sự Biết rồi, nên dùng sự Biết ấy mà sai khiến ngũ quan cho tuân theo hay sao? Sao Ta thấy Tâm của các trò sai ngũ quan của trò mà nó thường không tuân theo vậy? Nếu vậy là tại ngũ quan không tuân hay là tại Tâm không biết nên sai nó không tuân? Ta lại cũng từng thấy những lời Chư Thần Thánh dạy, mà các trò cũng không biết? Nếu vậy thì sự Biết và sự Tuân ấy nó ở đâu? Có trò muốn trả lời rằng: Tâm có Nhơn Tâm và Đạo Tâm, ai bị Nhơn Tâm quá nặng thì Nhơn Dục che lấp Thiên Lý, nên không chịu nghe theo Thánh Giáo, chớ trong Lương Tâm vẫn có Đạo Tâm luôn luôn, chẳng hề khi nào làm những điều quấy, vì nó nghe theo Lương Tâm sai khiến. Các trò rất lầm đó. Tâm là Tâm mà thôi. Nếu gọi Tâm có Nhơn Tâm và Đạo Tâm, thì ra Trời ban cho mỗi Người hai thứ Tâm hay sao? Hay là ban cho Người nầy có Đạo Tâm mà không Nhơn Tâm, người kia có Nhơn Tâm mà không Đạo Tâm, còn có Người thì hai thứ bằng nhau, hoặc có Người thứ nầy nhiều, thứ kia ít hay sao? Nếu vậy thì sao gọi Trời là Chí Công Vô Tư, sao gọi Công Bình cho được? Hiểu nghĩa như vậy, thì ngày nào cho rõ được Chơn Lý của Trời? Lại thêm rằng có một thứ Lương Tâm nửa! Ôi thôi! Tâm đâu mà nhiều như thế! Bởi các trò chia Tâm Tánh ra làm nhiều lớp, nhiều ngăn như vậy đã quen, mà tự xưng mình biết cách vật, biết trí tri, nên mới có thể dùng sự biết đó mà chia Nhơn Loại ra nhiều thứ, nên mới đành lòng phân rẽ nhau ra được. Chớ chi các trò chịu nhìn nhận rằng Tâm là Tâm, Tánh cũng là Tâm: Tánh là Tánh, mà Tánh ở trong Tâm, đồng vật mà khác tên, thì có đâu nhiều như vậy. Tâm Tánh Ta nói đây, là Ta chỉ vào Tâm rất ngay thẳng, bền vững, có Một không Hai, Tâm rất sáng suốt, thông hiểu chẳng hề mê muội, ấy là « Cái của Trời ban-phú cho loài Người Đó », nên Ta cũng kêu nó là « Cái Đó » chớ Ta chẳng hề chỉ vào Tâm Tánh hay là tánh nết như các trò lầm lộn bấy nay. Nếu Tâm cứ bền lòng, trước sau như Một, mà chẳng có Tánh cho Sáng Thông biết phân biện, thì Tâm kia có khi phải lầm, vì vậy nên Tâm Tánh cũng là Một, chẳng hề có Hai, bởi nó là đồng Một Vật mà có Hai tên khác nhau, khác là khác phần việc đó. Thữ nghĩ coi, nếu Tâm mà không có Tánh, thì Tâm kia nhờ cậy chi mà phân biện cho sáng suốt, còn có Tánh mà không Tâm, thì Tánh nầy nương vào đâu đặng biện phân mà làm cho được toàn vẹn? Tuy gọi nó là hai vật, ví chẳng khác như Xác với Hồn vậy mà thôi; Người có Xác phải có Hồn, nếu có Xác không Hồn thì Người ấy ra sao, có Hồn không Xác thì có mà làm gì? Cũng như Ta nói Kiến là Kiến, Gương là Gương, song Gương không Kiến thì làm sao cho có Gương, Kiến không Gương thì Kiến kia là một vật trống rỗng để cho Người dùng che gió bụi cho vật khác đó thôi.
Let Me point out a few matters for you to examine for yourselves, and you will see clearly and hear clearly the works and the voice of Heaven. Once you have examined them, you will no longer say My words lack plain evidence. I ask you: your acting, breathing, seeing, hearing, and speaking — every day, every hour, every minute — by what things must you make use, so that those acts are done rightly, fittingly, and well? Having heard the question, you all answer: “These five acts all come from the sense faculties; and their being done rightly and well comes from the Knowing within the Heart, which goes forth and commands the five senses to obey and act.” — If you answer so, then this Heart already possesses Knowing, and uses that Knowing to command the five faculties to obey? Then why do I see that when your Heart commands your five faculties, they often do not obey? Is it then because the five faculties do not obey, or because the Heart does not know, and so commands without being obeyed? I have also seen the teachings given by the Deities and Sages — and you did not know them either? If so, where are that Knowing and that Obeying? Some of you want to answer: “The Heart has a Human Heart (Nhơn Tâm) and a Way Heart (Đạo Tâm). Whoever is weighed down too heavily by the Human Heart has Heaven’s Principle covered over by human desire, and so will not follow the Holy Teachings; but within the Conscience (Lương Tâm) there is always the Way Heart, which never does wrong, because it follows the Conscience’s command.” You are greatly mistaken. The Heart is simply the Heart. If you say the Heart has a Human Heart and a Way Heart, then did Heaven give each person two kinds of Heart? Or give this person a Way Heart and no Human Heart, that person a Human Heart and no Way Heart, another the two in equal measure, and another more of one and less of the other? If so, how could Heaven be called Utterly Impartial and Selfless, how could it be called Just? Understanding it so, when will you ever come to know the True Principle of Heaven? And on top of that, there is yet another kind, the Conscience! Alas! Where would so many Hearts come from! Because you have grown used to dividing the Heart and Nature into so many layers and compartments, while calling yourselves those who know how to Investigate Things and Extend Knowledge, you can use that knowledge to divide humankind into many sorts, and so bring yourselves to split apart from one another. If only you would acknowledge that the Heart is the Heart, and the Nature too is the Heart: the Nature is the Nature, but the Nature dwells within the Heart — one thing with different names — then where would there be so many? The Heart and Nature I speak of here point to the Heart that is utterly straight, steadfast, One and not Two, most clear and bright, comprehending and never deluded: it is “That which Heaven endowed upon humankind,” and so I also call it “That” (Cái Đó). I never point to “heart and nature” in the sense of temperament and habits, as you have been confusing them all this time. If the Heart remained steadfast, the same from first to last, yet had no Nature to make it Bright and Penetrating and able to discern, that Heart might sometimes err. That is why the Heart and Nature are One, never Two: one Thing with two different names — different only in their share of the work. Think: if the Heart had no Nature, on what would it rely to discern clearly? And if there were a Nature without the Heart, where would that Nature rest so as to discern and act completely? Though we call them two things, they are no different from the Body and the Soul: a person with a Body must have a Soul; if a Body has no Soul, what is that person? And a Soul with no Body — what good would it be? It is just as I said: clear glass is clear glass and the Mirror is the Mirror; yet without the glass, how could there be a Mirror? And glass without the silvering of the Mirror is just an empty thing people use to shield other things from wind and dust.
Các trò nghe Ta giảng vậy, lại còn hoài nghi rằng: Lời Ta nói trước sau không phù hạp, vì Ta đã từng giảng rằng: « trong Lương Tâm có sẳn Lương Tri Lương Năng »; nay sao Ta lại gọi rằng Tâm là Tâm chớ không có Lương Tâm, Nhơn Tâm, Đạo Tâm nào khác nữa, nếu vậy Ta nói rất trái ngược với Ta đó, như vậy thì các trò cò biết nương cậy vào đâu nữa mà phăn, mà dò, mà học? – Bởi các trò chịu biết cho nhiều tiếng rồi chịu học cho thuộc đặng để dành mà nói chuyện với nhau đâng khoe khoan sự học thức, sự trí thức cao thấp với nhau mà thôi, chớ chẳng chịu hiểu những tiếng nói ấy nghĩa là gì, vì vậy nên gọi Đạo là mắc mỏ. Sao chẳng xét Lương Tri Lương Năng là chi, rồi sẻ hỏi? Lương Tri Lương Năng với Lương Tâm là Ba hay sao? Tâm với Lương Tâm là Hai vật hay sao? Tâm với Nhơn Tâm Đạo Tâm là Ba vật hay sao? Các trò muốn dò phăn mối Đạo, thì hãy tìm những tiếng Chánh Gốc của Đạo mà nghiên cứu, thì sự Thấy, sự Biết, sự Thông Hiểu mới có thể Ứng lại cho được, bằng kiếm những tiếng Giải Nghĩa mà Học, rồi gọi những tiếng ấy là tiếng Chánh Gốc, thì càng ngày càng sai lạc đường ngay. Đã biết những tiếng Chánh Gốc thì vắn tắt mà khó hiểu, nên phải có tiếng đặt thêm đặng phụ ích vào, đặng cho Người dễ hiểu, song những tiếng phụ ích ấy nào có đủ nghĩa lý cho trọn tiếng Chánh Gốc đâu, bởi vậy nên lần lần lâu ngày, Người đời sau thấy nó còn thiếu sót nghĩa gì, thì đặt thêm tiếng khác nữa cho dễ hiểu thêm, càng lâu ngày thì càng thấy còn cần phải có thêm tiếng phụ hội vào hoài, nên càng lâu chừng nào, thì những tiếng gia phụ càng thêm nhiều chừng nấy, càng nhiều chừng nào, lại sự trật càng xa, mà không hay, không biết. Người xa vời chừng nào, thì nào hay sự khổ tâm của Người đời trước, vì muốn cho dễ hiểu theo đường đời, mới có đem ra nhiều tiếng như vậy đâu! Lại lầm tưởng những tiếng ấy là chánh gốc Đạo, rồi nương theo đó mà dùng, lại còn diển giải thêm ra cho rộng nữa, gọi vậy là thông thuộc, nào dè càng phụ họa thêm vô chừng nào, thì lại càng xa càng lạc bến chừng nấy mà quên đường trở lại. Càng lâu càng nhiều, càng xa càng lạc, ấy là cái nấc khó khăn cản trở mà làm cho các trò khó bước lên đến thềm nhà Đạo ngày nay, là bởi những tiếng không nhứt định đó lắm vậy. Ta vẫn biết sự lầm lộn của Người đời như thế, nên trước khi Ta muốn gải Tâm Tánh cho các trò hiểu, thì Ta cần phải dùng những tiếng thường dùng, mà tiếng của trò thường dùng đó, đặng gải cho các trò nghe, rồi Ta chẳng muốn cho các trò còn dùng những tiếng ấy hoài mà quanh quẩn cũng còn lộn lạo không rành, nên Ta tóm tắt lại dùng hai tiếng « Cái Đó » chỉ rằng « Cái của Trời ban-phú cho loài Người Đó » đặng chỉ ngay vào hai tiếng Chánh Gốc là Tâm Tánh mà thôi. Sao các trò không dùng theo tiếng của Ta đã chỉ cho, mà vẫn dùng những tiếng phụ họa hoài?
Hearing My teaching, you still doubt, saying My words do not agree from first to last: for I once taught that “within the Conscience are already present Innate Knowing and Innate Capacity,” yet now I say the Heart is the Heart, with no separate Conscience, Human Heart, or Way Heart; if so, I am contradicting Myself, and on what can you now rely to trace, to probe, to study? — It is because you are content to know a great many words and learn them by heart, storing them up to talk with one another and show off your learning and your higher or lower knowledge — but will not understand what those words mean; that is why you call the Way difficult. Why not examine what Innate Knowing and Innate Capacity are, before asking? Are Innate Knowing, Innate Capacity, and Conscience three things? Are the Heart and the Conscience two things? Are the Heart, the Human Heart, and the Way Heart three things? If you wish to trace the thread of the Way, seek out the Root Words (tiếng Chánh Gốc) of the Way and study them; only then can Seeing, Knowing, and Comprehension respond to you. But if you seek out Explanatory Words to study, and then call them the Root Words, day by day you will stray further from the straight road. Root Words are brief and hard to understand, so other words must be added to assist, to make them easier for people to understand; but those assisting words never carry the full meaning of the Root Words. So, little by little over time, later generations, seeing that some meaning is still missing, add yet other words to make it easier still; and the longer it goes on, the more it seems still more words must be added — so that the longer it lasts, the more the added words multiply; and the more they multiply, the farther the error goes, without anyone noticing or knowing. The more distant people are, the less they know the painstaking heart of earlier people, who brought out so many words only so that things might be understood in worldly terms! Mistaking those words for the root of the Way, they rely on them and use them, and further expound them more widely, calling this mastery — never imagining that the more they add on, the farther and more lost from the shore they drift, forgetting the way back. The longer, the more; the farther, the more lost — this is the hard rung that obstructs you and makes it difficult for you to climb onto the threshold of the House of the Way today: it is largely because of these unsettled words. I know well this confusion among people of the world; so before explaining the Heart and Nature to you, I had to use the usual words — the very words you commonly use — to explain it to you. Then, not wishing you to keep using those words forever and go round in circles, still confused and unclear, I summed it up in the two words “That” (Cái Đó), meaning “That which Heaven endowed upon humankind,” so as to point directly to the two Root Words, Heart and Nature, alone. Why do you not use the word I have pointed out to you, but keep using those added words?
Ta cũng đem vài vật trước mắt các trò, đặng làm tỷ dụ cho vật nào hể càng phụ ích chừng nào, thì lại càng hại cho Người lầm lạc chừng nấy cho các trò nghe mà xét lấy. Kìa, Con Đường Cái vẫn có Một cái, dài luôn hoặc từ Đông chí Tây, hoặc từ Nam chí Bắc mà thôi. Lâu ngày Người muốn thông thương cho dễ, thì phải đắp thêm đường mới cho nhiều, mà đường mới vẫn có từ khúc từ chặn, lại chia xẻ con đường cái ra, làm cho nhiều ngã nhiều lối, càng ngày càng thêm đường cho rộng cho nhiều chừng nào, thì lại càng làm cho Người quanh quanh, lộn lộn, không biết Con Đường Cái ở đâu, mà đi cho thẳng đến chỗ Chánh Gốc là mục đích của mình muốn đi đến. Biển kia cũng vậy, cũng có một Nguồn mà bao bọc cả Toàn Cầu, Sông lớn tuy nhiều, mà cũng có Một Nguồn mà ra vào với Biển; cũng vì Người muốn phương tiện về mặt dinh thương, nên vẫn đào kinh xẻ rạch, chẳng dè kinh rạch càng nhiều thì dễ bề cho Người lạc đường ra cửa chừng nấy, chớ nào có ích chi? Chơn Lý cũng vậy, cũng lâm vào một luồng tai nạn như thế, là cũng bị những tiếng dẫn giải phụ họa thêm hoài, tưởng rằng nhiều như vậy đặng cho rõ nghĩa chữ Chánh Gốc, nào dè làm như vậy là làm cho Người lầm tưởng những chữ ấy là chữ Chánh Gốc, nên càng ngày Tả Đạo Bàn Môn càng nảy thêm. Đạo Lý nói nghe càng rành, song hỏi thử lại coi Chánh Gốc của Đạo bởi đâu, thì vẫn cứ Trời mà đổ. Hỏi Trời là chi thì u ơ không biết đâu mà nói, rồi muốn cho Người gọi là bực trí thức, thì phải đặt thêm ra vài ba tiếng chữ mới khác nữa đặng gọi sự học cao thượng của mình, để làm cho bưng tai, chóa mắt Người, mà nó chẳng dè nó tự dối lấy mình nó vậy; dầu cho trong đám ấy cũng có nhiều đứa biết hổ ngươi sự dối giả của nó, mà nó cũng vẫn cứ hiu hiu tự đắc lấy vậy là đắc chí, nên không chịu quay đầu về trở lại với Đạo. Các trò vẫn đều là Người đứng vào hạng Sĩ tử của Chơn lý, có lẽ đâu chưa hiểu trước những điều Ta nói đây sao?
Let Me also set a few things before your eyes as illustrations of how the more a thing is “helped” by additions, the more it harms people by leading them astray — listen and examine for yourselves. Look: the Great Road is only One, running straight from East to West or from South to North. Over time, wishing to travel and trade more easily, people built many more new roads; and the new roads came in sections and segments, splitting the great road apart into many branches and paths. The more roads are added day by day, wider and more numerous, the more people go round and round, confused, not knowing where the Great Road is, so as to travel straight to the Root Source that is the destination they wish to reach. The Sea is the same: it has one Source that encircles the whole Globe; and though the great Rivers are many, they too have one Source by which they flow in and out of the Sea. Yet because people wanted convenience for commerce, they kept digging canals and cutting channels, never imagining that the more canals and channels there were, the more easily people would lose the way out to the river mouth — what good was it? True Principle is the same; it has fallen into the same misfortune, burdened with ever more explanatory words, added on in the belief that so many would clarify the meaning of the Root Words — never imagining that this would lead people to mistake those words for the Root Words. And so, day by day, heterodox ways and side-doors (Tả Đạo Bàng Môn) sprout up more and more. Their talk of the Principle of the Way sounds ever more fluent; but ask them where the Root Source of the Way comes from, and they simply lay it all on Heaven. Ask them what Heaven is, and they mumble, not knowing what to say. Then, wishing people to call them learned, they must coin two or three more new words to name their own lofty learning, so as to stop people’s ears and dazzle their eyes — never realizing that they are deceiving themselves. And even though many in that crowd know to be ashamed of their own falsehood, they still go on complacently pleased with themselves, taking that as success, and so will not turn their heads and come back to the Way. You all stand in the rank of Scholars of True Principle — how could you not have understood beforehand the things I am saying here?
Này, hãy nghe Ta giải cho rõ: Lương Năng vốn ở nơi Lương Tri mà ra, có Lương Tri mới có Lương Năng được, bởi có sự Biết Sẵn rồi nên mới có Sẵn Tài hay được. Sự Biết sẵn đây là sự Biết sẵn có trong mình mình rồi, chẳng đợi phải học, hay là phải suy nghĩ mới biết. Lương Năng cũng vậy, nhờ có sẵn biết nên mới có sẵn Tài hay. Lương Năng đã ở sẵn trong Lương Tri, mà Lương Tri lại ở sẵn trong Lương Tâm, nên Ta đã giải cho các trò rằng: Lương Tri Lương Năng ở trong Lương Tâm, nên cũng gọi là Tánh, mà Tánh ấy là « Cái Đó », Cái của Trời ban phú cho Đó. Thữ nghĩ coi: Đã gọi Tánh là của Trời ban phú, thì nó nào có làm việc chi sái, việc chi quấy bao giờ! Mà sao Ta thấy phần nhiều trong thế gian, hễ ai Lương Tri Lương Năng nhiều chừng nào, thì lại càng làm nhiều điều quấy chừng nấy? Quấy cho đến đổi thọc Trời, rạch Đất, khuấy biển, lấp sông, rối loạn cả trật tự bình an, mà gọi những việc ấy đều do nơi Lương Tâm phát ra? – Thử bắt một tên trộm nghề, hỏi nó sao không lo làm ruộng rẩy hoặc làm thuê mướn đặng nuôi thân, để lo làm chi cái nghề trái Nhơn Đạo như vậy? Thì nó đáp rằng: tại Lương Tâm nó bảo nó phải làm nghề ấy, bởi tài năng của nó sẵn có và hay giỏi trong nghề ấy, nên mới xoay chuyển vào nghề ấy được mà thôi, còn các nghề khác thì không biết. – Hỏi đến một tên tướng cướp, hoặc một đứa chuyên nghề gươm đao nuôi sanh mạng, thì nó cũng đều trả lời một cách là tại Lương Tâm nó xúi giục nó bảo nó phải làm nghề ấy, nên nó mới có đủ sẵn mưu chước mà làm được, lại Lương Tri Lương Năng của nó cũng đã sẵn có vào nghề đó, nên mới có đủ nghị lực can đảm và trí thức đặng trù nghĩ các phương thế mà cướp người giết người chẳng ghê ghớm chút nào. Nếu hỏi thêm nó nữa rằng: Lương Tâm nó có bảo nó hồi tâm làm điều phươc thiện chi chăng, hay là cứ việc đeo đuổi theo nghề ấy cho tới cùng? Nó liền trả lời không đợi suy nghĩ rằng: Nếu thời thế nó thuận, thì nó sẽ đi cho đến bực làm Trời Con nó mới thôi. – Trái lại nếu các trò hỏi một vị Hiền Triết sao cứ cậm cụi nơi phòng sách, hoặc hiến thân vào nơi phòng hóa học, đặng lo khảo cứu những sách vở cùng là những vật liệu chi đâu rất xa vời, khó tìm khó móc cho ngó thấy được, lại thêm là hao tổn tinh thần trí nảo, sao không lo thi khóa làm quan càng sung sướng khoẻ khoắn hơn; thì những vị nầy cũng trả lời một cách như tên cướp kia vậy: Tại nơi Lương Tâm bảo vậy, Lương Tri Lương Năng cũng xô đẩy vào xét những việc huyền bí cao xa như vậy mà vẫn vui lòng, nên mới đeo đuổi theo hoài mà chẳng biết mệt mỏi. – Thử xét lại coi, sự hành vi của hai bực Người như kia, đều trái hẳn với nhau như trời với vực mà sao cũng đều do nơi Lương Tâm sai khiến, cũng đều do Lương Tri Lương Năng có sẵn đủ tài hay nên mới thông thạo hay giỏi vào nghề ấy được! Nếu vậy, Lương Tâm có hai thứ hay sao?
Now, listen as I explain clearly: Innate Capacity (Lương Năng) comes forth from Innate Knowing (Lương Tri); only with Innate Knowing can there be Innate Capacity, for only because Knowing is already present can Talent already be present. This ready Knowing is a Knowing already present within oneself, not waiting to be learned or thought out before it is known. Innate Capacity is the same: because there is ready Knowing, there is ready Talent. Innate Capacity already dwells within Innate Knowing, and Innate Knowing already dwells within the Conscience (Lương Tâm); that is why I explained to you that Innate Knowing and Innate Capacity are within the Conscience, and so are also called the Nature — and that Nature is “That,” That which Heaven endowed. Think: if the Nature is called the endowment of Heaven, when would it ever do anything wrong or crooked! Then why do I see that, for the most part in the world, the more Innate Knowing and Innate Capacity a person has, the more wrong he does? Wrong to the point of piercing Heaven, gashing Earth, churning the seas, damming the rivers, throwing all peaceful order into chaos — and calling all these things the promptings of Conscience? — Catch a professional thief and ask him why he does not farm or hire himself out to support himself, instead of plying a trade so contrary to the Human Way. He will answer that it is his Conscience that tells him he must ply that trade, because his talent is ready-made and skilled in it, so he can turn his hand to it — other trades he does not know. — Ask a bandit chief, or one who lives by the sword, and he will answer the same way: it is his Conscience that urges him and tells him he must ply that trade, and so he has every scheme ready to carry it out; and his Innate Knowing and Innate Capacity are already fitted for that trade, so he has the strength of will, the courage, and the wits to devise every means of robbing and killing people without the least horror. Ask him further whether his Conscience tells him to turn his heart and do some good and virtuous deed, or to keep following that trade to the end? He answers at once, without stopping to think: if the times favor him, he will go on until he reaches the rank of Son of Heaven (emperor) before he stops. — Conversely, if you ask a Sage-Philosopher why he keeps bent over in his study, or devotes himself to the chemistry laboratory, investigating books and materials so remote and hard to find and dig out to see, wearing out his spirit and his brain — why not sit the examinations and become an official, far more comfortable and at ease — these persons too answer exactly as that bandit did: “It is because my Conscience tells me so; my Innate Knowing and Innate Capacity also drive me to examine such mysterious and lofty matters, and I am glad of it; so I keep pursuing them without growing weary.” — Consider: the conduct of these two kinds of people is as opposite as heaven and abyss, yet why do both come from the command of Conscience, both from Innate Knowing and Innate Capacity with ready-made talent, so that each is expert and skilled in his trade! If so, are there two kinds of Conscience?
