English Translation on Teaching of

Đức Hổn Ngươn Thiên Sư

Bài Đạo của Đức Hổn Ngươn Thiên Sư

Teachings on the Đạo by the Venerable

Hỗn Ngươn Thiên Sư

Đức Tứ Bửu – 1935

The Four Treasures (Đức Tứ Bửu) — 1935

Đạo Là Gì?

What Is Đạo? (the Way)

Bài dạy Đạo của Đức Hổn Ngươn Thiên Sư Chưởng Quản

A teaching on the Way by the Venerable Hỗn Ngươn Thiên Sư, Director (Chưởng Quản)

Lấy lý mà luận, thì trước lúc Trời Đất chưa có, ắc phải có một cái Ngươn Khí Tự Nhiên hư hư vô vô không thể nào mà thấy biết được. Cái Ngươn Khí này có thể thay đổi biến hóa được nên gọi là Khí Thái Diệc (nghĩa là cái hơi rất thay đổi), chừng cái Khí Thái Diệc ấy có hơi dường như hơi mới ngúng, rồi có thể phất phơ phơ phất được, thì gọi là Khí Thái Sơ (nghĩa là cái hơi rất mới sơ khởi ban đầu). Đến lúc Khí Thái Sơ nầy có hình bóng được (nghĩa là nên được một cái hình bóng rồi), thì kêu là Khí Thái Thỉ (nghĩa là cái hơi bóng rất mới có đầu tiên trước hết). Kịp lúc Khí Thái Thỉ nầy có thể có được khí chất và tánh chất rồi (nghĩa là có mùi và có bản tính rồi), thì gọi là Khí Thái Tố (nghĩa là caí hơi rất trắng). Cái Ngươn Khí Tự Nhiên hư hư vô vô ấy đã trải qua bốn lớp thay đổi là Thái Diệc, Thái Sơ, Thái Thỉ, Thái Tố, thì nó đã đủ có Khí, Hình, Chất rồi, song có mà mới tượng ra mà thôi, đến chừng hiệp được cả ba món mới tượng ra đó làm Một thì kêu là Khí Thái Nhứt (nghĩa là cái Một rất lớn).

Reasoning from Principle: before Heaven and Earth existed, there must have been a Natural Primordial Energy (Ngươn Khí Tự Nhiên), empty and void, impossible to see or know. Because this Primordial Energy could change and transform, it is called the Energy of Thái Diệc (the Great Change — meaning “the energy of utmost change”). When that Energy of Thái Diệc came to have a breath, as if just beginning to stir, and could flutter and waft, it was called the Energy of Thái Sơ (the Great Inception — meaning “the energy at its very first beginning”). When this Energy of Thái Sơ could take on a shadowy form (that is, had become a shadow-form), it was called the Energy of Thái Thỉ (the Great Commencement — meaning “the shadow-breath at its very first appearance, before all else”). When this Energy of Thái Thỉ could come to possess energy-substance and nature-substance (that is, had a scent and a nature of its own), it was called the Energy of Thái Tố (the Great Plainness — meaning “the utterly white energy”). That empty, void Natural Primordial Energy, having passed through four layers of change — Thái Diệc, Thái Sơ, Thái Thỉ, Thái Tố — now possessed Energy, Form, and Substance (Khí, Hình, Chất), though only just in embryo. When all three, newly formed, could be united into One, it was called the Energy of Thái Nhứt (the Great One — meaning “the utterly great One”).

Từ trong lúc Thái Diệc cho đến Thái Nhứt đây, trải qua biết bao nhiêu sức đổi thay mới nên, thì trong ấy phải có một vị Chủ Nhơn Ông đứng ra làm Chủ Tể mới xong, mà vị Chủ Tể nầy phải cho rành Đạo Lý thì mới lập thành, bằng không thì làm sao cho nên. Người ấy tức là Đức Chí  Tôn đó, nên trong Đạo cũng kêu là Thái Nhứt Thiên Tôn.

From Thái Diệc to Thái Nhứt, passing through who knows how many forces of change before it could come to be, there must have been a Master of the House (Chủ Nhơn Ông) to stand forth as Sovereign; and this Sovereign must have mastered the Principle of the Way for it to be established — otherwise how could it have come about? That One is Đức Chí Tôn, and so in the Way He is also called Thái Nhứt Thiên Tôn (the Heavenly Venerable of the Great One).

Trong thời kỳ này cũng gọi là: “Vô Cực Tiên Thiên Ngươn Khí” đó (nghĩa lcái Khí đầu bài lúc trước khi dùng làm trời mà không có chỗ cùng tột). Cái lớp Thái Tố ấy, cũng có thể cho chúng ta định rằng Bạch Ngọc Kinh là đó, vì nội các bộ phận trên Trời thì chỗ nầy là rất trong sạch, rất trắng trẻo, rất nhẹ nhàn và là chỗ sản xuất các tinh ba sanh ra vạn loại cho Võ Trụ ngày sau.

This period is also called “the Primordial Energy of Prior Heaven in the Limitless” (Vô Cực Tiên Thiên Ngươn Khí) — meaning the original Energy before it was used to make Heaven, having no bound or end. The layer of Thái Tố may also be taken by us to be the White Jade Capital (Bạch Ngọc Kinh), for of all the regions of Heaven this is the purest, the whitest, the lightest, and the place that produces the essences that will give birth to the ten thousand kinds of the Universe in days to come.

Cái Khí Thái Nhứt đến lúc tượng nên hình thể rồi, thì gọi là Khí Thái Cực. Trong Khí Thái Cực thì đã có đủ Trời Đất muôn vật rồi, song hãy còn lộn lạo chưa có thể chia ra cho phân biệt được, nên cũng kêu là Khí Hồng Mông, hoặc là Khí Hỗn Độn, hoặc kêu là Khí Hồn Lôn, đều nghĩa là một cái khí còn mờ mờ mịch mịch lộn xộn đó vậy. Tuy vậy, song Khí Thái Cực nhờ có sức Động và Tịnh nghĩa là cái sức chuyển động day trở và cái sức êm lặng đầm thấm, nên lâu ngày mà tạo thành ra Trời Đất muôn vật được. Cái sức Động đó, nhờ có hơi Âm Nóng và tánh Cang Kiện (cứng cõi mạnh mẽ) mà sanh ra, nên kêu là Dương, còn cái sức Tịnh đó, nhờ có hơi Mát Lạnh và tánh Ôn Thuận Nhu Hòa (mềm yếu thuận hòa) mà sanh ra, nên kêu là Âm; nên có câu nói rằng: Thái Cực động nhi sanh Dương, tịnh nhi sanh Âm, động cực nhi tịnh, tịnh cực nhi động. Âm trung hữu Dương, Dương trung hữu Âm, v.v. (nghĩa là Khí Thái Cực động mà sanh khí Dương, tịnh mà sanh khí Âm. Hết sức động rồi tịnh, hết sức tịnh rồi động. Trong khí Dương cũng có khí Âm, mà trong khí Âm cũng có khí Dương).

When the Energy of Thái Nhứt took on form and body, it was called the Energy of Thái Cực (the Supreme Ultimate). Within the Energy of Thái Cực, Heaven, Earth, and all things were already fully present, but still jumbled together and not yet able to be separated and distinguished; so it is also called the Energy of Hồng Mông, or of Hỗn Độn, or of Hồn Lôn — all meaning an energy still dim, murky, and confused. Even so, the Energy of Thái Cực, thanks to its forces of Movement and Stillness (Động và Tịnh) — the force of turning and stirring, and the force of calm, quiet soaking — over long ages was able to form Heaven, Earth, and all things. That force of Movement arises from warm breath and a firm and vigorous nature (Cang Kiện), and so is called Yang; that force of Stillness arises from cool breath and a gentle, yielding, harmonious nature (Ôn Thuận Nhu Hòa), and so is called Yin. Hence the saying: “The Supreme Ultimate moves and gives birth to Yang; it is still and gives birth to Yin. Movement at its utmost becomes Stillness; Stillness at its utmost becomes Movement. Within Yin there is Yang, within Yang there is Yin,” and so on (meaning: the Energy of Thái Cực moves and gives birth to Yang energy, is still and gives birth to Yin energy; when movement is exhausted there is stillness, when stillness is exhausted there is movement; within Yang energy there is Yin energy, and within Yin energy there is Yang energy). [Translator’s note: the source text has “hơi Âm Nóng” (“warm Yin breath”) for the source of Yang, which appears to be a slip for “warm breath”; it is rendered here according to the evident sense.]

Nhờ có sức Âm Dương Động Tịnh đó, nên Khí Thái Cực lâu ngày mới lọc rút được ba cái Khí, Hình, Chất của Thái Sơ, Thái Thỉ, Thái Tố đặng chia ra cho phân biệt, thứ nào nhẹ nhàn thì bay ra phía trên gọi là Trời, còn thứ nào cứng đặc thì lóng lại phía dưới gọi là Đất. Tuy nói rằng trên dưới cho dễ nghe tùy theo con mắt chúng ta thấy Trời ở trên, Đất ở dưới nên phải nói vậy, chớ Khí Thái Cực vốn là cái bọc tròn, nên hễ cái hơi nào nhẹ nhàn thì bay ra đóng ở chung quanh phía ngoài, kêu là Trời, còn cái nào nặng nề bay ra không được thì phải lóng lại ờ chính giữa cái bọc đó mà thôi, thì gọi là Đất. Trời bao bọc chung quanh, trái Đất ở chính giữa là vậy đó. Cách từ mặt nặng nề trái Đất cho đến tột bực nhẹ nhàn của khí Trời, thì ở giữa lại còn không biết bao nhiêu là bụi bặm không nặng không nhẹ ở lương khương nơi khoản đó nữa, đợi đến chừng lọc lóng cho xong rồi sẽ sanh sanh hóa hóa ra, con mắt chúng ta không thể định biết được mà cũng chẳng ngoài cái phạm vi như đã nói trên.

Thanks to these forces of Yin and Yang, Movement and Stillness, the Energy of Thái Cực over long ages could filter and draw out the three — the Energy, Form, and Substance of Thái Sơ, Thái Thỉ, and Thái Tố — and separate them distinctly: whatever was light flew up and out and was called Heaven; whatever was hard and dense settled below and was called Earth. We say “up” and “down” only for ease of speech, because to our eyes Heaven is above and Earth below; but in truth the Energy of Thái Cực is a round envelope, so whatever breath was light flew outward and settled all around the outside, called Heaven; and whatever was heavy and could not fly out had to settle in the very center of that envelope, called Earth. That is why Heaven surrounds all around, and the globe of Earth is in the center. Between the heavy surface of the Earth and the very lightest reaches of Heaven’s energy there is still who knows how much dust, neither heavy nor light, floating in that interval, waiting until it is fully filtered and settled to go on generating and transforming — beyond what our eyes can determine, yet not outside the scope described above.

Cái Khí Động Tịnh Âm Dương của Khí Thái Cực đây, cũng gọi rằng “Thái Cực Hậu Thiên Ngươn Khí” vậy. Nghĩa là đầu bài rất lớn mà có chỗ cùng chỗ tột lúc sau khi dùng đặng dựng nên Trời.

This Energy of Movement and Stillness, Yin and Yang, of the Energy of Thái Cực, is also called “the Primordial Energy of Later Heaven in the Supreme Ultimate” (Thái Cực Hậu Thiên Ngươn Khí) — meaning the very great beginning that now has bound and limit, after it was used to establish Heaven.

Đã biết Khí Thái Cực tuy nhờ có sức vận động của Âm Dương, song trong cái sức của Âm Dương đó cũng có Ngũ Hành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ nữa, vì Ngũ Hành này nó cũng đã có rồi trong lúc Vô Cực, nó ở nơi Khí Thái Thỉ, Thái Tố mà ra, vậy nên nói rằng Âm Dương Ngũ Hành.

We know that the Energy of Thái Cực relies on the moving force of Yin and Yang; but within the force of Yin and Yang there are also the Five Phases (Ngũ Hành) — Metal, Wood, Water, Fire, and Earth — for these Five Phases already existed in the Limitless, arising from the Energies of Thái Thỉ and Thái Tố. That is why one says “Yin-Yang and the Five Phases.”

Khi hai Khí Âm Dương đã tách được ra rồi, phần trong nhẹ ấm nóng thì bay bỏng ra vòng trên làm Trời, phần đục nặng mát lạnh thì đọng lại ở dưới làm Đất, thì phần Trời đó gọi là Càng, phần Đất đó gọi là Khôn nên mới có tiếng gọi Càng Khôn Thế Giới.

Once the two Energies of Yin and Yang had separated, the clear, light, warm part soared up into the upper sphere as Heaven, and the turbid, heavy, cool part settled below as Earth. The Heaven part is called Càn and the Earth part Khôn, and so we speak of the World of Càn and Khôn (Càng Khôn Thế Giới).

Trong lúc phân biệt Âm Dương lập thành Càng Khôn Thế Giới nầy, cũng phải có một vị nào đứng đợt ra đặng gầy dựng cho có lớp lang thứ tự, khỏi lộn xộn rối ren chớ chẳng lý không ? Cái vị ấy tưởng cũng chẳng có ai đâu lạ hơn cái vị đã gầy dựng ra cái Vô Cực Tiên Thiên Ngươn Khí khi trước đó, cũng là Đức Chí Tôn. Bởi Người sơ khởi lúc trước nên gọi Người là Chúa Tể Càng Khôn.

In the process of separating Yin and Yang to establish this World of Càn and Khôn, must there not also have been someone who stood forth to build it in proper layers and order, free of confusion and tangle? That One, I believe, can be none other than the One who earlier established the Primordial Energy of Prior Heaven in the Limitless — again Đức Chí Tôn. Because He began it all in the beginning, He is called the Sovereign of Càn and Khôn (Chúa Tể Càng Khôn).

Bởi Người sắp đặt từ trên Trời cho tới dưới Đất, mỗi việc đều có trật tự không một mảy nào xâm phạm đụng chạm nhau, thật rất kỹ cang khéo léo, thật đáng làm một Tay Thợ dựng nên Trời Đất, nên cũng gọi Người là Tạo Hóa Công (nghĩa là người thợ tạo lập sự Sanh Hóa của Càng Khôn Võ Trụ).

Because He arranged everything from Heaven above to Earth below, each thing in order, not a speck encroaching on or colliding with another — truly meticulous and skillful, truly worthy to be the Craftsman who built Heaven and Earth — He is also called Tạo Hóa Công (the Creator — meaning the craftsman who establishes the Generation and Transformation of the Universe).

Trong công cuộc của Người lập Càng Khôn Võ Trụ đây thì Người phải có một cái mục đích chi cho rất xứng đáng vững vàng kỹ cang chắc chắn cho lắm, Người tạo ra mới được chớ chẳng không ? Cái Mục Đích đó rất phẳng lặng, rất êm thấm, rất im liềm mà Độc Nhứt chẳng hề thay đỗi, vẫn cứ theo đó mà đi tới hoài chẳng hề khi nào mệt mỏi trễ nải chúc nào, nhờ đó nên làm cái khuôn cái mẫu mà lập ra thế giới này mới được. Cái mục đích đó từ thượng cổ nhẩn sau không ai biết được mà đặt tên nó là cái chi, duy có một mình Đức Lão Tử tìm được cái mục đích đó, mà cũng không biết tên gì, nên đặt tên nó là cái Đạo, mà vì nó lớn quá nên ráng thêm một tên nữa là Đại, hiệp lại cho có tên mà kêu cho tới ngày nay; kêu nó là Đại Đạo. Ấy là một cái tên của Đức Lão Tử đặt ra trước hết cho có tên mà kêu đặng dễ bề hiểu, mà ai ai cũng đều công nhận đặng tiện công việc phân giải những cái Lý nhiệm mầu của Đức Chí Tôn đã làm chúng ta phải học, đặng theo đó bắt chước mà làm cho đúng bực Người Ta, vì Người Ta đứng vào Ngôi Tam Tài.

In His work of establishing the Universe, He must surely have had some Aim (Mục Đích), most worthy, firm, meticulous, and sure, in order to create it — must He not? That Aim is utterly level, utterly calm, utterly still, and One and Only, never changing; it keeps going forward along its course forever, never for a moment weary or slack; and thanks to it, it could serve as the mold and pattern by which this world was established. From high antiquity onward no one knew what to call that Aim; only Laozi (Đức Lão Tử) found that Aim, and still did not know its name, so he named it the Way (Đạo); and because it is so great, he strained to add another name, Great (Đại), joining them so that it could be called by name down to today: the Great Way (Đại Đạo). That is a name Laozi first coined so that it could be called something and more easily understood; and everyone accepts it, so as to facilitate explaining the wondrous Principles of Đức Chí Tôn that we must study, so as to follow and imitate them and become worthy of the rank of Human Being, for the Human Being stands in the Throne of the Three Powers. [Translator’s note: an allusion to Daodejing ch. 25: “I do not know its name; I style it ‘the Way’; forced to name it, I call it ‘Great.’”]

Thánh Ngôn có câu:

The Holy Words say:

“Tu hành là học làm Trời,

“To Cultivate is to learn to be God,

Phải nào kiếp kiếp làm Người thế gian”.

Not to be a worldly human life after life.“

Bởi vậy nên chúng ta phải học cho kỹ cho rõ mà phân biệt chánh tà đặng tu cho nhằm Đạo của Thầy; vì Đạo nghĩa là Con Đường mà Đại Đạo là Con Đường Cái, hễ đi nhầm đường thì khỏi lạt khỏi mất ngày giờ, còn Tu nhằm Đạo thì mau về cựu vị đặng hiệp Một với Thầy. Ấy học làm Trời là vậy đó.

Therefore we must study carefully and clearly, distinguishing the orthodox from the heterodox, so as to cultivate in true accord with the Master’s Way; for Đạo means the Road, and Đại Đạo means the Great Road. Take the wrong road and you cannot avoid getting lost and losing time; cultivate along the right Way and you swiftly return to your original station, to unite as One with the Master. That is what learning to be Heaven means.

Đã gọi rằng Đức Chí Tôn dùng Đại Đạo làm mục đích đặng lập ra Võ Trụ Càng Khôn Thế Giới, vậy thì trong cái Đạo ấy nó phải có một cái Lý cho tuyệt đối chẳng hề thay đổi mới được, bởi vậy nên hễ nói tiếng Đạo thì liền có hiệp tiếng Lý vào, nên kêu là Đạo-Lý. Cái Lý ấy là chi ? Ấy là Chơn Lý đó.

Since it is said that Đức Chí Tôn used the Great Way as the Aim by which to establish the Universe, the World of Càn and Khôn, then within that Way there must be a Principle (Lý) that is absolute and never changing. That is why whenever one says “the Way,” one at once joins to it the word “Principle,” and speaks of Đạo-Lý (the Principle of the Way). What is that Principle? It is True Principle (Chơn Lý).

Chơn Lý là chi ? Ấy là Chơn Thiệt Chi Đạo Lý vậy, nghĩa là cái Lý Đạo rất chắc chắn thiệt thọ không sai, không quấy, không giả, không dối vậy.

What is The Eternal Truth? It is the Principle of the Way that is truly Real (Chơn Thiệt Chi Đạo Lý) — that is, the Principle of the Way that is utterly sure and genuine, without error, without wrong, without falsehood, without deceit.

Trong sách nho cũng có câu: “Đạo giả Thiên Lý chi đương nhiên” nghĩa là Đạo là cái lẽ của Trời phải làm tự nhiên như vậy.

The Confucian books also say: “The Way is that which the Principle of Heaven makes so of itself” (Đạo giả Thiên Lý chi đương nhiên) — meaning that the Way is the reason by which Heaven must naturally act as it does.

Lại cũng có câu: “Thiện dĩ Âm Dương Ngũ Hành hóa sanh vạn vật, khí dĩ thành hình, nhi Lý diệc phú diên”; nghĩa là Trời dùng khí Âm khí Dương và Năm Hành đặng hóa sanh muôn vật, dùng cái Khí đặng cho nên hình vóc, mà cũng có phú cho một cái Lý ở trong vậy.

They also say: “Heaven, through Yin and Yang and the Five Phases, transforms and gives birth to the ten thousand things; by Energy their forms are completed, and Principle too is bestowed therein” — meaning Heaven uses Yin energy, Yang energy, and the Five Phases to transform and give birth to all things, uses Energy to give them form and shape, and also endows a Principle within them. [Translator’s note: a quotation from Zhu Xi’s commentary on the Doctrine of the Mean (Trung Dung).]

Dùng đó mà xem, thì thấy rõ hễ có Đạo là có Lý vậy, lại hai vật nầy không rời rã nhau ra được. Đấng Tạo Hóa đã dùng Ngươn Khí đặng lập Càng Khôn Thế Giới, trong Ngươn Khí phải có Chơn Lý, mà Chơn Lý tức là Đại Đạo vậy. Đạo không đợi cãi đợi bàn chi nữa.