Ta cũng giải luôn cho rõ phần Tâm Tánh của các trò hay thường dùng đó, cho các trò xét hiểu thấu đáo. Tâm là một Vật chứa có Tánh Sáng, Tánh nầy là Tánh của Trời ban phú cho loài Người trước nhứt vậy. Tâm đã là một vật chứa có Tánh Sáng, mà Tánh Sáng nầy lại là Tánh của Trời phú, báu lạ vô cùng. Các trò thử xét coi, từ xưa đến nay, có thấy ai dùng một vật xấu hèn để chứa đồ quí báu không? Chẳng ai nở dùng một vật hèn mà chứa đồ báu, thì Tâm kia nào có xấu bao giờ! Vì nó phải là một vật quí mới được chớ! Tâm đã chẳng phải là một vật hèn, mà sao nó càng ngày càng xấu đi? Ta hỏi: Tâm hèn xấu, nên làm cho Tánh phải lu lờ, hay là Tánh lu lờ rồi hóa ra Tâm phải hèn xấu? Câu hỏi Ta hỏi đây, các trò cần phải tự hỏi lấy mình hoài, tự xét lấy mình hoài và tự mỗi trò phải tự biết lấy mình, coi bởi đâu mà trong hai vật ấy phải bị sái vơi nguyên chất của Trời ban lúc xưa, đặng tự mình các trò lo mà trau dồi kiểm điểm nó lại cho trong sạch. Nếu biết Tâm là vật quí, thì nó vẫn có Một mà thôi, sao lại đem nó chia hai, đặng phân nó ra kêu là Nhơn Tâm, Đạo Tâm mà làm gì? Nếu gọi nó là một vật hèn, sao nó lại chứa có Tánh Sáng của Trời ban là vật quí? Nếu gọi Nhơn Tâm vì Tình Dục và Vật Dục che phủ, nên Đạo Tâm phải mờ ám, vậy thì Đạo Tâm ở đâu, Thiên Tánh kia sao không Sáng đặng thấy rõ trước sự quấy của Tình Dục và Vật Dục mà ngăn đón nó trước, cho khỏi bị nó phá rối? Nếu gọi rằng hễ Nhơn Tâm mạnh thì Thiên Tánh phải yếu, thì nào có cái lý đó bao giờ! Lý ấy là Lý Trí của các trò mượn mà nói đặng che lỗi mình đó. Lý ấy là lý của Người đặt tiếng ra nói, đặng dẩn đường cho các trò đi sái Chơn Lý đó. Thiên Tánh là một vật báu lạ vô cùng, nào có ở trong một vật chi nhơ nhớp xấu xa làm cho Tình Dục Vật Dục có chỗ dựa nương mà che khuất án lấp nó được đâu! Các trò hãy chừa những Lý thuộc về Lý Trí ấy đi, thì mới rõ Chơn Lý. Ta đem thêm vài việc ra đây nữa hỏi các trò, các trò xét lấy thì thấy rõ sự mờ ám của các trò bị kẻ dẩn đường dặt ra nhiều tiếng, làm cho rộn ràng Chơn Lý, sai lạc cả mối manh, nên trò không phăng, không thấy được. Hãy xét coi, kìa một Người hễ gặp được Người thương, dầu cho Người ấy có làm điều quấy, cũng thương; nếu gặp Người ghét thì ghét, dầu cho Người ấy có làm phải, cũng ghét. Tại sao vậy? Hỏi: Lương Tâm nào đã có sự Thương, sự Ghét rồi, còn Lương Tâm nào của Trời đã ban phú cho cái Tâm được tận thiện tận mỹ? Lương Tâm của Người đó có sẵn chứa sự thương ghét trước như vậy là phải, hay là không phải? Người đó chứa trước Tánh Sáng rồi chứa sự thương ghét sau, như vậy là Nhơn Tâm hay Đạo Tâm? Như vậy có trúng với « Cái Đó » hay không? Nếu nói như vậy là tại Nhơn Tâm, thì kìa, một Người Hiền Triết – là một bực rất thông Đạo Lý đó, mà lại là Người có quyền cai trị thưởng phạt nữa, dầu thấy, dầu biết con mình làm một việc chi sái vời Đạo Lý và trái với Luật Nước, thì cũng đã có sẵn lòng binh vực rồi: nếu binh vực thì là Nhơn Tâm, nếu đem ra pháp luật thì mất vẻ Đạo Tâm, mà cũng không được từ chức trốn tránh cho qua việc, cho Người khác lo xử, cũng không được xử nửa phạt nửa tha, theo luật đời, mà goị rằng cầm bực Trung Dung, vậy thì Người ấy phải xử trí cách nào cho ổn thỏa? Còn kìa, một đứa đại tàn ác đại hung bạo, mà hễ nó thấy ai làm điều chi quấy, nó cũng biết ghét, giết cho được mới vui lòng, làm chi phải, nó cũng biết thương dầu cho Người ấy có lâm nguy, nó cũng ra tay cứu vớt; như vậy đó là Nhơn Tâm hay là Đạo Tâm? – Hỏi: sự thương sự ghét của bực Người này như vậy, có trúng với Lương Tâm hay không? Nếu trúng, thì ai là Nhơn Tâm, ai là Đạo Tâm? Ai là trúng với « Cái Đó »? – Ta chắc các trò sao sao cũng trả lời rằng: Bực Hiền Triết kia vì tình thương quá nặng, nếu đem con ra trước mặt hình pháp thì Lương Tâm cắn rứt, bằng chẳng đem ra thì trái Luật Trời, bởi mình là Người cầm quyền thưởng phạt thay thế cho trong nước, nếu sái với Luật Nước là sái Luật Trời, mà Luật Trời tức nhiên là Luật Đạo vậy; Người Hiền Triết gặp một cảnh rất khó khăn, Nhơn Tâm Đạo Tâm hai cái còn đương phân vân, khó bề nhứt định được.; còn tên hung bạo kia mà làm được những việc Đạo Đức như vậy, ấy là nhờ cái lúc mà Lương Tâm nó phát hiện ra trong giây phút đó thôi, phải chi nó có Đạo Tâm trong mình nó hoài, thì đâu nó có làm những việc tàn nhẫn hung bạo bao giờ! Tuy nó làm được như vậy mặc dầu, cũng chưa đủ gọi nó là Người có Đạo Tâm. Nói như các trò vậy, sao Lương Tâm tên hung bạo nầy biết phát hiện ra điều tốt, còn Lương Tâm Người Hiền Triết kia lại cắn rứt? Trong Lương Tâm của Người Hiền Triết không có Lương Tri Lương Năng hay sao, mà để cho đến đổi gặp việc khó khăn như vậy mà làm cho Nhơn Tâm Đạo Tâm hai cái nó tranh lấn với nhau mà không quyết định được? Các trò có biết cái tội lỗi này bởi đâu mà ra hay không? – Hãy nghe Ta giải cho mà tự tỉnh lấy.
Let Me also explain clearly the “heart and nature” that you so often use, so that you may examine and understand it thoroughly. The Heart is a Vessel that holds the Bright Nature; and this Nature is the Nature that Heaven first endowed upon humankind. The Heart, then, is a vessel holding the Bright Nature, and this Bright Nature is the Nature endowed by Heaven, a treasure wondrous beyond measure. Consider: from ancient times until now, has anyone ever used a mean, ugly thing to hold something precious? No one would bear to use a lowly vessel to hold a treasure — so when was the Heart ever ugly! It must be a precious thing! The Heart is not a lowly thing — then why does it grow uglier day by day? I ask you: is the Heart lowly and ugly, and so makes the Nature cloudy; or has the Nature grown cloudy, and so the Heart becomes lowly and ugly? This question I ask here you must ask yourselves continually, examine yourselves continually, and each of you must come to know yourself: from what cause has one of these two things strayed from the original substance Heaven bestowed of old — so that you yourselves may see to polishing and inspecting it until it is clean again. If you know the Heart is a precious thing, then it is only One — why split it in two, dividing it and calling it Human Heart and Way Heart? If you call it a lowly thing, why does it hold Heaven’s precious gift, the Bright Nature? If you say the Human Heart is covered by passion and material desire, so the Way Heart must be darkened — then where is the Way Heart, and why is that Heavenly Nature not Bright enough to see beforehand the wrongs of passion and material desire and stop them in advance, so as not to be thrown into disorder by them? If you say that when the Human Heart is strong the Heavenly Nature must be weak — when was there ever such a principle! That principle is your own Reasoning (Lý Trí), borrowed and spoken to cover your faults. That principle is a principle men coined in words to lead you away from True Principle. The Heavenly Nature is a treasure wondrous beyond measure; when would it ever dwell in anything filthy and foul, giving passion and material desire a place to lean on so as to cover and hide it! Give up those principles belonging to Reasoning, and only then will you know True Principle. Let Me bring out a few more matters to ask you; examine them and you will see clearly how you have been clouded by guides who coined so many words, throwing True Principle into confusion and tangling all its threads, so that you cannot trace them or see. Consider: here is a person who, when he meets someone he loves, loves him even if that person does wrong; and when he meets someone he hates, hates him even if that person does right. Why? I ask: what kind of Conscience already contains love and hate — and what kind of Conscience is the one Heaven endowed, making the Heart utterly good and utterly beautiful? Is it right or not that this person’s Conscience should hold love and hate ready-made beforehand? If that person holds the Bright Nature first and then holds love and hate afterward, is that the Human Heart or the Way Heart? Does it accord with “That,” or not? If you say it is due to the Human Heart, then look: here is a Sage-Philosopher — one who thoroughly understands the Principle of the Way, and who moreover holds authority to govern, reward, and punish. Even if he sees and knows that his own son has done something contrary to the Principle of the Way and the Law of the Land, he already has a heart ready to defend him. If he defends him, that is the Human Heart; if he brings him before the law, he loses the look of the Way Heart; and he may not resign and flee to escape the matter, leaving others to judge it, nor may he judge it half-punish, half-pardon according to worldly law and call that holding to the Mean (Trung Dung) — so how must he handle it to set it right? And look: here is a thoroughly cruel and violent man, yet whenever he sees anyone do wrong, he knows to hate it, and is content only once he has killed the wrongdoer; and when anyone does right, he knows to love it, and even if that person is in danger, he lends a hand to rescue him — is that the Human Heart or the Way Heart? — I ask: the love and hate of these kinds of people, do they accord with Conscience or not? If they do, then which is the Human Heart, and which the Way Heart? Who accords with “That“? — I am sure you will answer somehow: “That Sage-Philosopher’s love is too heavy; if he brings his son before the courts, his Conscience will torment him; if he does not, he violates the Law of Heaven, since he is the one holding the power of reward and punishment on behalf of the land — to go against the Law of the Land is to go against the Law of Heaven, and the Law of Heaven is naturally the Law of the Way. The Sage-Philosopher meets a most difficult situation, with Human Heart and Way Heart still divided, hard to decide. As for that violent man doing such virtuous deeds, it is thanks only to the moment his Conscience shows itself, in that one instant; had he had the Way Heart in him always, when would he ever do cruel and violent things! Even though he did such a deed, it is still not enough to call him a person with the Way Heart.” If you speak as you do, why does the Conscience of this violent man know how to show forth good, while the Conscience of that Sage-Philosopher is tormented? Has the Sage-Philosopher’s Conscience no Innate Knowing and Innate Capacity, that faced with such a difficulty it lets the Human Heart and Way Heart wrestle each other without being able to decide? Do you know where this fault comes from? — Listen to My explanation and awaken yourselves.
Tiếng nói của đời Thượng cổ, chẳng hề có nói tiếng đôi tiếng ba bao giờ, nhứt là về phần dạy Đạo, thì tuyệt nhiên chẳng dùng tiếng đôi. Thượng cổ nói ít hiểu nhiều, tiếng nói ít mà nghĩa lý cao sâu, chẳng phải như đời nay nói nhiều mà chẳng rõ, nói nhiều mà nghĩa lý vụng về, có khi nói nhiều mà chẳng hiểu chi hết vậy. Thượng cổ dạy Đạo cho Nhơn sanh thì thuộc về phần Người nào cầm quyền cai trị ở thế hạ nầy mới có trách-nhậm gánh vác điều ấy. Trước khi Người ấy muốn trao trách nhậm lại cho Người khác, thì phải kén chọn coi cả thế gian có ai là Người đủ sức thay thế cho mình không? Nếu được, thì đem về gióng sức và tập rèn cho được am hiểu đến chỗ cội nguồn của Nhơn sanh, rồi mới được phép trao quyền cho. Nhờ vậy nên kẻ trao Người lảnh, hai Người đã như một Người vậy. Kịp đến lúc trao quyền, thì dặn dò nhau một ít tiếng thêm là đủ, không cần phải nói nhiều lời. Nhờ vậy nên trong nước đều được thái bình thạnh trị, Nhơn sanh chẳng hề có họa thảm khóc. Đến sau, Người cầm quyền bỏ cái lệ rất công bình này, gọi nước là gia tài riêng của mình, nên cứ truyền ngôi báu lại cho con cháu, chẳng luận đứa đó Tâm Tánh nó thể nào, vì vậy nên lâu ngày sanh ra sự chia rẽ, rồi mới có nỗi gây sự chiến tranh. Đến lúc Châu suy, cái họa tranh hùng bằng cách chém giết nhau, càng thấy thêm khóc hại, gớm ghiếc. Trên không còn Vua Thánh, dưới chẳng có tôi hiền, Nhơn sanh đồ khổ không còn chỗ than thở vào đâu, nên Luật Chí Công phải trao quyền dạy Đạo ấy cho một Người không có trách nhậm chăn dân mà phải gánh vác lấy, ấy là Đức Khổng Thánh đó. Từ ấy lẫn sau mới thấy có Người không quyền chăn dân mà lại có trách nhậm dạy dỗ, ấy bắt đầu từ Khổng Phu Tử làm trước vậy. Chớ chi những Người có quyền dạy dỗ lúc sau, mà đều được là bực Thánh như Khổng Phu Tử, thì nghĩa lý của tiếng nói đời thượng cổ cũng chẳng có đem ra mà giải cho sai chạy lắm, ngán nỗi nhiều Người dùng ý riêng mình mà chú giải tiếng nói xưa, nên mới làm cho các trò mờ ám đó. Thương thay cho các trò, tiếng dạy xưa thì gọi là mắc mỏ khó hiểu, còn những tiếng dạy sau thì lại khen hay, khen rằng dạy rõ ràng dể hiểu, rồi cứ đem những tiếng ấy vào lòng mà thụt độc, đặng có đem ra mà nói, song nói mà cũng chẳng chụi hiểu nghĩa coi lời nói thể nào! Nhứt là hai chữ Tâm Tánh là nguồn gốc của Đạo của Trời, mà lại càng không hiểu nữa! Như vậy mà bảo hiểu Đạo hiểu Trời, thì do nơi nào mà hiểu cho thấu!
The speech of High Antiquity never used two or three words where one would do; above all in teaching the Way, it never used doubled words at all. High Antiquity said little and conveyed much: few words, yet lofty and deep in meaning — not like today, when people say much without clarity, say much with clumsy meaning, and sometimes say much without understanding anything at all. In High Antiquity, teaching the Way to living beings belonged to the one who held the power to govern this lower world; he alone bore that responsibility. Before he wished to pass the responsibility to another, he had to search the whole world to see whether anyone had the strength to succeed him. If such a one was found, he brought him home, strengthened and trained him until he understood the very root and source of living beings, and only then was permitted to hand over the authority. Thanks to this, the one who gave and the one who received were like one person. When the moment came to hand over the authority, a few more words of counsel to one another were enough; there was no need for many words. Thanks to this, the whole land enjoyed great peace and good order, and living beings never suffered the misery of calamity. Later, the rulers abandoned this most just custom, calling the country their private inheritance, and passed the precious throne to their sons and grandsons regardless of what that one’s Heart and Nature were like. So over time division arose, and then came the stirring up of war. By the time of the decline of the Zhou (Châu), the calamity of contending for supremacy by slaughtering one another grew ever more lamentable and horrifying. Above there was no Sage-King, below no worthy minister; living beings suffered with nowhere to turn their laments. And so the Law of Utmost Justice had to hand the authority of teaching the Way to one who bore no responsibility of shepherding the people, yet had to shoulder it — that was the Holy Confucius (Đức Khổng Thánh). From then on we see people without power to shepherd the people who nonetheless bear the responsibility of teaching — beginning first with Master Kong. If only those who held the authority to teach afterward had all been of the rank of Sage like Master Kong, the meaning of the speech of High Antiquity would not have been explained so very wrongly. Alas, many have used their own private notions to annotate the ancient words, and that is what has clouded you. Pity on you: the ancient teachings you call difficult and hard to understand, while the later teachings you praise as fine, praising them as clear and easy to understand; then you stuff those words into your hearts and recite them so as to bring them out in talk — yet you talk without caring to understand what the words mean! Above all the two words Heart and Nature (Tâm Tánh), the very source of the Way of Heaven, you understand even less! And yet you claim to understand the Way and understand Heaven — from where could you understand them thoroughly!
Nầy, hãy lóng kỹ tiếng Ta giải Tâm Tánh mà nghe. Hai tiếng Nhơn Tâm Đạo Tâm của các trò từng nói ấy, sao không xét kỹ lại coi cho rõ? Hãy xét kỹ đi, thì mới thấy nghĩa lý của nó hiện ra chán chường trước mắt chẳng có đâu xa. Ta đã nói rằng: tiếng nói đời Thượng cổ chẳng có nói tiếng đôi tiếng ba, sao các trò lại giải rằng Nhơn Tâm là cái Nhơn Tâm, Đạo Tâm là cái Đạo Tâm? Tâm là Tâm mà thôi nào có cái nào mà gọi rằng Nhơn Tâm hay Đạo Tâm cho được! Sai lạc là tại nơi ấy. Nhơn là Người, Người không có quyền ở địa vị chăn dân đó, ấy là Nhơn sanh dân giả. Nhơn dân Tâm thường hay lo sợ. Sự lo sợ của Nhơn dân không biết nói sao cho cùng; mỗi việc đều mỗi lo, mỗi việc mỗi sợ, chẳng được yên Tâm bao giờ. Ấy là phần Tâm của Nhơn dân đó còn phần Tâm của Người chăn dân thì thể nào? Người chăn dân thì phải biết có Trời, vì hễ biết có Trời là một vị cầm quyền cai trị thế gian, muôn việc chi đều do Người mà làm, thì chẳng hề sợ sệt lo lắng điều chi. Muốn biết do Trời mà sửa trị thế gian, thì phải do nơi Đạo, vì Đạo là Trời vậy. – Đạo là Trời, Trời là Đạo; mà Trời ở đâu? Đạo ở đâu? Làm sao biết được, thấy được, hiểu được, thì mới chắc mình được cho. Chắc mình được rồi thì Nhơn sanh mới tuân theo mới hết lo hết sợ cho. Phải biết rằng Đạo chẳng ở đâu xa, Trời thì ở nơi Tâm mỗi Người, vì Người do Trời mà có, Trời là nguồn gốc của Đạo, Đạo lại ở nơi Tâm mỗi Người vì Trời đã ban phú cho sẵn có từ lúc mới sanh có loài Người: bởi vậy nên mới gọi: « Người Trời Một Thể Một Ngôi ». Tuy biết vậy, song Người đã sanh đi sanh lại nhiều phen rồi, nên Người ở địa vị Nhơn dân thì Tâm thường lo sợ, lo sợ nỗi Trời còn có thường ngự nơi Tâm hay chăng? Bởi lòng hay thường sợ như vậy, nên mới sanh ra kẻ thì chắc không có, kẻ thì chắc không còn có, kẻ thì chắc không lý có, nên mới có kẻ thì lo sợ, kẻ thì không kể đếm tới, cũng có kẻ phải cậy mượn nơi những vật đê hèn đặng tìm kiếm han hỏi. Cũng vì Nhơn sanh có lòng lo sợ ấy mới có kẻ giả mạo đến danh Trời. Đã biết Trời thì có Đức Hiếu Sinh, không bỏ một đứa con đỏ, vậy thì Người dân giả hay là Người cầm quyền cũng đều là con của Trời, lẽ nào Trời binh vực Người nầy hay bỏ bê Người kia đâu, khác nhau có một điều là Người cầm quyền là Người chắc vững có Trời ngự nơi Tâm thường hay sáng suốt được. Vì vậy nên Người cầm quyền phải thể lấy Tâm của Trời, đặng xét biết cho rõ Tâm của Nhơn sanh thường hay lo sợ, hay tưởng nhớ đến Trời, lại cũng phải biết Tâm của Trời đều có nơi Tâm của mỗi Người, nên mỗi Người đều có Đạo nơi Tâm vậy, song Đạo nơi Tâm, hay là Trời nơi Tâm thì u vi kín đáo, chẳng phải dùng tư tưởng riêng cậy lý trí riêng, mà dò la tìm kiếm han hỏi, nên Người cầm quyền cần phải lo sợ, cần phải tưởng nhớ sự mật nhiệm ấy, đặng lo lắng cho phần mình phải được khéo léo, phải lừa lọc Tâm mình cho được trong sạch, sáng suốt, phải bỏ hết những vật tạp chất có chứa ngụ nơi Tâm, phải làm sao cho Tâm được rạng rõ như nhựt nguyệt, tinh tú đừng để chút mây che sương áng, phải giồi mài Thần linh mình cho được thuần túy, ý tứ cho tinh tế; hễ có biết lo, biết sợ, biết tưởng, biết nhớ đến Trời như vậy thì việc chi lại làm không được! Đã làm được rồi, thì phải Nhứt Tâm Nhứt Đức thể lấy lòng Trời mà hành Đạo cho vững vàng, mà chỉ bảo dìu dắt Nhơn-sanh đều phải như mình vậy, phải biết tìm chỗ cốt yếu của từ Người bởi đâu mà lo sợ Trời xa mình: tìm kiếm cho ra, xét nét cho thấu, rồi do đó mà lập phương thế chỉ bày dạy dổ cho nó hiểu, khiến cho nó vui mừng chắc chắn biết rõ ràng Trời là Đạo Đạo là Trời, hễ Đạo chẳng xa Người, Người chẳng rời Đạo, thì Người đâu có xa Trời, Trời đâ có xa Người! Nhơn sanh nghe rõ hiểu thấu thì nó mới tự mình lo lắng sự giồi mài Tâm Tánh nó lại và hết sợ sệt về sự Tại nó tưởng Trời là Một Riêng, nó là Một Riêng, nên nó ngại Trời bỏ nó không gần gủi chỉ bảo nó. Nếu nó tỉnh ngộ được rằng Trời với Người vốn có Một, phải lo gìn giữ cho được còn Một hoài mà thôi, chớ nào có dư công đâu mà lo lắng chỗ không đáng lo, sợ chỗ không đáng sợ! Được vậy thì lo chi Trời Người không Hiệp Nhứt. – Người có trách nhậm và cả thảy Nhơn sanh đều dược Hiệp Nhứt cùng nhau và đều Nhứt Tâm Nhứt Đức lo lắng sự dồi mài Tâm Tánh cho sáng suốt và Nhứt Tâm Nhứt Đức chuyên cần nhìn nhận Đạo ở nơi Trời, Trời ở nơi Tâm, nên vui lòng lo Hiệp Nhứt với Trời. Đã Hiệp Nhứt với Trời rồi, mà cũng chẳng phải tới đó vậy rồi mà gọi rằng là đủ, còn cần phải cầm cho chặc, giữ cho vững Đức Tin ấy trong Tâm mình hoài, hằng ngày hằng phút chẳng đặng sơ sót hào ly. Nếu Tâm xao dợn một mảy, thì lòng lo sợ trước liền đọng lại, tức thì cái Tâm Nhơn sanh xưa nó phát lại liền, như vậy thì nào có ích chi! Vậy thì phải làm cách nào cho nó đừng có xảy ra những sự như vậy nữa? Cũng chẳng có chi lạ! Nếu ai đã biết được cái Tâm của Nhơn sanh vì xiêu lạc cái Tâm của Trời, của Đạo, nên hay lo hay sợ, vì cả lo sợ nên mới xao động, rồi tính tới lo lui xao xuyến hoài chẳng nhứt định, nào có khác chi loại đột, loại khỉ, nào chịu ở yên một nơi một nhành cây nào đâu! Người có trách nhậm đã tự tỉnh mình trước rồi, nên phải đinh ninh khắn khích, vổ về chúng nó phải Định lấy Tâm lại cho vững, đặng tưởng nhớ lấy Đức Tin của mình cho chắc, cho có Sự Sáng nơi Tâm, Sự Sáng ấy là của Trời đã cho rồi, nay mình Tối đi, thì sự Tối ấy là tự mình làm cho mình Tối, chớ cái Tối ấy nào có phải là của Trời làm hay sao, mà mình Sửa nó lại không được? Hễ Sửa cái Tối lại không được Sáng, là tại nơi mình đành bỏ mình mình rồi, thì Người như vậy nào có ích chi! Còn Người chịu Sửa Mình, là phải lần lần đem Sự Sáng lại thay thế cho cái Tối, được chút nào thì phải có nghị-lực có can đảm mà giữ gìn nó cho thật chắc, phải cho bền chi mỗi ngày mỗi Sáng thêm hoài, làm cho Sự Sáng mỗi ngày mỗi cho thường có, cái Tối mỗi phút mỗi thường lui, phải Tự Tin lấy mình rằng mình đũ sức mạnh mà giữ gìn Sự Sáng đã có trở về rồi ấy chẳng cho nó rời ra khỏi Tâm, vẫn giữ nó kín đáo ở nơi Trung Tâm mà là Trung Tâm của Trung Tâm kìa, ấy chính chỗ Trung Tâm Điểm vậy. Nơi Trung Tâm Điểm mà Thiệt có Sự Sáng rồi, thì Đức Tin mới Thường có, « Cái Đó », Cái của Trời ban phú đó mới Thường phát hiện, làm cho Trời Người Hiệp Nhứt, và Thường, Thiệt, Tin rằng chẳng hề khi nào rời rã nhau.
Now, listen carefully to My explanation of the Heart and Nature. The two terms “Human Heart” and “Way Heart” that you have so often spoken of — why not examine them closely and see them clearly? Examine them closely, and their meaning will appear plainly before your eyes, not far away at all. I have said that the speech of High Antiquity never doubled or tripled its words — why then do you explain that the Human Heart is one thing, “the Human Heart,” and the Way Heart another, “the Way Heart”? The Heart is simply the Heart; there is no one thing that can be called the Human Heart or the Way Heart! That is precisely where the error lies. “Nhơn” means People — the people who have no authority in the position of shepherding the people; that is, the ordinary common folk. The heart of the common people is ever anxious and fearful. The anxiety and fear of the common people are beyond telling: each matter brings its own worry, each matter its own fear; they are never at peace in Heart. That is the heart of the common people. And what of the heart of the one who shepherds the people? The shepherd of the people must know that Heaven exists; for once he knows that Heaven exists as the one who holds the power to govern the world, and that all things are done through Heaven, he fears and worries about nothing. To know how to set the world right by way of Heaven, he must go by way of the Way, for the Way is Heaven. — The Way is Heaven, Heaven is the Way; but where is Heaven? Where is the Way? How can one know it, see it, understand it, so as to be sure of oneself? Only once he is sure of himself will living beings follow, and only then will they cease worrying and fearing. You must know that the Way is not far off: Heaven dwells in the Heart of each person, for Man exists by way of Heaven; Heaven is the source of the Way, and the Way dwells in the Heart of each person, for Heaven endowed it ready-made from the moment humankind first came into being. That is why it is said: “Heaven and Man are of One Body, One Throne.” Even knowing this, Man has been born and reborn so many times that those in the position of common people are ever anxious and fearful at heart — anxious whether Heaven still dwells constantly in their Heart or not. Because their hearts are so given to fear, some come to be sure Heaven is not there, some sure Heaven is no longer there, some sure there is no reason for Heaven to be there; and so some worry and fear, some pay it no heed at all, and some must rely on base things to search and inquire after it. It is also because of living beings’ anxiety and fear that there are those who impersonate the name of Heaven. We know that Heaven has the Virtue of Loving Life (Đức Hiếu Sinh) and abandons not a single newborn child; so whether common folk or ruler, all are children of Heaven — how would Heaven defend this one and neglect that one? The one difference is that the ruler is one who is firmly sure that Heaven dwells in his Heart and so is constantly clear and bright. Therefore the ruler must embody the Heart of Heaven, so as to examine and know clearly that the heart of living beings is ever anxious and fearful, ever longing for and remembering Heaven; and he must also know that the Heart of Heaven is present in the Heart of every person, so that every person has the Way in the Heart. But the Way in the Heart, or Heaven in the Heart, is subtle and hidden (u vi), not to be probed, searched, and inquired after by private notions and private Reasoning. Therefore the ruler must be anxious and fearful, must long for and remember that hidden mystery, so as to take care that his own part is done skillfully: he must sift his own Heart until it is clean and clear and bright; must cast out all impurities lodging in the Heart; must make the Heart shine like sun, moon, and stars, letting not the least cloud or mist cover it; must polish his own Spirit until it is pure and refined (thuần túy), his thought fine and precise (tinh tế). Whoever knows to be anxious, to fear, to long for, to remember Heaven in this way — what is there he cannot do! Having done it, he must, with Single Heart and Single Virtue (Nhứt Tâm Nhứt Đức), embody the Heart of Heaven to practice the Way steadfastly, and guide and lead living beings to be as he is. He must know how to find the crux in each person — why they fear that Heaven is far from them: search it out, examine it through, and from there establish means to show and teach them to understand, making them glad and certain, knowing clearly that Heaven is the Way and the Way is Heaven; that when the Way is not far from Man, and Man does not part from the Way, then how could Man be far from Heaven, or Heaven far from Man! When living beings hear this clearly and understand it thoroughly, they will of themselves see to polishing their Heart and Nature again, and cease fearing, because they had imagined Heaven to be One apart and themselves One apart, and so feared Heaven had abandoned them and would not come near to guide them. If they awaken to the fact that Heaven and Man are in origin One, and that one need only take care to keep it One forever — where is the spare effort to worry about what is not worth worrying about, or fear what is not worth fearing! Then why worry that Heaven and Man will not be united in One? — The one who bears responsibility and all living beings are united in One together, all of Single Heart and Single Virtue, taking care to polish the Heart and Nature to brightness, and with Single Heart and Single Virtue diligently acknowledging that the Way is in Heaven and Heaven is in the Heart, and so gladly seeing to union with Heaven. Yet having united with Heaven, it is not enough to stop there; one must still hold fast, keep that Faith firm within one’s Heart forever, every day and every minute, letting not a hair’s breadth slip. If the Heart wavers by a single speck, the old anxiety and fear at once settle in again, and the old heart of the common people immediately arises once more — and then what use was it! How then must one keep such things from happening again? There is nothing strange about it! Whoever has come to know that the heart of the common people, having strayed from the Heart of Heaven and of the Way, is given to worry and fear, and because of all that worry and fear is agitated, planning forward and fretting back, ever restless and unsettled — no different from the monkeys and apes, which never stay still on any one branch! The one with responsibility, having first awakened himself, must earnestly and insistently soothe them so that they Settle their Heart firmly, so as to recall their own Faith surely and have Brightness in the Heart. That Brightness is what Heaven has already given; if one has now grown Dark, that Darkness is something one has caused oneself — was that Darkness made by Heaven, that one cannot set it right again? If one cannot set the Darkness right and make it Bright again, it is because one has already resigned oneself to abandoning oneself — and what use is such a person! But one who is willing to correct himself must gradually bring Brightness back to replace the Darkness; whatever little he gains, he must have the strength of will and courage to guard it most surely, persevering so that each day it grows Brighter, making Brightness more constant each day and Darkness retreat more each minute. He must have Faith in himself that he has strength enough to guard the Brightness that has returned, never letting it leave the Heart, keeping it hidden in the Center of the Heart — indeed the Center of the Center — that very Central Point (Trung Tâm Điểm). Once there is truly Brightness at that Central Point, Faith will be Constant, and “That,” That which Heaven endowed, will constantly shine forth, making Heaven and Man United in One, Constant, Real, and Faithful, never falling apart from each other. [Translator’s note: this whole passage is the Master’s reinterpretation of the classic “Sixteen-Word Mind Transmission” from the Book of Documents — “The human heart is perilous, the heart of the Way is subtle; be refined, be single, hold fast to the Mean” (Nhơn tâm duy nguy, Đạo tâm duy vi, duy tinh duy nhứt, doãn chấp quyết trung). He reads “Nhơn Tâm” not as a second, evil heart but as the anxious heart of the common people, and the sequence of anxiety, subtlety, refinement, singleness, and holding to the Center as the ruler’s task of restoring the one Heart.]
Các trò nghe rồi, xét rồi, liền phải thấy rằng: tự bấy nay những Người chỉ dẫn, dìu dắt cho các trò, vẫn chia Nhơn Tâm Đạo Tâm ra rằng nó có hai cái; lại gọi Nhơn Tâm là lòng xấu, lòng dữ, còn Đạo Tâm là lòng tốt, lòng nên, lòng lành, rồi đặt ra kêu cái Nhơn Tâm, cái Đạo Tâm, chính gốc làm cho sai lạc nghĩa lý của Đạo Trời là do nơi đó. Nay các trò hiểu rồi, phải nhìn nhận rằng Tâm vẫn có Một, chia hai là tại Người, tại Người không Thông, không Sáng đó. Các trò vì quá giữ cái hủ tục chia hai đó, nên không rõ câu của Đức Chí Tôn đã dạy và đã chỉ rành rằng: các trò vẫn chia Tâm của phần Đạo và phần Nhơn ra làm hai cái, ấy là lầm đó; vì vậy nên dạy các trò phải Hóa cái Nhơn Tâm của các trò đó lại cho thành Đạo Tâm, đặng làm Một cái, rồi phải giồi mài nó lại cho Tinh khiết đó sao? Các trò đã nghe rồi, hiểu rồi, liền biết rằng: Người gọi Hiền Triết kia cũng vì chia Tâm ra nhiều cái, nên chẳng biết tự sửa lấy mình. Đã chẳng biết Sửa lấy Mình, thì làm sao mà Sửa con mình cho được nên nó mới sa vào hình luật đó. Con trong nhà mà còn Sửa không được, thì còn chi mà chăn dân, mà gọi Hiền Triết cho được! Người Hiền Triết đâu có đến đổi như thế! Đâu có đến đổi gặp việc khó khăn mà không biết nhứt định!
Having heard and examined this, you must see at once that, all this time, those who have guided and led you have kept dividing the Human Heart and the Way Heart into two things, calling the Human Heart a bad heart, a cruel heart, and the Way Heart a good heart, a fitting heart, a kind heart, and then coining the names “the Human Heart” and “the Way Heart” — and that is the very root of the error in the meaning of the Way of Heaven. Now that you understand, you must acknowledge that the Heart is only One; dividing it in two is due to people — to people who are not Penetrating and not Bright. Because you cling so tightly to that outworn custom of dividing it in two, you do not grasp the saying that Đức Chí Tôn has taught and clearly pointed out: that you keep dividing the Heart into a Way part and a Human part as two things, which is mistaken; and that is why He teaches you to transform your Human Heart into the Way Heart, so as to make it One, and then polish it to purity — is it not? Having heard and understood, you know at once: the person called a Sage-Philosopher, too, because he divided the Heart into many, did not know how to correct himself. Not knowing how to correct himself, how could he correct his own son? And so the son fell foul of the law. If one cannot even correct the son in one’s own house, what is left with which to shepherd the people and be called a Sage-Philosopher! A true Sage-Philosopher would never come to such a pass! Would never, faced with a difficulty, be unable to decide!
Trong các trò, có trò đã nhìn nhận lời Ta đã dạy, và Ta thấy chịu hứa rằng sẽ tuân y lời dạy mà làm theo. Ta rấy vui mừng cho trò đó, Ta hứa chắc cho trò nào đó, sẽ có ngày gặp Trời nơi Tâm và sẽ được nghe rõ tiếng Trời dạy cho mà làm từ giờ từ phút chẳng hề rời rã đâu. – Còn có trò lại nói rằng: Tuân theo lời Ta chỉ bão rằng phải Tin cậy có Trời nơi Tâm thì là Hiệp Nhứt với Trời, sự ấy có thể tin được; song le làm làm sao cho thấy được Trời nơi Tâm mà Tin? Làm sao nghe được tiếng nói của Trời mà Tin? Sự ấy cò mơ hồ, nên Tâm của trò đó còn lưởng lự. – Trò nào đó; trò nào còn lưởng lự đó, ước mơ Trời cho có hình, cho biết nói, thì mới chịu nghe theo lời Ta. Ta khen cho trò đó, vì muốn cho mỗi việc đều có Thiệt Hữu, như « Cái Người » của trò có Thiệt Xác ra vậy mới thiệt gọi là Người cho. Trò mảng vì kẻ làm mê hoặc quá lâu, nên trò mê tín quá nặng, Ta khen cho muốn biết, mà thương cho muốn biết theo cái Vọng của mình, mà quên « Con Người » của trò và « Trời nơi Tâm » của trò vốn là Thiêng Liêng đó. Ta vì thương trò như vậy, nên Ta chẳng trách mà phải cạn lời giải thêm cho trò được thấy và được nghe hình dạng cùng lời ăn tiếng nói của Trời hiện ra trưóc mắt trò cho trò Tin. – Trò nào ước mơ như vậy, ấy là trò quá nặng về Vật Chất học mà quên vói tới Tinh Thần học. Đã biết rằng các khoa học vật chất đều dạy ròng về phần vật chất, song nếu Người học vật chất mà trong mình không có hay là không đủ tinh thần, thì làm sao đứng vào khoa vật chất học cho vững? Trò muốn thấy hình dạng của Trời và nghe tiếng nói của Trời, ấy là trò muốn ngã về khoa Vật Chất, song chưa có chút Tinh Thần trong mình, nên mới không thấy được đó, không nghe được đó thôi, vậy Ta phải thêm vào cho trò một chút Tinh Thần mà xét vào việc của trò mơ ước. Trò thữ nghĩ coi, một vật chi của Ngưởi thương yêu, kính mến, thân mật thiết tha của trò, trao cho trò để làm kỹ niệm, đinh ninh dặn dò rằng đừng quên, đừng để mất, để lạc, vì vật ấy có một không hai, một lần cách mặt đây, chưa ắt bao giờ thấy gặp lại nữa. Ta hỏi trò, khi trò thọ lãnh vật ấy rồi, trò có cất kín, giữ gìn kỹ lưởng để làm vật quí hay không? – Có chớ lẽ nào không? – Đã cất giữ kỹ lưởng rồi, một khi nào trò nhớ đến Người ấy, nên đem vật ấy ra cầm tay, trò chăm chỉ nhìn vào vật ấy, thì liền thấy hình dạng người thương kia, nghe đủ lời đinh ninh dặn dò sau trước, chẳng sót một mảy chớ nào không! Có khi nhìn vào vật ấy, mà vật ấy cũng biết nói nói cười cười chẳng khác chi Người sống đứng trước mặt vậy. Có vậy hay không? Một vật, mà là đồ vật chất, của một Cái Người kia trao cho Cái Người nầy, mà còn biết hiện hình ra ăn nói trò chuyện được như vậy thay, sao một Vật quí báu vô cùng vô tận nơi Thiêng Liêng mà Trời là Đấng rất yêu thương trò, nên ban phú cho trò để dành làm bùa hộ thân hộ mạng sống, mà trò lại không gìn giữ cho kỹ lưởng, lại đành bỏ rơi đâu không biết mà tìm? Vật ấy là Tâm Tánh đó. – Tâm Tánh là một Vật rất quí báu lạ lùng của Cha Thiêng Liêng ban cho trò, trong lúc ban cho ấy, cũng đinh ninh dạy bảo nhiều lời kỹ càng rằng: phải lập cho xong danh phận Tam Tài rồi sẻ trở về, đừng ham mê theo hồng trần làm cho đến phải luân hồi khổ não, trò cũng hết lòng nguyện giữ lời dạy rồi mới ra đi. Vật ấy bây giờ ở đâu? Vật ấy Sáng rở như Châu, nào có tối tăm mê chướng như hòn đất hầm chín rồi đâu mà khó thấy khó tìm! Tại nơi trò đành bỏ mất đi, đành không coi nó là quí, bảo sao không còn có nơi Tâm đặng cầm mà nhìn! Chớ cho còn có nơi Tâm, thì mỗi khi thấy hình dạng Trời cùng là nghe tiếng nói Trời, thì hãy cầm lấy nó cho kỹ, nhìn lấy nó cho tường tận, thì nào có chi mà chẳng nghe chẳng thấy Trời hiện ra nói ra! Ấy cũng bởi trò quá thiên về Vật Chất nên cầm và coi món đồ vật chất của Cái Người làm đồ quí, còn coi của quí Thiêng Liêng Tinh Thần làm hèn, nên bỏ rơi rớt, nên không cò nghe còn thấy được vậy. – Tuy trong các trò, cũng có trò biết vật Thiêng Liêng kia là quí, song vì đã làm lạc mất rồi, nay muốn tìm lại, nên mỗi khi trò ấy muốn khảo cứu một vật chi, thì đem hết tư tưởng mình ra; song than ôi! Ấy là cái tư tưởng thuộc về Lý Trí của trò lượm lặt hằng ngày, hằng giờ, lộn lạo ô tạp của thời gian, chớ nào phải là của Bổn Nguyên của Trời ban phú đó đâu. – Tại sao vậy? Là tại không Nhứt Tâm lo cho có được Sự Sáng cho Thiệt Sáng, cho Thường Sáng và Tin chắc rằng Sự Sáng ấy chắc có Thiệt, có Thường nơi Trung Tâm Điểm của mình hoài hoài, trước khi muốn khảo cứu một vật khác đó, đợi đến muốn khảo cứu rồi mới tìm kiếm Sự Sáng ấy ra, thì sự Biết ấy nào có Thiệt đáng Tin bao giờ!!! Như vậy mà trò gọi rằng có Lương Tâm, Lương Tri, Lương Năng!!!
Among you, one of you has acknowledged the teaching I gave, and I see that he has promised to obey and follow it. I am very glad for him, and I promise that one surely: a day will come when he meets Heaven in his Heart and hears clearly the voice of Heaven teaching him what to do, hour by hour, minute by minute, never parting from him. — Another of you says: “To follow His teaching that we must trust that Heaven is in the Heart, and so be united with Heaven — that can be believed. But how can one see Heaven in the Heart, so as to believe? How can one hear Heaven’s voice, so as to believe? That is still hazy,” and so that one’s Heart still hesitates. — You there, whoever still hesitates, longing for Heaven to have a form and to be able to speak before you will heed My words: I commend you, for you want everything to have Real Existence, just as your “Outer Person” has a Real Body and only so is truly called a person. Because you have been deluded by others for so long, your belief in marvels is too heavy. I commend you for wanting to know, yet pity you for wanting to know according to your own Recklessness, forgetting that your “True Person” and your “Heaven in the Heart” are in origin Sacred and Spiritual. Because I love you so, I do not reproach you, but must exhaust My words explaining further, so that you may see and hear the form and the speech of Heaven appear before your eyes, and believe. — Whoever longs like this leans too heavily on material learning and forgets to reach for spiritual learning. We know that the material sciences teach purely about the material; but if a person studying the material has no spirit in himself, or not enough, how could he stand firmly even in material science? You wish to see the form of Heaven and hear the voice of Heaven — that is, you lean toward the Material, yet have not a bit of Spirit in yourself, and that is why you cannot see it or hear it. So I must add a little Spirit for you, to examine the thing you long for. Think: some object belonging to a person you love, revere, hold dear and close, given to you as a keepsake, with earnest instructions not to forget it, not to lose it, not to mislay it, because it is the only one of its kind, and once you part, you may never meet again. I ask you: having received that object, would you put it away safely and guard it carefully as a precious thing? — Of course you would! — Having kept it carefully, whenever you remember that person, you take the object out and hold it in your hand; you gaze intently at it, and at once you see the form of that beloved person and hear every earnest word of counsel, first to last, without missing a speck — do you not! Sometimes, gazing at it, the object itself seems to speak and laugh, no different from a living person standing before you. Is it not so? If a single object — a material object, given by one Outer Person to another — can appear and speak and converse like that, then why is it that a Treasure precious beyond measure, from the Sacred realm, which Heaven, the One who loves you most dearly, bestowed upon you to keep as an amulet protecting your body and your very life — why do you not guard it carefully, but consent to drop it who knows where, and cannot find it? That treasure is your Heart and Nature. — The Heart and Nature is a wondrously precious Thing that your Sacred Father gave you; and in giving it, He earnestly instructed you at length that you must complete the station of the Three Powers and then return, and not be infatuated with the red dust of the world until you fall into the suffering of transmigration; and you wholeheartedly vowed to keep His teaching before you set out. Where is that Thing now? That Thing is Bright and shining as a Pearl — it is no dark, obstructed lump of baked clay, hard to see and hard to find! It is because you consented to lose it, consented not to treat it as precious — no wonder it is no longer in your Heart for you to hold and gaze upon! If it were still in your Heart, then whenever you wished to see the form of Heaven or hear the voice of Heaven, you need only hold it carefully and gaze at it thoroughly — and what is there you would not hear and see, as Heaven appears and speaks! It is because you lean too far toward the Material that you hold and regard the Outer Person’s material objects as precious, and regard the Sacred, Spiritual treasure as lowly, and so let it drop, and can no longer hear or see. — Among you, too, there are some who know that the Sacred Thing is precious; but having already lost it, they now wish to find it again; and so whenever such a one wishes to investigate something, he brings out all his own thoughts. But alas! Those are the thoughts belonging to your Reasoning, gathered up every day and every hour, jumbled and soiled with the things of time — not the Original Source that Heaven endowed. — Why so? Because you do not, with Single Heart, see to having the Brightness — truly Bright, constantly Bright — and trusting surely that this Brightness is Real and Constant at your own Central Point always, before you wish to investigate some other thing. You wait until you wish to investigate, and only then go looking for that Brightness — how could such Knowing ever be Real and worthy of Faith!!! And with that you claim to have a Conscience, Innate Knowing, and Innate Capacity!!!
Muốn nói cái Tư Tưởng thì phải hiểu nghĩa tiếng Tư Tưởng là chi, cũng như muốn nói cái Lý Trí thì cũng phải biết nghĩa Lý Trí là cái gì. Biết được rồi sẽ nói, thì tiếng nói ấy mới khỏi sái với với chánh nghĩa của Tư Tưởng và Lý Trí của các trò muốn nói vào việc gì; bằng mới vừa vừa hiểu một phần hay là phân nửa của một tiếng nào, rồi đem ra dùng vào trong câu nói của mình muốn nói về việc chi, thì bao giờ tiếng nói ấy cũng chưa đúng trọn, hoặc là sai hẳn với cái ý muốn của mình mà mình không hay; nếu dùng như vậy, là đã làm cho mất giá trị của tiếng nói, sai lầm nghĩa câu nói, người nghe thì hiểu một nơi, người nói thì định một ngã, công việc của sự vật muốn nói ấy nó lại là một ngã khác nữa, nó đã làm mất cái chân diện mục của tiếng nói, mà lại làm cho hư hỏng công việc muốn làm, muốn nói, muốn nghe, của cả thảy đôi bên.
If you wish to speak of Thought (Tư Tưởng), you must understand what the word Thought means; just as, if you wish to speak of Reasoning (Lý Trí), you must know what Reasoning means. Only when you know should you speak; then your words will not stray from the true meaning of the Thought and Reasoning you wish to apply to whatever matter. But if you understand only a part or a half of some word and then use it in your speech about some matter, your words will never be wholly right; or they may be entirely contrary to your own intent without your noticing. Using words like that destroys the value of speech and distorts the meaning of what is said: the listener understands one thing, the speaker intends another, and the actual matter being spoken of is yet a third. It destroys the true face of speech, and also spoils the work that both sides wished to do, to say, and to hear.