Looking at it this way, one sees clearly that wherever there is the Way, there is Principle, and these two can never be separated. The Creator used Primordial Energy to establish the World of Càn and Khôn; within Primordial Energy there must be True Principle; and True Principle is the Great Way. The Way need not wait to be argued or debated any further.

Mà dùng cái Lý cái Khí nào đặng lập ra được Càng Khôn Thế Giới? Trong Kinh Dịch có câu:

But by what Principle and what Energy was the World of Càn and Khôn established? The Book of Changes says:

Lập Thiên chi Đạo viết Âm dữ Dương,

“To establish the Way of Heaven, one speaks of Yin and Yang;

Lập Địa chi Đạo viết Cang dữ Nhu,

To establish the Way of Earth, one speaks of the Firm and the Yielding;

Lập Nhơn chi Đạo viết Nhân dữ Nghĩa.

To establish the Way of Man, one speaks of Benevolence and Righteousness.”

Nghĩa là:

That is:

Dựng nên Đạo Trời, thì dùng Âm với Dương,

To raise up the Way of Heaven, one uses Yin with Yang;

Dựng nên Đạo Đất, là dùng Cang với Nhu,

To raise up the Way of Earth, one uses the Firm with the Yielding;

Dựng nên Đạo Người, là dùng Nhân với Nghĩa.

To raise up the Way of Man, one uses Benevolence with Righteousness.

Tuy chia ba phần ra đặng thấy cái đại khái của mỗi món trong Tam Tài vậy mà thôi, chớ mỗi món trong Tam Tài cũng đều sẵn đủ luôn Sáu cái Sức lớn đó cả thảy. Trời cũng có đủ Âm Dương Cang Nhu Nhơn Nghĩa, Đất và Người đều phải có đủ không Tài nào mà thiếu sót; bởi vậy nên có câu: “Âm trung hữu Dương, Cang trung hữu Nhu, Nhơn trung hữu Nghĩa” (nghĩa là trong khí Âm có khí Dương, trong khí Dương có khí Âm; trong sức Cứng có sức Mềm, trong sức Mềm có sức Cứng; trong sự Nhân có sự Nghĩa, trong sự Nghĩa có sự Nhân).

Though these are divided into three parts to show the general character of each of the Three Powers, each of the Three Powers in fact possesses all Six great Forces together. Heaven too has Yin and Yang, Firm and Yielding, Benevolence and Righteousness in full; Earth and Man must likewise have them all, with no Power lacking any. That is why it is said: “Within Yin there is Yang, within the Firm there is the Yielding, within Benevolence there is Righteousness” (meaning: within Yin energy there is Yang energy, and within Yang energy there is Yin energy; within the force of Firmness there is the force of Yielding, and within Yielding there is Firmness; within Benevolence there is Righteousness, and within Righteousness there is Benevolence).

Có người hỏi rằng: Người ta thì phải có Nhân có Nghĩa là phải, chớ còn Trời và Đất mà có Nhân có Nghĩa là ý chi? Tôi xin trả lời rằng: Trời Đất lại càng có Nhân có Nghĩa mà lại càng khắn khích Nhơn Nghĩa lắm lắm chẳng dám rời ra trong giây phút nữa. Muốn biết Nhân Nghĩa là gì, xin phải biết cái nghĩa hai chữ ấy cho rành mới được. Ông Châu Hy có giải rằng: Nhân chủ Ái, Nghĩa chủ Kỉnh, nghĩa là Nhân là chủ nơi sự Thương Yêu; còn Nghĩa là chủ nơi sự Cung Kỉnh. Hễ có sự Thương Yêu mới có lòng Bác Ái, có sự Cung Kỉnh mới có Trật Tự được. Lại cũng có chỗ: Nghĩa giả Nghi giả, tài chế sự vật các đắc kỳ nghi. Nghĩa là: Nghĩa ấy là sự Hạp sự Phải vậy; sửa sang mọi việc mọi vật chi chi cho đều được chỗ Hạp chỗ Phải của nó vậy. Lấy đó xét, thì nếu Đạo Trời mà không có Nhân Nghĩa thì làm sao mà gọi là Bác Ái, làm sao cho được Công Bình Trật Tự được. Trong Châu Dịch cũng có câu: Động Tịnh hữu Thường viết Nghĩa, nghĩa là: sự Động sự Tịnh cho có chừng có mực kêu rằng Nghĩa. Thấy vậy thì đủ chứng rằng Trời Đất càng phải có Nhân Nghĩa mới được, chẳng phải loài Người ta phải có mà thôi đâu.

Someone asks: “It is right that people must have Benevolence and Righteousness — but what does it mean for Heaven and Earth to have Benevolence and Righteousness?” I answer: Heaven and Earth have Benevolence and Righteousness even more, and hold to them even more tightly, never daring to part from them for an instant. To know what Benevolence and Righteousness are, one must first know clearly the meaning of these two words. Zhu Xi (Châu Hy) explained: “Benevolence governs Love; Righteousness governs Reverence” — that is, Benevolence is the master of Loving, and Righteousness the master of Respect. Only where there is Love is there Universal Love (Bác Ái); only where there is Respect can there be Order (Trật Tự). It is also said: “Righteousness is what is fitting: it orders affairs and things so that each attains its fitness” — meaning Righteousness is what is fitting and right; it arranges all affairs and things so that each attains what is fitting and right for it. Considering this, if the Way of Heaven had no Benevolence and Righteousness, how could it be called Universal Love, how could there be Justice and Order? The Zhou Changes (Châu Dịch) also says: “Movement and Stillness having Constancy is called Righteousness” — meaning that Movement and Stillness kept within proper measure and bound are called Righteousness. This suffices to prove that Heaven and Earth must have Benevolence and Righteousness all the more — it is not only humankind that must have them.

Sách cũng có câu rằng: Thiên thất kỳ Thường, tắc nhựt nguyệt tinh thần điên đảo; Địa thất kỳ Thường, tắc hà hải sơn nhạc băng kiệt; Nhơn thất kỳ Thường, tắc Tam Cang Ngũ Thường vận loạn. Nghĩa là: Trời mà sái cái mực Thường của Trời thì mặt trăng mặt trời cùng các ngôi sao té ngã hết; nếu mà Đất sái cái mực Thường của Đất thì sông biển núi non đều lở khô ráo; còn Người mà sái cái mực Thường của Người thì Tam Cang Ngũ Thường đều rối rắm hết. Xét cho một chữ Nghĩa đó cho kỹ thì đủ rõ năm chữ kia, là Âm Dương Cang Nhu và Nhân, dầu cho Trời, Đất và Người đều phải cho có đủ mới được. Tuy đã biết rằng phải có sáu cái Ngươn Khí ấy mới dựng nên Càng Khôn Võ Trụ được, mà dùng nó ra cũng phải cho chánh đáng phải cho chân thật đừng giả dối mới được, như vậy mới gọi là Chơn Lý. Hễ Chơn Lý hiệp với Ngươn Khí, hoặc là Ngươn Khí hiệp với Chơn Lý, thì hai cái nầy tuy là hai tên chớ thật là Một Giống, vì trong Khí có Lý, trong Lý có Khí, Lý Khí phù hạp rồi tức là Đạo vậy.

The books also say: “If Heaven loses its Constancy, the sun, moon, stars, and planets are thrown into disorder; if Earth loses its Constancy, rivers, seas, mountains, and peaks crumble and dry up; if Man loses his Constancy, the Three Bonds and Five Constants fall into chaos.” That is: if Heaven strays from Heaven’s Constant measure, the moon, the sun, and the stars all fall; if Earth strays from Earth’s Constant measure, rivers, seas, and mountains all crumble and dry up; and if Man strays from Man’s Constant measure, the Three Bonds and Five Constants (Tam Cang Ngũ Thường) are all thrown into confusion. Examine that one word, Righteousness, carefully, and you will understand the other five — Yin, Yang, Firm, Yielding, and Benevolence — which Heaven, Earth, and Man alike must all possess in full. Though we know that these six Primordial Energies must all be present to raise up the Universe, they must also be used rightly and genuinely, without falsehood — only that is called True Principle. When True Principle unites with Primordial Energy, or Primordial Energy unites with True Principle, though these are two names they are truly One Kind: for within Energy there is Principle, and within Principle there is Energy; and when Principle and Energy are in harmony, that is the Way.

Bởi vậy nên Đức Chí Tôn có dạy rằng:

That is why Đức Chí Tôn has taught:

Đạo là Chơn Lý mà Chơn Lý là Đạo vậy.

“The Way is True Principle, and True Principle is the Way.“

Người cũng có dạy rằng:

He has also taught:

Ớ các trẻ ráng gìn Chơn Lý,

“O children, strive to keep True Principle,

Chơn Lý là Đạo quí của Thầy.

True Principle is the Master’s precious Way.”

Đức Tổ Sư Hổn Ngươn Thiên Sư Chưởng Quản

(the Patriarch, Venerable Hỗn Ngươn Thiên Sư, Director)

Tôn Chỉ Của Đạo

The Primordial Principle of the Way

(Đuốc Chơn Lý số 22-23 năm 1936)

(From the Torch of True Principle [Đuốc Chơn Lý], nos. 22–23, 1936)

Đức Chí Tôn chẳng dạy chi khác hơn là dạy:

Đức Chí Tôn teaches nothing other than this:

Đạo Trời.

The Way of Heaven.

Người dạy rằng: Trời đó tức là Người đây vậy. Đạo chẳng ở đâu xa. Đạo vốn ở trong Tâm của mỗi Người, vì trong Tâm của mỗi Người Trời có ban cho một Điểm Linh Quang rất sáng rất quí gọi là “Tánh”, bởi Người làm cho nó mất sự tự nhiên, sự Sáng tự nhiên của Tánh nên Người phải mê hoặc.

He teaches: “That Heaven is this Man.” The Way is not far away. The Way dwells in the Heart of each person, for in the Heart of each person Heaven has bestowed a most bright and precious Point of Numinous Light (Điểm Linh Quang) called the Nature (Tánh). Because people have made it lose its naturalness — the natural Brightness of the Nature — they have become deluded.

Vậy, phải trau sửa Tâm Tánh lại đừng để cho nó còn tối tâm mà phải bị sự cám dổ của hoàn cảnh làm cho nó phải mẩn mê hoài với cuộc hồng trần gió bụi, quên cả chức vụ thiêng liêng là phải tìm cho ra cho được Sự Sống của mỗi vật, cho gặp thật Sự Sống của nó đặng làm theo, phải do theo Lý Chơn Chánh tự nhiên Sanh Hóa của Trời Đất hóa sanh ấy đặng tiếp theo mà làm cho tấn hóa; phải tuân theo sự Nhứt Định của Tạo Hóa gầy dựng sự Sống cho muôn loài đặng giúp sức cho Hóa Công; đừng cho phá hoại, đừng cho trở ngại, đừng cho ngưng trệ sự tiến hành của máy vận động Trời Đất.

Therefore one must polish and correct the Heart and Nature again, not letting them remain dark and fall prey to the temptations of circumstance that keep them forever infatuated with the red-dust world of wind and dust, forgetting even their sacred office: to seek out and find the Life of each thing, to truly meet its Life so as to act in accord with it; to follow the natural, true, and upright Principle of the Generation and Transformation of Heaven and Earth so as to carry it on and further its evolution; to obey the Fixed Resolve of the Creator, who builds Life for all kinds, so as to lend strength to the Creator — not to destroy, not to obstruct, not to stall the progress of the machinery that moves Heaven and Earth.

Ấy là Chơn Lý Đại Đạo mà Đức Chí Tôn đương lo dạy ngày nay cho bực trí tín đó. Bực nầy hiểu thấu đặng Bổn Phận của mình rôi, mới gọi rằng “Biết Đạo”. Muốn cho Hiểu Biết Đạo thì phải được sáng lòng làm trước…

That is the True Principle of the Great Way that Đức Chí Tôn is teaching today to those of wisdom and faith. Only when such a one has understood his own Duty thoroughly may he be said to “Know the Way.” To understand and know the Way, one must first have a bright heart…

Đức Tổ Sư Hổn Ngươn Thiên Sư Chưởng Quản

Vô Minh và Giác Ngộ

Ignorance and Awakening

Bài giảng của

A teaching by

Đức Hổn Ngươn Thiên Sư Chưởng Quản

 The Venerable Hỗn Ngươn Thiên Sư.

(Jan 1935)

Chữ GIÁC nghĩa là Hay, Biết; nó có hai nghĩa khác nhau:

The word GIÁC means to Notice, to Know; it has two different senses:

Một là mình biết mình hay rằng nhà mình có ăn trộm rình, hoặc là sẻ có ăn trộm rình, nên mình lập phương mà đuổi nó đi cho khỏi nhà mình. Cái tên rình nhà mình đặng lấy đồ của mình đó thì mình kêu nó là ăn trộm, còn cái tên mà rình đứa trộm đó thì là mình đây, song nhờ cái xét mánh lới chi chi đó, nên mình mới hay mới biết được mà lập thế đặng đuổi nó đi. Ấy là cái ví dụ bề ngoài cho dể thấy dể hiểu đó, đặng chỉ vào cái sự Hay, Biết về phần Đạo trong nghĩa chữ Giác thứ nhứt. Trong mình người ta nó có cái Đạo là quí, nay bị những cái phiền não làm cho người phải nóng giận mà quên Đạo Đức, cũng như nhà bị kẻ trộm nó lấy đồ báu vậy, nhưng mà một khi ta đã có phiền não, hoặc sẻ có phiền não, thì ta sẻ biết rằng việc này đây nó sẻ làm cho ta có phiền não, hay là ta đã có phiền não rồi, thì ta phải lập thế chi mà xua đuổi cai phiền não ra hay là làm cho nó tiêu tang mất đi thì Đạo Đức mới khỏi bị che khuất. Ta mà lập thế đặng xua đuổi cai phiền nảo được đó, là nhờ ta có Hay có Biết được cái phiền não nó làm cho che khuất cái Đạo Dức của ta, nên ta mới lập thế mà xua đuổi nó được; thì cũng như nhờ ta có Hay Biết trước rằng ăn trộm nó đã rình nhà ta, hay là nó sẻ rình nhà ta, nên ta mới kiếm cách đặng ngăn ngừa xô đuổi được, bằng không thì nó cũng tận thâu đồ báu ta vậy. Cái sự Hay Biết kêu bằng Giác Sát, mà ta Hay ta Biết được đó là nhờ có Thánh Giác của ta.

First: you yourself know and notice that a thief is lurking around your house, or will be, and so you devise a way to drive him off and away from your house. The one lurking around your house to take your belongings you call a thief; and the one watching that thief is you — but it is thanks to some shrewd observation or other that you notice and know, and so can devise a way to drive him off. That is an outward example, easy to see and understand, pointing to the Noticing and Knowing that concerns the Way, in the first sense of the word Giác. Within a person there is the Way, which is precious; now it is beset by afflictions (phiền não) that make the person hot with anger and forget the Way and its Virtue — just like a house whose treasures are taken by a thief. But once we have afflictions, or are about to have them, we will know that this matter here will bring us affliction, or that we already have affliction; then we must devise some way to drive the affliction out or make it melt away, so that the Way and its Virtue are no longer hidden. If we can devise a way to drive out affliction, it is thanks to our Noticing and Knowing that affliction is hiding our Way and Virtue; and so we can devise a way to drive it out — just as, thanks to our knowing beforehand that a thief has been lurking, or will lurk, around our house, we look for a way to prevent and drive him off; otherwise he would carry off all our treasures. This Noticing and Knowing is called Giác Sát (Vigilant Discernment), and we are able to Notice and Know thanks to our Holy Awareness (Thánh Giác).

Hai. Một nghĩa khác nữa là: người người đều có cái Trí sáng suốt đủ thông hiểu mọi vật, nhưng mà bị cái Vô Minh nó làm cho ta tối tâm đi, không biết làm sao mà phân biện cho được, nên thường phải sai lầm hoài, sự sai lầm nầy là tại cái tối tâm của ta đó mà ra, cái tối tâm đó kêu là Vô Minh. Cái Vô Minh cũng như cái phiền não ở trước, song cái phiền não nó hại cái Đạo Đức của ta, còn cái Vô Minh thì nó làm hại cái Trí Huệ của ta. Bởi cái Vô Minh nó làm hại cái Trí Huệ của ta, nên ta phải tối tâm mờ ám không biết phân biện sự phải quấy chánh tà, cũng như kẻ ngủ kẻ say vậy. Vì vậy nên ta phải đánh thức cái giấc ngủ mê của ta, ta phải giải rượu cho ta, thì ta mới tỉnh được.

Second. Another sense is this: every person has a bright Intelligence (Trí) able to comprehend all things, but Ignorance (Vô Minh) darkens us so that we do not know how to discern, and so we keep making mistakes. These mistakes come from our darkness, and that darkness is called Vô Minh (literally, “no light”). Ignorance is like the afflictions above; but affliction harms our Way and Virtue, while Ignorance harms our Wisdom (Trí Huệ). Because Ignorance harms our Wisdom, we are dark and dim, unable to discern right from wrong, orthodox from heterodox, like one asleep or one drunk. That is why we must wake ourselves from our deluded sleep and sober ourselves up; only then can we come to our senses.

Hỏi:Ta đương ngủ mê, ta làm sao ta đánh ta thức được? Ta đương say rượu, ta làm sao giải rượu cho ta được?

Question: While we are deep asleep, how can we wake ourselves? While we are drunk, how can we sober ourselves up?

Đáp: Được chớ nào không. Ta còn có người cứu ta, là người không mê đó, người không say đó cứu ta. Người ấy chính là Trí Huệ ta đó, miển là ta phải nghe theo cái Trí Huệ của ta mà thôi. Nghe theo cái Trí Huệ chớ đừng nghe theo cái tia xảo, cái tài trí, nếu nghe theo nó thì lại càng hại thêm, vì chúng nó chẳng hề thức tỉnh ta được.

Answer: Of course we can. We still have someone to rescue us: the one who is not deluded, the one who is not drunk — that one rescues us. That one is none other than our own Wisdom; we need only heed our Wisdom. Heed Wisdom, and not cunning or cleverness; heeding those only does more harm, for they never wake us.

Cái thức nó ở trong cái ngủ, mà cái ngủ cũng ở trong cái thức; cái tỉnh nó ở trong cái say, mà cái say cũng ở trong cái tỉnh; cái dốt nó ở trong cái hay chữ , mà cái hay chữ nó cũng ở trong cái dốt; cái dại nó ở trong cái khôn, mà cái khôn nó cũng ở trong cái dại v.v… Miển là đứng mê hoài một phía, ta phài đánh thức ta hoài mới được. Hễ ta gọi rằng ta đã thức rồi, thì liền thấy ta phải ngủ lại đó, ta đã gọi ta đã hay chữ rồi, thì liền thấy ta dốt lại đó v.v… Cái ta mê hoài một phía đó là tại cái Vô Minh, nó phá hại cái Trí Huệ của ta; nó làm cho ta không kỳ quyết cái việc của ta muốn đạt đến mụch đích.

Waking lies within sleep, and sleep lies within waking; sobriety lies within drunkenness, and drunkenness within sobriety; ignorance lies within learning, and learning within ignorance; folly lies within wisdom, and wisdom within folly, and so on… Only do not remain deluded forever on one side; we must keep waking ourselves always. As soon as we say we are already awake, at once we find ourselves falling asleep again; once we say we are already learned, at once we find ourselves ignorant again, and so on… Our remaining forever deluded on one side is due to Ignorance, which destroys our Wisdom; it keeps us from firmly resolving to bring our affairs to their goal.

Ví dụ như một người ngủ hoài không cần gia ai đánh thức dậy, thì họ ngủ riết đả thèm rồi thì họ cũng thức dậy vậy, có hại gì đâu, ấy là tại họ không có cái mục đích gì mà họ muốn đạt đến. Một người dại chẳng lẻ trăm việc cũng dại hoài, cũng có một đôi việc họ khôn chớ, song họ không chịu đạt đến cái mục đích là làm người phải khôn đó. Nay cái người ngủ ấy, họ có cái mục đích rằng: đúng bốn giờ sáng thì phải thức dậy mà học cho kịp bài vở kẻo thua súc chúng bạn, thì dầu cho họ ngủ bực nào nữa, mỗi lần thì tảng sáng sáu giờ họ mới thức giấc, mà ngày nay họ có cái mụch đích phải bốn giờ thì thức, thì lần thứ nhứt, tuy mê cách nào chớ lối năm giờ họ cũng thức rồi, nếu họ biết rằng là trể, họ dạy họ lại, họ chuyên tâm rằng bốn giờ phải vụt thức dậy mà thôi, rồi lần lần họ chẳng cần gì phải vụt thức dậy mà cái thức dậy đó nó là cái thường của họ đó. Vậy thì cái vụt giựt mình thức dậy đó là cái gì? Ấy chính là cái Giác Ngộ đó. Mà cái Giác Ngộ này nhờ cái Thánh Huệ mà ra; nếu nhờ cái Thánh Huệ mà thức tỉnh mình cho được Giác Ngộ mà mình gọi mình đã Giác Ngộ rồi thì lần lần cũng trở lại Vô Minh như kẻ thức bốn giờ sáng kia mà không lo lần tới nữa thì lần lần cũng ngủ quên tới sáng lại.

For example, a person who keeps on sleeping with no need for anyone to wake him will, once he has slept his fill, wake up anyway — no harm in that; it is because he has no goal he wishes to reach. A fool is not foolish in every one of a hundred matters; in one or two he is wise enough — but he will not set himself the goal of being a person who must be wise. Now suppose that sleeper has the goal of getting up at exactly four in the morning to study and keep up with his lessons, lest he fall behind his friends. However deeply he sleeps — every other time he has woken only at six, at daybreak — now, having the goal of waking at four, the first time, however heavy his sleep, he will be awake by five. If he knows he is late, he instructs himself again, setting his heart on springing awake at four, and nothing else; and gradually he no longer needs to spring awake — waking has become his ordinary habit. Then what is that sudden start of waking? That is precisely Awakening (Giác Ngộ). And this Awakening comes from Holy Wisdom (Thánh Huệ). But if, having been roused by Holy Wisdom to Awakening, one says one is already Awakened, then little by little one returns to Ignorance — like that four-o’clock riser who, not seeing to going further, little by little sleeps through till morning again.

Chữ NGỘ nghĩa nó cũng như chữ Giác vậy, cũng là Hay Biết vậy, song nghĩa nó có hơi đầm thấm hơn chữ Giác. Ví dụ như làm một bài toán mắc mỏ quá, làm hoài tính hoài mà không ra, mình cứ gia công tìm kiếm mãi, rồi thình lình nó vụt hiểu vụt biết, liền cầm viết viết ra ngay được, ấy là Giác; còn mình cứ rầm ngâm mài miệt mải, lần mò riết rồi được trúng, ấy là Ngộ. Hai cách ấy cũng là Hay Biết hết thảy, nó là tiếng đôi; chớ không phải Ngộ là Gặp, thì là tưởng lầm vậy.

The word NGỘ means much the same as Giác — it too is Noticing and Knowing — but its sense is somewhat deeper and more steeped. For example, working on a very difficult arithmetic problem, working and reckoning without getting it, you keep searching with effort, and then suddenly you understand, you know, and at once take up the pen and write it out — that is Giác. But keeping at it quietly, persistently, groping along until you get it right — that is Ngộ. Both are Noticing and Knowing; it is a paired word. To think that Ngộ here means “to meet” is a mistake.

Chữ Ngộ nó có ba chữ khác nhau mà trùng tiếng. Một chữ Ngộ là Biết, một chữ Ngộ là Lầm, và một chữ Ngộ là Gặp, ba chữ viết khác nhau. Giác Ngộ nghỉa là Giác mà lại Ngộ nữa.

There are three different words pronounced “Ngộ”: one Ngộ means to Know, one means to Err, and one means to Meet — three words written differently. Giác Ngộ means to have Giác and also Ngộ.

Đức Phật Thích Ca ban đầu Ngài lầm tưởng sự gải thoát ở đâu ở ngoài thân mình, nên Ngài mới tìm kiếm ở bế ngoài, nghe lời người mà hủy cái xác, làm trăm bề khỗ hạnh đặng tìm phương giải thoát mà không được, đến chừng cái Thánh Giác của Ngài nó làm cho Ngài Giác Sát được, nên Ngài mới duổi cái phiền nảo đi, rồi nhờ cái Thánh Huệ nó kêu Ngài thức tỉnh mà Giác Ngộ được; nếu như Ngài Giác Ngộ rồi, mà Ngài không đi dạy Đạo, có lẻ cái Vô Minh nó sẻ trở lại, nhờ Ngài đi dạy Đạo, nên Ngài càng ngày càng Giác Ngộ thêm hoài, nên mới gọi Ngài là Đại Giác, Toàn Giác. Đến đó cái Vô Minh nó mới thiệt là dứt cội dứt rể, không còn trổ nhánh nức chồi nữa được đó.

The Buddha Shakyamuni at first mistakenly thought that liberation lay somewhere outside his own body, so he searched for it outside; heeding others, he mortified his body and practiced every kind of austerity to find the way of liberation, without success. When his Holy Awareness enabled him to achieve Vigilant Discernment, he drove away affliction; then, thanks to his Holy Wisdom calling him to wake, he achieved Awakening. Had he, once Awakened, not gone forth to teach the Way, perhaps Ignorance would have returned; but because he went forth to teach the Way, he grew ever more Awakened day by day, and so he is called the Great Awakened One, the Fully Awakened One (Đại Giác, Toàn Giác). Only at that point was Ignorance truly cut off at root and stem, no longer able to put out branches or sprout new shoots.

Đức Tổ Sư Hổn Ngươn Thiên Sư Chưởng Quản

(Jan 1935)

Giảng Kinh Tam Thập Tam Thiên

Commentary on the

Scripture of the Thirty-Three Heavens

Kinh Tam Thập Tam Thiên

The Scripture of the Thirty-Three Heavens

Bài giảng vé 1-2-3

Commentary on stanzas 1–2–3

By  Đức Hổn Ngươn Thiên Sư Chưởng Quản

(1936)

Vé số 1:

Stanza 1:

Trời mở Đạo dạy người thoát tục,

Heaven opens the Way to teach people to transcend the world,

Trời nào cho đóng ngục nhốt người;

When has Heaven ever let anyone build prisons to lock people in?

Trời cho người tỉnh biết Trời,

Heaven lets people awaken to know Heaven,

Trời cho người biết đặng người tìm phăng.

Heaven lets people know, so that people may trace it out.

Từ khi có Trời đất có loài người đến nay, Đạo của Trời dạy đã khắp nơi rồi chẳng phải là ít, chẳng phải là không có, đâu đâu cũng đều dạy một cách, là dạy làm người phải “thương” nhau, sách vở Thánh Hiền Tiên Thánh để lại biết bao nhiêu. Kinh kệ của các vị Phật các vị Tổ cũng truyền bá khắp nơi, nào còn thiếu thốn chi nửa,mà đến đỗi Trời này còn phải bổn thân giáng phàm đặng khai Đạo Kỳ Ba này, nơi cõi hồng lạc này, là cõi nhỏ nhen thấp hèn hơn cả mọi nơi vậy? Vậy chớ Trời khai Đạo như vậy có ích chi cho Trời hay không? Có ích lợi chi cho Người hay không, mà đến đổi Trời phải nhọc công như thế? Chúng ta là người học Đạo, cần nhứt là phải tìm kiếm cho ra cái “Mục-Đích của Trời mở Đạo” đây cho thấy rõ, thì mới có thể biết Đạo là chi, rồi mới thương Thầy mến Thầy, quí Đạo trọng Đạo, bằng chẳng tìm xét cho ra Lý, thì là tu giởn tu chơi vậy thôi chớ nào phải là người chơn tu đâu.

From the time there were Heaven and Earth and humankind until now, Heaven’s Way has been taught everywhere — not a little, nor ever absent. Everywhere it teaches one thing: that people must “love” one another. How many books have the Sages, Worthies, Immortals, and Saints left behind! The scriptures and verses of the Buddhas and Patriarchs have also spread everywhere. What was still lacking, that Heaven itself must descend in person to open the Way in this Third Era, in this land of Hồng Lạc (Vietnam), the smallest and humblest of all places? Then does Heaven opening the Way like this benefit Heaven at all? Does it benefit Man at all, that Heaven should go to such trouble? We who study the Way must above all search out and see clearly “Heaven’s Aim in opening the Way“; only then can we know what the Way is, and only then love and cherish the Master, treasure and honor the Way. Otherwise, if we do not search out its Principle, we are only cultivating in jest, cultivating in play — not true cultivators at all.

Muốn tìm kiếm cho ra lòng Trời thế nào thì chẳng cần phải kiếm đâu cho xa lạ, hảy do nơi Thánh huấn của Thầy thì thấy rõ. Vì Thánh huấn chẳng có một việc chi mà Thầy hay là chư Tiên chư Thánh giấu giếm chúng ta. Thánh huấn của Thầy và của chư Tiên Thánh, chúng ta gọi rằng cao xa khó hiểu nên hay bỏ qua hoài, hoặc là đọc cho có chừng, hoặc là vì Lịnh Trên dạy, phải làm luận văn đặng trau đổi ý kiến, nên chúng ta phải làm cho có chừng mà nạp cho khỏi bị trách cứ, hoặc là đổ thừa thế này thế kia đặng tránh trốn, chớ còn Thánh huấn của Ngôi Chị là dễ hiểu dễ tìm hơn hết, sao chúng ta đành nỡ bỏ qua mà chẳng xét cho ra cho thấy, đặng tìm coi Mục Đích của Trời mở Đạo đặng làm chi? Nếu có công tìm thì thấy rõ ràng, kìa Ngôi Chị đã nói rõ ràng như vậy:

To find out what Heaven’s heart is, there is no need to search anywhere far or strange: look to the Master’s Holy Teachings and you will see clearly. For in the Holy Teachings there is nothing that the Master or the Immortals and Saints hide from us. The Holy Teachings of the Master and of the Immortals and Saints we call lofty and hard to understand, and so we keep passing them by; or we read them just enough; or, because the Authority Above instructs us to write essays to refine our views, we write just enough to hand in and avoid reproach; or we offer this excuse or that to dodge it. Yet the Holy Teaching of the Elder Sister (Ngôi Chị) is the easiest of all to understand and find — why do we bear to pass it by without examining it, so as to see and find what Heaven’s Aim in opening the Way is? If we take the trouble to look, we will see it plainly — for the Elder Sister has said it clearly:

Trời mở Đạo dạy người thoát tục,

Heaven opens the Way to teach people to transcend the world,

Trời nào cho đống ngục nhốt người;

When has Heaven ever let anyone build prisons to lock people in?

Trời cho người tỉnh biết Trời,

Heaven lets people awaken to know Heaven,

Trời cho người biết đặng người tìm phăn.

Heaven lets people know, so that people may trace it out.

Ngôi Chị đã nói rõ ràng câu ấy nơi bài Kinh Tam Thập Tam Thiên rồi, tại chúng ta mảng vọng tâm vọng cầu nơi chỗ cao xa mà quên do nơi nấc than dưới mà bước trước cho vững vàng, cứ vội ngón vội ngó nơi chót vót từng lầu cao mà hụt chơn sái bước hoài.

The Elder Sister has stated this clearly in the Scripture of the Thirty-Three Heavens; it is we who are so busy recklessly craving lofty, distant things that we forget to start from the lowest rung and step firmly first, always hastily gazing up at the very top floor of the high tower, and so we keep missing our footing and stumbling.

Sao chúng ta chẳng xét lại coi cho kỹ lưỡng, coi cái mà chúng ta tự bấy lâu này gọi là Đạo đó, chẳng luận là Đạo Trời, Đạo Phật, Đạo Tiên hay là Đạo Thánh chi chi, những Đạo ấy, dạy chúng ta những chi? Có phải là mỗi phe, mỗi Đạo, nỗi tôn giáo, mỗi chi, mỗi phái nào, họ cũng mượn tên Trời Phật Thánh Thần đặng rùng ép chúng ta, đặng ngăn đón chúng ta rằng phải tùng theo giáo lý của họ thì được về Thiên Đường, thì được về tịnh thổ, thì được về Tây Phương, thì được thành Tiên thành Thánh hay không? Họ chỉ biết dùng cách dối gạt rằng hễ muốn tùng theo giáo lý của họ thì phải cứ một lòng tin tưởng nơi họ, họ có đủ sức cầu Trời khẩn Phật giùm cho, đặng cho thoát khỏi những tội lổi chi chi của chúng ta, chẳng cần chi phải lao công nhọc sức làm gì, cứ việc làm ăn như thường, miểng là cho có bạc tiền đem dưng cúng cho họ là đủ rồi, bằng chẳng vậy, bằng chẳng chịu tín ngưỡng theo tôn chỉ của họ dạy, thì phải bị sa đọa vào 18 từng địa ngục, 72 cửa ngục sửa phạt khốn khổ vô cùng. Họ lại còn bày hình ghê gớm đặng cho chúng ta thấy mà dùng mình rởn óc nữa. Chúng ta nào có biết chi đâu, hễ ai nói đến Trời Phật thì chúng ta tin, chúng ta lạy, là vì lòng chúng ta đã tín ngưỡng Trời Phật đã lâu rồi, từ đời nào chí bây giờ chớ chẳng phải là một kiếp này mà thôi, vì vậy nên này thấy ai là người bề ngoài có vẽ từ bi thì chúng ta tôn kính chúng ta sùng bái, gọi mấy vị ấy là cao tăng, đại đức tu hành, còn chúng ta tự hạ mình chúng ta xuống mà tự gọi là chúng ta phàm phu tục tử, nên mới phải làm cho hết lòng đặng tỏ dấu kỉnh Phật thì phải trọng tăng chớ nào có biết chi nửa mà nói mà xét, có ai dạy ai chỉ Đạo là chi đâu mà biết.

Why not examine carefully what it is we have long been calling the Way — whether the Way of Heaven, the Way of the Buddha, the Way of the Immortals, or the Way of the Sages — what do those Ways teach us? Is it not so that every faction, every Way, every religion, every branch and sect borrows the names of Heaven, Buddha, Saints, and Deities to intimidate us, to block our path, saying we must follow their doctrine to reach Heaven, the Pure Land, the Western Paradise, or to become Immortals and Saints? They know only how to deceive, saying that whoever follows their doctrine need only have single-minded faith in them; they have power enough to pray to Heaven and beseech the Buddha on our behalf, to free us from all our sins; no need to toil or exert ourselves — just go about our business as usual, so long as we bring money to offer them; and otherwise, if we will not believe in the purpose they teach, we will fall into the eighteen levels of hell and the seventy-two gates of hell, punished in endless misery. They even set out horrifying images for us to see so that we shudder and our hair stands on end. And we knew nothing: whenever anyone spoke of Heaven and Buddha, we believed and we bowed, because our hearts had long revered Heaven and Buddha — from who knows when until now, not just in this one life. And so whenever we saw someone who outwardly looked compassionate, we honored and venerated them, calling them eminent monks and great virtuous cultivators, while we lowered ourselves and called ourselves common, worldly folk; and so we had to do everything wholeheartedly to show our reverence for the Buddha by honoring the monks — knowing nothing else to say or examine, for no one had ever taught us or shown us what the Way is.

Chúng ta mấy đời mấy kiếp mắc mưu bị kế quá rồi, vì vậy nên động lòng Trời, mà cũng vì sự tin tưởng không chánh đáng ấy nên phải sa vào tả đạo bàn môn, nên không hiểu căn cội của mình là từ Trời mà xuống, Trời là Cha Chung cho cả thế gian, Cha khắp cả nhơn sanh, ai biểu mình quên Cha Thật của mình đó chi, nên mới phải bị bọn giả dối lường gạt được, mà vẩn tin tưởng bọn kia là thần thánh còn mình là phàm là tục nên nó mới rù quến được đó. Trời vì động mối thương tâm, nên Trời mới mở Đạo Kỳ Ba này, nơi cõi Hồng Lạc đây, là chỗ ngu muội mê hoặc hơn hết, đặng Trời dạy cho chúng ta cổi cái lốt gọi là lốt phàm lốt tục đó đi, đặng nhìn đặng nhớ lại rằng mình là con ruột của Trời đó, đừng để cho ai phỉnh phờ gạt gẫm nửa được mà quên nơi quê cảnh xinh đẹp của mình đi.

For many lifetimes we have fallen for their plots and schemes, and that is why Heaven was moved. Because of that improper belief we fell into heterodox ways and side-doors, and did not understand that our root came down from Heaven, that Heaven is the Common Father of the whole world, the Father of all living beings. Who told us to forget our own True Father? That is how the deceivers could cheat us: we kept believing they were divine and saintly while we were common and worldly, and so they could lure us. Moved with compassion, Heaven opened the Way in this Third Era, here in the land of Hồng Lạc, the most ignorant and deluded of all, so that Heaven might teach us to shed that skin called the common, worldly skin, so that we might recognize and remember that we are Heaven’s own children, and let no one beguile and cheat us any more into forgetting our beautiful homeland.

Bởi Trời thấy tự bấy này, bọn tả đạo bàn môn kia, bọn dối Trời dối Phật kia, cứ đem những việc luân hồi quả báo mà gạt gẫm chúng ta một cách trái Đạo Lý, không chỉ cho chúng ta biết Chơn Lý chánh đáng là thể nào, cứ vẫn dạy chúng ta cúng tiền bạc gọi là cúng chùa lạy tăng goị là trọng Phật vậy là đủ, nếu chúng ta chẳng làm vậy thì bị luân hồi, phải bi trầm luân sa vào địa ngục không ai cứu cho. Cũng vì sợ sa vào địa ngục không ai cứu, mà cũng vì ham mê thiên đường nên mới dầm sương dầm nắng, cực khổ chẳng kể, hoặc là làm nhiều việc trái ngược Đạo Lý mà cũng không cần, miểng là cho có tiền có bạc đặng đem hối lộ cho mấy người gọi là thay mặt Trời Phật ấy, là cho họ độ rỗi linh hồn của mình cho khỏi bị giam cầm nơi 72 cửa rạt, trong vòng 18 từng địa ngục đó thôi, vì ỷ y họ có quyền phép và có nhiều vị Thần Thánh tùng quyền của họ sai khiến nên họ cứu mình nỗi. Chớ nào chúng ta có hay biết chi rằng chúng ta đều là Người của Trời sai đế mở mang khắp cõi hồng hoang giúp tay Bàn Cổ Tam Hoàng lập công đâu. Bởi chúng ta đã chẳng làm tròn phận sự mà ngày này cũng còn mê sa ma quỉ lả lơi, bỏ điều minh thệ với Trời mà không biết hồi đầu qui hướng đặng ăn năng tội lổi với Trời, lại còn đem lòng tin cậy nơi đâu, bảo sao không đời đời kiếp kiếp ở hoài nơi trên mặt đất này hoài mà vùi mà vấp cái xác thân mê muội này hoài; mảng tưởng 72 cửa rạt kia, 18 từng địa ngục nọ là ở đâu đâu dưới cái đất nẻ, có quỉ sứ nhăn nanh lố vút, có vạc dầu sôi thiệt, có kiếm thọ đao sơn (chổ hòn núi có cấm gươm chôm chởm đặng quăn thây người vào đó cho gươm giáo đâm lủng tim lủng phổi mà trị tội) , có nhiều nữa, nhiều nữa, 72 chỗ độc ác vô cùng, vỉ tưởng vậy mà quên rằng cửa ngục ấy đều ở tại dương gian đây, ai không làm xong phận sự giúp Trời thì phải bị đời đời ở hoài nơi hồng trần mà phơi nắng dầm mưa, cái mưa nắng nó cháy da phỏng tráng chúng ta đó, cùng là những sự thật, chỉ vợ yếu con thơ, nợ nần đau ốm nó cắn rứt chúng ta đó bằng biết bao nhiêu lần đau thương hơn là đao sơn kiếm thọ, hơn là vặc dầu sôi. Tại mình quên Trời thì mình phải chịu lao đao lận đận trăm điều cắn rứt như banh da bách thịt, đứt ruột đứt gan mà không hay, lại đổ thừa nơi đâu xa lạ. Cũng vì bọn tả đạo không cho chúng ta biết Chơn Lý đặng chúng ta hồi hướng, lại đổ thừa rằng vì không theo giáo lý của chúng nó nên phải bị kiếp kiếp ở hoài nơi cõi diêm phù đề này, cõi Nam Thiệm bộ châu này, nên phải bi luân hồi khổ não hoài, chớ chi theo giáo lý của họ thì đã được về Tây Phương lạc quốc rồi, sao chúng ta không tự xét lấy mình, những cái ngục mà nhốt chúng ta đó, là tự chúng ta tạo nó ra, hễ chúng ta tạo ra rồi, thì chúng ta theo mà coi chừng coi đổi, phải theo mà giữ mà gìn, chớ để cho ai coi cho bây giờ. Vậy thì những cảnh đoạn trường đó, những cái ngục nhốt chúng ta đó, đều do nơi chúng ta tin xàm tưởng vơ mà gây dựng nên biết bao nhiêu kiếp rồi, càng lâu ngày chừng nào thì những nền, những móng, những lầu đài kia càng to càng tác nó nhốt ta thâm thẫm không còn thấy mặt trời mặt trăng chi nữa, chớ còn trông gì mà về với Trời đặng, chớ có ai mà cứu vớt chúng ta được đâu. Ngục ấy là ngục tự mình làm rồi tự mình đóng cửa mà nhốt lấy mình đó thôi, chớ Trời có cho ai đóng nhốt mình đâu.