Những tiếng nói đã có đặt ra cho đời dùng, chẳng hề có ai đặt sai, sai là tại nơi Người dùng sái đó thôi. Người dùng sái là tại nơi Người không chịu xét cho cùng lý ý nghĩa tiếng ấy làm chi, miễn là vừa vừa hiểu, thì đã tự phụ mình biết được tiếng mới, mà cũng chẳng đợi xét cho biết tiếng mới ấy có nên dùng vào chỗ mình dùng đặng nói hay không làm chi, miễn là có nói ra được tiếng mới thì đã gọi mình rằng Người trí thức rồi. Tự mình đã tự gọi mình là Người trí thức, Người ngoài nghe được mình có tiếng nói mới thì cũng tôn mình là Người trí thức; một Người tôn, nhiều Người tôn theo; một Ngưòi nói, nhiều Người nói theo; mà chẳng ai chịu xét chịu hiểu cho trúng ý nghĩa tiếng nói ấy là chi, trở lại đồng nhau gọi rằng tiếng ấy để dùng vào phân giải những phẩm Hình nhi-thượng học, mà cũng chưa ai hiểu cho cạn lý Hình nhi thượng học là thuộc về phẩm nào. Cũng vì đổ thừa chuyền cho nhau như vậy, nên chẳng ai chịu ra công khảo cứu ý nghĩa của nó, rốt cuộc lại còn bịa thêm nào là Siêu hình học, Thần linh học, Thông Thiên học, thử hỏi ai coi, thì ai cũng chưa hiểu vật chi là vật chi, mà cũng mừng rỡ rằng được thêm nhiều tiếng mới nữa, nên vẫn nói hoài, nói nói dùng dùng hoài, văn này sách kia reo hò Đạo Đức để làm một khoa học sáo ngữ thông dụng về phẩm thông huyền. Hiểu thì không Người chịu hiểu, nói thì nhiều Người bắt chước nói, bảo sao trong nước chẳng thiếu Người gọi là « Người mới vừa học nói »! Chớ chi có ra công chịu học, chịu hỏi cho hiểu, rồi sẻ đem ra nói, như vậy mà Người gọi mình là kẻ mới học nói thì chẳng nói chi, vì tuy mới học nói, mà nói ra điều nhầm nơi, nhầm chỗ của mình muốn nói, tuy câu nói không được hay, chớ ý nghĩa câu nói rất trúng, dầu cho bị kẻ khinh rẻ cũng chẳng hại gì; tỷ lại với những kẻ học nói kia để làm cho mất giá trị của tiếng nói, thì tội ấy lại biết bao!
The words that have been coined for the world’s use were never coined wrongly; the error lies with those who misuse them. People misuse them because they will not examine the meaning of a word to the end of its principle; as soon as they half understand it, they already pride themselves on knowing a new word, without even pausing to examine whether that new word fits where they are using it. So long as they can utter the new word, they already call themselves intellectuals. Having called themselves intellectuals, outsiders hearing them use new words also honor them as intellectuals; one honors, many follow in honoring; one says it, many repeat it — and no one is willing to examine and understand rightly what the word means. Instead they all agree that the word serves to expound matters of Metaphysics (Hình nhi thượng học) — yet no one yet understands to the end what category Metaphysics belongs to. Because they keep passing the buck to one another like this, no one is willing to put in the effort to investigate its meaning; and in the end they invent still more: “Supra-physics,” “Spiritualism,” “Theosophy” (Siêu hình học, Thần linh học, Thông Thiên học). Ask anyone and no one yet understands what any of these things is, yet they are delighted to have gained so many more new words, and so they keep saying them, saying and using them forever; this text and that book cry out about Virtue, making it a stock academic jargon in fashion for things occult and mysterious. To understand, no one is willing; to talk, many imitate the talk — no wonder the land is not short of those who may be called “people who have just learned to talk“! If only they would put in the effort to study and ask until they understand, and only then speak — then even if people called them “just learning to talk,” it would not matter, for though they are just learning to talk, what they say hits the mark of what they mean to say; even if their phrasing is not elegant, the meaning is exactly right, and even if they are scorned, no harm is done. Compared with those talk-learners who destroy the value of speech — how great is their fault!
Kẻ vừa vừa học nói thì ham nói lắm, mà lại ham làm cho Người biết rằng mình là Người học cao, thấy rộng, nếu vậy thì nào khác chi các trẻ mới vừa nhập học, muốn cho Người biết mình là học trò, thì tay chơn quần áo môi mép phải cho nhuộm đầy những mực!
Those who have just learned to talk love to talk, and love to make people know they are learned and widely informed. If so, how are they any different from little children just entering school who, wanting people to know they are pupils, must have their hands, feet, clothes, and lips all smeared with ink!
Ta vưng lịnh Thượng Đế đến dìu dắt các trò, ý Ta đã định làm cho các trò được như Ta vậy. Ta đã làm cho Liểu, Đào là hai giống Mộc Tinh đều được gần Ta đó, đều được đến tận Ngọc Kinh chầu Thượng Đế đó, có lẽ nào các trò đều có Chơn Linh Chơn Thần mà lại chẳng được sao ! Ta khi trước cũng hình Người như các trò vậy, Ta có hơn chi các trò đâu! Khuyên các trò hãy tự trọng lấy mình làm hơn, chớ có học kẽ học nói, chớ có tự phụ, mà phải sa vào đường quấy, rồi tự mình hại lấy Chơn Ngươn của mình.
I, by command of the Supreme Being (Thượng Đế), have come to guide you; My intention is to make you as I am. I made Liễu and Đào (the Willow and the Peach), two kinds of Tree-Spirits, able to draw near to Me, able to go all the way to the Jade Capital to attend the Supreme Being — how could you, who all possess a True Spirit and True Divinity (Chơn Linh Chơn Thần), not be able to do the same! I too was once in human form just as you are; in what way am I better than you? I urge you: respect yourselves more; do not imitate the talk-learners, do not be self-satisfied, lest you fall onto the wrong road and harm your own Chơn Ngươn. [Translator’s note: in Chinese legend, the immortal Lü Dongbin (Lữ Tổ) converted a Willow-tree spirit and a Peach-tree spirit, who became his disciples and attained immortality — an allusion that may indicate the speaker’s identification with, or relation to, Lữ Tổ, under whose name this section is gathered.]
Các trò hãy lóng nghe Ta phân. Người hay nói mà nói không trúng Lý, là người gọi rằng « Học nói theo lớp vừa tập theo tiếng nói của Người đó ». Người học tập như vậy, chưa được đứng vào hạng gọi là Con Người. Chưa được đứng vào hạng Con Người, là vì còn mới vừa học cho biết nói tiếng Người, chớ nào có biết nói và làm như Người! Chưa biết nói và làm như Người, là vì chưa hiểu tiếng nói của mình đã nói. Chưa hiểu tiếng nói của mình đã nói, là vì mình chưa thật hành lời nói của mình nói đó cho được. Chưa thật hành lời nói của mình nói đó cho được, là vì mình mới vừa Học Tập nói, chớ chưa hiểu, chưa thông lời nói của mình, mà vội đem ra nói khoe giác với người, nên làm không được vậy. Các trò tự bấy nay đều ham mộ làm cho được Thánh Thần Tiên Phật nên mới bước vào con đường Tu, sao các trò chẳng lo Làm cho được, mà vẫn cứ lo ham nói? Hãy học Làm đi! Tự mình hãy dạy mình Làm theo những tiếng nói mình đã nói, đã nói tự nơi tiếng nói của mình biết nói, chẳng phải nói theo tiếng nói của Người. Đã Làm được như vậy, tức nhiên mình đã được đứng vào hạng Thánh Thần Tiên Phật rồi vậy. Bởi các trò tự bấy nay mảng nói mà chưa hiểu nghĩa, nên làm theo không được đó. Biết nói mà chưa hiểu nghĩa là vì các trò bắt chước tiếng nói của người khác mà nói theo, trong ý cũng tưởng rằng đã hiểu rồi, nên mới dạn nói đặng đứng vào hạng trí thưc với người. Học Đạo như vậy rất lầm. Rất lầm là vì không rõ được sự phân biện tiếng nói. Cái chỗ sai lầm ấy, nó làm cho các trò rộn lòng rối trí, làm cho các trò phân vân Tâm Tánh, cũng như kẻ đi đường đến chỗ thông cùng, ba bên bốn phía đều có ngã lui tới, không biết ngã nào phải đặng đi. Kẻ đi đường gặp đường cái trước mắt, song bị nhiều nẽo quá còn phải phập phồng trở ngại bước đường thay, huống chi các trò học Đạo! Đạo vẫn là một Con Đường Cái, song nỗi nhiều ngày nhiều người đắp thêm nhiều con đường tẻ ra nữa, mà con đường nào cũng tương tợ như con đường nấy, còn phần các trò tự bấy nay đã lâu ngày rồi không chịu để ý nhớ đến Con Đường Chánh lúc xưa, lại cứ dọ hỏi thăm những con đường mới sau nầy đặng để lòng vào cho biết mà thôi. Biết vậy mà chi? Biết đặng nói, đặng khoe rằng mình biết thạo đủ điều, đủ chỗ những con đường mới ấy với người, cho người khen tặng rằng mình là người biết đủ, đã từng trải khắp nơi khắp xứ. Cái họa ấy nó làm hại cho các trò ngày nay dốc lòng ra đường đặng đi, song đi đến chỗ tứ chi bát yếu đó mà ngẩn ngơ không biết chánh Con Đường Cái là con đường nào vậy. Những con đường tẻ ấy là chi? Chính là nhữnh tiếng nói mới, tiếng mới tập nói theo người mà không thiệt hiểu nghĩa đó. Con đường nào mà không đi, song muốn đi thì phải cho thông thạo sẽ đi thì không lạc. Tiếng nói nào lại không nói, song nói phải cho hiểu nghĩa thì nói mới không lầm. Con đường đại lộ trước mắt, nếu không thạo, đi còn phải lạc thay, huống chi Con Đường Đạo là một Con Đường thuộc về Thiêng Liêng, nếu không thông thì làm sao cho khỏi sa vào Tả Đạo! Ta nói các trò rất sai lầm là vì ham dùng tiếng nói mới nên làm cho các trò rộn lòng, rối trí không biết Đạo ở đâu, Đạo là chi, là tại nơi đó vậy. Ta vì vậy nên phải phân lại cho các trò nghe, chớ tưởng và chớ chê rằng lời Ta nói là tầm thường thấp thỏi rồi bỏ qua hoài.
Listen closely as I lay it out for you. A person who talks a lot but does not talk in accord with Principle is one of whom it is said, “He is learning to talk, at the level of one just practicing to imitate other people’s speech.” One who learns like that has not yet stood in the rank of the True Person (Con Người). He has not yet stood in the rank of the True Person because he is still only learning to speak human speech — he does not yet know how to speak and act as a Person! He does not yet know how to speak and act as a Person because he does not yet understand the words he himself has spoken. He does not yet understand the words he has spoken because he has not yet been able to put into practice the words he speaks. He has not yet been able to put his words into practice because he is only just practicing to speak, without yet understanding or comprehending his own words, yet hastily brings them out to show off to others — and so he cannot practice them. All this time, you have longed to become Sages, Deities, Immortals, and Buddhas, and so have set foot on the road of Cultivation — why then do you not see to Doing it, but keep on loving to Talk? Learn to Do! Teach yourselves to Do according to the words you have said — said from your own speech that you yourselves know how to speak, not speaking after other people’s speech. Once you can Do that, you have of course already stood in the rank of Sages, Deities, Immortals, and Buddhas. Because all this time you have only talked without understanding the meaning, you have been unable to act on it. You can talk yet do not understand the meaning because you imitate other people’s speech and repeat it, imagining that you have understood, and so you boldly talk so as to stand among the intellectuals. Studying the Way like that is greatly mistaken. It is greatly mistaken because you do not know how to discern words. That error throws your hearts into turmoil and your minds into confusion, leaves your Heart and Nature in doubt, like a traveler who comes to a crossroads with paths going back and forth on three sides and four, not knowing which one to take. If even a traveler who meets the great road before his eyes must falter, his steps blocked by too many paths, how much more you who study the Way! The Way is still One Great Road; but over many days many people have built many more branch roads off it, and every road looks like every other. And for your part, for a long while now you have not cared to keep in mind the True Road of old, but keep asking after these newer roads only to learn them. To what end? To know them so as to talk, so as to boast to others that you are versed in every matter and every place along those new roads, so that people will praise you as one who knows everything and has traveled everywhere. That calamity is what harms you today: you set out wholeheartedly on the road, yet when you reach that place where the paths go off in all directions, you stand bewildered, not knowing which is the true Great Road. What are those branch roads? They are precisely the new words — words newly learned by imitating others, without truly understanding their meaning. Any road may be traveled; but to travel it you must know it well, and then you will not get lost. Any word may be spoken; but to speak it you must understand its meaning, and then you will not err. If, on the highway before your eyes, you may still get lost when you do not know it well, how much more the Road of the Way, a Road belonging to the Sacred realm — if you do not comprehend it, how can you avoid falling into heterodox ways (Tả Đạo)! I say you are greatly mistaken because your love of using new words throws your hearts into turmoil and your minds into confusion, so that you do not know where the Way is or what the Way is — that is the reason. And so I must lay it out for you again: do not think, and do not scoff, that My words are commonplace and low, and keep passing them by.
Phần đông của các trò đều cho rằng cái Tư Tưởng của Người rất mạnh, cái Lý Trí của Người rất cao, nên thường nhìn nhận triết lý của Phật Giáo là siêu việt. Vậy nay Ta dùng một đoạn lúc Tất Đạt Đa sơ sanh đặng hỏi. Tất Đạt Đa lúc vừa ra khỏi mình mẹ thì đã biết đi, biết đứng, một tay chỉ Trời, một tay chỉ Đất, chào đời bằng một câu nói rằng « Trời trên, Đất dưới, Một Ta lớn hơn ». Sự tích ấy và câu nói ấy nghĩa chi vậy? – Sao vậy? Các trò hãy đam hết Tư Tưởng và Lý Trí ra đặng tìm thử coi.
Most of you hold that a person’s Thought is very powerful and a person’s Reasoning very lofty, and so you commonly regard the philosophy of Buddhism as transcendent. So now I will use an episode from the birth of Siddhartha (Tất Đạt Đa) to put a question to you. Siddhartha, as soon as he came forth from his mother’s body, already knew how to walk and stand; with one hand pointing to Heaven and one hand pointing to Earth, he greeted the world with the words: “Heaven above, Earth below, I alone am the Greatest.” What does that story and that saying mean? — Well? Bring out all your Thought and Reasoning and try to find it.
Các trò đã gọi rằng: Nhìn vào một vật kỹ niệm của Người thương yêu để lại, dùng hết tư tưởng để vào ấy, thì thấy và nghe được lời Người thương ấy nói, vì vậy nên Ta cho cái vấn đề trên đây, đặng cho các trò hãy dùng lý trí mà suy nghĩ đi, dùng tư tưởng mà kết cấu lại cho hiện tượng đi, đặng nhìn vào hình của Tất Đạt Đa và suy nghiệm lời nói ấy cho chín chắn, nghe Tất Đạt Đa sẽ trả lời thế nào cho các trò biết, vì chẳng có vật nào kỹ niệm cho quí bằng hình ấy mà cũng chẳng có lời nói nào cho trân trọng bằng lời nói ấy. Triết lý Phật Đà có một cái hình ấy, và câu ấy, đủ làm cho Người giải thoát nếu ai thấy được, thấu hiểu được, thì cũng gọi cho là Người biết Mối Đạo đó. Các trò suy nghĩ và tưởng tượng cho hết lý trí và cùng cái tư tưởng đi, rồi tự mình các trò hãy trả lời cho đến khi nào các trò chịu nhìn nhận đã nhìn thấy va nghe được Tất Đạt Đa đã hiện tướng ra nói dạy, chỉ, biểu cho các trò rồi, câu nói lời dạy ấy thiệt là chánh đáng; rồi các trò hãy nhìn lại nơi Tâm, coi nó sẽ trả lời lại làm sao? Đem hai câu mà so sánh lại, thì khi vừa muốn so sánh, ắt chẳng khỏi có Lương Tâm nó còn cho một vài cái lý luận khác và Lương Tri Lương Năng nó cũng tiếp vào dẫn theo một bọn Tâm Lý Đạo Lý Luân Lý Học, khiến cho các trò phải bối rối, hóa ra như kẻ điên cuồng với nó, rồi không còn lý trí nào nữa mà nhứt định lại. – Cớ ấy bởi đâu? Vì sao ra đến đổi như thế? Có chi đâu lạ! Là vì các trò học được nói nhiều tiếng mới quá, học được rồi, nói cũng được rồi, song lão thông tiếng nói mà không chút thông nghĩa lý tiếng nói. Cũng vì nhiều tiếng, nên hóa ra nhiều tư tưởng, mỗi tư tưởng nó hiện tướng mỗi tiếng ra mỗi hình, mỗi hình nói mỗi cách, mỗi cách đều có nghĩa-lý cao-sâu của nó ra theo mỗi lý trí riêng của nó, thành ra các trò phải mê hoặc. Có phải vì những tiếng mới ấy nó làm cho các trò phải không còn chi làm căn để đặng nhứt định một cái vấn đề hay không? Dầu cho có trò nào quyết chí nhứt định một cách nào cho rồi, là cũng quyết định cho rồi việc, chớ trong lòng vẫn cũng bán tính bán nghi. – Vậy nay Ta hỏi các trò: Vật nào là Vật qui báu, có giá trị, để cho các trò trước khi suy tính một vấn đề chi, dầu đã kinh-nghiệm hay là chưa cũng vậy, phải dùng lấy nó đem ra làm chuẩn-đích đặng phân biện cho rành, giúp cho sự biết của cái ý mình muốn biết, rồi nương lấy đó dùng làm Chỉ Nam, một đường đi tới hoài cho cùng Sự Lý mà vẫn không lầm lạc?
You have said that by gazing at a keepsake left by a loved one and putting all your thought into it, you can see and hear the words that loved one spoke. That is why I give you the question above: use your Reasoning to think it through, use your Thought to assemble it until it appears before you, so as to gaze upon the image of Siddhartha and ponder that saying thoroughly, and hear how Siddhartha will answer you — for there is no keepsake more precious than that image, and no words more weighty than those words. Buddhist philosophy has that one image and that one saying, enough to liberate a person; whoever can see it and understand it thoroughly may be called one who knows the Thread of the Way. Think and imagine to the very limit of your Reasoning and your Thought; then answer for yourselves, until you are willing to acknowledge that you have seen and heard Siddhartha appear and speak, teach, point, and tell you, and that his words of teaching are truly right. Then look back into your Heart and see how it will answer. Set the two answers side by side; and the moment you wish to compare them, your Conscience will surely still offer a few other arguments, and your Innate Knowing and Innate Capacity will join in too, bringing along a whole crowd of Psychology, Theology, and Ethics, throwing you into confusion until you are like madmen with it, with no Reasoning left with which to decide. — Where does that come from? Why does it come to such a pass? There is nothing strange about it! It is because you have learned to speak too many new words; you have learned them and can say them, yet though fluent in the words, you have not the least comprehension of their meaning. And because of so many words, there arise many thoughts; each thought makes each word appear in its own image, each image speaks in its own way, each way has its own lofty and deep meaning following its own particular reasoning — and so you are deluded. Is it not because those new words have left you with nothing as a foundation on which to decide a question? Even if one of you resolves to settle on some way, it is only settling to be done with the matter; at heart he still half believes and half doubts. — So now I ask you: what Thing is the precious, valuable Thing that, before you deliberate on any question, whether you have experienced it or not, you must take up and use as your standard, so as to distinguish clearly and assist the knowing of what you wish to know — and then rely on it as your Compass (Chỉ Nam), going straight ahead to the end of the matter and its Principle without ever going astray?
Ta từng nghe và từng thấy các trò mỗi khi gặp một vấn đề chi, thì đều ngã quyết qua một phía, cho rằng cái Tư Tưởng của Người rất mạnh, gồm đủ các phương diện cho Người dùng, nên cứ tin cậy nơi nó, coi nó cũng như một cái phép thiêng liêng huyền bí vậy. Ta cũng cho vậy là phải đi, vì làm Người phải có nghị lực quyết định một con đường của mình muốn đi như vậy là phải, song Ta tiếc cho các trò biết có một mặt mà thôi, chưa thấy được mặt thứ hai, có đâu thông cho đủ mười phân vẹn mười! – Ta nói chưa dứt câu, có trò lại vội thầm nói rằng: Đạo như ngọn đèn trong lồng kiến, có nhiều mặt nhiều màu, hễ ai đứng về mặt nào thì thấy theo màu nấy chớ biết làm sao! Ta nói chưa ráo tiếng, mà đã có trò vội dùng cái lý trí mới vừa học được biết nói đó, đam ra phê bình lời Ta muống giảng. Trò muốn dùng cái đèn kiến nhiều mặt nhiều màu đặng đem ra ví dụ cho Chơn Lý Đại Đạo, sao không nhớ rằng: Đạo có Một, nào có nhiều đâu mà phải dùng kiến nhiều màu! Nhiều màu ấy là tại thợ làm kiến thấy các trò ham chuộng nhiều màu, nên nó mới nhuộm kiến cho các trò dùng đó thôi, chớ kiến nào có màu chi khác hơn màu trong trắng! Nhưng Ta cũng cho rằng kiến có nhiều màu đi cho vừa lòng các trò, vì các trò đã lỡ gặp cái đèn như vậy rồi, Ta biết làm sao! Song Ta hỏi các trò: Đèn nhiều mặt ấy là tại nơi đâu? Sao các trò không chịu khó đến cho tận cái đèn mà coi? Chớ chi các trò gia công một chút đặng đi cho đến cái đèn, thì thấy rõ rằng trong lòng kiến vẩn có Một cái đèn mà thôi; các trò thấy được vậy, mới có thể phân-biệt được kiến là kiến, đèn là đèn, chớ kiến không phải đèn, mà đèn cũng không phải kiến. Trong lòng đèn vẫn sáng trắng chớ nào có màu sắc chi đâu! Bởi các trò không chịu gần đèn, nên mới bị kiến màu làm cho các trò tưởng lầm rằng đèn cũng nhiều màu vậy đó. – Có trò lại cượng lý nói rằng: Đèn đển dùng rọi sáng cho chỗ xa mà thôi, nếu có người có ý xét kỷ thì thấy chánh chỗ đèn đứng, chỗ gốc đèn, thì bao giờ cũng tối, nên người ở gần đèn cũng chưa chắc chi thấy tỏ hơn ai. – Cũng còn một thứ lý trí vụng về hơn nữa, song Ta khen cho, khen là khen có một trò nói nữa đó. Sao chẳng xét vì cớ đâu chính chỗ để đèn đứng, hoặc chỗ treo đèn đó, bao giờ cũng có bóng tối? Hãy xét cho kỹ rồi sẽ nói, chớ vọi dùng tư tưởng xằng mà làm tội cho cái đèn. Gần đèn thì sáng chớ nào có tối bao giờ! Ngọn đèn có Tánh Sáng, nhờ trong Tâm nó có chứa đủ Sự làm cho nó được Sáng; còn Sự Tối đó, là tại Người dùng một vật chi để áng khuất Sự Sáng của nó đi, rồi Người đúng tại chỗ bón khuất đó mà ngó, vùng chê rằng đèn tối, chớ ngọn đèn nào có tối! Người làm cho nó có bóng tối thì Người chịu lấy, nếu Người muốn cho nó có Sự Sáng lại, thì hãy dẹp bỏ đồ Người che áng đó, thì Người thấy tỏ rõ lại như thường. Đèn tối hay sáng là tại nơi Người làm, nếu vội đổ lỗi cho ngọn đèn, là tự mình khi mình dối lấy mình vậy, chớ nào có hại chi cho ngọn đèn đâu! Dầu cho ngọn đèn bị vật che khuất, nếu ai được ở gần nó thì hãy còn nhờ lấy Sự Sáng chút ít của nó mà thấy được mờ mờ, bằng Người đúng xa chừng nào thì thương hại biết bao!
I have often heard and seen that whenever you meet some question, you all fall decisively to one side, holding that a person’s Thought is very powerful, containing every aspect for a person’s use, and so you keep trusting in it, regarding it as a kind of sacred, mysterious magic. I grant that this is right, for a Person must have the strength of will to decide on the road he wishes to travel; but I regret that you know only one side, and have not yet seen the second — how could you comprehend it fully, ten parts out of ten! — I had not even finished My sentence when one of you hastily said silently: “The Way is like a lamp inside a glass lantern with many faces and many colors: whoever stands at a given face sees according to that color — what can one do!” I had not finished speaking, yet one of you already hastened to use the Reasoning he has just learned to talk with, to criticize what I meant to teach. You wish to use the many-faced, many-colored glass lantern as an illustration for the True Principle of the Great Way — why do you not remember that the Way is One, not many, that one should need many-colored glass! The many colors are because the glassmakers saw that you loved many colors, so they dyed the glass for you to use; glass has no color other than pure clear white! But I will grant that the glass has many colors, to please you — since you have already chanced upon such a lantern, what can I do! But I ask you: where do those many faces of the lamp come from? Why will you not take the trouble to go right up to the lamp and look? If only you put in a little effort to go right up to the lamp, you would see clearly that inside the glass there is still only One lamp. Seeing that, you can distinguish that glass is glass and the lamp is the lamp; the glass is not the lamp, and the lamp is not the glass. Inside, the lamp is pure white light — what color does it have! Because you will not come near the lamp, the colored glass makes you mistakenly imagine that the lamp too has many colors. — One of you argues stubbornly: “A lamp serves only to light faraway places; if one looks closely, one sees that the very spot where the lamp stands, the base of the lamp, is always dark, so those near the lamp are not necessarily any better able to see.” — That is a still clumsier kind of Reasoning; but I commend it — commend that one of you for saying it too. Why not examine why the very spot where the lamp stands, or where it hangs, always has a shadow? Examine carefully before speaking; do not hastily use foolish thoughts to accuse the lamp. Near the lamp there is light, never darkness! The flame has a Bright Nature, because within its Heart it holds all that makes it Bright; the Darkness comes from people using something to block its Brightness, and then standing in that blocked spot to look, and suddenly scoffing that the lamp is dark — the flame is never dark! Whoever makes it cast a shadow must bear the consequences; if he wishes it to have Brightness again, let him take away the thing he used to block it, and he will see clearly again as usual. Whether the lamp is dark or bright depends on what people do; to hastily blame the flame is to deceive and cheat oneself — what harm does it do the flame! Even if the flame is blocked by something, whoever is near it still benefits from a little of its Brightness and can see dimly; but the farther away one stands, how pitiable!
Ta đã từng đem kiến và gương ví dụ sự Hư Không của Tâm Tánh cho các trò nghe rồi, sao các trò không chước lượng lấy mà học đặng đem ra mà nói, sao lại vẫn bo bo học theo những Người mượn lý tri và tư tưởng giả làm Chơn Lý mà dùng hoài? Ai bắt chước được tiếng nói tầm thường của Ta, đam dùng vào lời nói của mình muốn nói, tuy chẳng đặng đứng vào hạng trí thức của Người, song chẳng rớt đến hạng hạ ngu; còn ai học nói theo tiếng nói mới của người, thật là nhiều người yêu quí lắm, người coi dường của báu,vì cả thảy đòng loại được mấy ai được có như mình vậy, nên tưởng mình sang trọng, nào dè đâu là mình làm hạ phẩm giá tư cách của mình, đành lòng đứng vào phương diện chim lồng mà chẳng hay. Vậy Ta khuyên các trò hãy cẩn thận trong lời nói, mỗi tiếng phải kiên dè, được vậy rồi, sẽ lần lần dò theo tiếng nói của mình, đặng tập làm, cho đến khi nào nói được, làm được; việc làm và lời nói, lời nói và việc làm đều không trái nhau, khi ấy các trò sẻ hiểu Đạo ở đâu! Hiểu được, làm được, nói được, làm cho Người bắt chước làm theo được, ấy là Thánh Thần Tiên Phật đương đời hiện tại đó, chớ có vọng cầu vọng tưởng ở đâu xa, để cho trọn đời mình vẫn giả dối với mình, biết sái mà không chịu sửa. Nếu vậy, trách chi luân xa không chật chỗ.
I have already used clear glass and the Mirror to illustrate the Empty Void of the Heart and Nature for you — why do you not weigh that and learn it so as to speak of it, rather than stubbornly learning from those who borrow Reasoning and Thought, pretend they are True Principle, and keep using them? Whoever imitates My commonplace words and uses them in what he wishes to say, though he may not stand among the intellectuals, will not fall to the rank of the lowest fools. But whoever learns to repeat other people’s new words is greatly admired and cherished by many, regarded like a treasure — for how many of his kind are as he is? — and so he imagines himself distinguished, never realizing that he is lowering his own worth and character, consenting to stand in the position of a caged bird without knowing it. So I urge you: be careful in your speech; be cautious with every word. Having done that, gradually follow your own words so as to practice doing them, until you can say and can do — your deeds and words, your words and deeds, never contradicting each other. Then you will understand where the Way is! To understand, to do, to speak, and to enable others to imitate and follow — that is to be a Sage, Deity, Immortal, or Buddha in this present life. Do not seek and imagine recklessly somewhere far away, so that your whole life you remain false to yourself, knowing your error yet unwilling to correct it. If so, no wonder the wheel of rebirth is never short of room.
Học Đạo là vụ cho càng ngày càng mới lấy mình, chẳng để cho những tánh nết xấu xứ đóng dính lại một chỗ nào gọi rằng chưa sạch, chớ nào phải học Đạo là vụ mới lấy lời ăn tiếng nói đâu! Các trò mảng chê rằng Tâm Tánh là vật cũ, đồ xưa, nên không còn để ý tư tưởng lấy nó, mảng để ý chăm chỉ đặng tư tưởng vào Lý Trí, đặng phẩm phân những sự vật kín đáo mật nhiệm hiện tiền ở thế gian ra cho thấy, cho biết, và dốc làm ra lẽ cho ngó thấy y theo ý muốn; dầu cho gặp Sự Lý, Vật Lý chi mắc mỏ rối ren, khó khăn đến bực nào, nếu các trò muốn tìm, thì các trò cũng chịu nhọc trí lo đến tưởng đến tin đến chẳng hề chịu thôi, chịu bỏ qua. Cái chi có sự kiên nhẫn như vậy, thì việc chi lại tìm chẳng ra mối! Vì vậy nên các trò mới quí trọng về phần Tư Tưởng theo Lý Trí hơn. Bởi các trò thiên về một mặt đó hơn, nên các trò mới khuynh hướng theo phía đó, cũng tỷ như kẻ bịnh con mắt, gặp được kiến hạp nhãn vậy, hóa ra sự thấy biết của trò nó cũng thấy và biết những sự vật quay quẩn nội trong vòng hoàn cảnh ô trược nầy, cao lắm là cũng nội cái không khí nơi không gian của thế giái hữu hình đây mà thôi, chớ nào dùng nó mà thấy biết cho được Lý Đạo của Trời, vượt ra khỏi không gian nầy biết còn bao nhiêu từng không khí nữa, mới Sanh Hóa ra được Võ Trụ này đâu! Ở từng không gian thế giái hữu hình này, dầu cho có Sự Lý hay là Sự Vật chi u ẩn khuất lấp, hoặc cơ mưu chi bí mật éo le, hoặc là cơ xảo chi thần kỳ tuyệt diệu, hoặc là thuật nghệ chi huyền bí trí xảo đi nữa, chẳng qua đều là Sự Vật của Người tài lực chế tạo ra, của Người dùng mưu mô trù nghĩ lấy, của Người dùng trí não chế biến lấy, của Người dùng phương pháp xảo trá bày biện lấy, chớ nào có một cái Hiện Tướng nào của Trời bày vẻ cho! Vì đều là phương pháp máy móc cách thức của Người bày ra cho Người làm, đặt ra cho Người tính, khiến cho Người lo, nên Người phải dùng Tư Tưởng phần Lý Trí của Người đặng Người theo mà làm cho thành cái mục đích của Người đeo Người mang đó. Vậy thì, nếu Người nầy dùng Tư Tưởng của Lý Trí tính ra nên làm được, thì Người khác cũng dùng một cách ấy đặng đấu sức chọi lại với mình, hoặc họ đủ sức theo, hoặc họ dư sức nên thắng nỗi mình cũng có. Cả thế giái hữu hình nầy đều đua chen nhau như vậy, đặng tranh giành nhau lấy Tiếng, hoặc là cướp đọat nhau lấy Danh, hoặc là lấn lướt nhau lấy Thế, ai cũng muốn chuộn về một mặt mà khác nhau nơi việc làm, cũng đều do nơi Tư Tưởng của Lý Trí phàm này mà ra; sao nở đành quên rằng những phương diện ấy đều thuộc về một phương diện của hoàn cảnh mơ mộng, thấy đó mất đó, được đó thua đó, ấy là cái thế giái ảo tưởng nó làm cho sai lạc cái tư tưỏng chơn chánh đi, nó làm cho Người phải Luân Hồi khổ não, đau đớn vô cùng, nó làm cho Người phải lạc mất cả Tâm Tánh Thiêng Liêng tốt tươi sáng láng vui vẻ của Trời ban phú cho khi xưa, mà chẳng còn biết còn nhớ đến nó nữa! Dầu cho miệng các trò vẫn cũng thường dùng hai tiếng Tâm Tánh Thiêng Liêng mà nói vậy, song trong lòng vẫn hiểu rằng: Tâm Tánh đó là vật để chứa Thất Tình Lục Dục Tam Độc Ngũ Uẩn mà thôi, ngoài ra nó không còn có để dùng vào việc chi khác nữa; duy có một cái Lý Trí và Tư Tưởng là phương học siêu hình, mới có thể lường Trời đong Đất được thôi. Ôi thôi! Vật quí báu vô giá trị của Trời ban cho, đến ngày nay gặp cơn phải bị loài Người sa thải ra làm một vật để chứa đựng những đồ nhớp bẩn của thế gian! Người gọi học khoa Hình Nhi Thượng Học mà còn vậy thay, bảo sao Chơn Lý của Trời chẳng bị cơn ma ách mà phải luân trầm trụy lạc, Đại Đạo chẳng bị trăn vu hoan phế!!! Bảo sao ngụy học chẳng được phồn thạnh phóng khởi!!! Tội ấy bởi đâu mà ra? Đều bởi cái tục ham kiếm, ham tìm những tiếng mới của Người đặng học, song chẳng chịu hiểu tột nghĩa những tiếng nói ấy, miễn biết một đôi câu sáo ngữ thì vội đem ra dùng, lâu ngày thành quen, mà chẳng ai chịu khảo cứu lại cho tinh vi, đặng sữa đổi lại cho ngôn chánh danh thuận, phòng biết dùng cho trúng chỗ dùng, nói cho trúng cách nói mà ra vậy. Nếu biết dùng cho trúng chỗ, nói cho trúng cách, thì sự nói và việc dùng đều nhằm Lý, có đâu đến nước sai lầm mà chẳng hay; bằng trái lại, thì một bước đi cũng chưa biết bước làm sao cho phải đường trúng chỗ, huống chi vọng tưởng đến việc bước vào Con Đường Đạo, là con đường chẳng phải gọi là Siêu Hình hay là Hình Nhi Thượng mà gọi rằng là hiểu thấy được.
Studying the Way is the work of making oneself new day by day, letting no ugly temperament or habit cling anywhere that could be called not yet clean — studying the Way is not the work of making one’s speech new! You scorn the Heart and Nature as an old thing, an antique, and so no longer turn your thought to it; you only set your mind diligently on applying thought to Reasoning, so as to classify and lay bare the hidden, mysterious things present in the world, to see them and know them, and you devote yourselves to arguing them into view according to your wishes. However tangled and difficult the Affairs or Principles of things you meet, if you wish to find them, you will wear out your wits worrying, thinking, and trusting, never willing to stop or let it go. With perseverance like that, what is there whose thread you could not find! That is why you prize Thought following Reasoning more highly. Because you lean more to that one side, you incline toward it — like someone with diseased eyes who finds a pair of spectacles that suits them. So what you see and know is only the things that revolve within this murky, soiled circumstance; at the very highest, only within the air of the space of this Formed world — how could you use it to see and know the Principle of Heaven’s Way, which reaches beyond this space through who knows how many more layers of air, to Generate and Transform this Universe! Within this layer of space of the Formed world, whatever hidden and concealed Affair or Thing, whatever secret and intricate scheme, whatever marvelous and wondrous device, whatever mysterious and ingenious art there may be — all are only things fashioned by human talent, devised by human scheming, contrived by human brains, set out by human cunning; not one of them is an Appearance that Heaven has displayed! Because they are all methods, machines, and techniques that people set out for people to do, devised for people to reckon, making people worry, people must use the Thought of their Reasoning to follow along and achieve the aims they carry with them. So if one person, using the Thought of Reasoning, works out how to do something, another uses the same method to pit his strength against him: either he keeps pace, or he has strength to spare and overcomes him. The whole Formed world jostles like this, competing for Fame, robbing one another of Name, overpowering one another for Power; everyone wants the same one thing and differs only in how they go about it — and all of it springs from the Thought of this mortal Reasoning. How can you bear to forget that all such things belong to one aspect of a dream circumstance: seen and then lost, won and then lost again — the world of illusion that leads true and upright thought astray, that makes people suffer the endless pain and anguish of transmigration, that makes people lose the Sacred Heart and Nature — fresh, bright, joyful — that Heaven bestowed of old, until they no longer know or remember it at all! Even though your mouths often speak the words “Sacred Heart and Nature,” in your hearts you understand that Heart and Nature to be merely a vessel for holding the Seven Passions, Six Desires, Three Poisons, and Five Aggregates, with no other use beyond that; only Reasoning and Thought, as a transcendent discipline, can measure Heaven and weigh Earth. Alas! The priceless treasure bestowed by Heaven has come, today, to be cast aside by humankind as a vessel for holding the filth of the world! If even those who study Metaphysics are like this, no wonder Heaven’s True Principle suffers this demonic calamity, sinking and falling into decay, and the Great Way lies buried and abandoned!!! No wonder false learning flourishes and spreads!!! Where does this fault come from? It all comes from the habit of loving to seek out and hunt for people’s new words to learn, yet unwilling to understand those words to the end; knowing a phrase or two of jargon, they hasten to use it, and over time it becomes habit, and no one will investigate again with precision so as to correct it — so that words are proper and names accord with reality (ngôn chánh danh thuận), and one knows how to use them in the right place and speak them in the right way. If one knows how to use them in the right place and speak them in the right way, then speaking and using both accord with Principle, and how could one ever fall into error without knowing it? Otherwise, one does not even know how to take a single step properly on the right road in the right place — how much less to dream of stepping onto the Road of the Way, which is not a road one can claim to understand and see by calling it “Supra-physics” or “Metaphysics.”
Nay Người mảng thiên trọng về Tư Tưởng và Lý Trí, gọi nó là Thần Thánh trong sự Hình Nhi Thượng Học, vậy Ta cũng nương lấy chỗ Người thích đó mà giải ra cho Người nghe, phòng biết được mà dùng cho trúng chỗ, nói cho nhằm lý, thì Người mới khỏi mang tiếng gọi là Người trong bực tinh tinh anh võ.
Now, since people lean so heavily on Thought and Reasoning, calling them the divinities of Metaphysics, I too will lean on what people like and explain it for them, so that they may know how to use it in the right place and speak in accord with Principle — and only then will they escape being called members of the class of apes and parrots (tinh tinh, anh võ).
Trong mỗi việc chi, người đều thiên về phái suy nghiệm đặng giảng luận sự lý, vật lý chi, nên mới hay dùng tiếng Tư Tưởng mà nói. Ta nay hỏi các trò: Có hiểu chữ Tư là chi, Tưởng là chi, Tư Tưởng là chi hay không? Bởi đâu mà có những cái ấy? Nó là một cái hay là ba cái? Mỗi cái đứng vào phương diện nào? Bởi sao mà sanh ra có những vật ấy? Nó hữu hình hay vô hình? Các trò tự bấy nay đã có dùng phép Biện Chứng hoặc là phép Luận Lý đặng tính xuôi trở ngược hay là đã liểu kết rồi đặng phân tích nó ra cho rành mà hiểu chưa? Hay là dùng tiếng nói đặng nói suông hiểu ngầm mà thôi? – Ta chắc rằng trong mấy câu hỏi đây, chưa có trò nào đã có để ý vào cho rõ hết, là vì học nói theo Người, song tiếng nói và ý nghĩa của Người đặt ra trước hết đễ dùng, thì vẫn đứng vào một phương diện khác, nay các trò đem vào một phương diện khác mà dùng theo ý tưởng riêng của mình, sẵn dùng hoài hóa quen, rồi lại đem luôn vào phương diện Đạo Đức mà dùng nữa, như vậy thì khác nào các trò muốn bắt cá mà lại trèo lên ngọn cây đặng kiếm! Ta cũng hỏi luôn các trò: mỗi khi các trò dùng tiếng ấy mà nói, vậy các trò có định nói nó, đặt để nó vào sự lý hay vật lý nào hoặc là lý của sự vật nào trước, rồi sẽ nói nó ra sao hay không? Có định cho rằng: vì Tư nên phải Tưởng, hay là vì Tưởng nên phải Tư hay không? Kết cuộc Tưởng Tư Tư Tưởng ấy, đem nó ra hoặc nó đem ra hành động vào việc chi? Dùng nó vào Tinh Thần, hay là vào Vật Chất? Tinh Thần của Tinh Thần hay là Tinh Thần của Vật Chất? Hay là dùng Tinh Thần đặng làm nô lệ cho Vật Chất? Chớ tưởng Vật Lý Học không cần dùng Tinh Thần mà lầm! Tuy biết rằng: Hễ có Vật Chất mới có Tinh Thần, Người coi dường như Tinh Thần là vật phụ thuộc của Vật Chất vậy, song Người muốn tìm Vật Lý thì phải trước có Tinh Thần mới được, vì cái Vật kia là một món để Tinh Thần khảo cứu, chớ cái Vật này nào có biết truy tầm thí nghiệm chi cái Vật kia đâu! Tinh Thần và Vật Chất của Tinh Thần ví như Hồn với Xác, song Tinh Thần là Tinh Thần chớ không phải là Hồn, mà Vật Chất vốn thiệt là Xác vậy. Ta sẽ giải Hồn Xác thế nào ra sao cho các trò hiểu. Ta đã hỏi các trò rằng: Người có Hồn không Xác, hoặc có Xác không Hồn, thì nào có phải là Người, huống chi có Hồn có Xác đủ, mà thiếu Tinh Thần của Hồn Xác, sao được gọi là Con Người!!! Khuyên các trò chớ mộng tưởng theo như kẻ tôn sùng Duy Tâm làm căn bản, Người chuyên trọng Duy Vật làm cốt yếu, đành đem Tâm và Vật làm chiến tuyến đặng tương địch, tương tàn lẫn nhau, rốt cuộc cũng chưa ai rõ Tâm là chi, Vật là chi, cũng như các trò ngày nay đương đứng vào trong Tư Tưởng, Tưởng Tư không rành, Lý Trí chưa thạo, kết cuộc đành để cái xác thân hữu dụng nầy làm một bộ máy cho tấn tuồng mộng ảo sai khiến mà không hay.
In every matter, people lean toward the school of reflection, so as to discourse on the principle of some affair or thing, and so they are fond of using the word Tư Tưởng (Thought). Now I ask you: do you understand what Tư is, what Tưởng is, and what Tư Tưởng is? From where do they come? Are they one thing or three? In what aspect does each stand? From what cause do these things arise? Are they Formed or Formless? All this time, have you ever used the method of Dialectic or the method of Logic to reckon them forward and backward, or concluded and analyzed them clearly so as to understand? Or do you simply use the words to talk loosely and understand vaguely? — I am sure that, of these questions, none of you has yet attended to them all clearly; because you learned to talk after others, yet the words and meanings those people first coined for use stood in a different aspect, and now you take them into yet another aspect and use them according to your own private notions; using them constantly, it has become habit, and then you carry them straight on into the aspect of the Way of Virtue and use them there too. How is that different from wanting to catch fish by climbing to the top of a tree to look for them! I also ask you: each time you use that word, do you first decide to say it, placing it in some principle of affairs or principle of things, or the principle of some particular affair or thing, before saying it — or not? Do you decide that because of Tư one must Tưởng, or because of Tưởng one must Tư? In the end, that Tưởng Tư and Tư Tưởng — do you bring it out, or does it bring itself out, to act on what? Do you use it in Spirit, or in Matter? The Spirit of Spirit, or the Spirit of Matter? Or do you use Spirit to be the slave of Matter? Do not imagine that physical science has no need of Spirit — that is a mistake! True, it is known that only where there is Matter is there Spirit, and people regard Spirit as if it were an appendage of Matter; but if people wish to seek the principles of physics, they must first have Spirit, for that Thing is an object for Spirit to investigate — this Thing does not know how to search out or experiment on that Thing! Spirit and the Matter of Spirit are like Soul and Body; yet Spirit is Spirit, not the Soul, whereas Matter truly is the Body. I will explain how Soul and Body are, so that you understand. I have asked you: a person with a Soul but no Body, or a Body but no Soul — how is that a person? How much less, then, one with both Soul and Body but lacking the Spirit of the Soul and Body — how could that be called a True Person!!! I urge you: do not dream along with those who revere Idealism (Duy Tâm) as their foundation, and those who devote themselves to Materialism (Duy Vật) as their essence, and consent to make Mind and Matter into battle-lines to oppose and destroy one another — when in the end no one yet knows what Mind is or what Matter is. Just as you today stand in the midst of Thought, unclear about Tưởng and Tư, not yet versed in Reasoning, and in the end consent to let this useful body be a machine driven by a dream-theater without knowing it.
Sao không chịu xét: Nếu Tâm không Vật thì Tâm lấy chi mà dùng; Vật không Tâm thì Vật lấy chi mà biết? Không Vật thì Tâm đâu có; không Tâm thì Vật ích gì? Có Tâm có Vật mà không Tinh Thần, thì Tâm Vật kia là một bộ máy vô chủ chớ có chi là lạ! Sao không chịu hiểu: toàn thể của Vật kia, của bộ máy kia, đều là tôi tớ của Tinh Thần, có nó sai khiến mới biết phải làm, làm sao bằng chẳng có lịnh sai, thì vật nọ là một vật lỡ sống, lỡ chết, hoặc đã chết đó thôi. Tôi tớ bao giờ cũng muốn lấn lướt chủ nhà, chẳng dè sự sống của chúng nó là do chủ nhà phân phát cho mới có; ví như Sự Sống của toàn thể cái Xác là do Hơi thở, mà bao giờ cái phổi cũng tranh nó là chủ, nhờ có nó mới có hơi thở cho Xác sống; vậy thử đam nhốt Xác vào một chỗ kín, không Không Khí, bảo cái phổi có Hơi mà Thở đi. Có phải Hơi kia là chủ, Thở là Tớ, còn phổi nọ là bộ máy của Tớ hay không? Tinh Thần và Vật Chất cũng vậy. Chớ gọi Tinh Thần không có Thể Chất riêng của nó mà lầm, tại con mắt của các trò chưa có thể thấy mà phân biệt được đó. Song nếu đến ngày các trò thấy và phân biệt được, Ta khuyên cho chớ đặt tên mới, tiếng mới đặng nói, rốt cuộc rồi phải bị những tên những tiếng ấy nó làm cho phải điên cuồng vì nó. Hãy Thở, hãy Sống bằng Tinh Thần, vì Tinh Thần là chủ của Sự Thở, Sự Sống khắp Vạn Vật, cả Vạn Vật nơi không gian, làm chủ cả Võ Trụ vậy. Một Vật chi dầu nhỏ; dầu lớn, con mắt của trò thấy được, đặt tên được, đều là tôi tớ của Tinh Thần cả thảy, khác nhau là mỗi tên, mỗi đứa, mỗi vật đều có trách nhiệm riêng đó thôi; vì vậy nên đứa nào, vật nào, hễ thấy mình lảnh được một vài trách nhậm chi, liền tự gọi mình là chủ, rốt cuộc phải hết thở vì dành cái tên cho mình đứng làm chủ đó vậy. Các trò hãy nhớ rằng: Phàm Vật chi, dóc dành riêng cái tên cho mình, gọi là chủ của vật nào, thì tên kia phải làm hại cho Vật nọ, vì Vật ấy phải bị đem ra thí nghiệm. Hễ Vật đã bị thí nghiệm rồi, thì Vật ấy đã sai lạc Nguyên Khí, Nguyên Chất của nó, ví như nước lả đã bị nấu sôi rồi, thì Sanh Khí của nước đâu còn! Chớ tranh tên đoạt vật mà lầm, hãy phản bổn hườn nguyên, do theo Tâm Tánh, nuôi lấy tánh mạng, được vậy mới rõ Võ Trụ Vạn Vật là đồng một Thể chẳng hề chia rẽ; riêng có Cái Người nầy dốc lòng chia rẽ, nên mới sanh ra Tư Tưởng, Lý Trí, rồi đặt tên phân tách ra, tự mình dùng lấy mà chiến đấu với mình, cho đến chết cũng chưa thôi. Bởi tại Người muốn tách rẽ với Võ Trụ, nên càng ngày càng phải xa mà càng xa lại càng tối tâm mờ mắt, nào còn thấy được Tinh Thần của Võ Trụ đặng biết đặng nhớ! Mảng biết, mảng nhớ những vật của khi mình đã tách Võ Trụ ra rồi, tìm kiếm được những chi, rồi đặt tên riêng ra mà dùng đó thôi, trở lại mừng cho mình sẽ tranh đoạt được, cải tạo được Võ Trụ khác! Các trò nếu vẫn cứ một cách đó mà đi hoài, đi tới hoài, thì nghĩa là mình dắt mình vào đường quanh lối lộn, lại tự đắc rằng mình thuộc nhiều nẻo đi đó thôi. Nếu có Người hỏi: Bao giờ đi mới gặp Đường Cái thì các trò mới trả lời thế nào! Vì đi hoài, thì gặp đường mới đắp mới xẻ thêm hoài!! Nếu các trò chẳng chịu sữa mình lại, quầy đầu trở lại cho gặp bến gặp bờ, thì khác nào các trò cứ thả bè trôi lư liên linh đinh theo giọt nước ròng mà lại gọi rằng dốc tìm cho ra ngọn suối. Ai cũng muốn thân hình cho tráng kiện, mà lại nở dùng thuốc độc gọi là thuốc bổ, khiến cho thân thể bạc nhược, trở lại đổ tội cho thuốc không hay!