For Heaven saw that, all this time, those heterodox sects, those who deceive in Heaven’s name and the Buddha’s, have kept using transmigration and karmic retribution to cheat us in a way contrary to the Principle of the Way, never showing us what true and proper Principle is, only teaching us that offering money — called “offering to the temple” — and bowing to monks — called “honoring the Buddha” — is enough; and that if we did not do so, we would undergo transmigration, sink into hell, with no one to save us. Out of fear of falling into hell with no one to save us, and out of longing for paradise, we soaked in dew and baked in sun, heedless of hardship, or even did many things contrary to the Principle of the Way without caring, so long as we had money to bribe those who claim to stand in for Heaven and Buddha, so that they would save our souls from imprisonment behind the seventy-two gates within the eighteen levels of hell — trusting that they had magic powers and many Deities and Saints under their command, and so could save us. We had no idea at all that we are all People whom Heaven sent to open up the whole Primordial Realm, to help Bàn Cổ and the Three Sovereigns accomplish their work. Because we have not fulfilled our duty, and even today are still lured astray by demons, abandoning the oath we swore to Heaven and not knowing how to turn back and repent our sins before Heaven — and still placing our trust who knows where — no wonder we remain on the face of this earth life after life, burying and tripping up this deluded body forever. We imagine those seventy-two gates and eighteen levels of hell to be somewhere beneath the cracked earth, with grimacing demon-wardens, real cauldrons of boiling oil, a Mountain of Knives and Forest of Swords (a mountain bristling with blades onto which people’s bodies are flung, to be pierced through heart and lungs as punishment), and more, and more — seventy-two places of utmost cruelty. Imagining so, we forget that those prison gates are all here in the world of the living. Whoever does not finish the duty of helping Heaven must remain forever in the red dust, under sun and rain — the rain and sun that burn and blister our skin; and the real things — a frail wife and young children, debts and sickness — that gnaw at us, a thousand times more painful than the Mountain of Knives and the Forest of Swords, more than the cauldrons of boiling oil. Because we have forgotten Heaven, we must bear hardship and misfortune, a hundred torments as if our skin were flayed and our flesh torn, our guts and liver severed, without realizing it, and then lay the blame on somewhere far away and strange. Because the heterodox sects would not let us know True Principle so that we might turn back, they claim instead that it is because we did not follow their doctrine that we must remain life after life in this Jambudvīpa (Diêm Phù Đề), this Southern Continent (Nam Thiệm Bộ Châu), suffering transmigration forever, and that had we followed their doctrine we would already have gone to the Western Land of Bliss. Why do we not examine ourselves? The prisons that lock us in are made by ourselves; once we have made them, we must keep watch over them, keep guarding them ourselves — who else would watch them for us now? So those heartbreaking scenes, those prisons that lock us in, were all built by our foolish beliefs and idle imaginings over who knows how many lives; the longer it goes on, the bigger and taller those foundations, footings, and towers grow, locking us in deeper and deeper until we can no longer see the sun or the moon — what hope then of returning to Heaven? There is no one who can rescue us. That prison is a prison one builds oneself, then shuts the door on oneself and locks oneself in — Heaven never let anyone lock us up.

Vì vậy nên Trời mới mở Đạo Kỳ Ba này đặng dạy cho mình tự mình giải thoát lấy, cổi cho hết những món phàm tục đặng ra khỏi ngục thất kia đó thôi. Mà muốn cho thoát thì phải tỉnh mà nghe lời mới được. Trời rất thương chúng ta, vì chúng ta là con của Trời, nên Trời thấy chúng ta đã lâu đời vì mê tín nên phải bị luân hồi khổ hãi mà mắc vào lưới Trời rồi không về với Trời được.

That is why Heaven has opened the Way in this Third Era: to teach us to free ourselves, to shed all that is common and worldly, so as to get out of that prison. And to escape, one must awaken and heed. Heaven loves us dearly, for we are Heaven’s children; Heaven has seen that for ages, through superstition, we have suffered the misery of transmigration and been caught in Heaven’s net, unable to return to Heaven.

Bởi bọn tả đạo bàn môn thấy chúng ta dốt nát quê mùa không thông Chơn Lý nên không về với Trời được, rồi chúng nó đặt điều ngục này ngục kia đặng dọa nạt chúng ta phải sùng phụng nó, vì vậy Trời thương xót chúng ta đã quá nỗi mê muội rồi, nên Trời phải mở Đạo mà chỉ cho chúng ta biết Chơn Lý Đại Đạo mà tự mình cứu lấy mình mà thôi, chớ Trời nào có cho ai lập ngục thất mà nhốt lấy ai mà phạt đâu. Hãy tự tỉnh nghe mà hiểu đặng tìm phăng cho thấy.

Because the heterodox sects saw that we were ignorant country folk, not comprehending True Principle and so unable to return to Heaven, they invented this hell and that hell to frighten us into venerating them. Therefore Heaven, pitying us for having sunk so deep in delusion, had to open the Way to show us the True Principle of the Great Way, so that we might save ourselves — Heaven never let anyone build prisons to lock anyone up and punish them. Awaken, listen, understand, and trace it out until you see.

Trời mở Đạo dạy người thoát tục,

Heaven opens the Way to teach people to transcend the world,

Trời nào cho đống ngục nhốt người;

When has Heaven ever let anyone build prisons to lock people in?

Trời cho người tỉnh biết Trời,

Heaven lets people awaken to know Heaven,

Trời cho người biết đặng người tìm phăn.

Heaven lets people know, so that people may trace it out.

Tôi đã giải cho trước rằng vì tại nơi các người bán Trời bán Phật kia gạt gẫm anh em chị em đã dư mấy kiếp rồi, rằng là hễ tuân theo giáo lý của họ thì được về thiên đường, bằng cãi họ thì sẽ bị sa địa ngục. Sao chúng ta quá khờ lắm vậy, sao chúng ta chẳng xét coi họ cũng là người như mình vậy, họ cũng là cha mẹ sanh đẻ như mình vậy, mà sao họ có tài gì mà cứu chuộc tội lổi cho mình được? Sao họ lại có được nhiều vị Thần Thánh cho họ sai khiến đặng họ cậy phải đem nhiều lời họ xin mà trao lại cho Trời Phật đặng tha tội lổi cho mình và cứu mình cho khỏi sa địa ngục? Mà những vị Thần Thánh của họ sai khiến đó là ai đâu mình có thấy không? Hay là cũng là đồ hình nộm, đồ hình gỗ, giấy vẽ của thợ mã bông; cũng là đồ in trong giấy tiền người thế kia mà họ đem ra đặng gạt chúng ta đó mà họ đặt tên rằng ông này ông kia? Còn Trời Phật nào đâu không biết, mà hình nộm này người thế kia, lại đem giấy tờ của họ đi mà chuộc tội lổi của mình đây? Có phải là họ bán Trời bán Phật ở đâu mà mình đây chịu gạt hay không? Có phải họ là một bọn đặt mối thầy kiện, mà thầy kiện ở đâu không biết thông ngôn, thầy kiện ở đâu không hay, mà mảng mình nghe tên ông thầy kiện đó hay giỏi rồi mình trao bạc không cho tên đem mối mà mình không hay không biết coi mặt mày ông thầy kiện có ừ hử gì hay không?

I have explained above that those who sell Heaven and sell the Buddha have been cheating our brothers and sisters for more lives than can be counted, saying that whoever follows their doctrine goes to paradise and whoever contradicts them falls into hell. Why are we so very naive? Why do we not consider that they too are human like us, born of father and mother like us — what talent do they have to redeem our sins? How do they have so many Deities and Saints at their command, whom they can send with their many petitions to Heaven and Buddha, to pardon our sins and save us from hell? And those Deities and Saints at their command — who are they? Have we ever seen them? Or are they only effigies, wooden figures, painted paper from the votive-paper makers, the same as those printed on the spirit-money people burn, which they bring out to cheat us, giving them names — this lord, that lord? And where Heaven and Buddha are, no one knows, yet these effigies of worldly people supposedly carry their papers off to redeem our sins? Is it not that they are selling Heaven and selling the Buddha somewhere, and we let ourselves be cheated? Are they not a gang of brokers for lawyers — lawyers who knows where, interpreters who knows where — and we, merely hearing that some lawyer is clever and capable, hand over our money to the broker without knowing, without even seeing the lawyer’s face to know whether he has agreed to anything?

Người thế gian vì sao mà phải mướn thầy kiện? Là vì sợ có tội nên phải mướn người bào chữa cho mình. Nếu có tội thì là ai xử? Quan tòa xử. Biết sợ có quan tòa xử, nên phải mướn thầy kiện cãi lẽ, mà sao không đến tận mặt thầy kiện để bàn tính, lại nghe lời bợm đào mối nọ hâm dọa rằng phải bị án này, luật kia, rồi trao tiền cậy cho nó mướn thầy kiện giùm cho? Mà thầy kiện kia là ai? Là người thuộc luật đó. Luật của ai làm?

Why do people in the world hire lawyers? Because they fear they are guilty, and so hire someone to defend them. If they are guilty, who judges? The judge. Knowing to fear the judge, they hire a lawyer to argue the case — but why not go face to face with the lawyer to discuss it, instead of listening to some swindling broker who threatens that they will receive this sentence or that penalty, and then handing him money to hire a lawyer for them? And who is the lawyer? One who knows the law. And whose law is it?

Luật của phép nước làm ra để trao cho quan tòa coi lấy đó mà xử những người nào có phạm vào đó thì phạt, còn ai không phạm thì thôi. Vậy thì Tòa xử là xử ai có phạm luật kìa chớ, còn nếu người không phạm luật thì Tòa nào có xử phạt chi đâu. Bằng người vô tội mà có kẻ nào xưng mình là thông ngôn trạng sư, hay là thông ngôn Tòa đến nói mình rằng là có tội, bảo phải chạy tiền chạy bạc đem nạp cho họ đặng họ mướn trạng sư cãi hộ cho khỏi tội, vậy thì mình có nghe lời họ hay không? Nếu nghe lời họ là mình là đứa ngu. Phải bắt quách nó đem nạp cho Tòa trị tội nó mới phải, chớ có đâu lại còn làm đầu đảng đem mối giùm cho nó mà có bà con mình cũng phải nạp tiền cho nó nữa? Mà trạng sư đâu không thấy, quan toà đâu cũng không hay, hỏi ở đời có ai ngu si mê muội đến bực đó hay không? Huống chi Nhơn Loại là con cái của Trời, Luật Trời là chí công vô tư, Trời sai chúng ta xuống phàm gian trao giồi Tâm Tánh giúp Trời hành Đạo, giúp tay Bàn Cỗ Tam Hoàng lập công đặng lập xong danh phận Tam Tài, vậy thì nếu chúng ta làm xong trách nhiệm thì trở về hớn hở nơi Ngọc Kinh, bằng làm chưa tròn trách nhậm, thì phải đời đời kiếp kiếp ở phàm trần hoài, ấy là bị Luật Trời phạt đó. Luật Trời đã phạt ai là người chẳng tuân Luật Trời, thì nó nào có cần phải đem mối mướn trạng sư, Thần Phật nào cãi lẽ được không? Nếu Trời cho Thần Phật nào cãi lẽ tâu rỗi giùm cho mình, thì chẳng là Trời ham hối lộ hay sao?

It is the law that the state makes and hands to the judge, to consult in judging anyone who violates it: whoever violates it is punished, and whoever does not is let be. So the court judges those who have broken the law; if a person has not broken the law, what court would punish him? If an innocent person is approached by someone claiming to be an interpreter or advocate, or a court interpreter, who tells him he is guilty and that he must scrape together money to hand over so they can hire an advocate to argue him free — would he listen? If he listens, he is a fool. He ought to seize that person and hand him over to the court to be punished for his crime — not go on to become ringleader, bringing him more clients, so that his own relatives must pay him money too! And with no advocate in sight and no judge to be found — is there anyone in the world so foolish and deluded as that? How much more so, then, for humankind, who are Heaven’s children: Heaven’s Law is utterly just and selfless. Heaven sent us down to the mortal world to polish our Heart and Nature, to help Heaven practice the Way, to help Bàn Cổ and the Three Sovereigns accomplish their work, so as to complete the station of the Three Powers. If we fulfill our responsibility, we return joyfully to the Jade Capital; if we have not fulfilled it, we must remain in the mortal world life after life — that is the punishment of Heaven’s Law. When Heaven’s Law punishes those who do not obey it, what need is there to hire an advocate through a broker? Can any Deity or Buddha argue the case? If Heaven let some Deity or Buddha argue and petition for us, would that not make Heaven greedy for bribes?

Thần Phật kia cũng ham hối lộ cho nhiều, nên sấm bọn tả đạo bàn môn làm thông ngôn đem mối hay sao? Có lý nào vậy hay không? Ở dưới Trời này có ai qua Trời được hay không? Có Thần Tiên Phật Thánh nào qua Trời hay không? Huống chi Thần Tiên Phật Thánh cũng là chúng ta đây. Mà ma quỉ tinh yêu cũng là chúng ta đây, vậy thì chúng ta còn cần phải nghe lời bọn dắt mối nào nửa, mà đi lo lót với ai cho được.

Would those Deities and Buddhas be so greedy for bribes that they would engage the heterodox sects as interpreters and brokers? Could that possibly be so? Under Heaven, is there anyone who can get past Heaven? Is there any Deity, Immortal, Buddha, or Saint who surpasses Heaven? Moreover, Deities, Immortals, Buddhas, and Saints are also we ourselves; and demons, ghosts, spirits, and goblins are also we ourselves. Then why should we still heed any broker, and go bribing whom?

Bởi chúng ta đã lâu đời xa Trời quá rồi, nên bị bọn tả đạo kia giả dối gạt gẫm, rồi nó lại tự xưng rằng tổ của nó lại còn lớn hơn Trời nữa, nên hễ có đem hối lộ cho nó đặng cho nó nộp, nó thế cho tổ nó, thì khỏi tội, bằng không thì bị hạ ngục trầm luân, mà chúng ta cũng tin càng đi vậy, vì vậy mà Cha chúng ta là Trời đó mới mở Đạo Kỳ Ba này mà giải thoát cho chúng ta, nói rằng: Trời không có cho phép ai đống một cái ngục nào mà nhốt con cái của Trời hết, đừng nói chi tới 72 cửa, 18 từng. Trời để cho có một cõi Hồng Quan kia đặng lập công đó thôi; hễ ai lập xong công quả rồi thì về với Trời, bằng lập chưa xong thì phải bị ở đó hoài, ở nơi chỗ lửa nóng, nước sôi đó hoài, thì chịu lấy, chớ Trời không có cho ai đóng ngục nào nữa hết thảy. Trời bảo phải cho thoát kiếp mà về với Trời mà thôi.

Because we have been far from Heaven for so long, we have been deceived by those heterodox sects, who even claim that their patriarch is greater than Heaven, so that whoever brings them bribes to hand over to their patriarch is spared punishment, and otherwise is cast into hell to sink forever — and we believed it all the more. That is why our Father, Heaven, has opened the Way in this Third Era to free us, saying: Heaven has never allowed anyone to build a single prison to lock up Heaven’s children — let alone seventy-two gates and eighteen levels. Heaven has provided only the Primordial Realm (cõi Hồng Hoang) for the accomplishing of merit. Whoever has completed his merit returns to Heaven; whoever has not must remain there, in that place of burning fire and boiling water, and bear it; but Heaven has never let anyone build any other prison at all. Heaven tells us only that we must escape the round of lives and return to Heaven.

Đã biết rằng Trời là chí công vô tư, còn bọn tả đạo thì lại dối gạt, dọa hẩm chúng ta hoài, vì vậy nên Trời Phải mở Đạo đặng thức tỉnh chúng ta, làm cho chúng ta thức tỉnh lại, cho tỉnh cái giấc mê dư muôn kiếp này, mê mang hoài mà quên Trời là Cha rất yêu dấu của chúng ta đó. Đạo Trời mở Kỳ Ba này có bao nhiêu đó mà thôi.

We know that Heaven is utterly just and selfless, while the heterodox sects keep deceiving and threatening us. That is why Heaven had to open the Way to wake us up, to make us come to our senses, to rouse us from this sleep of delusion that has lasted more than ten thousand lives, deluded forever and forgetting that Heaven is our most beloved Father. That is all there is to Heaven’s Way opened in this Third Era.

Đạo mở ra đặng kêu tỉnh chúng ta dậy đừng mê mẫn, mê hoặc, mê mang, mê mụi nữa, phải thức dậy mà nhìn mà coi, coi cái chỗ hồng trần này có phải là quê xưa cảnh cũ hay không, mà sao chúng ta cứ ngả ngớn vui chơi nơi đây hoài, đành quên cả sự nghiệp chức vụ lớn lao nơi Ngọc Kinh đi, đành nhìn nhận bọn bán Trời kia là lớn hơn Cha ruột của mình, đành đem Thân ngọc ngà châu báo này là Thân của Trời sấm cho, mà làm nô lệ cho kẻ phá danh Trời mà vui mà vẻ mà gọi rằng là Đạo Đức. Hãy thức tỉnh dậy mà nhìn lại Trời cho biết, hãy thức tỉnh dậy cho tỉnh táo mà nhìn lại Trời là Cha, là Cha rất yêu quí mà về với Cha. Có thức tỉnh mới có nhìn mà biết được, bằng mê mang sợ sệt lừ đừ hoài thì làm sao mà nhìn mà biết được. Song le Trời muốn cho mình tỉnh thì Trời nào có kêu gọi rằng mình là người quá mê muội rồi được đâu, nên Trời phải ban thánh huấn ra đặng kêu gọi cho có người thức tỉnh trước đặng thức tỉnh mình lại, vì Linh-Hồn là Con Một, song có kẻ bị Thần Hồn quá mê mà làm cho tối tâm, có kẻ Linh Quang còn sáng suốt nên đặng Trời thức tỉnh cho mau, cho sớm hơn, đặng Trời dạy trước, vì là con của thầy tuy có đứa cuồng ngông mê muội dạy dột mặc dầu, chớ cũng vẫn có đứa thông minh sáng láng dễ ăn dễ dạy, chớ có lẽ nào không đâu. Linh Hồn vốn có một đứa tỉnh được rồi thì các đứa kia dễ bề tỉnh hơn, như anh em đồng ngủ với nhau một chỗ, hễ có một đứa tỉnh trước được rồi thì kêu gọi thức giấc nhau dễ hơn là ông chủ kêu. Mà Trời kêu tỉnh ta đây đặng làm việc gì? Có chi lạ đâu, Trời kêu tỉnh ta đây đặng dạy chúng ta cho biết Chơn Lý đó thôi, vì Chơn Lý có Một, Đạo cũng có Một, Trời cũng có Một, chúng ta là Con cái của Trời cũng có Một mà thôi, có cần phải mướn trạng sư kẻ đem mối nào ở đâu xa mà giả dối xưng là Thánh Thần Tiên Phật nào nữa đặng gạt gẫm con cái của Trời đặn đâu. Chúng ta đây là Con của Trời, là Một với Trời, là Thánh Thần Tiên Phật hiện tại ở thế-gian đây, sao tự mình quá mê muội mà quên Trời đi? Cứ nhớ Đất hoài? Cứ nhớ quỉ hoài? Vì vậy nên ma quỉ mới gạt được đó. Trời thức tỉnh ta đậy dặng dạy cái Một đó. Cái Một đó là Một Căn, Một Cội, Một Nguồn với Trời đó, là Chơn-Lý đó. Hãy nhìn cho biết Trời, hãy tỉnh mà nhớ Trời, thì về với Trời được, đừng cậy ai, mướn ai, lạy ai cứu mình được đâu.

The Way has been opened to call us awake, so that we are no longer stupefied, deluded, befuddled, and benighted; we must wake up and look and see whether this red-dust world is our old homeland or not. Why do we keep lounging and amusing ourselves here, consenting to forget our great career and office in the Jade Capital, consenting to accept those who sell Heaven as greater than our own Father, consenting to take this jewel-like, precious Body — the Body Heaven provided — and make it a slave to those who defame Heaven’s name, rejoicing and calling it Virtue? Wake up and recognize Heaven! Wake up, be clear-headed, and recognize Heaven as Father — most beloved Father — and return to the Father. Only by waking can one recognize and know; if one stays befuddled, fearful, and dazed forever, how can one recognize and know? Yet when Heaven wishes us to wake, Heaven cannot simply call to us when we are so deeply deluded; so Heaven must give Holy Teachings to call some to wake first, so that they may wake us in turn. For the Numinous Soul is an Only Child (Linh Hồn là Con Một); but in some, the Spirit Soul (Thần Hồn) is so deluded that it darkens them, while in others the Numinous Light is still bright, and so Heaven can wake them sooner and earlier, to be taught first. Among the Master’s children, though some are wild, deluded, and slow to learn, there are surely also some who are intelligent, bright, and easy to teach. Since the Numinous Soul is One, once one has awakened, the others awaken more easily — like brothers sleeping together in one place: once one wakes first, it is easier for them to wake one another than for the master of the house to call them. And what does Heaven wake us for? Nothing strange: Heaven wakes us to teach us True Principle. For True Principle is One, the Way is One, Heaven is One, and we, Heaven’s children, are One — what need to hire any advocate or broker from afar, falsely claiming to be some Saint, Deity, Immortal, or Buddha, to deceive Heaven’s children? We are Heaven’s children, One with Heaven — the Saints, Deities, Immortals, and Buddhas present here in the world. Why are we so deluded as to forget Heaven? Always remembering the Earth? Always remembering demons? That is why demons can cheat us. Heaven wakes us to teach that One. That One is One Root, One Trunk, One Source with Heaven — it is True Principle. Recognize Heaven, awaken and remember Heaven, and you can return to Heaven; do not rely on anyone, hire anyone, or bow to anyone to save you.