Why not examine it: if Mind had no Matter, what would Mind use? If Matter had no Mind, how would Matter know? Without Matter, where would Mind be? Without Mind, what use is Matter? Having Mind and Matter but no Spirit, that Mind-and-Matter is a masterless machine — nothing strange about it! Why not understand: the whole of that Thing, that machine, is servant to the Spirit; only when the Spirit commands does it know what it must do and how. Without command, that thing is half-alive, half-dead, or already dead. Servants always want to overpower the master of the house, never realizing that their life exists only because the master of the house dispenses it to them. For example, the Life of the whole Body depends on Breath, yet the lungs always claim to be the master, saying that only thanks to them is there breath for the Body to live. Then try shutting the Body in a sealed place with no Air, and tell the lungs to have Breath and breathe! Is it not so that the Breath is the master, Breathing the servant, and the lungs the servant’s machinery? Spirit and Matter are the same. Do not make the mistake of saying that Spirit has no Substance of its own; it is only that your eyes cannot yet see it so as to distinguish it. But if a day comes when you see and distinguish it, I urge you: do not coin new names and new words to talk about it, lest in the end those names and words drive you mad. Breathe, Live by the Spirit, for Spirit is the master of Breathing and Living throughout all Things, all Things in space — master of the whole Universe. Every Thing, however small or large, that your eyes can see and name is a servant of the Spirit; they differ only in that each name, each one, each thing has its own responsibility. That is why whatever one, whatever thing, as soon as it sees it has received some responsibility, at once calls itself master — and in the end it must stop breathing because it grabbed the name of master for itself. Remember: whenever any Thing strives to reserve a name for itself, calling itself the master of some other thing, that name must harm the other Thing, for that Thing must be put to experiment. Once a Thing has been experimented on, it has strayed from its Original Energy and Original Substance — as water once boiled no longer holds the Life-Energy of water! Do not make the mistake of contending for names and seizing things; return to the Root and go back to the Origin (phản bổn hườn nguyên), follow the Heart and Nature, nourish Nature and Life (tánh mạng). Only then will you know that the Universe and all Things are of one Body, never divided; only this Outer Person insists on dividing, and so gives rise to Thought and Reasoning, then coins names to split things apart, and uses them himself to fight against himself, never stopping until death. Because Man wishes to split himself off from the Universe, day by day he must go farther, and the farther he goes the darker his heart and dimmer his eyes — how can he still see the Spirit of the Universe so as to know and remember it! He only knows and remembers the things he found after splitting the Universe apart, and then coins private names for them to use, and then rejoices that he will be able to seize and remake some other Universe! If you keep going this one way forever, going on and on, it means you are leading yourselves onto winding, crisscrossing paths, while priding yourselves on knowing many routes. If someone asks, “When will you reach the Great Road?” — how will you answer! For going on and on, you keep meeting newly built and newly cut roads!! If you will not correct yourselves and turn your heads back to find the shore and the bank, how is it different from setting your raft adrift on the ebbing tide while saying you are bent on finding the source of the stream? Everyone wants a robust body, yet they bear to take poison called tonic, weakening the body, and then blame the medicine for being no good!
Các trò dốc đem mình vào Con Đường Đạo, ngày nay đương khởi đầu bước vào khoa Minh Tâm Kiến Tánh, sao chẳng lo chú trọng vào nơi đó mà tìm cho ra mối, lại ham mộ chi những điều bóng dáng phưởng phất trong trí tưởng, khiến làm cho sai lạc con đường chánh của mình muốn đi, muốn tìm, muốn gặp. Đã biết những điều ngày nay đương còn phưởng phất trong trí ảo tưởng của các trò đó, nếu các trò cứ dùng Tư Tưởng Lý Trí khảo cứu thí nghiệm, rồi tổ chức lại cho có hệ thống, thì nó cũng hóa ra được một vật như tự nhiên cho các trò học thêm và dùng ra được như tự nhiên vậy, vì vậy nên các trò mê mẫn vào đó hoài. Sao chẳng xét: Phàm vật nào của Người tổ chức ra, dốc đoạt sự Sống tự nhiên của Tạo Hóa thì vật ấy nào còn có sự Sống của Tạo Hóa trong mình nó đâu! Nếu không có sự Sống tự nhiên trong mình nó, thì vật ấy là một vật chết! Dầu cho vật ấy có biết vận động là cũng nhờ có Người làm nô lệ cho nó mà thôi! Hóa Công sanh loài Người, nào phải để làm tôi tớ cho vật chết bao giờ? Vì loài Người với Trời Đất vốn đồng một Thể và một chức vụ, là để tuân theo Đạo mà làm Sự Sống cho muôn Vật mà thôi.
You have devoted yourselves to the Road of the Way, and today you are just beginning to step into the discipline of “Illuminating the Heart and Seeing the Nature” (Minh Tâm Kiến Tánh) — why not concentrate there to find its thread, instead of craving those shadowy, flickering things in your imagination, which lead you astray from the true road you wish to travel, to seek, to find? We know that if you take those things now flickering in your illusory imagination and keep investigating and experimenting on them with the Thought of Reasoning, and then organize them into a system, they too can become something that seems natural for you to study further and use as if natural — and that is why you remain infatuated with them. Why not consider: whatever thing people organize, striving to seize the natural Life of the Creator, no longer holds the Creator’s Life within it! If it has no natural Life within it, that thing is a dead thing! Even if that thing can move, it is only because people make themselves its slaves! When did the Creator (Hóa Công) ever bring forth humankind to be the servants of dead things? For humankind and Heaven and Earth are in origin of one Body and one office: to follow the Way and make Life for all Things — nothing more.
Tam Giáo Thánh Nhơn và các vị Đại Hiền Triết xưa nay, vị nào cũng lo cho đời có cái bịnh hay hờ hỏng, nên hay bỏ quên, bỏ sót, bỏ lạc Tâm Tánh của mình rồi cứ vơ, cứ vét vật nào phương tiện dễ dàng làm cho sống cái xác thân trong giây lát, làm cho vui cái xác thịt trong đôi khi, làm cho vinh cái danh dự ảo mộng trong chớp nháng vậy là đủ; vì vậy nên Tâm Tánh quí báu kia bị kẻ thì để cho hủ lậu mê muội, u ám, kẻ thì làm cho nó hư hao, xao xuyến, rối rắm, Người thì buông tha nó ra luôn tuồn, xiêu lạc không nơi, không chỗ, bởi cớ nên các Ngài mới ân cần khuyên lơn, nhắc nhở mở mắt dỗ dạy Người phải giữ gìn Tâm Thần cho vững vàng, đừng để lêu lỏng, hỏng hẻo nó ra khõi ngoài, đừng để cho nó bịt vật ngoài quyến rủ làm cho nó mê mẩn, rồi dắt nó làm tôi tớ đặng sai khiến, vì nó không biết phân biện, nên nó không hay, dạy Người phải tự mình kềm chế săn sóc lấy mình cho được định tỉnh thường thường, đừng để cho Thiên Tánh bộn rộn, dợn xao; dạy Người phải cho biết, cho thấy, đặng nhìn nhận tỏ rõ, chán chường Nguồn Gốc của Người bởi đâu mà có. Người đã Sữa Mình được như vậy rồi, thì lòng Người tức nhiên đã được Sáng, không còn bị Tình Dục, Vật Dục che ẩn được nữa, tự nhiên Người được biết, được thấy, và nhìn nhận được Chơn Ngươn của Người rồi đó. Hễ nhìn nhận được rồi, thì biết Bổn Tánh của Người là Linh Thông, nào còn cần phải dùng Tư Tưởng của Lý Trí phàm nữa làm chi cho sai lạc Bổn Lai Chân Thể của mình, làm cho mất hết Sự Sáng Nguyên Chất đi! Làm cho mất Sự Sống vô cùng vô tận đi!
The Sages of the Three Teachings and the great Sage-Philosophers of old and now have all been concerned that the world suffers from a disease of carelessness: people are forever neglecting, overlooking, and losing their own Heart and Nature, then grabbing and scraping up whatever is convenient and easy to keep the body alive for a moment, to please the flesh now and then, to glorify an illusory reputation for a flash — and that is enough for them. Because of this, that precious Heart and Nature is, in some, left to rot in ignorance, delusion, and gloom; in others, damaged, agitated, and tangled; in others, let go entirely, adrift with no home and no place. That is why those Sages earnestly exhorted, reminded, opened people’s eyes, and coaxed them to guard the Heart and Spirit firmly, not to let it wander loose and slip outside, not to let outside things seal it off, entice it, and infatuate it, and then lead it off as a servant to be ordered about — for it does not discern, and so does not notice; they taught people to restrain and tend themselves so as to remain constantly settled and awake, not letting the Heavenly Nature be stirred up and rippled; they taught people to know, to see, so as to recognize clearly and fully the Source from which Man came. Once a person has corrected himself like this, his heart is naturally already Bright and can no longer be hidden by passion and material desire; naturally he knows, sees, and recognizes his own Chơn Ngươn. Once he recognizes it, he knows that his Original Nature is Numinous and Penetrating — so why would he still need the Thought of mortal Reasoning, to lead astray his own Original True Body, to lose all his Original Brightness! To lose the Life Without End, Without Exhaustion!
Hễ Người thấy rõ được Căn Bổn, thì phải nhớ rằng: Tỏ rõ được bao nhiêu, thì đừng để cho vật chi che đậy làm cho nó lu lờ lại, phải giữ nó cho bền vững, và nuôi nấng Tinh Thần nó cho càng ngày càng Sáng thêm hoài, quyết trau giồi nó cho đến chừng nào nó không còn chút bụi bậm, bợn nhơ, cho được sáng chói rực rở tốt đẹp, trong trắng, mới chịu cho. Được vậy, tức nhiên là được nhìn nhớ lại những lời Trời đã dạy dỗ, đã khuyên lơn, đã ban phú cho mình lúc ban sơ đó, tức nhiên không để hờ hỏng, quên sót Tâm Tánh nữa rồi, khi ấy mới được Trời Thường ngự nơi Trung Tâm Điểm vậy. Được như vậy rồi lại còn phải đem sự mình đã thí nghiệm, đã kinh nghiệm rồi đó, đặng dạy dỗ chỉ biểu cho Người khác làm theo, một Người làm được, trăm ngàn muôn Người làm được, cả nước làm được, trọn hoàn cầu thế giái đều làm được, thì còn chi chẳng gọi được rằng: « Một cái thế giái tấn bộ vào sự Văn Minh Tinh Thần »! Sự văn minh nầy nó làm ra cho Người thơ thới, vui vẻ, hòa bình chẳng còn chi phải nảo lòng, long óc, choán mắt, điếc tai với những cái văn minh thuộc về Lý Trí và Tư Tưởng phưởng phất như các trò đã từng học nói theo tiếng nói của Người dạy cho biết nói tự bấy nay đó, mà chẳng hiểu ý nghĩa nó là chi vậy.
Once a person sees the Root clearly, he must remember: however much has become clear, let nothing cover it and make it cloudy again; he must keep it steadfast and nourish its Spirit so that it grows Brighter day by day, resolved to polish it until it has not a speck of dust or stain left, until it shines brilliantly, beautiful, pure and white — only then may he rest content. Doing so, he naturally recalls the words Heaven taught, counseled, and bestowed on him at the very beginning; naturally he no longer neglects or forgets the Heart and Nature — and then Heaven Constantly dwells at the Central Point. Having done this, he must further take what he has tested and experienced and use it to teach and guide others to do the same: one person can do it, then a hundred, a thousand, ten thousand people can do it; the whole country can do it, the whole globe can do it — and then what is there that may not be called “a world advancing into Spiritual Civilization“! This civilization makes people at ease, joyful, and at peace, with nothing left to trouble their hearts, rack their brains, clutter their eyes, or deafen their ears with those flickering civilizations of Reasoning and Thought, such as you have been learning to talk about after the speech of those who taught you to talk all this time — without understanding what any of it means.
Đã biết rằng sự Sáng thấy, sự Hiểu biết, sự Thông suốt, sự nhìn nhận được hoàn toàn như vậy, là nhờ sự thí nghiệm khó khăn lâu ngày mới được kinh nghiệm, song chẳng phải vậy đâu, ấy đều bởi lòng Người vẫn bị đua chen theo Tình Dục và Vật Dục nên mãi mãi bươn chảy rong ruổi riết ruợt theo nó hoài, cố gắng bắt nó cho được mới nghe, nào dè nó là một miếng mồi nhử cho Người phải vì nó mà mê mẩn, rốt cuộc nào có được nó những chi! Người lấy Tư Tưởng Lý Trí riêng mà đua với Tinh Thần của Đạo cũng vậy. Ví chẳng khác kẻ dùng một con thuyền nan bé bé, tuôn sóng, lướt gió, đặng kiếm cho ra gốc rễ sóng gió bởi đâu mà có vậy thôi. Hãy xây hướng trở về yên nghỉ nơi chỗ cũ, định trí lại thì biết rằng: cái vọng tưởng khi trước, là một cái mộng ảo, dầu cho có ráng sức bực nào thì gặp được những bèo trôi bọt đóng lặn hụp giữa dòng, rồi vội mừng rằng cái thấy, cái gặp đó là một thứ vật sanh đẻ ra sống gió đó, rồi đam về thí nghiệm nữa vậy.
It is supposed that such Bright Seeing, such Understanding, such Penetration, such complete Recognition come only after long, difficult experiment, finally yielding experience. But it is not so: it is because the human heart keeps jostling after passion and material desire, forever rushing and racing in hot pursuit, striving to catch them before it will rest — never realizing that they are bait set to make people infatuated, and in the end, what has one gained of them! A person who pits his private Thought and Reasoning against the Spirit of the Way is the same. He is no different from someone in a tiny wicker boat, plunging through waves and skimming the wind, trying to find the root from which the waves and wind come. Turn back and rest in your old place, settle your mind, and you will know that your former reckless imagining was a dream-illusion: however hard you strain, all you meet is drifting duckweed and clumps of foam bobbing in midstream, and then you hastily rejoice that what you saw and met is some creature that gives birth to the waves and wind — and carry it home to experiment on further.
Chính xét lại mà coi, Người vì một phút hờ hỏng để đến đổi quên sót, làm cho sai lạc Tâm Tánh; đến khi biết nhớ lại nên mới chịu ăn năn, chịu quay mình ngó lại tìm kiếm coi nó rơi rớt tại chỗ nào. Đã biết mấy phen nhọc lòng, cực trí, mõn sức, hao hơi, vì phải trải qua chẳng biết mấy đoạn rắc rối, biết mấy lúc gian truân, biết mấy cơn thử thét, biết mấy chuyến cam go; hết sức nhẫn nại, hết sức bền gan, gian nan, cay đắng, thắt ngặt, éo le biết là mấy lớp, ai có sức chịu đựng cho qua cho nỗi mấy cách thí nghiệm của đường đời, thì mới tìm kiếm nó lại được mà đam nó về, khi ấy mới biết gìn giữ kỹ lưỡng Nguyên lai như lúc Trời mới phú ban sơ. Trong những lúc bị khảo dược thử thét thí nghiệm ấy, đã từng trải, đã thiệt nghiệm, đã chứng chắc biết là bao nhiêu sự chông gai, sự gian xảo, dối trá, lường-gạt, sự mưu mẹo, máy móc của hoàn cảnh đã hữu tâm đặc để làm bẫy, làm cạm, làm rập, làm giò, làm lưới, đặng vây vít bao bộc, xô đuổi, lùa ép, chặn đón Người cho sa vào nơi hố thẳm hang sâu, vào chỗ rất tối tăm sầm uất, không phương thế tránh, là chỗ những chông gai, dò bẫy kia đã dặt để sẵn tứ phiá, quyết bắt cho được Người làm nô lệ cho nó thì nó mới nghe cho. – Vậy nay trong các trò, cũng có trò đã thí nghiệm những bước đường ấy rồi, chẳng những đã thí nghiệm rồi mà thôi, lại cũng đã kinh nghiệm rồi và thiệt nghiệm rồi nữa, thì Ta tưởng những trò nào đã kinh nghiệm và thiệt nghiệm rồi đó, chẳng còn việc chi thuộc về cơ mưu bẫy rập của hoàn cảnh trải qua trưóc mắt mà còn gọi là không biết rõ, đặng nhờm gớm nó sao? Biết rõ được vậy là nhờ nơi đâu? Là vì biết những việc ấy đều là việc của kẻ mới biết bày ra được thấy ngày nay đó, nên chúng nó mừng, rồi gọi đó là đồ mới, chớ cái gọi là đố mới đó, là mới với kẻ mới biết bày ra ngày nay, nên mới thấy đó thôi, chớ vốn thiệt là cái đồ cũ của trò đã bị vướng khi xưa, cái đường gai chông ấy trò đã lầm chân, lỡ bước khi trước rồi đó chớ nào có chi đáng gọi là mới đâu! Dầu cho ngày nay, hoàn cảnh có sửa đổi lại chút ít thêm cho lạ mắt, song hễ trò choáng thấy trước mắt, hoặc trò nghe thoảng bên tai, thì trò đã hiểu liền rồi. – Vì sao được vậy? Vì nhờ « Cái Đó », là một vật quí báu rất Thiêng Liêng của Trời ban phú, sáng láng, chói rực, không việc chi thấy mà không biết, nó là một cái Gương phản chiếu, ánh giọi tỏ rạng hực hỡ, chẳng chi so sánh kiệp. Nhờ Nó ở thường nơi Tâm, nên các bực Hiền Thánh xưa mới có thể giúp Trời hành Đạo được hoàn toàn trách nhậm. Vì vậy nên Ta nói rằng: « Cái Đó » nó đã sẵn có sự Biết rồi, nào còn cần phải học, hay là phải suy nghĩ mới biết được đâu! – Các trò đã chẳng chịu nhìn nhận Nó đã có sẵn Tài Năng đủ Biết rồi, mà lại còn bịa đặt ra thêm còn có cái Lương Tâm, Lương Tri, Lương Năng nữa, hay hơn Nó, sáng hơn Nó, đặng làm cho chia rẽ Nó đi, lại gọi Nó là một vật để chứa đồ nhơ nhớp của thế gian, như là Thất Tình Lục Dục, Ngũ Uẩn, Tam Độc vậy; đến ngày nay còn gia phụ thêm vào những tiếng Tư Tưởng, Lý Trí gọi là cao thượng hơn Nó nữa! – Ta hỏi, làm cho trễ nãi bước đường của các trò, đến ngày nay còn bỡ ngỡ, lơ láo giữa đường ấy, lỗi tại nơi đâu?
Look at it squarely: a person, through one moment of carelessness, comes to forget and overlook, leading his Heart and Nature astray; only when he remembers is he willing to repent and turn around to look for where it fell. Who knows how many times he has wearied his heart, exhausted his mind, spent his strength, and lost his breath, because he had to pass through who knows how many tangled stretches, how many hardships, how many trials, how many ordeals. Only one who exhausts his endurance and his fortitude through who knows how many layers of hardship, bitterness, straits, and twists — only one with strength to bear and come through all the experiments of life’s road — can find it again and bring it home; and only then does he know how to guard it carefully, as originally it was when Heaven first bestowed it. In those times of being tested, tried, and experimented upon, he has gone through, proven, and verified who knows how many thorns, how much cunning, falsehood, and fraud, how many schemes and contrivances that circumstance has deliberately laid as traps, snares, nets, weirs, and pitfalls, to surround and encircle, chase and drive, block and intercept people, so that they fall into the deep pit and the deep cave, into the darkest, most oppressive place with no means of escape, where those thorns and traps have been laid ready on all four sides, determined to capture people as their slaves before they will rest. — Now among you there are some who have already tested those stretches of road; not only tested, but experienced and proven them. I would think, then, that for those who have experienced and proven them, there is nothing in circumstance’s schemes and traps passing before their eyes that they could still claim not to know clearly and not to loathe? From where does that clear knowing come? It comes from knowing that those things are things devised by people who have only just learned how, now appearing today; so they rejoice and call them new — but what they call new is new only to those who have only just learned to devise them today; in truth it is the old snare you were caught in long ago, the thorny road where your foot slipped and you misstepped before — what is there in it worth calling new! Even if today circumstance has altered it a little to look strange, as soon as you glimpse it before your eyes or hear it faintly by your ear, you already understand it at once. — How can that be? It is thanks to “That,” the most Sacred treasure bestowed by Heaven, shining and brilliant, which sees nothing it does not know: it is a reflecting Mirror, beaming forth radiantly, beyond compare. Because It dwells constantly in the Heart, the Sages and Saints of old were able to help Heaven practice the Way with full responsibility. That is why I say: “That” already has Knowing — why would It still need to study or think before It knows! — You would not acknowledge that It already has the full Capacity to Know, and further invented a Conscience, an Innate Knowing, an Innate Capacity, better and brighter than It, so as to split It apart; and called It a vessel for the world’s filth — the Seven Passions, Six Desires, Five Aggregates, Three Poisons; and now today you add the words Thought and Reasoning, claimed to be loftier than It! — I ask: what has delayed your steps on the road, so that today you are still bewildered and lost midway — whose fault is it?
Ngày nay trò nào đã biết hồi tâm qui hướng về Chơn Lý Chánh Giáo Đại Đạo, thì Ta mừng rồi. Ta xiết chi vui mừng rồi, nhưng Ta lại còn ước ao sao cho trò đó phải bền cầm, bền giữ « Cái Đó » nơi Trung Tâm Điểm cho Thường, cho Thiệt, cho Tin, đừng để giây phút nào hờ hỏng nữa làm cho Nó thoát ra, thì chẳng còn biết có được lúc nào gặp Người chỉ cho, đặng biết đặng tìm Nó lại như ngày hôm nay đây vậy nữa. – Ta đã thấy cũng còn có trò đương hồi tâm nhiều, mà vẫn cũng có trò đương mơ tưởng, lưỡng lự chưa trọn Đức Tin, nên sự hồi tâm ấy cũng chưa được trọn Thường, Thiệt có Tin. Uổng thay sự hồi tâm ấy! Sao chẳng thấy cái bánh Luân Xa đương xoay chuyển nào có biết ngại chi ai mà tránh đâu! Hãy cố gắng sức, bền gan thì mục đích Chơn Tu có ngày ai cũng gặp được, gặp được đều như vậy. – Đạo chẳng bỏ ai, chẳng tránh ai; tránh hay là bỏ, là tại nơi Người không chịu nhìn nhận đó thôi. Khuyên Người hãy mau Tự Tỉnh. – Các trò thử coi những Người đi đường kia mà làm gương thì sẽ thấy rõ. Hễ ai một bước tấn tới một bước, đừng nhìn lại sau, nếu để nhìn lại sau hoài, thì kẻ đi sau phải tới trước! Có chi lạ hơn nữa! – Đại Đạo gần đến lúc hoằng khai, ngọn Đuốc lúc còn đương cao ngọn, trăng trong mấy lúc, gió thuận mấy cơn, gặp một lúc như vậy, sao chẳng chịu trương bườm, vững lái cho kịp nước kịp thời, mà còn trông chi còn ngóng nỗi chi?