Mà ai Chơn-Lý rõ sâu,

“Whoever knows True Principle deeply,

Thì được về chầu Bạch-Ngọc cao ngôi

Will return to the lofty throne of the White Jade Palace” —

là vậy đó.

that is what it means.

Trời đã thương nhơn loại quá ư mê mộng nên Trời đã cho có người sáng láng thông minh thức tỉnh trước rồi đặng chỉ trước cho biết đường đi nước bước cho biết Trời là đâu, Đạo là thế nào, Chơn Lý là làm sao, đặng kêu gào thức tỉnh chúng ta dậy cho sớm rồi, vậy thì chúng ta tuy chẳng phải là đồng thức một lượt, song le sự thức, sự tỉnh, sự biết của chúng ta ngày này đây cũng là nhờ Trời mới được, nhờ Trời mới có, nhờ Trời mới nên, vậy thì chúng ta phải biết Trời, ấy là Trời cho chúng ta biết Trời có vậy. Hễ đã tỉnh dậy rồi, thì chúng ta phải làm làm sao gọi là biết? Cho khỏi mang cái lốt tục nữa? Cho khỏi còn bị kẻ giả dối phờ phỉnh gạt lường lần nữa? Cho đặng gọi là con của Trời; đừng để cho mang tiếng là con hư lây xấu đến Cha.

Heaven, pitying humankind for being so deep in dream, has let some bright and intelligent people awaken first, so that they may show the road ahead and the steps to take, so as to know where Heaven is, what the Way is, what True Principle is, and so call and rouse us to wake early. Though we do not all wake at once, our waking, our awakening, and our knowing today come only thanks to Heaven — exist only thanks to Heaven, succeed only thanks to Heaven. So we must know Heaven: that is, Heaven lets us know that Heaven exists. Once we are awake, what must we do to be said to know? So as no longer to wear the worldly skin? So as no longer to be beguiled and cheated by deceivers? So as to be called children of Heaven, and not bear the name of bad children who bring shame upon the Father?

Chẳng có chi lạ hơn nữa, là nếu chúng ta chẳng chịu thức, chẳng chịu tỉnh mà thôi, bằng chúng ta chịu thức, chịu tỉnh , chịu nhìn nhận cho biết Trời, chịu nhìn nhận biết có Một Trời là Cha, biết có Một Trời là Chúa Tể cả kiền khôn thế giái, biết có Một Trời là Ngôi Độc Nhứt vô nhị, biết có Một Trời là Đấng cầm quyền thưởng phạt chí công vô tư , biết có Một Trời là vô lượng vô biên, khoan hồng độ lượng, vô thỉ vô chung, biết có Một Trời là Đấng đã ban Linh Quang cho chúng ta xuống thế gian này đặng thay thế cho Ngài. Biết sợ có Một Trời là Đấng rất thương yêu chúng ta, vậy thì chúng ta phải cho tròn trách nhậm của chúng ta mà đối đãi lại với Ngài, mà trả ơn cho Ngài, mà đền đáp công ơn của Ngài, mà làm cho xong công việc của Ngài giao phó, vì chúng ta đều là tôi tớ của Ngài, là người tá canh của Ngài hết thảy, chúng ta chớ kiêu ngạo, chúng ta chớ ỷ mình chúng ta, chớ khoe khoan, chúng ta chớ gọi xác thân này là của chúng ta riêng, chúng ta chớ tưởng sự vinh hoa phú quí giàu sang này là của chúng ta tạo ra được, chúng ta chớ tưởng rằng con cái tôi tớ trong nhà của chúng ta mướn đó là của chúng ta mướn, mỗi mỗi sự vật chi của chúng ta có đây, chúng ta chớ tưởng là của riêng của chúng ta mà lầm, ấy là của Trời sấm, của Trời cho, của Trời ban phú cho chúng ta hết thảy đó, cho tới cái Linh Hồn chúng ta có nên mới biết khôn biết dại, biết phải biết quấy, biết lo biết lắng làm ăn đây cũng là Trời cho hết thảy, đừng gọi riêng của mình mà lầm, Trời muốn cho hay Trời muốn lấy lại đều do nơi quyền hành của trời hết thảy.

There is nothing stranger than this: if we will not wake up, will not come to our senses — that is the only obstacle. But if we are willing to wake, to come to our senses, to recognize and know Heaven — to recognize that there is One Heaven who is Father, One Heaven who is Sovereign of the whole Universe, One Heaven who is the Sole Throne, without a second, One Heaven who holds the power of reward and punishment, utterly just and selfless, One Heaven who is immeasurable and boundless, merciful and magnanimous, without beginning and without end, One Heaven who has bestowed the Numinous Light on us and sent us down into this world to act in His stead; to know and revere One Heaven who loves us most dearly — then we must fulfill our responsibility completely in return to Him, to repay Him, to requite His grace, to complete the work He has entrusted to us. For we are all His servants, all His tenant-farmers (tá canh). Let us not be arrogant; let us not rely on ourselves; let us not boast; let us not call this body our private property; let us not imagine that the glory, wealth, and rank we have are something we created ourselves; let us not imagine that our children and the servants we hire are ours because we hired them. Every single thing we have here — do not mistake it for our private property: it is all provided by Heaven, given by Heaven, bestowed by Heaven on us. Even our Soul, by which we know wisdom and folly, right and wrong, and know how to plan and make a living — that too is all given by Heaven. Do not mistake it for your own: whether Heaven wishes to give or wishes to take back, all rests in Heaven’s authority.

Vậy thì chúng ta phải biết:

Therefore we must know:

Biết Trời do nơi Thánh Huấn của Trời đã thương đả dạy, đã chỉ biểu, đã nói cạn lẽ rồi, do theo đó mà tìm cho ra từ câu, từ tiếng, từ chữ cho hiểu nghĩa lý, rồi phải theo sự hiểu, sự biết của mình mà làm cho trúng ý Trời dạy, ấy là trúng Chơn Lý đó. Hễ nhầm Chơn Lý thì gặp được Đạo, gặp được Đạo là gặp được Trời, gặp được Trời nơi Tâm trước, rồi mới có thể làm Thánh Thần Tiên Phật được. Phải tìm ra Mối Chánh mà làm ấy là con Trời gập được Trời rồi vậy. Người biết Trời đó.

We know Heaven through the Holy Teachings that Heaven has lovingly taught, shown, and explained to the very end. Following them, we must seek out each phrase, each word, each letter until we understand its meaning and principle; then we must act according to our understanding and knowing so as to hit the mark of Heaven’s teaching — that is, to hit True Principle. Hitting True Principle, one meets the Way; meeting the Way, one meets Heaven — meets Heaven first in the Heart — and only then can one become a Saint, Deity, Immortal, or Buddha. One must find the True Thread and act on it: that is a child of Heaven who has already met Heaven. Such a one knows Heaven.

Vế số 2

Stanza 2

Trời khuyên nhủ người tuân theo Đạo,

Heaven counsels people to obey the Way,

Trời khuyên người ráng tạo quả nhơn;

Heaven counsels people to strive to become Fruited Persons;

Trời khuyên công quả chớ sờn,

Heaven counsels: in your meritorious work, do not lose heart,

Trời khuyên phải nhớ Bốn Ơn chớ rời.

Heaven counsels: remember the Four Graces and never part from them.

Chúng ta đã hiểu vì ý chi Trời mỡ Đạo Kỳ Ba này cho cõi Nam Thiệm Bộ Châu này rồi, và chúng ta cũng đã hiểu rằng Trời cho người tỉnh đặng biết Trời mà chỉ dạy lại chúng ta, dìu dắt lại chúng ta cho biết Trời và Chơn Lý, là Đạo chánh của Trời, chỉ bảo chúng ta khỏi luồn ma ách nó cám dỗ chúng ta mê mụi hoài, và Trời bảo chúng ta hễ đã biết Trời rồi, thì phải do nơi biết ấy mà dò, mà tìm mà kiếm, mà phăng cho ra mối khỏi còn sai lạc nơi đường tà nẻo vạy nửa.

We have understood why Heaven opened the Way in this Third Era for this Southern Continent, and we have also understood that Heaven lets some people awaken to know Heaven, so as to teach us in turn and lead us to know Heaven and True Principle — Heaven’s true Way — showing us how to escape the demonic snares that keep tempting us into delusion. And Heaven tells us that once we know Heaven, we must use that knowing to probe, to seek, to search, to trace out the thread, so as no longer to stray onto crooked paths and twisted ways.

Trời đã chỉ như vậy rồi mà trời còn e chúng ta không biết các mối chánh ở đâu mà tìm, mà phăng, nên Trời lại còn chỉ cho chúng ta như vậy nữa: hễ gọi là Con của Trời rồi, chịu nhìn nhận Trời là Cha rồi thì phải tuân, phải giữ, phải noi theo đường Đạo mà đi cho trúng đường. Chúng ta nếu ai muốn biết Đạo là chi, thì hãy dọc đi đọc lại bài Thánh-huấn của Đức Phù-Hựu thì hiểu rõ Đạo là chi.

Heaven has shown us this, yet still fears we will not know where the true threads are to seek and trace; so Heaven shows us further: once we are called Children of Heaven and accept Heaven as Father, we must obey, keep, and follow the road of the Way so as to travel the right road. Whoever among us wishes to know what the Way is, let him read over and over the Holy Teaching of Đức Phù Hựu (the Protector-Sage), and he will understand clearly what the Way is.

Đạo có phải là chi đâu xa lạ mà không hiểu, song le ai có duyên muốn tìm Đạo như lời Đức Phù Hựu đã dạy thì mới thấy rõ không lầm không lạc, Đức Phù Hựu đã nói rằng: “Đạo của Trời lập ra dạy đời chẳng khác nào con Đường của vua đấp. Vua đấp đường là vụ cho dân biết đường mà đi cho đến chỗ đô thành của vua đã lập ra cho dân tựu tập thì chỗ ấy là chỗ chánh. Hễ ai biết nhằm con đường phải của vua đấp ra đó, thì đi nhầm chỗ của mình muốn đến, đi đến rồi thì phải tuân theo luật lệ của vua mà ở, phải giữ gìn sự trật tự của người thay mặt cho nhà vua cai trị, thì lo chi chẳng đặng bình an tấn phát”.

The Way is nothing far or strange that cannot be understood; but only whoever has the affinity to seek the Way as Đức Phù Hựu taught will see it clearly, without error or straying. Đức Phù Hựu said: “The Way that Heaven established to teach the world is no different from the road a king builds. The king builds a road so that the people know the way to travel to the capital he has established for the people to gather in; that place is the true place. Whoever knows the right road the king has built travels straight to where he wishes to go; having arrived, he must obey the king’s laws and regulations as he lives there, and keep the order of those who govern in the king’s stead — then why worry about not being at peace and prospering?”

Lời dạy của Đức Phù Hựu đã chỉ cho chúng ta ngó thấy rõ ràng trước mắt rồi đó. Đạo là cái đường đi, tỷ như cái đường đi của nhà vua cho phép đấp, cho phép tựu tập lại mà làm gia trụ, miểng là phải tuân luật lịnh cai trị của người thay mặt nhà vua mà ăn ở cho có trật tự thì là trúng luật, thì đặng bình an tấn phát, vì hễ ai trái với luật nước là sái với Luật Trời, mà Luật Trời tức nhiên là Luật Đạo vậy. Vậy thì ngày này chúng ta có duyên tìm Đạo thì hãy chọn coi chỗ nào có lịnh vua cho phép tựu tập lại đặng giảng Đạo lý, chỗ chánh của Trời đó, thì hãy đến mà lập gia trụ đặng làm ăn cho trúng Đạo, có đến nơi ấy mà tìm phăng, thì mới biết Đạo Trời là chi, đặng tuân theo mà giữ cho kỹ lưỡng; vì chỗ ấy Trời đã dạy cho người tỉnh rồi, thì nương theo người tỉnh ấy mà theo thì nào có lạc bao giờ.

The teaching of Đức Phù Hựu has shown us plainly, right before our eyes. The Way is the road to travel, like the road the king permits to be built, permitting people to gather and make their homes, provided they obey the laws and commands of those who govern in the king’s stead and live in good order — that is keeping the law, and then they will be at peace and prosper; for whoever goes against the law of the land goes against the Law of Heaven, and the Law of Heaven is naturally the Law of the Way. So today, if we have the affinity to seek the Way, let us choose the place where the king’s command permits people to gather to expound the Principle of the Way — Heaven’s true place — and go there to make our home and live in accord with the Way. Only by going there to seek and trace will we know what Heaven’s Way is, so as to obey and keep it carefully; for in that place Heaven has already taught those who are awake, and by following those who are awake, how could we ever stray?

Đức Phù Hựu cũng đã nói rằng: “Chúng ta, đường Đạo thì ngày này nghe nói chớ chưa thấy, có ai tuy thấy được chút ít, song chơn chưa bước đến được tới thềm, vậy thì làm sao mà biết được”.

Đức Phù Hựu also said: “As for us, the road of the Way we have today heard of but not yet seen; some have seen a little, yet their feet have not yet reached the threshold — so how could they know?“

Nếu chúng ta chưa biết được thì hãy tin cậy nơi người đã biết đặng dìu dắt chúng ta chớ có chi đâu. Bằng chúng ta chẳng chịu nương theo người biết, vẫn cứ tự ỷ mình gọi rằng biết, rồi bước ra đường đi một mình, thử coi đến chừng sai lạc rồi trách ai được.

If we do not yet know, then let us trust those who already know to guide us; what is wrong with that? But if we will not follow those who know, and keep relying on ourselves, calling ourselves knowing, and set out on the road alone — wait until we go astray, and then whom can we blame?

Đức Phù Hựu cũng đã dạy rằng: “Hễ người nào muốn xuất thân ra đi đường, thì trước hết phải cho có người thạo đường dìu dắt cho thì đi mới trúng, cũng đừng quá tin nơi mình biết coi nơi địa đồ, hoặc tin nơi mấy tấm thẻ dẫn lộ mà đi càn, nếu bị kẻ gian ngọt mật giết ruồi đánh lừa mà thâu hết vốn liến, đến chừng biết được thì ăn năn không kịp, chừng ấy mới tỉnh lại tiếc vì lúc trước ra đường ỷ mình là người thông minh, không cần người dẫn lối, tiếc như vậy có ích chi chăng?”

Đức Phù Hựu also taught: “Whoever wishes to set out on a journey must first have someone who knows the road well to guide him; only then will he travel aright. Nor should he trust too much in his own reading of the map, or in a few signposts, and travel recklessly; if he is tricked by swindlers — honey that kills the fly — and stripped of all his capital, by the time he realizes it, repentance comes too late. Only then does he come to his senses and regret that, when he set out, he relied on his own cleverness and needed no guide — and what use is such regret?”

Cái vốn liến xác thịt này thì là tiền bạc nhà cửa ruộng đất, nếu bị chúng gạt thì chúng thâu chúng giựt hết vốn liến của chúng ta là vì chúng ta đi lạc, đi sái trên con đường đời.

The capital of this flesh is money, houses, and fields; if we are cheated, they take and snatch all our capital, because we went astray, went wrong, on the road of the world.

Này chúng ta đi trên con đường Đạo mà chúng ta chẳng chịu tuân theo người đã thức tỉnh rồi, chúng ta ỷ mình là thông minh nên chẳng cần ai chỉ lối dẫn đường cho, cứ cho rằng tu là ăn chay niệm Phật vậy là đủ, hay là cứ đọc kinh xem sách mà làm theo cũng được, chẳng cần ai chỉ dẫn làm gì, làm vậy hoài thì nào có chi đâu mà gọi rằng lạc, mà gọi rằng hết vốn liến? Nhà mình mà mình lạc nỗi chi? Tiền bạc mình mình cất kỹ, có ai giựt được đâu mà hết vốn? Có ai cho ai vay hỏi gì đâu mà sợ chúng giựt mà gọi rằng là lạc đó. Lạc hoài, lạc đường đã mấy trăm kiếp rồi mà cũng còn chưa tỉnh, mà vẫn theo miếng cũ cứ đó mà cãi hoài. Dám hỏi: Vậy chớ chúng ta ở đâu mà đi đến đây? Đi đến đây làm chi mà không chịu trở về xứ sở? Cứ bịnh rịnh trên mặt đất này hoài? Tôi từng nghe mấy ông bà lớp xưa nói rằng: Sanh ký tử qui – Sống gởi thác về, ai ai cũng gọi vậy hoài, mà sao thấy lẩn bẩn ở hoài đây, ở hoài trên cõi hồng trần này, cho đến ông bà cha mẹ chúng ta, người nào qua đời rồi thì cũng còn xẩn bẩn còn ở đó với chúng ta hoài, nên chúng ta cứ cúng cơm đơm quả, ai đau ốm thì cúng lạy vái vang nồi chè, bữa giỗ, cơm canh, rượu thịt, cho họ ăn hoài, mà sao lại nói rằng về? Phải về được quê kiển rồi thì sao còn đòi ăn đó? Sao mình còn đây? Có phải là miệng nói sống gởi thác về, nhưng mà vì quên đường về nên còn ở đây hay không? Phải về quê kiển được rồi thì không còn đòi chúng ta nữa, mà chúng ta cũng phải cúng kiến mấy vị trước bằng cơm canh là đồ ăn xác thân này nữa.

Now, we travel the road of the Way, yet will not follow those who have already awakened; we rely on our own cleverness and need no one to point the way. We keep thinking that to cultivate is to eat vegetarian and recite the Buddha’s name and that is enough; or that reading scriptures and books and doing as they say will do, with no need for anyone to guide us. Doing that forever — what is there to call straying, or losing our capital? How could we get lost in our own house? We keep our money carefully; who can snatch it, that we should lose our capital? We have lent to no one, so why fear being robbed and call it straying? Straying forever — straying from the road for hundreds of lifetimes already — and still not awake, still clinging to the old ways and arguing on and on. I dare ask: where did we come from, to arrive here? What did we come here for, that we will not return home? Why linger forever on the face of this earth? I have heard the old folks say: “Life is a lodging, death is a return home” (Sanh ký tử qui) — everyone says so all the time — yet why do we see them lingering here forever, forever in this red-dust world? Even our grandparents and parents, once they pass away, still linger here with us, so we keep offering rice and fruit; when anyone falls sick we make offerings and pray over pots of sweet soup; on death anniversaries, rice, soup, wine, and meat to feed them forever — so how can we say they have returned? If they had returned to their homeland, why would they still demand food? Why are we still here? Is it not that our mouths say “life is a lodging, death is a return home,” yet because we have forgotten the road home, we are still here? If they had returned to their homeland, they would no longer demand anything of us, and we would no longer need to make offerings to our forebears of rice and soup — food for this body.

Cớ chi mà lạc vậy?

Why have we strayed so?

Là quên mình là con của Trời. Cứ tưởng mình này là mình nên chẳng cần ai thức tỉnh chỉ dẫn cho là đi về, tự mình ỷ khôn rồi ra đường phải lạc.

Because we have forgotten that we are Heaven’s children. We keep thinking this self is ourselves, so we need no one to wake us and guide us home; relying on our own cleverness, we set out and must go astray.

Lạc rồi quây về, đáo lại chỗ cũ là trên mặt đất này nữa, đáo đi đáo lại nhiều lần chừng nào, thì Linh Hồn càng phải tối tâm, mù mịch chừng nấy. Luân hồi nhiều kiếp, ngu si càng nhiều, hóa ra cái vốn của Thầy ban khi xưa đã hết mà đến chết, tay không cũng vẫn tay không, như vậy chẳng phải là lạc, chẳng phải là mất vốn hay sao? Ấy là tại ỷ khôn, ỷ lanh, ỷ giỏi chẳng cần ai chỉ lối đem đường, mà dẫu cho có muốn có người chỉ dẫn cho nữa, là cứ nghe theo bọn ngọt mật chết ruồi kia, nó rù nó quến giọng quyển giọng đờn mà thôi, chớ nào có nghe theo đường chánh lẻ ngay mà chịu nhìn mình là con của Trời đâu, cứ gọi mình là kẻ đày đọa giam cầm trong 72 cửa ngục, nên phải nhờ cậy bọn kia vái van cho mới được tiêu được rỗi mà thôi.