Today, whoever among you has learned to turn the heart back and turn toward the True Principle and Orthodox Teaching of the Great Way — I am already glad. I am glad beyond words; yet I also long for that one to hold fast and keep “That” at the Central Point, Constant, Real, and Faithful, never again letting a moment’s carelessness let It slip away — for then who knows when he would again meet someone to point it out, so as to know and find It again as today. — I have seen that some of you are turning your hearts back a great deal, yet some are still dreaming, hesitating, not yet wholly in Faith; and so their turning back is not yet wholly Constant, Real, and Faithful. What a waste of that turning back! Why do you not see that the wheel of rebirth is turning and shrinks from no one, spares no one! Exert yourselves, be steadfast, and the goal of True Cultivation will one day be reached by all; all who reach it will be alike. — The Way abandons no one, avoids no one; avoiding or abandoning comes only from people not being willing to recognize it. I urge you to awaken yourselves quickly. — Look at travelers on the road as a lesson, and you will see clearly: whoever takes one step forward advances one step; do not look back. If you keep looking back, those behind will get ahead of you! What could be plainer! — The Great Way is nearly at the hour of its great opening; the Torch is still burning high; the moon clear for how long, the wind favorable for how many gusts? Meeting such a moment, why will you not hoist the sail and hold the helm steady to catch the tide and the hour — what are you still waiting for, what are you still watching for?
Ta rất thương hại cho có trò chẳng chịu xét kỹ lời Ta vừa nói lại vội phê rằng: Tấm Gương kia dầu cho có Trong, có sáng bực nào, nó cũng vẫn có hai mặt, phía trước Sáng được bao nhiêu, thì phía sau cũng Tối bấy nhiêu; lại sự Sáng kia là nhờ nơi sự Tối nọ nó làm cho đó, chớ nào phải là Cái Sáng riêng của nó đâu! Vậy thì đâu dám chắc rằng Cái Tối nọ là vật vô dụng sao? Nếu bây giờ đam nó ra mà cạo bỏ hết những vật đóng dính ở phía sau lưng nó đi, vì chê nó gọi nó là vật ô tạp ở ngoài dính vào thì phía trước đó còn có được sự Sáng hay không? – Ta rất mừng cho trò nào đó, đã hiểu được và biết được về sự Trí Tri, nên cũng biết được lý Cách Vật rồi đó. – Phàm việc chi nhờ có Tối mới biết Sáng, nhờ có Hư nên mới biết Nên, nhờ có Dại nên mới biết Khôn, nếu chẳng vậy, thì làm sao biết Sửa Mình đặng đến chỗ Chí Thiện. Song le phải Sửa Mình cho càng ngày càng đến chỗ Chí Thiện hoài mới được, chẳng nên sữa vừa mới được hay là vừa vừa gọi được rằng khéo, rồi vội mừng rằng đã được khéo rồi mà thôi sữa thêm nữa, nếu thôi nữa chừng như vậy, thì sự Khéo kia nào có gọi rằng Thiệt Khéo đâu? Vì là mới vừa biết Sữa, mới vừa thấy Khéo hơn cái Vụng mà thôi chớ nào có phải là Thiệt Khéo đâu mà phòng vội mừng, vội thôi? Hãy ráng sức thêm hoài, giồi mài thêm hoài cho càng ngày càng Mới, càng Sáng, càng trong mướt, càng bóng láng thêm hoài, lại còn cần phải dặn dò rằng: Cứ bền lòng như vậy, đừng biến nhác, cứ Sữa Mình hoài chẳng biết ngày nào là gọi rằng là ngày được nghỉ. Răn bảo lòng cho được như vậy, làm dược như vậy, mới vừa biết Đạo đó. Phàm vật chi cũng có hai mặt như trò đã biết được rồi đó, nên Đạo đã có dạy rằng: trong Khí Âm có Khí Dương, trong Khí Dương có Khí Âm, trong chỗ Tịnh có chỗ Động, trong chỗ Động có chỗ Tịnh, trong cảnh Sắc có cảnh Không, trong cảnh Không có cảnh Sắc là vậy đó. Nếu ai gọi Tối là Tối, Sáng là Sáng, Tịnh là Tịnh, Động là Động, Sắc là Sắc, Không là Không, biết có một mặt như vậy thì vật ấy là vật chết chớ nào phải là vật Sống! Người biết có một mặt như vậy, thì Người ấy Tâm Tánh cũng vẫn Chết rồi chớ nào có Sống đâu! Các trò đều là Người tìm Đạo mà học, thì các trò cũng biết rồi; Đạo là Sự Sống! Vậy hãy tìm Sự Sống mà học. Trò nào kia, biết tấm Gương nhờ có phía Tối ấy nên mới được Sáng, Ta mừng cho đó, mừng là mừng biết được hai mặt vậy.Song Ta còn lo cho trò mới vừa biết Sáng, Tối kia là cái Sáng, cái Tối của một Vật Chết mà thôi, vì tấm Gương là « Một Vật Chết » đó; nó tuy có Sáng thiệt, nhờ nó còn sáng nên mới còn dùng nó đó thôi, chớ cái Sáng của nó có biết chi đâu! Sáng là phải Biết, phải phân biệt, mới gọi là sự Sáng Sống. Cái Sáng của nó lá cái Sáng Chết, không thay đổi, không vận động. Cái Sáng không phải tự mình nó biết phân biện, vì cái Sáng ấy là Sáng bề ngoài, nhờ có Người lau chùi mới được Sáng theo ý Người làm ra đó thôi, mà lại cũng còn phải nhờ cái Tối Chết ở phía sau lưng kia nó mới được Sáng, thì sự Sáng ấy để mà coi cho thấy một vật chi của Người muốn soi bề ngoài, chớ tự mình nó, nó có biết soi chi đâu mà gọi nó là Vật Sáng? Vì trò dùng tấm Gương có sự Tối, sự sáng, dùng ba Vật đều là ba Vật Chết đam ra tỷ dụ, nên Tâm Tánh của trò chưa rõ, chưa phân được Sự Sống, Chết thể nào, như vậy thì làm sao trò có thể tìm Sự Sống của Đạo cho thấu!
I pity greatly one of you who would not examine carefully the words I have just spoken, but hastily criticized them: “That Mirror, however clear and bright, still has two faces: as bright as the front is, so dark is the back; and its brightness comes from that darkness — it is not a brightness of its own! How then can one be sure that the darkness is useless? If one now took it and scraped off everything clinging to its back, scorning it as outside dirt stuck on, would the front still have any brightness?” — I am very glad for that one, who has understood and knows something of Extending Knowledge, and so also knows the principle of Investigating Things. — In all things, only thanks to Darkness do we know Brightness; only thanks to Failure do we know Success; only thanks to Folly do we know Wisdom. Were it not so, how would one know to correct oneself so as to reach the Utmost Good? But one must correct oneself so as to come ever closer to the Utmost Good day by day; one must not correct oneself just enough, or just enough to be called skillful, and then hastily rejoice at being skillful and stop correcting further. If one stops halfway like that, how could that skill be called truly skillful? It is only having just learned to correct oneself, just having seen that one is more skillful than clumsy — not true skill at all, that one should hasten to rejoice and hasten to stop! Strive ever harder, polish ever more, so that day by day it is ever Newer, Brighter, clearer and more lustrous, more gleaming; and further, you must remind yourself: keep steadfast like this, do not grow idle, keep correcting yourself always, with no day known as a day of rest. Only one who admonishes his heart like this and acts like this has just begun to know the Way. Every thing has two faces, as you have come to know; that is why the Way teaches that within Yin Energy there is Yang Energy, within Yang Energy there is Yin; within Stillness there is Movement, within Movement there is Stillness; within the realm of Form there is the realm of Emptiness, within the realm of Emptiness there is the realm of Form. Whoever calls Darkness only Darkness, Brightness only Brightness, Stillness only Stillness, Movement only Movement, Form only Form, Emptiness only Emptiness — knowing only one face like that — then that thing is a dead thing, not a living thing! A person who knows only one face like that — that person’s Heart and Nature are likewise already Dead, not Living! You are all people seeking the Way to study it, so you already know: the Way is Life! Then seek Life to study. You there, who know that the Mirror is Bright thanks to its dark side — I am glad for you, glad that you know there are two faces. But I still worry that you have only just come to know that the Brightness and Darkness there are the Brightness and Darkness of a Dead Thing, for the Mirror is “a Dead Thing.” It does truly have Brightness, and it is only because it is still bright that it is still used; but its Brightness knows nothing! Brightness must Know, must discern, to be called a Living Brightness. Its Brightness is a dead Brightness, unchanging, unmoving. Its Brightness does not discern by itself, for it is an outward Brightness, Bright only because people wipe and polish it according to their wishes; and it must further rely on the dead Darkness at its back to be Bright. That Brightness serves for people to look at some thing they wish to reflect outwardly; by itself, does it know how to reflect anything at all, that one should call it a Bright Thing? Because you used the Mirror with its Darkness and Brightness — using three Things that are all three Dead Things — as your illustration, your Heart and Nature have not yet become clear, have not yet distinguished how Life and Death are. Then how could you seek out the Life of the Way thoroughly!
Các trò ngày nay bước đầu khảo cứu vào khoa Minh Tâm Kiến Tánh, nên Ta đam Tâm Tánh ra chỉ dẫn rõ cho biết thêm, phòng dùng đặng Sữa Cũ thay Mới, Sữa Tối ra Sáng mà bước vào con Đường Sáng cho biết mà đi cho vững cho mau tới, sao các trò chẳng biết dùng phương pháp Sống ấy mà tự cứu lấy mình, lại đành chấp nê theo cái vật Chất kia đặng dùng làm bằng cớ? Đã hiểu rằng mỗi vật chi đều có hai mặt, như tấm Gương nhờ có bề Tối ở sau nên mới có bề Sáng ở trước, vậy thử cạo cái vật Tối kia ra coi trong cái Tối của nó có chi gọi là có Sáng hay không? Hay là một thứ đồ vụn vằn của Người chế tạo, hòa hiệp với tấm Kiến mà thành ra sự Sáng, đặng làm ra thành tấm Gương? Nếu ba vật ấy ma phân rẽ ra, thì vật nào còn sự Sáng? Kìa hãy ngước lên coi lấy cái gương của Mặt Nhựt mà tìm lấy Sự Sáng Sống của nó. Thử nhìn coi, trong lòng Mặt Nhựt theo con mắt của các trò thấy, thì Mặt Nhựt vốn chứa một vừng Tối Đen mà Mặt Nhựt phải có vừng Tối Đen ờ trong ấy nên mới tỏ rạng cả thế giới. Cái vừng Tối Đen ở trong ấy, nó vẩn có chứa phận nó một Sự Sáng rực rỡ vô cùng. Cái vành Sáng Chói ở ngoài gọi là Mặt Nhựt đó vốn là cái khuông Thiêng Liêng để chứa cái vừng Tối Đen nọ mà thành ra Sự Sáng vô cùng cho thế giới hưởng nhờ. – Ta nói vậy, thử các trò đem Lý Trí hay Tư Tưởng ra mà xét coi cái vừng Tối Đen kia là chi vậy? Cũng như Con Người, nhờ Tâm có chứa Tánh Sáng sẳn, mà sự Sáng của Tánh không ai dòm ngó cho thấy, chẳng ai dùng con mắt phàm mà phân tích ra được, cũng như cái vừng Tối Đen ở trong Mặt Nhựt kia vậy, tự ý Người muốn gọi nó thể nào cũng xong, nhưng mà chánh Sự Sáng của Mặt Nhựt là do nơi đó mới có. – Trong Sáng có Tối, trong Tối có Sáng là vậy đó, hãy Trí Tri đi cho gặp, mới thiệt gặp. Các trò vẩn chấp nê theo vật đã chết rồi đặng dùng xét, gọi rằng là thí nghiệm cho ra bằng cớ; sao chẳng dùng vật có Tri Giác mà thí nghiệm cho ra ẩn chứng, vì vật có Tri Giác là vật có sẵn tánh chất tự nhiên của Trời ban, lại ý chi các trò vui chịu theo vật Vô Tri Giác, mà lại là vật đã bị Người nhồi nắn cho mất hết Tánh Chất Tự Nhiên rồi đặng làm một cái vật dụng cho Người tự ý đặt để vào chỗ nào cách nào, cũng không biết đau đớn hổ thẹn chi, mà các trò lại dùng nó làm tỷ dụ đặng so-sánh với Tâm Tánh? Với Chơn Lý Đại Đạo? Với Lý Tự Nhiên của Hóa Công? Bởi vậy nên Ta đã có nói rằng: « Các trò là các trò, chớ các trò không phải là Tâm Tánh, mà Tâm Tánh cũng không phải là các trò, cũng như Tâm Tánh là Tâm Tánh, chớ Tâm Tánh không phải là Đạo, mà Đạo không phải là Lý, cũng như Lý không phải là Đạo » vậy. Nhưng mà nếu trái lại, « các trò vốn là Trời đó, Trời vốn là các trò đó ». Được vậy là nhờ nơi Tâm Tánh biết phân biệt và quyết đoán đó. – Nay trò nào biết được Cách Vật Trí Tri rồi, nên mới hiểu được, phàm vật chi cũng có hai mặt, như Gương và Kiến của Ta tỷ dụ cho nghe rồi, Ta rất mừng cho; song Ta lại hỏi rằng: Vì ý chi các trò chẳng dùng chẳng dùng Lúa, là vật có Tri Giác như Ta đã giãng rồi, nó đã là một vật biết tuân theo Lý Tự Nhiên, biết tùy thời biến hóa, biết khép mở thân thể nó đúng theo thời khắc, biết dùng Hư Không của nó mà rước lấy Hư Không của Tiên Hậu Thiên Tam Bữu đặng làm Ngọc cho nó, biết Hòa Hiệp Tam Tài của nó với Tam Tài của Tam Tài đặng làm Một, biết làm hoàn toàn trách nhậm của nó, không một chỗ nào thiếu sót cho Vạn Vật Võ trụ, cớ chi vật như vậy, Ta chẳng thấy trò nào dĩ hơi tưởng tượng sự hai mặt của nó, sự hai mặt rất Sống, rất Thường, rát Thiệt, rất Tin của nó, vì một mặt nó đã lo cho hoàn toàn bổn phận và một mặt nữa là nó lo làm cho Trời nó đủ Thần, cho đủ thấy Thể Dụng của Hóa Công làm cách nào mà mỗi vật cũng đều được có đủ Tướng, Dụng và đủ giúp Thần cho cái Tướng Dụng của Trời nó vì Tướng Dụng của Trời nó đủ Tướng Dụng của Trời Đất, quí báu hơn trong các Tướng Dụng của Vạn Vật, thì cái Tướng, Dụng nầy phải xét thấu cả phương pháp trong mình mình sẵn có, cùng là cả các gương Võ Trụ Vạn Vật kia mà mình hưởng được, trông được, dùng được, đặng Hiệp Nhứt trở về với Trời Tự Nhiên vì Lúa nó sẵn biết rằng Trời nó vốn Một hột giống của Trời Tự Nhiên vậy. Sự hai mặt của hột Lúa đã như thế, mà mỗi một vật thì chứa biết là bao nhiêu Công Dụng, tiếc thay Trời nó chỉ biết lo có nó cho nhiều, biết lo cho nó Sống, biết quí trọng nó là Ngọc, mà chẳng hiểu chẳng xét, lo cho nó Sống, lo có nó cho nhiều đặng dùng vào làm việc chi? Lại cũng chẳng chụi xét hiểu coi vì sao mà nó Sống. Vì sao mà muốn có nó cho nhiều, vì sao mà quí trọng nó đặng mà dùng nó vào cách nào cho phải cách dùng! Bởi Người đã gọi rằng là Trời của Lúa, mà chẳng biết làm phận sự Trời của Lúa mà dùng Lúa cho đủ hai mặt, và xét cho đủ tài năng của nó chỉ biết có một mặt, thua thiếu hơn Gương và Kiến kia, nên Người coi nó cũng là một vật như các vật thường khác, dùng nó đặng làm theo ý muốn của mình muốn, tùy theo mình day trở, đặt để nó vào phương diện nào cũng xong, nên phải có nó cho nhiều mới đủ dùng mà thôi. Nếu có trò nào giỏi về khoa cách vật trí tri, thì trái lại, lại dùng khoa cách trí ấy đặng khảo cứu coi trong bì phu thân thể của nó cấu tạo ra đó đựng là mấy chất, đặng phá nó ra cho nát cái Tự Nhiên Tam Bửu của nó đã dày công luyện ra cho nên hòn Ngọc, đặng các trò làm cho sung túc cái vô lượng dục tình của các trò đó thôi. Hoặc có kẻ lại còn nhẫn tâm dùng đủ phương pháp chế biến làm khổ thân nó chẳng biết bao nhiêu, vì đam nó ra mà pha trộn vớí những chất khác, không phải Ngọc, đặng làm hư Chơn Tánh nó đi, mà lại mừng gọi rằng ấy là cái báu riêng của Người đã thí nghiệm nhiều phen rồi, nay mới thiệt nghiệm được đó, đủ các sức mạnh chế trị các vật khác được. Dầu những khoa cách trí ấy có tinh xảo đến đâu, cũng chỉ biết có một mặt mà thôi, là chỉ biết xay, biết đốt, biết nghiền, biết pha, biết trộn, cái mặt hiện tại, cái mặt Sáng trước mắt của các trò ngó thấy đó thôi, chớ còn một mặt nữa là cái mặt Tối của nó, cái mặt mà các trò phải dùng nó đặng làm cho các trò biết được tột đến cùng các Lý của khoa cách trí mà các trò phải cần dùng hằng giờ, hằng phút, chẳng đặng lìa xa? Cái mặt đó mới thật cái mặt làm nên cho hột Lúa sắm được đủ thứ của các trò muốn cho nó có đó nên mới làm cho nó có, sao các trò lại đành bỏ đi mà không để Tâm tìm đến? Sao các trò lại nở gọi rằng phàm vật chi cũng có hai mặt như Gương và Kiến? Các trò mới vừa nghe Ta nói Gương và Kiến tỹ dụ rằng nó có hai mặt, là một mặt Tối và một mặt Sáng, các trò liền chấp nê theo đó, chưa chụi để Tâm nghe cho ráo nghĩa, nên quả quyết rằng Gương và Kiến có hai mặt mà thôi; chớ các trò nào biết được Gương và Kiến là bao nhiêu mặt? Bởi cái tánh riêng của các trò đã vậy hoài, vì vậy nên mới có trò Mê mà chẳng Tỉnh, hễ có nghe ai vừa nói một câu chi hay là một tiếng chi lạ tai, ưng ý các trò, thì các trò cứ Chấp lấy tiếng nói đó, câu nói đó, gọi là Thần là Thánh, rồi đam ra mà so sánh cạ đọ với Vạn Vật Võ Trụ; chưa thấy chưa biết rõ coi vật nào, vật nào giá trị nó là bao nhiêu, mà hễ các trò một khi thấy thoán qua vật nào cũng không kể đếm tới, cứ cầm lấy cái của mình mới học, mới tìm, mới nghe, mới biết đây, một chút đó, rồi gọi là cao thượng hơn hết, mà chẳng dè rằng Vạn Vật Võ Trụ còn chẳng biết bao nhiêu là Lý Vô Cùng, vì vậy dầu cho các trò ở trong Giảng Đàn Chơn Lý mặt dầu, song Mê cũng hoàng Mộng đó thôi. Bởi các trò đã như vậy, nên các trò dùng sự Cách Trí của các trò tìm đặng đam ra mà khảo cứu hột Lúa là Vật Báu Trời, Hột Ngọc Trời, coi nó có được bao nhiêu chất, làm như vậy thì lại càng làm cho nó phải chết, chớ có chi đâu lạ. Hễ Ngọc của nó đã chết theo khoa Cách Trí của trò tìm ấy rồi, thì làm sao cho Nhơn Loại Sống được?
Today you are taking your first steps in studying the discipline of Illuminating the Heart and Seeing the Nature (Minh Tâm Kiến Tánh); that is why I set out the Heart and Nature and point them out clearly for you to know more, so that you may use this to correct the Old into the New, correct Darkness into Brightness, and step onto the Road of Brightness knowingly, traveling it firmly and quickly to the end. Why then do you not know how to use that Living method to save yourselves, but consent to cling stubbornly to that Material thing and use it as evidence? Having understood that every thing has two faces — as the Mirror has its Bright front only thanks to its Dark back — then try scraping off that Dark substance and see: is there anything in its Darkness that could be called Brightness? Or is it a bit of scrap that people manufactured, combined with the clear glass to produce Brightness and so make the Mirror? If those three things were separated, which of them would still have Brightness? Look up instead at the mirror of the Sun and seek its Living Brightness. Look: within the Sun, as your eyes see it, the Sun holds a dark core, and the Sun must have that dark core within it in order to shine upon the whole world. That dark core within holds, as its own share, a Brightness infinitely brilliant. The dazzling bright ring outside, called the Sun, is the Sacred frame that holds that dark core and so becomes the infinite Brightness the world enjoys. — I say this; now bring out your Reasoning or Thought and examine: what is that dark core? It is like the True Person: thanks to the Heart holding the Bright Nature ready within, though no one can peer in and see the Brightness of the Nature, and no one can analyze it with ordinary eyes — just like the dark core within the Sun — call it whatever you like, the very Brightness of the Sun comes from there. — Within Brightness there is Darkness, within Darkness there is Brightness: that is how it is. Extend your Knowing until you meet it, and only then will you truly meet it. You keep clinging to things already dead to use in your examining, calling it experimenting to produce evidence. Why not use things that have Awareness to experiment and bring out hidden proofs? For things with Awareness are things that possess the natural Nature-substance Heaven bestowed. Why are you content to follow insentient things — and moreover things people have kneaded and molded until they have lost all their Natural Nature-substance, made into tools that people place wherever and however they please, without their feeling pain or shame — and use them as illustrations to compare with the Heart and Nature? With the True Principle of the Great Way? With the Natural Principle of the Creator? That is why I said: “You are you, and you are not the Heart and Nature, and the Heart and Nature are not you; just as the Heart and Nature are the Heart and Nature and not the Way, and the Way is not Principle, just as Principle is not the Way.” And yet, on the contrary, “you are in origin Heaven, and Heaven is in origin you.” That is so thanks to the Heart and Nature knowing how to discern and decide. — Now, whoever of you has come to know Investigating Things and Extending Knowledge, and so has understood that every thing has two faces, as in the Mirror and clear glass I illustrated — I am very glad. But I ask further: why will you not use Rice, a thing with Awareness, as I have already taught? It is a thing that knows how to follow Natural Principle, knows how to transform with the seasons, knows how to open and close its body exactly at the right moments, knows how to use its own Empty Void to receive the Empty Void of the Three Treasures of Prior and Later Heaven to make its Jewel, knows how to harmonize its own Three Powers with the Three Powers of the Three Powers so as to make One, knows how to fulfill its responsibility completely, lacking nothing toward the Universe and all Things. Why is it that with such a thing, I see not one of you so much as faintly imagining its two faces — its two faces most Living, Constant, Real, and Faithful? For on one face it sees to fulfilling its duty completely; and on the other face it sees to giving its Heaven — Man — full Spirit, so that its Heaven may fully see how the Creator’s Body and Function work, so that every thing has full Aspect and Function, and so that it fully aids the Spirit of the Aspect and Function of its Heaven. For the Aspect and Function of its Heaven contain the full Aspect and Function of Heaven and Earth, more precious than the Aspect and Function of all other Things; and so this Aspect and Function must examine thoroughly every method already present within itself, and all the examples of the Universe and all Things that it enjoys, beholds, and uses, so as to unite in One and return to Natural Heaven — for the Rice already knows that its Heaven is in origin one Seed of Natural Heaven. Such are the two faces of the grain of Rice; and each single thing holds who knows how many Functions. What a pity that its Heaven only knows to see to having plenty of it, knows to keep it alive, knows to prize it as a Jewel — yet does not understand or examine to what end it keeps it alive and wants plenty of it! Nor is he willing to examine why it lives, why he wants plenty of it, why he prizes it, and how it should rightly be used! Because Man is called the Heaven of Rice, yet does not know how to fulfill the duty of the Heaven of Rice — using Rice in both its faces and examining its full capacities — but knows only one face, falling short even of that Mirror and clear glass, he regards it as just another ordinary thing, to use as he pleases, to turn and place in whatever aspect suits him, so that he must only have plenty of it to have enough to use. If any of you is skilled in the science of investigating things and extending knowledge, he turns that science the other way, using it to investigate how many substances are contained in the skin and body it has formed, so as to break it apart and destroy the Natural Three Treasures it labored so hard to refine into its Jewel — all only to feed the boundless appetites of your passions. Or some even harden their hearts to use every method of processing to torment its body who knows how much, mixing it with other substances that are not Jewel, so as to ruin its True Nature, and then rejoice, calling it their own private treasure, tested many times and now at last proven, with every power to subdue other things. However refined those sciences of investigation may be, they know only one face: they know only how to mill, to burn, to grind, to blend, to mix — the present face, the Bright face before your eyes that you can see. But there is another face, its Dark face: the face you must use to come to know, to the very end, all the Principles of the science of investigation, which you need every hour and every minute and may never part from. That face is truly the face that enables the grain of Rice to furnish everything you wish it to have — why do you consent to abandon it and not set your Heart to seek it? How can you say that every thing has two faces, like the Mirror and the glass? You had only just heard Me illustrate that the Mirror and glass have two faces, a Dark face and a Bright face, and you at once clung to that, not yet willing to set your Heart to hear the meaning through, and so concluded that the Mirror and glass have only two faces — but which of you knows how many faces the Mirror and glass have? Because your private temperament is always like this, some of you remain Deluded and never Awaken: whenever you hear someone say some phrase or word strange to the ear that pleases you, you Cling to that word, that phrase, calling it divine and holy, then use it to compare and match against the Universe and all Things. Without yet seeing or knowing clearly what each thing is worth, once you glance at any thing you take no account of it, but keep hold of what you have just learned, just found, just heard, just come to know — a little bit — and call it the loftiest of all, never realizing that the Universe and all Things hold who knows how many Infinite Principles. And so, even though you sit in the Hall of True Principle, you are still deluded and dreaming. Because you are like this, you use the investigative science you have found to investigate the grain of Rice — Heaven’s Treasure, Heaven’s Jewel — to see how many substances it has; and doing so only makes it die all the more — nothing strange about it. Once its Jewel has died under the investigative science you found, how can humankind live?
Ta đây hỏi thử các trò: Vì ý chi những loại đá, loại cát, những loại chai thuộc về loại sừng, cùng những loại thuộc về nước đọng thành cục cứng, và những loại của thú vật bị khí huyết ngưng trệ thành ra một thứ cứng như sạn như đá, những vật nầy, nếu trò gặp được một chút nào thì các trò gọi là Ngọc, là báu là quí, cho nó được nên một hình chi của sức Nhơn-tạo thêm vào sức vật tạo ấy, đặng các trò đặt đủ thứ tên cho nó, tăng thêm phẩm giá của nó cho các trò dùng mà khoe khoan với đời, rằng mình được một Giống Ngọc quí, cất đựng trong hộp rất kỹ; nếu phải là bạn tri kỷ mới đam ra cho coi, hoặc là gặp nơi đô hội thắng cảnh mới đeo vào mình hay là để vào rương đặng đam đi so sánh vơí những ai là Người có giống đá gọi Ngọc đó, đặng làm cho các trò nở mày nở mặt, mát dạ vui lòng? Còn cái giống Ngọc của Trời kia, sao các trò lại đành phụ phàn chà xát nó, biết có một mặt của nó mà thôi? Còn cái mặt mà nó làm cho nó Sống, cho nòi giống nó Sống, giúp Trời của nó được Sống về Hiệp Nhứt với Trời Tự Nhiên, sao các trò lại đành bỏ đi mà không quí lấy nó? Hay là các trò gọi rằng không biết cái mặt quí ấy chăng? – Chắc là các trò gọi gọi rằng là không biết rồi đó. – Bởi các trò không biết, nên mới Tối, nếu Tối mà sao biết gọi rằng vật nào cũng có hai mặt? Các trò rất vọng tưởng rằng nghe một biết hai biết ba như vậy là thông hiếu được sự lý, nên mới biết được Gương Kiến kia nhờ có mặt Tối phiá trong nên nó mới Sáng, sao lại không biết dùng sự lý ấy đặng biết hột Lúa nầy, cái mặt Tối của nó ở đâu, nên nó mới làm nó Sống? Cho Vạn Vật Sóng, cho Trời của nó Sống, và làm cho Trời của Trời nó được Sống? Nếu vậy thì sao gọi rằng là trí tri cách vật? Ta đã nói cho các trò nghe hiểu rồi rằng: « Người Sống bởi Lúa cũng như Trời Sống bởi Người, Người không Lúa thì Người đâu còn, cũng như Trời không Người thì Trời nào có! Nhưng mà Lúa ấy phải nhờ Người mới có, cũng như Người nầy phải có Trời mà ra vậy ». – Các trò đọc kỹ câu Ta nói cho các trò nghe ấy đặng tự mình, mình suy gẩm lấy. Coi thử hột Lúa nó có mấy Mặt? Mấy trách nhậm? – Sao các trò nở bỏ qua một câu then khóa của Ta chỉ bảo về sự Cách Vật Trí Tri Tinh Thần của Đạo như vậy, mà các trò vẫn dùng Lý Trí tưởng tượng ra những điều làm cho mất sự Sống của mình đi, mà lại gọi làm như vậy là nhờ thông khoa cách trí nên tìm mới được những khoa học hại mình ấy, vì khoa ấy đã làm làm sao cho nát hết những chất tự nhiên của Vạn Vật, đặng tìm cho ra một cái chất của mình muốn kiếm cho mình dùng! Nếu chất nào tự mình pha trộn mà thành ra cho mình dùng được, thì chất ấy là chất Sống của Người, mà là chất Chết của Tự Nhiên. Các trò chịu dùng chất đã Chết như vậy mà gọi rằng Sống, thì sao được gọi rằng là đứng vào khoa Minh Tâm Kiến Tánh? Khoa học kia đã làm cho chất của Võ Trụ Vạn Vật phải Chết vì cái Lý Trí, Tư Tưởng, vọng động, vọng tưởng, vọng cầu của mình, mà khoa học ấy cũng không biết rằng tới đâu là bờ bến, minh mông như thuyền trôi giữa biển trong lúc đêm mưa giông, tối tăm mịt mù, dầu ỷ y rằng có địa bàn, song làm sao cho tránh được khỏi va vào những đá hàn, cồn nỗi, hòn ngầm lố rạng, cùng nhiều sự hiểm nghèo khác nó làm cho đấm thuyền bởi tên lái thuyền kiêu ngạo kia! Những khoa học như vậy có ích chi cho Tâm Tánh của Người đứng vào Ngôi Tam Tài hay chưa? Hay không?
Let Me ask you: why is it that kinds of stone, kinds of sand, horny calluses, kinds of standing water hardened into lumps, and kinds of animal matter where the blood and energy have congealed into something hard as grit or stone — if you come upon even a little of these things, you call them Jewels, treasures, precious; you have human craft add to that natural craft to give them some shape; you give them every sort of name, raising their worth for you to use in boasting to the world that you have obtained a precious kind of Jewel, keeping it most carefully in a box; only for a kindred spirit will you bring it out to show; or only at a gathering in some grand place will you wear it on your person or put it in a chest to carry about and compare with those who have such stones called jewels, so as to make your faces glow and your hearts swell with pleasure? And that Jewel of Heaven — why do you consent to betray it, trample and grind it, knowing only one of its faces? And the face by which it makes itself Live, makes its lineage Live, and helps its Heaven Live and return to Union in One with Natural Heaven — why do you consent to throw that away and not prize it? Or do you say you do not know that precious face? — Surely you will say you do not know it. — Because you do not know it, you are in the Dark; and if you are in the Dark, how can you claim to know that every thing has two faces? You imagine recklessly that hearing one thing and knowing two or three like this means comprehending the principle of affairs, and so you knew that the Mirror and glass are Bright thanks to the Dark face behind — why then do you not know how to use that same principle to know where the Dark face of this grain of Rice is, by which it makes itself Live? By which it makes all Things Live, makes its Heaven Live, and makes the Heaven of its Heaven Live? If so, how can it be called Extending Knowledge and Investigating Things? I have already told you so that you understand: “Man Lives by Rice, just as Heaven Lives by Man; without Rice, where would Man be, just as without Man, where would Heaven be! And yet that Rice must exist through Man, just as this Man must come forth from Heaven.” — Read carefully the saying I gave you, so as to ponder it for yourselves. See how many Faces the grain of Rice has. How many responsibilities? — How can you bear to pass over such a key saying that I gave you on the Spiritual Investigation of Things and Extension of Knowledge of the Way, and keep using Reasoning to imagine things that destroy your own Life — and call doing so the fruit of mastering the science of investigation, by which you found those sciences that harm you? For that science works by destroying all the natural substances of all Things in order to find the one substance it wants for its own use! Whatever substance one mixes oneself and produces for one’s own use is a living substance for Man, but a dead substance for Nature. If you are willing to use such dead substances and call them Living, how can you be said to stand in the discipline of Illuminating the Heart and Seeing the Nature? That science has made the substances of the Universe and all Things Die because of its own Reasoning and Thought, its reckless agitation, reckless imagining, and reckless craving — and that science does not even know where its shore lies: vast and boundless, like a ship adrift in mid-ocean on a stormy night, pitch-dark; even trusting that it has a compass, how can it avoid striking reefs, sandbanks, and rocks hidden and half-showing, and all the other perils that wreck the ship because of that arrogant helmsman! Have such sciences yet brought any benefit to the Heart and Nature of a person standing in the Throne of the Three Powers? Or not?
Các trò từng gọi Lúa ấy là Ngọc của Trời, chỉ nghĩ rằng các trò biết quí báu nó đó vậy. Ta nay hỏi: Các trò quí báu nó vào phương diện nào? Nghĩa là quí báu nó vào Mặt nào của nó? Ta hỏi vậy, Ta đều thấy các trò đồng có ý muốn đáp rằng: Các trò quí nó là vì nó làm cho các trò được no lòng, khỏi đói, lại thêm hễ có Lúa nhiều thì dể bề tính và làm những việc ước ao, vì vậy nên quí nó đó. – Nếu các trò muốn đáp như vậy, thì sao đáng mặt gọi là Người ở nơi Đạo Tràng của Đức Thượng Đế sai Ta đến dây làm Giám Đốc? Tuy vậy, Ta cũng khen các trò đó, vì đã có ở nơi Đạo Tràng nầy, nên muốn đáp như vậy mà chưa đành mở miệng ra đáp lại, ấy là cái cẩn thận trong lời nói ấy, hãy ráng mà cẩn thận trong những chỗ đáng cẩn thận mới gọi thiệt là biết cẩn thận, biết nghe lời. Ta khuyên hãy cẩn thận, hãy kiên dè trong mỗi tiếng nói, rồi sẽ lần lần do theo tiếng nói của mình đặng tập làm, khi ấy sẽ hiểu Đạo. Chớ nếu cứ gọi không nói ra lời mà gọi rằng cẩn thận lời nói, ấy là không biết, không thiệt biết sự cẩn thận lời nói là chi. Ta thường thấy trong mỗi khi trò nào gọi mình là cẩn thận lời nói ấy, thì chỉ nghĩa là không nói ra bằng lời nói cho anh em đồng nghe ý mình muốn nói chi đó thôi, còn trong lòng thì nói không biết bao nhiêu là lời vấn đáp với thất tình lục dục của mình! Nếu vậy thì sao gọi rằng không nói? Nếu vậy sao gọi là cẩn thận lời nói! Các trò hãy nghe Ta nói: Lời nói của Người muốn nói, nó chẳng phải ra từ nơi chót lưỡi cửa miệng đầu môi mới gọi rằng là lời nói đâu? Những lời nói như vậy khi thật, khi giả không chừng! Phần Ta đây, Ta cứ nghe nhũng lời nói kín đáo trong khối thất tình ảo tưởng của mỗi trò, rồi đam ra nghiệm lại nơi lời nói bằng con mắt, lới nói bằng khí sắc, và lời nói bằng sự cử động của mỗi trò, Ta thiệt nghiệm những lời nói ấy, vì đều là thiệt lời nói của mỗi trò vậy, nên Ta dùng nó mà chỉ bảo điểm khuyết cho từ trò vậy. – Ta khuyên các trò hãy chừa những lời nói mà các trò gọi rằng là vô hình, vô thinh ấy trong những lúc còn ở Đạo Tràng này, khuyên hãy đam hết sự mình nghiên cứu, nhũng lý mình gọi rằng là cách trí đó, đam nó ra mà tỏ cho anh em đồng khoa với nhau, đồng lòng biện phân, phân biện, biện biệt, biệt phân với nhau, cho cùng Lý của cái Lý Tinh Thần, tìm kiếm sự Không bởi Có, sự Có bởi Không, Lý Thiệt Nghiệm nhờ nơi Ứng Nghiệm, Lý Ứng Nghiệm bởi nơi Thiệt Nghiệm, Người bởi đâu mà Có đây, Có đây bao giờ mới gọi rằng Thiệt Có, rồi bao giờ mới Hoàn Không; có Hoàn Không là Hoàn nơi chỗ nào? – Vạn Vật Võ Trụ cũng đều phải xét một cách như vậy, rồi mới thấy được sự Sanh Khắc Khắc Sanh vô cùng vô tận. Lại còn phải hiểu rằng sự Ứng đây là bởi lòng Chí Thành cảm đến Lý Tự Nhiên, chớ không phải dùng Lý Trí Tư Tưởng riêng của mình mà xét rồi cũng cái Lý Trí Tư Tưởng ấy nó Ứng lại cho mà gọi là Cảm Ứng. Ấy là do một tia của Luân Hồi đó vậy thôi. – Ta xét thấy có giống khoa học dùng mảnh lực của Tư
You have often called that Rice the Jewel of Heaven, meaning only that you know to prize it. Now I ask: in what respect do you prize it? That is, which Face of it do you prize? As I ask this, I see that you all have it in mind to answer: “We prize it because it fills our bellies so we are not hungry; and besides, with plenty of Rice it is easy to plan and do the things we long for — that is why we prize it.” — If you mean to answer so, how could you deserve to be called people of the Field of the Way (Đạo Tràng) to which the Supreme Being has sent Me as Director? Even so, I commend you: being in this Field of the Way, you wished to answer so, yet could not yet bring yourselves to open your mouths — that is a carefulness in speech. Strive to be careful in what deserves care; only that is truly knowing how to be careful and how to heed. I urge you: be careful, be cautious in every word, and then gradually follow your own words to practice doing them — then you will understand the Way. But if you call not uttering words “carefulness in speech,” that is not knowing, not truly knowing what carefulness in speech is. I often see that whenever one of you calls himself careful in speech, it means only that he does not voice in words, for his brothers to hear, what he means to say; while within his heart he speaks who knows how many words, questioning and answering with his own Seven Passions and Six Desires! Then how can that be called not speaking? How can that be called carefulness in speech! Listen to Me: the words a person means to say are not words only when they come out from the tip of the tongue, the door of the mouth, the edge of the lips! Such words are sometimes true, sometimes false — who knows! For My part, I listen to the hidden words within each of your masses of passions and illusions, and then verify them against the words spoken by your eyes, the words spoken by your complexion, and the words spoken by each of your movements. I prove those words true, for they are all truly each one’s own words; and so I use them to instruct each of you and point out your faults. — I urge you: give up those words you call formless and soundless while you are here in this Field of the Way. I urge you: bring out everything you have studied, the principles you call your investigations, and show them to your brothers in the same course, discussing them together with one heart — discerning, distinguishing, differentiating, and separating with one another — to the end of the Principle of Spiritual Principle: seeking Non-Being through Being and Being through Non-Being; the Principle of Real Proof through Responsive Proof, and the Principle of Responsive Proof through Real Proof; from where Man came to Be here; when Being here may be called Truly Being; and when one Returns to the Void — and if one Returns to the Void, Returns to what place? — The Universe and all Things must likewise be examined in this way; only then will one see the endless, inexhaustible mutual Generation and Overcoming (Sanh Khắc Khắc Sanh). And you must further understand that Response here comes from a Heart of Utmost Sincerity resonating with Natural Principle, not from using one’s own private Reasoning and Thought to examine, and then having that same Reasoning and Thought respond back, and calling it Resonance-and-Response (Cảm Ứng). That is merely one spoke of the wheel of transmigration. — I observe that there is a kind of science that uses the force of
Tưởng mà khua động được, sai khiến được đến vật Vô Tri Giác, cùng là những vật Có Tri Giác rất phàm, mà tự mình gọi rằng dùng Tư Tưởng Cá Nhơn cũng đủ đoạt được mầu nhiệm Tạo Hóa theo ý muốn của mình. Thương thay khoa học ấy, ấy là tự mình làm cho mình phải luân hồi, và sai khiến Người cũng phải luân hồi theo mình đó mà thôi.
Thought to stir and command insentient things and the most common of sentient things, and claims for itself that individual Thought is enough to seize the mysteries of Creation at will. Pity that science: it only makes itself undergo transmigration, and makes others undergo transmigration along with it.
Các trò học Đạo, tìm Đạo, nếu gọi rằng là quyết lòng học Đạo, tìm Đạo, thì hãy biết các trò vốn là Một trò, nào phải là Các trò đâu! Hễ là Một với nhau, thì phải Thường nhận mình là Một với nhau, phải Thiệt biết rằng mình là Một với nhau và cũng phải Tin chắc rằng mình là Một với nhau. Được Thường, được Thiệt, được Tin như vậy rồi, thì nào còn có cái thói không nói ra bằng lời nói cho anh em mình nghe hiểu ý mình muốn nói, muốn giải một việc chi đó cho rành, đặng thương lượng với nhau cho ra Lý Chơn Chánh, và vừa giúp nhau trong những sự học hỏi, mà lại tự gọi mình là Người cẩn thận lời nói? Với các anh em của mình mà mình đã chụi nhìn nhận rằng là Một với nhau, thì mình lại cẩn thận từ lời nói, còn với chẳng biết bao nhiêu bè bạn trong đám thất tình lục dục, thì mình lại vẫn vui lòng vấn đáp với nó cho thỏa thích sự ước ao của nó muốn sai khiến mình! Là ý chi vậy? Nếu vậy sao gọi rằng mình Thường, Thiệt, Tin rằng mình là Người được Thường, được Thiệt, được Tin, rằng mình là mình, rằng mình là Một với mình! Với mình của mình đây, mà mình còn chưa được Một với mình thay, vậy thì bao giờ mình được Một với ai: Đã chưa được Một với ai; nên dầu cho Ta đây là Giám Đốc Đạo Tràng nầy, mà các trò cũng cẩn thận từ lời nói với Ta trong lúc Ta giảng sự quí báu thiệt Hột Ngọc của Trời! Ta nào có bảo sự cẩn thận, dè dặt lời nói như vậy đâu! Sao không đam hết ý tưởng của mình mà phô bày ra cho các bạn trò hiểu, rồi Ta mới có thể Một lời giải mà các bạn trò đều hiểu đồng Một với nhau?
You who study the Way and seek the Way — if you say you are resolved to study the Way and seek the Way, then know that you all are in origin One, not many! Being One with one another, you must Constantly recognize yourselves as One with one another, must Truly know that you are One with one another, and must Faithfully be sure that you are One with one another. Having attained such Constancy, Reality, and Faith, how could there still be the habit of not voicing in words, for your brothers to hear and understand, what you mean to say or explain about some matter, so as to deliberate together to reach the True and Upright Principle and help one another in study and inquiry — and then call yourself a person careful in speech? With your own brothers, whom you have acknowledged as One with you, you are careful with every word; while with who knows how many companions among the crowd of Seven Passions and Six Desires, you gladly question and answer to satisfy their longing to command you! What is the meaning of this? If so, how can you say that you are Constantly, Truly, Faithfully a person of Constancy, Reality, and Faith — that you are yourself, that you are One with yourself! If you are not yet even One with your own self, when will you ever be One with anyone? Not yet One with anyone — and so, even though I am the Director of this Field of the Way, you are careful with every word toward Me, even while I am teaching the true preciousness of Heaven’s Jewel! I never told you to be careful and guarded in speech like that! Why not set forth all your thoughts for your fellow students to understand, so that I may then give One explanation that all of you understand alike, as One?
Các trò có ý muốn đáp rằng: Các trò quí Ngọc Trời ấy, là ví nó làm cho các trò được no lòng, khỏi đói, dễ bề cho các trò phỉ chí ước ao. – Ta cũng nương theo cái ý đó đặng Ta hỏi thêm rằng: No cái lòng nào? Đói về việc chi? Chí ước ao nhũng gì mà muốn cho được thích? Ta đây khuyên các trò hãy đổi con đường đi của các trò muốn ấy đặng nghe theo Ta giảng cho. – Hễ các trò được nhiều Ngọc Trời bao nhiêu, thì cái lòng của các trò nó lại càng đói bấy nhiêu, chớ nào được no bao giờ! Nó đói cho đến con mắt, lổ tai, cả châu thân của các trò cũng đều đói hết thảy. Các giác quan, các bộ phận đâu đâu của các trò cũng đều đói, thì nào gọi thích chí cho được? Vậy mà nói Lúa là Ngọc Trời nổi chi? Có nó nhiều, thì nó lại càng làm cho mình đói, mình khát, mà sao gọi là Ngọc?
You have it in mind to answer: “We prize that Jewel of Heaven because it fills our bellies so we are not hungry, and makes it easy for us to satisfy our longings.” — I will follow that very thought to ask you further: Fill which belly? Hungry for what? What longings do you wish to satisfy? I urge you here to change the road you wish to travel and follow My teaching instead. — The more of Heaven’s Jewel you have, the hungrier your belly grows — when is it ever full! It hungers down to your eyes, your ears, your whole body — all hungry. Your senses and all your organs everywhere are hungry; how can that be called satisfaction? Then how can Rice be called Heaven’s Jewel at all? Having plenty of it only makes one hungrier and thirstier — so how can it be called a Jewel?
Các trò thử xét coi, phàm vật chi ở thế gian nầy gọi là vật quí đó, chỉ nghĩa rằng vật ấy ít có lắm. Vật ít có, nên vật ấy Người cho là quí, rồi Người dặt tên là Ngọc. Hễ đã được gọi là Ngọc rồi, thì lại càng quí hơn các vật quí khác ở thế gian nầy hết thảy. Rất đổi là một cục đá lâu đời cao năm già tuổi, nên mới có một chút tia sáng ánh chói ra ngoài, mà các trò cũng còn quí báu nó thay, cũng gọi là Ngọc vậy, cũng còn vô số những Ngọc như vậy nữa các trò cũng đều quí, cũng đều gọi là Ngọc hết thảy. Xét vậy thì càng hiểu rõ Ngọc nghĩa là một Vật rất ít có, nên Người mới quí. Cái vật ít có trên mặt Đất nên quí nó gọi nó là Ngọc, còn Lúa kia cũng ở trên mặt Đất vậy, mà ở khắp cùng cả thế giái chỗ nào cũng có, sao kêu là Ngọc. Lúa nó có ích chỗ nào mà gọi nó là quí, lại tặng cho nó là Ngọc Trời! Đáng lẽ Ngọc Trời thì là rất ít, mà lại càng phải rất ít, mà lại càng không có kìa, nên nếu ai được có nó phân, ly, hào hột nào, thì mới gọi là quí cho, chớ có lẽ nào tràng đồng khắp cả thế gian, ai ai cũng dày đạp nó, hủy hoại nó như cỏ, như bụi, mà lại xưng tụng nó là Ngọc Trời?
Consider: whatever in this world is called precious means only that it is very rare. Because a thing is rare, people deem it precious, and then they name it a Jewel. Once it is called a Jewel, it is more precious still than every other precious thing in this world. Even a stone that is merely very old, aged over long years, and so gives off a little glint of light — you still prize it and call it a Jewel; and countless other such jewels, too, you prize and call Jewels. Examining this, one understands still more clearly that a Jewel means a very rare Thing, and that is why people prize it. A thing rare on the face of the Earth is prized and called a Jewel; yet Rice, which is also on the face of the Earth, is found everywhere throughout the world — so why call it a Jewel? In what way is Rice useful, that it should be called precious, and even honored with the name Heaven’s Jewel! Surely Heaven’s Jewel ought to be very rare — rarer still, indeed almost nonexistent — so that whoever has the least fraction, the smallest grain of it, may then call it precious. How could something that covers the fields everywhere in the world, that everyone tramples and destroys like grass and dust, be extolled as Heaven’s Jewel?
(Còn tiếp)
(To be continued)
Cước chú: Chúng tôi chỉ thâu thập được đọan đầu của Thánh Giáo này mà thôi.
Footnote: We have been able to gather only the opening portion of this Holy Teaching.
End of “Thánh Giáo của Đức Phù Hựu Lữ Thánh Đế Quân. We have not been able to find the rest of this Teaching.
Note:
Translation made with assistance from Claude A