Having strayed, we turn back and arrive again at the old place — the face of this earth; the more times we go round and round, the darker and murkier the Soul becomes. Through many lives of transmigration, our ignorance grows, until the capital the Master gave us long ago is used up, and at death we are empty-handed as ever. Is that not straying? Is that not losing our capital? It comes from relying on our own cleverness, quickness, and skill, needing no one to show the way; and even when we do want a guide, we listen to those honey-that-kills-the-fly swindlers, who lure and entice with their silken, lilting voices — and will not follow the straight road and right principle, accepting that we are Heaven’s children. Instead we call ourselves exiles imprisoned behind seventy-two prison gates, who must rely on those others to pray for us before we can be released and saved.

Cho đến ngày này cũng còn nhiều người cũng vẫn tin tưởng như vậy hoài, vì vậy nên Trời mới nhắc cho chúng ta rằng: “Trời khuyên nhủ người tuân theo Đạo” là vậy đó. Hễ tuân theo Đạo rồi thì phải chọn con đường nào chánh đáng của Trời lập mà vào, phải coi chỗ nào của Trời qui mà đến. Lời nào của Thầy dạy phải nghe, hễ nghe thì phải ráng nghe cho rành, nghe rồi liền phải thi hành, thi hành thì chớ cãi canh méo tròn, được vậy mới là tuân theo Đạo cho.

Even today many people still believe this; that is why Heaven reminds us: “Heaven counsels people to obey the Way.” Once we obey the Way, we must choose the true road Heaven has established and enter by it; we must see where Heaven gathers us and go there. Whatever the Master teaches, we must heed; heeding, we must strive to hear it clearly; having heard, we must at once carry it out; carrying it out, we must not quibble over crooked and round — only then are we truly obeying the Way.

Trời khuyên nhủ người tuân theo Đạo,

Heaven counsels people to obey the Way,

Trời khuyên người, ráng tạo quả nhơn;

Heaven counsels people to strive to become Fruited Persons;

Trời khuyên công quả chớ sờn,

Heaven counsels: in your meritorious work, do not lose heart,

Trời khuyên phải nhớ Bốn Ơn chớ rời.

Heaven counsels: remember the Four Graces and never part from them.

Chúng ta đã biết Đạo, đã biết chỗ của Thầy qui rồi, chẳng còm dám cãi canh méo tròn nữa rồi, như vậy chắc được về Bạch Ngọc Kinh của Thầy hay không? Nếu chắc về được sao còn thấy dạy cầu siêu cầu hồn lăng xăng đó. Nếu không chắc về được với Thầy, vậy thì Thầy qui chúng ta về làm chi cho mất sự làm ăn? Để cho chúng ta ở theo đường đời, lo cho có danh có lợi, có tiền bạc của cải cho nhiều, dầu có bề gì đi nữa thì mượn người rổi người cầu cho, được hay không nào có chắc gì đâu, mà cái đời sống này lại được thong thả sung sướng, hơn là đi về với Đạo, đi về tại chỗ Thầy qui, tuân theo Đạo không dám cãi, mà còn phải lôi thôi không chắc gì hết, vì còn phải cầu siêu, cầu hồn lăng xăng như thế tục vậy? Vậy thì nào có ích chi cho chúng ta đâu? Chẳng có ích chi lại còn ép buộc phải về với Đạo làm gì? Đạo nào lại chẳng phải Đạo? Đạo nào cũng vậy, ai kia cũng xưng Chơn Lý vậy. Vậy thì làm sao cho biết chắc mới có thể tìm mà về mà tuân cho!

We have come to know the Way, we know where the Master gathers us, and we no longer dare to quibble over crooked and round — so are we sure to return to the Master’s White Jade Capital? If we are sure, why do we still see prayers for the departed and prayers for souls being taught, all that bustle? If we are not sure of returning to the Master, then why does the Master gather us, making us lose our livelihoods? He might as well leave us to follow the road of the world, seeking name and profit, plenty of money and property; whatever happens, we can hire people to pray for our release — whether it works or not, who can be sure? — and meanwhile this life would be easier and more comfortable than returning to the Way, going to where the Master gathers us, obeying the Way without daring to argue, and still being unsure of anything, still needing prayers for the departed and souls, all that bustle like the world! What good is it to us, then? If it is no good, why insist that we return to the Way? What Way is not a Way? Every Way is the same; everyone claims True Principle. So how can we know for sure, so as to seek it, return, and obey?

Chúng ta mảng có tánh ích kỷ đi hoài, cứ lo sợ mất cái sự sung sướng xác thịt đó nên bo bo tính lợi tính hại, cho tới Trời nói cũng chưa đủ tin. sao chẳng xét chữ của trọn vế, coi coi Trời nói làm sao, mới vừa nghe qua một câu mà đã vội bàn, vội so hơn tính thiệt, nếu vậy mà gọi là về với Chơn Lý là cái gì đâu mà vội xưng là Chơn Lý; chẳng thấy câu sao Trời nói rằng: “Trời khuyên Người ráng tạo Quả Nhơn”, hễ tạo quả nhơn thì được đến Bạch Ngọc Kinh, chắc chắn trăm phần trăm, còn tạo nhơn quả thì luân hồi chịu lấy đừng trách.

We keep being selfish, always fearing to lose the comforts of the flesh, and so we cling to reckoning gain and loss, until even Heaven’s own words are not enough for us to believe. Why not examine the words of the whole stanza and see what Heaven says, instead of hearing one line and hastily debating, hastily weighing gain against loss? If that is how one returns to True Principle, what is it, that one should hastily call it True Principle? Do you not see the line in which Heaven says: “Heaven counsels people to strive to become Fruited Persons” (Quả Nhơn)? Whoever becomes a Fruited Person reaches the White Jade Capital — a hundred percent sure; whoever creates cause-and-effect (nhơn quả) must bear transmigration, and blame no one.

Muốn biết quả nhơn là chi, nhơn quả là chi, thì phải ráng nghe kỹ rồi hiểu thêm lấy, chớ giấy vắn nghĩa dài, không lý viết cho hết được.

To know what a Fruited Person (quả nhơn) is and what cause-and-effect (nhơn quả) is, one must strive to listen carefully and then understand further oneself; the paper is short and the meaning long, so it cannot all be written out.

Một chữ Nhơn nghĩa là Người, là nhơn loại này, là người ta đây, còn một chữ nhơn nữa là cái nguyên nhơn tại làm sao nên mới sanh ra có cái kết quả thế nào; cũng như tại làm sao mà sang hèn, ấy là cái kết quả của cái nguyên nhơn lớp trước, ấy là nhơn quả đó.

One word Nhơn means Person — humankind, people like us. Another word nhơn means the cause: from what cause a certain result arises. For example, why one is noble or lowly: that is the result of a cause from a former life — that is nhơn quả (cause-and-effect).

Còn Quả Nhơn lại nghĩa khác. Quả Nhơn nghĩa là Người đặng kết quả rồi. Hễ người nào đặng kết quả rồi thì người ấy được chứng quả rồi. Hễ công quả rồi thì được về Bạch Ngọc Kinh rồi đó, có còn đâu ở dưới thế hạ này nửa mà tạo cái nhơn quả nào nữa đâu.

But Quả Nhơn means something different. Quả Nhơn means a Person who has come to Fruition. Whoever has come to fruition has attained the Fruit of realization (chứng quả). Whoever’s merit is complete has returned to the White Jade Capital — no longer here in this lower world to create any further cause-and-effect.

Bởi Người là Con của Trời, Người Trời Một Thể Một Ngôi, Trời sai chúng ta xuống thế hạ này đây đặng lập xong danh phận Tam Tài, hễ chúng lập xong hoàn toàn trách nhậm rồi, thì chúng ta dặng chứng quả, thì chúng ta là Quả Nhơn rồi, nghĩa là: Người mà đã đặng kết quả y lời của Trời sai rồi, vinh vang chi bằng. Nếu không đặng kết quả cho y theo lời Trời sai, mà vẫn cứ bo bo lo giàu, lo nghèo, lo sang, lo hèn, lo bề này thế kia ích kỹ cho mình thì là tạo nhơn quả đó, đời đời kiếp kiếp luân hồi theo cái nhơn qủa của mình đã tạo ra thì chịu lấy, như vậy biết bao giờ mà thành cho đến bực Quả Nhơn.

Because Man is Heaven’s Child — Heaven and Man of One Body, One Throne — Heaven sent us down into this lower world to complete the station of the Three Powers. Once we have completed our responsibility fully, we attain the Fruit, and then we are Fruited Persons — that is: Persons who have come to fruition exactly as Heaven commissioned; what could be more glorious? But if one does not come to fruition as Heaven commissioned, and keeps clinging to worries about wealth and poverty, rank and lowliness, this way and that, selfishly for oneself — that is creating cause-and-effect; and one must bear transmigration life after life according to the cause-and-effect one has created. Then when will one ever reach the rank of a Fruited Person?

Bởi cớ ấy nên Thầy mới lập Giảng Đàn đặng qui con cái của Trời về môt chỗ, chỗ Trung Ương Thánh Tòa, đặng Thầy dạy cho chúng ta hiểu rõ Tôn Chỉ vì sao mà Trời mở Đạo, dạy cho chúng ta biết Đạo, cho biết Chơn Lý và lập Cao Thiên Đài thay thế cho Bạch Ngọc Kinh hữu hình nơi thế gian này cho chúng ta ráng lo mà tạo cho đặng Quả Nhơn, đừng cho trôi nổi linh đinh bập bều nữa mà vương lấy nhơn quả thì chịu lấy. Hễ Con của Trời mà còn đường đời, vướng đường đời, thì làm sao cho khỏi nhơn quả đặng.

That is why the Master established the Lecture Hall (Giảng Đàn), to gather Heaven’s children in one place — the Central Holy See (Trung Ương Thánh Tòa) — so that the Master might teach us to understand clearly the Purpose for which Heaven opened the Way, to teach us to know the Way and to know True Principle; and established the Cao Thiên Đài (Temple of High Heaven) to stand in place of the White Jade Capital in Form here in the world, so that we may strive to become Fruited Persons and no longer drift and bob about, entangled in cause-and-effect, and bearing it. If Heaven’s children still walk the road of the world and are entangled in it, how can they escape cause-and-effect?

Chúng ta là Con của Trời, Trời dạy Trời khuyên, mà Trời cũng chẳng biết chúng ta không nghe đâu, vì vậy nên Trời nói: Trời biết chúng ta hay ngỗ nghịch nên Trời khuyên phải ráng. Hễ Quả Nhơn thì đặng về Bạch Ngọc Kinh với Trời, còn ai không ráng thì chịu lấy.

We are Heaven’s children; Heaven teaches and counsels us, yet Heaven also knows we will not listen. That is why Heaven says: Heaven knows we are often unruly, and so counsels us to strive. Fruited Persons return to the White Jade Capital with Heaven; whoever will not strive must bear the consequence.

Còn những kinh kệ cầu siêu, cầu hồn kia là để dành cho những người không ráng đó, vẫn ỷ mình biết, tưởng trăm ban vạn sự ở chỗ đời này là cái tài hay tri giác của mình làm ra đặng, nên mấy lúc như vậy khoe khoan kiêu ngạo, không biết không nhớ đến Trời. Một ngày kia lỡ chơn ruổi bước, hoặc là bịnh họan vô phương rồi, khi ấy mới biết mới nhớ lại đến Trời mà kêu, thì dùng lấy kinh kệ ấy đặng thức tỉnh linh quang cho họ lại cho nhớ nguồn nhớ cội; mà nhớ hay quên, nhớ thiệt hay nhớ giả, cũng đều tại nơi họ chịu ráng hay không mà thôi, chớ chúng ta sao biết được! Chúng ta có quả quyết rằng dùng một vật nào đặng đưa cho họ về Bạch Ngọc được như mấy bọn sải dùng ngọn phan lá phướng rằng đưa họ được về Tây Phương.

As for the scriptures and verses of prayer for the departed and for souls, they are reserved for those who did not strive — who relied on their own knowing, imagining that all the hundred affairs and ten thousand matters of this world were the work of their own talent and wits, and so in such times boasted and grew proud, not knowing or remembering Heaven. One day, when their steps falter, or illness has no cure, only then do they know and remember Heaven and call out; and those scriptures and verses are used to rouse their Numinous Light again, so that they remember their source and root. But whether they remember or forget, remember truly or falsely, depends entirely on whether they are willing to strive — how could we know! We cannot claim to use any object to send them to the White Jade Palace, as those monks use banners and streamers, claiming to send people to the Western Paradise.

Chúng ta có một cái hết lòng cầu cho họ siêu mà thôi, chớ chúng ta có làm chi được: Bởi những người như vậy cũng là Con của Thầy, nên Thầy phải để lời nói của thầy lại cho chúng ta, nếu gập ai còn nhớ đến Trời thì đam những lời ấy ra mà nhắc nhở lại cho họ, phổ độ cho họ mau mau thức tỉnh, vì là lời của Ông Trời để lại có lẽ họ mau nghe hơn. chớ chúng ta cũng là người như họ vậy, cái lời nói của chúng ta là lời nói phàm thức tỉnh ai nỗi, cái lời nói này có một ai rủ ren rù quến làm việc phàm thì mau lọt vào tai người phàm mà thôi; vì vậy nên Trời phải để lời nói của Trời lại mà thức tỉnh cho ai là người biết tội lổi mà kêu đến Trời thì Trời sẻ nhứt định. Vậy chúng ta ai đã chịu ráng rồi, thì hãy mau mau tạo cái Quả Nhơn đi.

We have only a wholehearted prayer for their release — what more can we do? Because such people too are the Master’s children, the Master must leave His words with us, so that whenever we meet someone who still remembers Heaven, we may bring those words out to remind them and help them awaken quickly — for since they are the words of Heaven Himself, they may heed them sooner. We are human like them; what ordinary words of ours could wake anyone? Such words, if anyone uses them to lure and entice people to worldly deeds, slip easily into worldly ears — that is all. That is why Heaven must leave His own words to awaken whoever knows his sins and calls out to Heaven, and Heaven will decide. So those of us who are already willing to strive, let us quickly become Fruited Persons.

Muốn tạo cái Quả Nhơn thì phải làm thế nào cho được! Biết được thì ráng mới được chớ. Hảy xem câu sau thì rõ.

To become a Fruited Person — how must one do it! Only by knowing how can one strive. Look at the next line, and it will be clear.

Muốn ráng cho được chứng vị quả nhơn thì nào có khó chi; “Trời khuyên Công Quả chớ sờn”. Đó, hãy ra công đi, hãy ráng công đi thì được quả chớ có chi đâu lạ

To strive to attain the rank of Fruited Person is not hard at all: “Heaven counsels: in your meritorious work, do not lose heart.” There it is: put in the effort, strive with effort, and you will attain the Fruit — nothing strange about it.

Làm sao gọi ráng Công? Muốn biết làm sao gọi ráng Công thì phải cho hiểu chữ Công, chớ không phải đi làm công đó vậy mà gọi rằng công đâu. Công nghĩa là việc chi làm phải ra sức, mà việc nà ra sức làm cho được kia, mới gọi rằng là Công. Hễ việc khó nhọc ra sức làm cho được, thì thấy nó có Công Hiệu, vì vậy nên gọi là Công. Hễ có Công Hiệu thì thấy có Kết Quả. vì vậy nên gọi là Công Quả, chớ không phải như mấy anh đi đến chùa nói rằng công quả đó đâu!

What is called striving with Effort (Công)? To know what striving with Effort means, one must understand the word Công — not going to work for wages and calling that công! Công means any task that requires one to exert strength; only a task one exerts strength to accomplish is called Công. Whenever a hard task is accomplished by exerting strength, one sees that it has Effect (Công Hiệu); that is why it is called Công. Where there is Effect, there is Result (Kết Quả); that is why it is called Công Quả (Meritorious Work) — not what some fellows mean when they go to the temple and say they are doing “công quả”!

Hỏi mấy anh đó có ra sức làm việc cho có cong hiệu, cho có kết quả hay không, mà gọi là Công Quả? hay là đến cho có mặt, cho có đếm đầu người đặng đếm ngày? Ai có ra sức thì được gọi là Công, mà ra sức cho có kết quả mới gọi là Công Quả. Cũng chẳng khác chi mấy người muốn cho có danh với đời. thì phải ra sức học cho thành tài, ra sức thi khóa cho đậu, thì mới có danh với đời, người ấy là người chuộng vào công danh đó, không có ra sức làm sao có danh được.

Ask those fellows whether they exert themselves so that their work has effect and result, before calling it Meritorious Work — or do they just show up to be counted, as a head among heads, to tally days? Whoever exerts strength may be said to have Effort; only exerting strength to the point of Result is called Meritorious Work. It is no different from those who want a name in the world: they must exert themselves to study until accomplished, exert themselves in the examinations until they pass; only then do they have a name in the world. Such a person prizes merit and fame; without exerting strength, how could he have a name?

Còn chúng ta đều là người tu hành, muốn cho chứng quả đặng làm quả nhơn nên phải ra sức vào việc tu hành cho có công đặng kết quả hết thảy.

As for us, we are all cultivators; wishing to attain the Fruit and become Fruited Persons, we must exert our strength in cultivation, so that our effort comes to full Result.

Muốn ra sức đặng đáng đứng địa-vị gọi rằng Công thì nó còn phải có nhiều bực tùy theo địa-vị của mỗi người phải làm, song le địa vị nào cũng vậy mình phải tự mình xét lấy, tùy theo tài lực của mình miễn là mình phải cho hết sức của mình mà thôi, miễn là có công hiệu, thì làm sao cũng có kết quả đặng; mỗi người lo tròn phận sự cho tròn trách nhiệm của mình thì ráng lấy cho có hiệu quả, hiệu nghiệm đừng có sờn lòng rủng chí nữa, đừng thối chí mà uổng công phu công trình rồi mất công đức, công nghiệp, công dụng, công năng, công lực của mình thì khó gọi công quả.

To exert strength worthy of the station called Effort, there are many grades according to each person’s station and work; but whatever one’s station, one must examine oneself and act according to one’s talent and strength, provided only that one exerts one’s full strength. So long as there is Effect, somehow there will be Result. Let each person fulfill his duty and responsibility completely and strive until there is Effect and Proof; do not lose heart or let one’s will go slack, do not give up and waste one’s labor and toil, and so lose one’s merit, achievement, usefulness, capacity, and strength — or it can hardly be called Meritorious Work.

Trời khuyên nhủ người tuân theo Đạo,

Heaven counsels people to obey the Way,

Trời khuyên người, ráng tạo quả nhơn;

Heaven counsels people to strive to become Fruited Persons;

Trời khuyên công quả chớ sờn,

Heaven counsels: in your meritorious work, do not lose heart,

Trời khuyên phải nhớ Bốn Ơn chớ rời.

Heaven counsels: remember the Four Graces and never part from them.

Tự bấy này đem thân ra gọi là đi tu mà cũng chưa hiểu tu là chi, nói rằng đi công quả làm công quả, mà cũng chứ hiểu công quả là gì. Này nghe hiểu rõ Công và Quả là hai việc, nghĩa là phải ra sức làm cho có công hiệu cho đặng kết quả thì mới gọi là Công Quả, mà trong những việc làm cho có công có quả đó, phải Nhứt Tâm gắn bó làm cho có kỷ cang, đừng có sờn lòng thối chí kỳ cho thấy đặng mới thôi thì cái quả kia mới thật là kết quả cho.

All this time we have set ourselves out as “going to cultivate,” without yet understanding what cultivation is; we say we go to do meritorious work, without understanding what meritorious work is. Now hear and understand clearly: Effort and Result are two things — that is, one must exert strength until there is Effect and Result; only that is called Meritorious Work. And in all such work that brings Effort and Result, one must, with Single Heart, hold fast and work meticulously, never losing heart or will until one sees it through — only then is that Fruit truly a result.

Song le đã đem thân ra gọi là người tu thì việc đời không phải là bỏ tuyệt như nhiều kẽ gọi rằng là bỏ đời theo Đạo vậy đâu. Người mà gọi rằng là bõ đời thì làm sao mà gọi rằng theo Đạo cho đặng?

But having set oneself out as a cultivator, one does not abandon the world entirely, as many speak of “abandoning the world to follow the Way.” How can one who has “abandoned the world” be said to follow the Way?

Đời ấy ấy của ai dựng ra đó? Đạo này là của ai tạo lập ra đây? Cũng đều là của Trời tạo ra cho cả thảy chúng sanh do nơi đó mà lập cái thân này, mà nuôi lớn cái xác thân này, có lẽ nào bỏ bên này đặng theo bên kia bao giờ. Người đi tu mà không có đời thì sao gọi rằng là đi tu cho đặng. Ai tạo lập ra, ai nuôi dưỡng, ai dạy dỗ cái thân này cho có ra đây đặng mà đi tu, rồi đi tu gọi rằng là bỏ đời đi! Người đã phụ rãy đường đời có đáng gọi là Người Ta không? Không Người sao có Ta? Không Ta sao có Người? Vậy thì Đời với Đạo cũng là Một, có Đạo mới nên Đời, có Đời mới lập Đạo đặng. Vậy thì người nào hiểu Đạo, người và tuân Đạo, người nào nhìn nhận rằng mình là con của Trời, Người của Trời sai xuống thế gian này đặng lập cho xong danh phận Tam Tài, thì cũng phải biết rằng cả thảy thế gian kia đều là vật cuả Trời, đều là anh em ruột thịt một nhau rún với mình mà có lẻ nào mà mình bỏ đi mà theo Đạo nào? Có Đạo nào dạy vậy đâu?

Who built that world? Who established this Way? Both were created by Heaven for all living beings; through them this body was formed, and this body nourished and grown — how could one abandon this side to follow that one? A person who goes to cultivate without the world — how can that be called cultivation? Who formed, who nourished, who taught this body so that it exists here to go and cultivate — and then, going to cultivate, one calls it abandoning the world! A person who turns his back on the road of the world — does he deserve to be called a Person (Người Ta — literally “Others-and-Self”)? Without Others, how is there Self? Without Self, how are there Others? So the World and the Way are One: only with the Way is the World made; only with the World can the Way be established. Whoever understands the Way, obeys the Way, and accepts that he is Heaven’s child, sent by Heaven into this world to complete the station of the Three Powers, must also know that the whole world is Heaven’s, all his own flesh-and-blood brothers and sisters of one navel — how could he abandon them to follow any Way? What Way teaches that?

Đời thuộc về phần vật chất. Đạo thuộc về phần Thiêng Liêng. Đời thuộc về xác thân, Đạo thuộc về Linh Hồn. Đời là Người, Đạo là Ta, v.v..

The World belongs to the material; the Way belongs to the Sacred. The World belongs to the body; the Way belongs to the Soul. The World is Others; the Way is Self, and so on…

Có vật chất mới có chỗ Thiêng Liêng mượn mà hành sự, có xác thân mới có chỗ cho Linh Hồn tạm vào mà làm phận sự; có Người mới có kẻ giúp ta, vậy thì Ta phải nhớ Người, Linh Hồn phải cậy xác thân, Thiêng Liêng phải cậy vật chất, hai vật này như hình với bóng, không đặng thiếu sót, không đặng có vật này mà thiếu vật kia, nếu trong thân vật mà thiếu đi môt vật thì vật nào đó là vật chết rồi, vậy đừng ai gọi rằng xã thân cầu Đạo mà lầm, đừng ai nói bỏ đời theo Đạo mà hại, song le đã gọi là người đi tu rồi mà còn quyến luyến hồng trần, mê mẫn theo đời thì không đặng. Tuy biết rằng không đặng rời bỏ đời, nhưng trong phần đời ấy còn phải có bốn phần liêng-cang, dính dấp, còn phải cho người đi tu phải nhớ đến hoài, phải lo đến hoài, không đặng giây phút quên ơn bốn phần ấy.

Only with the material is there a place for the Sacred to borrow in order to act; only with the body is there a place for the Soul to lodge temporarily to do its duty; only with Others is there someone to help Self. So Self must remember Others, the Soul must rely on the body, the Sacred must rely on the material: these two are like form and shadow, neither may be lacking; it cannot be that one is present and the other absent. If within a living thing one of them is missing, that thing is already dead. So let no one make the mistake of speaking of “giving up the body to seek the Way,” let no one do harm by saying “abandon the world to follow the Way.” Yet one who is called a cultivator may not remain attached to the red dust and infatuated with the world. Though we know one may not abandon the world, within that worldly part there are still four parts to which one is bound and connected, which the cultivator must always remember and always care for, never for a moment forgetting his debt of gratitude to them.

Nếu gọi rằng là đi tu, mà quên bốn phần ấy thì làm sao gọi rằng là người đi tu cho đặng.

If one is called a cultivator yet forgets those four parts, how can one be called a cultivator?

Bốn phần ấy là chi? Ấy là bốn phần gọi rằng là đại ân nhân của người đi tu đó, còn đương ở nơi vòng đời, chưa có rỗi rảnh mà đi tu cho đặng. Nay chúng ta đã đi tu rồi thì phải lo phải nhớ đến bốn bực người đó lo về phần đời nên chúng ta mới rảnh rang đặng lo phần Đạo mới đặng. Vậy chúng ta phải khắn khích gắn bó hoài hoài đừng quên bốn bực ấy mới gọi là người chân tu.

What are those four parts? They are the four called the great benefactors of the cultivator, who are still within the circle of the world and not yet free to go and cultivate. Now that we have gone to cultivate, we must care for and remember those four kinds of people, who see to the worldly part so that we are free to see to the Way. So we must hold fast to them always and never forget those four — only then are we called true cultivators.

Bốn bực người gọi là ân nhân ấy là ai? Là:

Who are those four kinds of people called benefactors? They are:

1.  Cha Mẹ

1. Father and Mother

2.  Chúng Sanh

2. All Living Beings

3.  Người Trị Nước

3. Those who Govern the Country

4.  Người đứng vào hàng Tam Bảo

4. Those who stand in the rank of the Three Jewels (Tam Bảo)

Bốn hạng người này còn có ở đường đời song có tình liên lạc với chúng ta, nhờ có bốn hạng ấy nên chúng ta đã đặng rảnh rang phần đời mà đi tu vì vậy gọi là đại ân nhân chúng ta đó.

These four kinds of people are still on the road of the world, yet have ties of affection with us; thanks to these four we have been freed from the worldly part to go and cultivate — that is why they are called our great benefactors.

1. Phần thứ nhứt là Cha Mẹ, tuy trong ấy gọi là Cha Mẹ song trong ấy gồm đủ cả ông bà cô bác thân tộc họ hàng của chúng ta ở trong này khỏi giải cho tốn giấy, chắc anh em tự nghỉ lấy cũng đủ hiểu.

1. The first part is Father and Mother. Though it says Father and Mother, it includes our grandparents, aunts and uncles, kin, and relatives; no need to explain at length and waste paper — surely you can think it through and understand.

2. Phần thứ hai là chúng sanh. Bực này gọi là đại ân nhân của chúng ta đó. Hãy nghe kỹ xét kỹ mà cám ơn bực này cho lắm đó. Nhờ có cái hạng chúng sanh trước mắt, chúng ta biết Đạo là quý, Đạo là trọng, nên mới để lòng vào tìm Thầy, tìm Chơn Lý đặng thóat vòng chúng sanh mà vế với Đạo đặng, nếu không có hạng chúng sanh thì chúng ta nào có biết lấy chi làm gương, lấy chi gọi là cực khổ, lấy chi gọi là xấu hổ đê tiện, lấy chi gọi là trầm luân đặng sợ đặng lo đặng tìm kiếm Đạo mà sửa mình cho tấn hóa đâu! Nói tắc là nhờ chúng sanh đó họ làm gương xấu, gương đê hèn, gương quấy, gương tội lổi, v.v… cho chúng ta ngó thấy mà tránh đặng đừng có bước vào con đường đó là con đường phải bị luân hồi đời đời kiếp kiếp, nên chúng sanh đó là ân nhân của chúng ta vậy.

2. The second part is All Living Beings. These are our great benefactors. Listen carefully, examine carefully, and be most grateful to them. Thanks to the living beings before our eyes, we know that the Way is precious, the Way is weighty, and so we set our hearts on seeking the Master, seeking True Principle, so as to escape the circle of living beings and return to the Way. If there were no living beings, from what would we take an example, what would we call suffering, what would we call shame and baseness, what would we call sinking into the round of rebirth, so as to fear, to worry, to seek the Way and correct ourselves so as to evolve? In short, thanks to living beings, who set bad examples, base examples, wrong examples, sinful examples, and so on, for us to see and avoid, so as not to step onto that road — the road of transmigration life after life — those living beings are our benefactors.

3. Phần thứ ba là ơn người cai trị nước, cái ơn này không giảng ra chắc anh em cũng phải hiểu rồi, nếu không có người cai trị trong nước cho thái bình thì chúng ta làm sao mà tu cho yên, ơn này lớn biết bao. Chớ nghịch mạng lịnh của người cai tri nước, làm rối loạn trật tự của người cai trị mà mang tội lổi với Trời. Ráng nhớ cái ơn này cho lấm lấm. Đừng tin càng tưởng vơ nghe theo lũ chòm ông xóm kiến mà nghịch Mạng Trời.

3. The third part is the grace of those who govern the country. This grace surely needs no explaining; without those who govern the country and keep it at peace, how could we cultivate in peace? How great this grace is! Do not defy the commands of those who govern the country, throwing their order into disorder and incurring sin before Heaven. Strive to remember this grace most earnestly. Do not foolishly believe and idly heed the cliques of the hamlet and the gangs of the neighborhood, and so defy Heaven’s Mandate.

Vì người cai trị nước là có vưng lịnh của Trời sai mới cai-trị một nước đặng. Nghịch mạng người cai trị là nghịch mạng Trời đó. Dẩu cho người nào có Lịnh trên sai cai tri một xóm một làng cũng còn không dám nghịch mạng người ấy thay, huống chi người cai trị một nước.

For those who govern the country do so by Heaven’s command; only so can they govern a country. To defy those who govern is to defy Heaven. If even someone appointed from above to govern a single hamlet or village may not be defied, how much less one who governs a whole country.

Ơn của người cai trị trong nước nặng nề lắm vì phải đủ điều mà nuôi sống cho cả nhơn dân, lo cho đặng thái bình thạnh trị, ơn ấy vô cùng là lớn. Phải để lòng mà nhớ ơn ấy hoài hoài, nếu quên thì phải người gọi là tu theo Chơn Lý, không đặn gọi là con của Trời. Phải nhớ! Phải nhớ!

The grace of those who govern the country is very weighty, for they must see to everything to sustain the life of the whole people and secure peace and good order; that grace is boundlessly great. One must keep it in one’s heart always; whoever forgets it cannot be called one who cultivates according to True Principle, nor be called a child of Heaven. Remember! Remember!

4. Ơn của người đứng vào hạng Tam Bảo. Tam Bảo có nhiều hạng, phải cần giải nghĩa riêng mới rõ đủ. Đây xin giải một cạnh sơ sơ danh hiệu vào bực chót bực thấp mà thôi. Sau có giờ rảnh sẽ giải thêm.

4. The grace of those who stand in the rank of the Three Jewels. There are many kinds of Three Jewels, requiring a separate explanation to be fully clear. Here I will explain only briefly the title at its very lowest level; later, when there is time, I will explain more.

Người có lòng dưng hương phụ trợ, phụ cấp cho chùa, v.v… đều gọi là người đứng vào hạng Tam Bảo, vì vậy nên mới có tiếng gọi của chùa là tam bảo đó, ai đi dưng cúng cho chùa đều gọi là người tam bảo. Vật chi cúng chùa đều gọi là vật tam bảo. Của trong chùa đều gọi là của tam bảo. Ấy là về phần nhỏ nhít hữu hình đó, còn nhiều nữa, phần vô hình nữa, phải cần có ngày giờ mới giảng đủ.

Those who have the heart to offer incense and support, to contribute to the temple, and so on, are all called people who stand in the rank of the Three Jewels; that is why the temple’s property is called “Three Jewels” property: whoever makes offerings to the temple is called a person of the Three Jewels; whatever is offered to the temple is called a Three Jewels thing; whatever belongs to the temple is called Three Jewels property. That is the small, formed part; there is much more, the formless part as well, which needs more time to explain fully.

Muốn thành đặng gọi là người tu-hành trưóc phải cho có công quả, kế đó phải nhớ khắn khích bốn ơn mới đặng.

To become what may be called a cultivator, one must first have Meritorious Work, and next must hold fast to the Four Graces.

Còn muốn cho đặng bực Phật như Thích Ca phải có Mười Ơn mới trọn.

And to attain the rank of Buddha like Shakyamuni, one must have Ten Graces to be complete.

Huống chi chúng ta này là người tu hành là học làm Trời, phải cần ít nữa là trăm ơn, ngàn ơn, muôn ơn cho khắn khích, vì vây nên Thầy mới có câu:

How much more, then, for us cultivators who are learning to be Heaven: we must hold fast to at least a hundred graces, a thousand graces, ten thousand graces. That is why the Master has the line:

“Trời khuyên phải nhớ bốn ơn chớ rời.”

“Heaven counsels: remember the Four Graces and never part from them.“

Vế số 3

Stanza 3

Trời đã dạy nhớ Trời Độc Nhứt,

Heaven has taught: remember the One and Only God Within,

Trời khuyên người tuyệt dứt phàm tâm,

Heaven counsels people to cut off the worldly heart utterly,

Trời khuyên ráng học ráng làm,

Heaven counsels: strive to learn, strive to do,

Trời khuyên người chớ tin xàm tưởng vơ.

Heaven counsels people: do not believe foolishly or imagine idly.

“Trời đã dạy nhớ Trời Độc Nhứt”

“Heaven has taught: remember the One and Only God Within“

Hỏi: Trong một câu này mà có hai chữ Trời, là vì ý chi vậy? Trời nào đã dạy đó? Đã có Trời dạy rồi mà còn lại dạy phải nhớ Trời nào nữa? Đã gọi rằng Trời, mà lại còn gọi có “Trời Độc Nhứt” nữa! Nghĩa là “Ngôi Trời có Một không hai”, nếu vậy chẳn là Trời có nhiều Ngôi lắm hay sao? Bởi Trời có nhiều Ngôi nên mới có Ngôi Trời tương đối, vì có Ngôi Trời tương đối nên mới có Ngôi tuyệt đối, hễ có Ngôi tuyệt đối nên mới có Ngôi Độc Nhứt vô nhị (có một không hai); cũng như trong câu này mà phải có đến hai Ngôi Trời hay sao? Có một Ngôi dạy đặng nhớ Ngôi Độc Nhứt kia. Vậy thì Ngôi dạy này là ai? Cái Ngôi Độc Nhứt kia là ai? Mà hễ nhớ cái Ngôi Độc Nhứt kia rồi, thì cái Ngôi dạy này phải làm sao? Lại còn một phần nữa là: đã nói Người là con của Trời, “Người Trời một Thể một Ngôi”: vậy chớ Trời đó lại là Trời nào nữa? Xét đi xét lại, sao nghe Trời có nhiều quá vậy?

Question: In this one line there are two “Heavens” — why so? Which Heaven has taught? If Heaven has already taught, which other Heaven must we still remember? Having said “Heaven,” why further speak of the “One and Only Heaven” (Trời Độc Nhứt) — meaning “the Throne of Heaven that is One and has no second”? Does that mean Heaven has many Thrones? Because Heaven has many Thrones, there is a relative Throne of Heaven; because there is a relative Throne, there is an absolute Throne; and because there is an absolute Throne, there is the Throne that is One and Only, without a second. Must there then be two Thrones of Heaven in this one line — one Throne teaching us to remember that One and Only Throne? Then who is this teaching Throne? Who is that One and Only Throne? And once we remember that One and Only Throne, what of this teaching Throne? And there is a further part: we have said that Man is Heaven’s child, “Heaven and Man of One Body, One Throne” — then which Heaven is that? Examining it this way and that, why do there seem to be so many Heavens?

Đáp: Trời vốn có Một Ngôi chớ nào có nhiều, Ngôi Một ấy là Ngôi Độc Nhứt vô nhị, Chí Bửu Chí Tôn vậy. Nhưng chẳng phải nói rằng có Một, rồi Một Ngôi đó trơ trơ trọi trọi đó vậy gọi rằng là Ngôi Một đâu! Trời là Sanh Hóa, Trời là sự Sống thiêng liêng của cã kiền khôn vũ trụ, vì vậy nên Trời không biết bao nhiêu mà đếm cho xiết. Tuy vẫn rằng nhiều, song le trong những Ngôi ấy, tóm tắc lại có ba phần gồm trọn đủ cả thảy mấy trăm vàng ngôi kia. Hiểu đặn Ba Ngôi này rồi, thì còn phải thâu rút lại còn Một Ngôi Một mà thôi, vì có Một Ngôi Một này mới có Ba Ngôi kia, có Ba Ngôi kia mới có Sanh Sanh Hóa Hóa ra muôn vàn Ngôi khác, bao trùm cà kiền khôn thế giái mà đều đặng có sự Sống như nhau. Cái Ngôi Một ấy là Ngôi Độc Nhứt vô nhị vậy; ấy là Ngôi Chí Bửu Chí Tôn đó, ấy là Ngôi tuyệt đối đó.

Answer: Heaven has in origin One Throne, not many; that One Throne is the Throne that is One and Only without a second, the Utterly Precious, Utterly Venerable (Chí Bửu Chí Tôn). But it is not that, since there is only One, that One Throne sits there isolated and alone, and that is called the One Throne! Heaven is Generation and Transformation; Heaven is the Sacred Life of the whole Universe; and so the Heavens are countless beyond reckoning. Though they are many, those Thrones may be summed up in three parts that include all those hundreds and thousands of Thrones. Having understood these Three Thrones, one must further draw them back into One Single Throne; for only because there is this One Single Throne are there those Three Thrones, and only because there are those Three Thrones is there endless Generating and Transforming of ten thousand other Thrones, embracing the whole Universe, all equally possessing Life. That One Throne is the Throne that is One and Only without a second; it is the Throne Utterly Precious, Utterly Venerable; it is the Absolute Throne.

Muốn biết sự Sanh Hóa của Ngôi Trời Độc Nhứt, thì phải hiểu câu Thánh Giáo bài sơ giảng học đường của Thầy đã giảng ra một tia Chơn Lý ra cho chúng ta rồi. Thầy đã dạy chúng ta suy kỹ nghiệm cang cho biết rồi, song vì lòng chúng ta quá vọng quá lo ích kỷ , quá lo tự tôn tự đại, nên đọc rồi bỏ qua, kẻ ỷ mình biết cửu cửu bất nhứt chi đó đem ra nói om sòm, rồi gọi mình là giỏi; người biết thái cực lưỡng nghi tứ tượng bác quái gì đó, rồi đem ra cãi lẩy rầm rộ, có kẻ lại nhứt nhi tam, tam hiệp nhứt, rồi bày dặt tam gian hiệp nhứt vấy vá phá rối Đạo Trời, mạnh ai nấy cãi, nấy chia phe phân phái, chớ nào có ai chịu suy kỷ nghiệm cang như lời Đức Chí Tôn đã trân trọng dạy dỗ khuyên lơn đó đâu!

To know the Generation and Transformation of the Throne of the One and Only Heaven, one must understand the Holy Teaching of the Master’s Introductory School Lecture (bài sơ giảng học đường), which has set forth a ray of True Principle for us. The Master has taught us to ponder carefully and verify thoroughly until we know; but because our hearts are too reckless, too selfishly anxious, too self-exalting, we read it and pass it by. Those who rely on knowing something about “nine nines are not one” or the like bring it out and talk noisily, calling themselves clever; those who know something about the Supreme Ultimate, the Two Modes, the Four Images, the Eight Trigrams bring it out and argue loudly; others take “One becomes Three, Three unite into One,” and devise “Three Realms united as One,” patching and stitching to throw Heaven’s Way into confusion — each arguing as he pleases, each splitting into factions and schools; but who is willing to ponder carefully and verify thoroughly, as Đức Chí Tôn so earnestly taught and counseled!

Hãy đọc lại cho kỹ và suy xét cho cùng, và hãy đọc Thánh Huấn của Đức Phù Hựu câu “Người không lúa thì Người dâu còn, cũng như Trời không Người thì Trời nào có; nhưng mà lúa ấy phải nhờ có Người mới có, cũng như nhờ Trời mà ra vậy.”

Read it again carefully and examine it to the end; and read the Holy Teaching of Đức Phù Hựu, the line: “Without Rice, where would Man be, just as without Man, where would Heaven be; and yet that Rice must exist through Man, just as Man comes forth from Heaven.“

Xin anh em lớn nhỏ, hãy ráng suy nghiệm bài Thánh Huấn sơ giảng học đường của Đức Chí Tôn cho kỹ, và dọc cho chín chắn bài Hột Lúa của Đức Phù Hựu nơi ấy cho tin tường rồi trước đi, khi ấy tôi và anh em sẽ trao đổi ý kiến lại mà tìm cho ra nghĩa lý câu: “Trời đã dạy nhớ Trời Độc-Nhứt”, đặng cho biết coi mấy Ngôi Trời kia là Ngôi nào, còn Ngôi nào dạy đây, Ngôi Trời Độc Nhứt là Ngôi nào, Ngôi con cái của Trời ấy là ai, Ngôi hiệp nhứt với Trời ở đâu, v.v… mà tìm chớ, cho thấy Đạo của Trời.

I beg all brothers and sisters, great and small, to strive to ponder carefully Đức Chí Tôn’s Holy Teaching of the Introductory School Lecture, and to read thoroughly Đức Phù Hựu’s Grain of Rice teaching there until you are confident of it; then you and I will exchange views together to find the meaning of the line “Heaven has taught: remember the One and Only Heaven” — so as to know which Thrones those Heavens are, which Throne is teaching here, which Throne is the One and Only Heaven, who the Throne of Heaven’s children is, where the Throne of union with Heaven is, and so on — and seek until we see Heaven’s Way.

Tôi chẳng phải chẳng chụi đem ý kiến của tôi ra trước đây đặng giảng cho anh em rõ. song câu Thánh Huấn này, câu Trời đã dạy nhớ Trời Độc Nhứt đây, ấy là một câu tóm tắt Con Đường Chánh cho chúng ta phải biết mà tìm đó, ai chụi ra công khảo cứu thì thấy, bằng ai bỏ qua thì chụi lấy.

It is not that I am unwilling to set out my own views first to explain for you; but this Holy Teaching, this line “Heaven has taught: remember the One and Only Heaven,” is a line that sums up the True Road we must know and seek. Whoever is willing to put in the effort to study it will see; whoever passes it by must bear the consequence.

Tự bấy này, từ khi có bài sơ-giảng đến bây giờ, không thấy ai chịu suy kỹ nghiệm cang như lời Thầy đã dạy, mà thầy là Đại Từ, Thầy cũng đã nhắc lại nhiều lần rồi, như nhắc câu:

All this time, from the Introductory Lecture until now, I have not seen anyone willing to ponder carefully and verify thoroughly as the Master taught; yet the Master, being Great Compassion, has reminded us many times, as in the lines:

“Phải tin cậy Một Trời Độc Nhứt,

“You must trust in the One and Only God Within,

Phải ân cần tuyệt dứt phàm tâm”

You must earnestly cut off the worldly heart utterly.“

hai câu ấy có khác chí câu này dâu:

How are those two lines different from these:

“Trời đã dạy nhớ Trời Độc Nhứt,

“Heaven has taught: remember the One and Only God Within,

Trời khuyên người tuyệt dứt phàm tâm”;

Heaven counsels people to cut off the worldly heart utterly“?

hai câu vốn là Một, mà khác chỗ dạy thôi, vì tự bấy này không ai chịu khảo cứu, tới ngày này muốn đem ý kiến của tôi ra phô bày cho anh em xét, song nghĩ vì lời Trời dạy anh em còn bỏ qua thay, huống chi là tôi nói mà ích chi với anh em đâu!

The two couplets are in origin One, differing only in where they are taught. Because all this time no one has been willing to study them, I would like today to set out my views for you to examine; but considering that you still pass by even Heaven’s teaching, what use would my words be to you!

Vậy cúi xin anh chị em, ai là người chịu đọc chịu học, chịu suy kỹ nghiệm cang, chịu tra xét lời Đức Phù Hựu dạy, chịu đem lòng tìm cho ra Mối Đạo, chịu đem lòng xét cho thấy ngọn đuốc Chơn Lý, thì khi ấy chúng ta sẽ hiệp nhau lại mà trao đổi ý kiến câu này mà thôi.

So I humbly beg you, brothers and sisters: whoever is willing to read, willing to study, willing to ponder carefully and verify thoroughly, willing to search out what Đức Phù Hựu taught, willing to set the heart on finding the Thread of the Way, willing to set the heart on seeing the Torch of True Principle — then we will gather together and exchange views on this line, and nothing else.

Còn nữa, mà chưa biết ngày nào.

There is more, but when, I do not yet know.

Còn đợi bạn tri âm sẽ khải khúc cầm Chơn Như.

Still waiting for a kindred spirit, to strike up the melody on the lute of Suchness (Chơn Như).

Đức Tổ Sư Hổn Ngươn Thiên Sư Chưởng Quản

(1936)

Lý Khí

Primordial Energy

Làm căn bản cho những

Vật Sống Hữu Hình

As the Foundation of

All Living Things in Form

Bài dạy Đạo của

A teaching on the Way by

Đức Hổn Ngươn Thiên Sư Chưởng Quản

(1936)

Cái mà Ta gọi là Ngươn Khí sanh ra Trời Đất nó có sẵn trong thân thể Con Người chớ phải không hay sao.

What I call the Primordial Energy (Ngươn Khí) that gave birth to Heaven and Earth — is it not already present within the body of the True Person?

Nhứt Tâm Qui Hướng Vô Vi Chưởng Giáo, thành thật Tâm thì rõ liền:

Turn with Single Heart toward the Formless Head of Teaching (Vô Vi Chưởng Giáo), with a sincere Heart, and you will see it at once:

Kìa trong thân thể Con Người tứ chi bác mạch, gân cốt xương thịt, nhờ chi mà Sống mà Sanh, nhờ cái chi mà vận chuyển đặng? Có phải là nhờ cái Hơi có sự thở ra thở vào tự nhiên đó hay không? Cái phổi kia là vật để cho hơi dùng làm việc bổn phận đó vậy. Cái Hơi thở ra thở vào gọi là “Khí Hô Hấp”. Cái Khí Hô Hấp của người ấy nó cấu tạo hồi lúc Tiên Thiên đặng làm cho có thân người bây giờ, thì cái Khí ấy gọi là “Ngươn Khí”. Cái Tiên Thiên Ngươn Khí tuy đã biết rằng là ở trong cái Nguyên Khí nhân luân của cha mẹ, nhưng mà lúc trước khi cái Nguyên Khí nhân luân ấy phát sanh ra thì cũng phải có một cái nguyên nhân gì mới được, chớ chẳng lẽ khi không mà có. Cái nguyên nhân mà khiến cho cái Tiên Thiên Ngươn Khí nó nhân luân lại đó đặng cấu tạo ra cái thân này thì gọi là cái Nguồn Ngươn Khí, mà trong Nguồn Ngươn Khí nó phải có một cái “Nguyên Lý” cho chánh thức chánh đáng thì cấu tạo cái thân này ra mới Chơn Chánh, nếu cái Nguyên Lý ấy không được chơn chánh thì dầu cho có cấu tạo cái thân này ra cho đặng nữa thì cái thân này chẳng hề có đặng. Chơn Tánh hoàn toàn, là vì nếu cái Nguyên Lý và Nguyên Khí không được chơn chánh thì khó bề hiểu biết Chơn Lý được vì trong mình nó đã không có sẵn cái Tiên Thiên Chơn Lý Nguyên Khí, vì vậy nên phải thường mê sa về vòng vật chất, hoặc tả đạo bàn môn, vì phái ấy đều là phái tà vọng, nên phù hạp với cái nguồn ngươn khí của nó.

Look at the human body — the four limbs and hundred vessels, sinews, bones, and flesh: by what do they live and grow, by what can they move? Is it not by the Breath that naturally flows out and in? The lungs are the instrument the breath uses to do its duty. The breath flowing out and in is called “Respiratory Energy” (Khí Hô Hấp). When that Respiratory Energy was formed in the Prior Heaven stage so as to give rise to the body a person has now, that Energy is called “Primordial Energy.” Though we know that Prior Heaven Primordial Energy lies within the Original Energy of the parents’ union, before that Original Energy of union arose there must also have been some cause — it could not come from nothing. The cause that drew the Prior Heaven Primordial Energy together in union to form this body is called the Source of Primordial Energy (Nguồn Ngươn Khí); and within the Source of Primordial Energy there must be an Original Principle (Nguyên Lý) that is upright and proper, for the body thus formed to be true and upright. If that Original Principle is not true and upright, then even if this body is formed, it will never have a complete True Nature (Chơn Tánh). For if the Original Principle and Original Energy are not true and upright, it is hard to understand True Principle, since one lacks within oneself the Prior Heaven True Principle and Original Energy; and so one is constantly deluded and drawn into the circle of the material, or into heterodox ways and side-doors — for those schools are all crooked and reckless, and so they accord with that person’s own source of energy.

Vậy, đủ rõ rằng Người mà được có ra, đước Sống, được Sáng là nhờ cái “Nguồn Ngươn Khí” đó, vì cái Nguồn Ngươn Khí nó đi ở trong châu thân con người chẳng sót một chỗ nào, dầu cho một cái chót tóc chơn lông nó cũng là không sót

So it is clear that a person comes to exist, to Live, to be Bright, thanks to that “Source of Primordial Energy“; for the Source of Primordial Energy flows throughout the whole human body, missing no place at all — not even the tip of a hair or the root of a pore.

Lúc nó ở ngoài thì nó dựng nên Kiền Khôn Võ Trụ, nó nưng đỡ và che đậy cho Trời Đất vững vàng.

When it is outside, it raises up the Universe, supporting and sheltering Heaven and Earth so they stand firm.

Lúc nó vào trong châu thân Con Người thì nó cũng nuôi dưởng Con Người cho đặng trường sanh bất tử. Nó lên lên xuống xuống, vô vô ra ra, không hay biết đặng, điều hòa đêm ngày, không một nhịp nào có sự gay go trắc trở là không dịu dàng êm ái hòa nhã.

When it enters the human body, it likewise nourishes the True Person toward Long Life and Deathlessness. It rises and falls, goes in and out, unnoticed, harmonizing day and night, without a single beat that is harsh or obstructed, never less than gentle, soft, and harmonious

Cũng nhờ cái sức điều hòa ấy nên Trời kia Đất này, Người đây, mới được có Sự Sống vô biên vô lượng.

Thanks to that harmonizing power, that Heaven, this Earth, and this Man have boundless, immeasurable Life

Luận về việc lớn cả thể thì cái Nguồn Ngươn Khí nó sanh trưởng cho cả Võ Trụ và Nhơn Loại như vậy, còn luận lại việc nhỏ nhứt tế vi hết sức thì dầu cho có một hột cát hột bụi trần thì cũng có cái Nguồn Ngươn Khí nó ẩn ở trong đặng sanh dưởng cho hột cát hột bụi đó. Nếu trong hột cát hột bụi đó mà không có cái Nguồn Ngươn Khí ẩn núp ở trong thì có đâu mà làm phận sự đặng nuôi cho cây cỏ bông trái nó sống, nó tươi đặng khoe khoang đua nở, trải lá phơi cành ứng đủ màu xinh vẻ đẹp? Nó ẩn ở trong một hột cát hột bụi nhỏ nhít như vậy thì nó trưởng dưỡng những vật nhỏ như cây cỏ bông trái đó; còn kìa mấy trái núi đồ sộ kia, mấy cây đại thọ dìm già chống trời đó, nhờ chi mà được sựng sựng vậy? Chỉ chẳng phải cũng nhờ cái Nguồn Ngươn Khí đó sao?

Speaking of the greatest scale, the Source of Primordial Energy gives birth to and grows the whole Universe and humankind like this; speaking of the smallest and most minute scale, even a single grain of sand or speck of dust has the Source of Primordial Energy hidden within it to give birth to and nourish that grain of sand or speck of dust. If that grain of sand or speck of dust did not have the Source of Primordial Energy hidden within, how could it do its duty to nourish grasses, trees, flowers, and fruit, so that they live and flourish, vying to bloom, spreading leaves and branches, showing every lovely color and grace? Hidden within so tiny a grain of sand or speck of dust, it nourishes small things like grasses, trees, flowers, and fruit; and those towering mountains, those ancient great trees propping up the sky — by what do they stand so firm? Is it not likewise thanks to that Source of Primordial Energy?

Ta hãy phóng thêm cái tầm con mắt ta ra thêm xa nữa mà coi mà xét thì thấy, nước bốn biển năm hồ, nhờ cái chi mà lên lên xuống xuống, lớn lớn rồng rồng, kém kém? Nhờ cái chi mà nay lở chỗ nầy, mai bồi chỗ khác? Nhờ cái chi mà cồn hóa vực, vực hóa cồn? Nù nù những hòn nổi giửa biển kia làm sao được xanh tươi đó? Thâm thẩm dưới đáy biển, sao lại có đặng những vật quí báu như trân châu lưu ly kia? Ngươn Khí nó chảy luồn truông khắp cùng võ trụ chẳng chừa một chỗ nào mà nó chẳng đi tới đặng sanh sanh hóa hóa, trưởng trưởng dưỡng dưỡng cho đủ chỗ mọi nơi đặng làm cho xinh đẹp cái bầu thế giới nầy, chớ nào có phải là nó ở một chỗ một nơi trong mình loài Người đặng nó làm cho tứ chi, bác mạch ta cho được nở nang tươi tắn mà thôi sao?

Let us cast our gaze still farther, look and examine, and we will see: the waters of the four seas and five lakes — by what do they rise and fall, swell and surge, and ebb? By what does the land crumble here today and build up elsewhere tomorrow? By what do sandbanks become chasms and chasms sandbanks? How do those islands heaped up in mid-ocean stay so green and lush? Deep in the ocean floor, how are there such precious things as pearls and crystal? Primordial Energy flows and threads through the whole Universe, leaving no place it does not reach, generating and transforming, growing and nourishing everywhere, to make this world beautiful — it does not stay in just one place within the human body merely to make our limbs and vessels full and fresh!

Chim kia biết bay, cá này biết lội, cây trái biết đơm hoa trổ nhánh, nước sông biết xuống biết lên, non núi biết đứng vững đặng chống tuyết ngăn sương, bốn mùa tám tiết vần xoay không sái một mực, chi chẳng phải là nhờ cái Nguồn Ngươn Khí chảy vào, cho đến nổi một cái chót gai mức nhọn, một cái vòi cỏ uốn quanh, một hột giống nức nanh, một trái cây nở mộng, một tiếng dế ngân, một giọng ve ca, một lượng sống nhồi, một lằn mây phớt, chi chi cũng đều có Nguồn Ngươn Khí nuôi dưỡng mà Sống cùng Trời Đất, Hiệp Nhứt với Võ Trụ vì cũng đồng một sự Sống như nhau thì

The bird knows how to fly, the fish how to swim, the fruit tree how to blossom and branch, the river how to fall and rise, the mountains how to stand firm against snow and frost, the four seasons and eight solar terms turn without straying from their measure — is it not all thanks to the Source of Primordial Energy flowing in? Down to the very tip of a sharp thorn, a curling tendril of grass, a bursting seed, a budding fruit, a cricket’s trill, a cicada’s song, a rolling wave, a wisp of cloud — every one of them is nourished by the Source of Primordial Energy and Lives together with Heaven and Earth, United as One with the Universe, since they share one and the same Life — then

Người đây là một vật rất quí hơn các vật kia, lại lẽ nào mà chết mất đi mà chẳng được nhờ Nguồn Ngươn Khí lập thành cái Chơn Thân Chơn Thể, cái Mình Thiệt của Người đặng Sống, sống vĩnh viễn trường sanh, sống vô chung, vô thỉ, sống làm Một với Kiền Khôn Tạo Hóa hay sao?

Man, a thing far more precious than all those things — how could he die and vanish, and not be helped by the Source of Primordial Energy to form a True Body, True Substance, the Real Self of Man, so as to Live — live eternally, in long life, live without end and without beginning, live as One with Heaven, Earth, and the Creator?

Xét biết được cái Nguyên Lý Nguyên Khí ấy rồi thì Ta là cái Lý đó, Nó là Ta, thì Ta biết ngần nào là Ta túc ý mãn nguyện, xiết bao sự hớn hở vui mừng! Thiệt Người là đó (La Véritable Intelligence – Lý đó là Ta trong Người mà Nguồn Ngươn Khí là Chơn Thân hay là Bổn Thân đó vậy).

Once one has examined and known that Original Principle and Original Energy, then I am that Principle, and It is I; and then I know how fully I am content and my wish fulfilled — what boundless joy and gladness! That is the Real Person (La Véritable Intelligence — that Principle is the Self within the Person, and the Source of Primordial Energy is the True Body, the Original Body).

Vinh hạnh thay cho Người hấp thụ được cái Nguồn Ngươn Khí chơn chánh nên mới được sánh với Trời Đất mà lưu chuyển với Chơn Lý tự cổ chí kim, trường sanh bất tử. Người Vốn là Gốc Lý Sanh Khí Hóa là vậy đó.

Glorious and fortunate is the Person who has absorbed the true and upright Source of Primordial Energy, and so is worthy to stand beside Heaven and Earth and flow with True Principle from ancient times to now, in long life and deathlessness. That is what it means that Man is in origin the Root: “Principle Gives Birth, Energy Transforms” (Lý Sanh Khí Hóa)

.

(Đó là cái Mình Điển của Người Rước Điển, vì Lý nầy mới cảm ứng đặng với Trời thiêng liêng vô hình do Mối Điển Vô Vi).

(That is the Current-Body [Mình Điển] of the Person who Receives the Current; for only through this Principle can one resonate with the Sacred, Formless Heaven by way of the Formless Thread of the Current [Mối Điển Vô Vi].)

Tỏ rạng thay cho cái Chơn Lý, cái Chơn Nguyên của Đạo, tạo nên Kiền Khôn Võ Trụ này!

How radiant is True Principle, the True Source of the Way, which created this Universe!

Cái Chơn Tâm này đã hiểu thấu cái Chơn Lý ấy rồi thì mặc tình Ta vui, vui mà theo Một nhịp với Trời, theo một chiều với Đạo.

Once this True Heart has thoroughly understood that True Principle, then I rejoice freely — rejoice to move in one rhythm with Heaven, in one direction with the Way.

Đức Tổ Sư Hổn Ngươn Thiên Sư Chưởng Quản

(1936)

Tinh Thần Phật Giáo

The Spirit of Buddhism

Về Tinh Thần Phật Giáo

On the Spirit of Buddhism

Bài của

An essay by

Đức Đạo Tổ Thoại Hà Nguyễn Hữu Phùng

the Patriarch Thoại Hà, Nguyễn Hữu Phùng

(1935)

Trước khi cầm ngòi viết đặng luận về Tinh Thần Phật Giáo, tôi nghĩ tới nghĩ lui hoài, rồi hóa ra bật cười, rồi tôi cũng tự mình tôi trào phúng lấy tôi rằng: Ồ chà! Tên này đây bây giờ bắt chước ai mà dám luận đến Tinh Thần Phật Giáo? Tu hồi nào? Học với ai? Đọc sách gì ? Có thuộc kinh kệ gì không? Có biết ăn chay trường là gì không? Hay là dọc cợt quẹt ba tờ nhựt báo quốc âm rồi cũng đâm ngan ra viết Tinh Thần Phật Giáo? Hay là đọc mót máy ít cuốn tạp chí nói việc chấn chỉnh Phật học rồi cũng  đâm giọc ra đặng viết Tinh Thần Phật Giáo nữa? Hoặc là nghe lóm nghe liết mấy câu sáo ngữ của mấy chú sải làm đám ma chay, thí rế cô hồn, thuyết kinh thuyết kệ gì đó, rồi cũng đâm hoàn ra nói Tinh Thần Phật Giáo? Tự mình tôi cười lấy tôi vậy. Rồi tôi cũng tự mình tôi thưa lại với tôi, đặng tự mình tôi giải chào cho tôi rằng: Quả thật vậy, tên này nó không có tu chùa nào, nó không học với ai, nó không biết sách Phật là gì, cũng không phải là đứa dư giả gì mà có tiền mua sách Phật cho nổi, mà dầu cho nó có mượn mỏ của ai đặng đọc đi nửa, là sách Phật không phải rẻ rúng gì mà coi cho nổi với sự dốt nát của nó đó, lại nó chẳng hề có biết ăn chay ăn lạt là chi, chẳng biết ăn lục, ăn thập là sao hết thảy, nó chỉ biết ăn mày ăn xin tùy hỉ theo đồ của thiên hạ bố thí mà thôi, mà nó cũng quả thật là nhờ có đọc ba cái tờ nhựt trình quốc âm, coi ba cuốn tạp chí nói về Phật học, và nó nghe lóm ít câu thuyết pháp của sải làm ma chay đó, nên nó mới biết chút ít về Tinh Thần của Phật là thể nào, nên nó mới viết ra đây đặng cho anh em nó, những người nào cũng là bực quê mùa về sự học Phật như nó vậy, đọc coi cho giải muộn đó, và đặng nó rủ ren anh em đồng bực như nó , ráng sức tìm kiếm cái Chơn Lý trong vẻ tự nhiên của mình thấy, mình biết thể nào, đặng giúp đở lẩn nhau về phần tinh thần, tránh những điều mê tín mà thôi, chớ nó nào dám so sánh việc chữ nghĩa kinh kệ chi với bực chơn tu mà nó phòng ngại. Còn phần riêng về việc chữ nghĩa kinh kệ ấy, thì dầu ai cũng vậy, cũng phải để riêng phần ấy cho mấy bực hòa thượng kiết ma giáo thọ của nhà chùa giải cho nó nghe, chớ nó nào dám động đến đó mà phòng lo. Xét vậy được rồi, nên tôi liền cầm bút mà hạ xuống đặng viết cái vấn đề Tinh Thần Phật Giáo này đây vậy.

Before taking up my pen to discuss the Spirit of Buddhism, I turned it over and over in my mind, until I burst out laughing and mocked myself: “Oh my! Whom is this fellow imitating now, daring to discuss the Spirit of Buddhism? When did he ever cultivate? With whom did he study? What books has he read? Does he know any scriptures or verses by heart? Does he even know what perpetual vegetarian fasting is? Or has he skimmed three pages of the vernacular newspapers and taken it into his head to write about the Spirit of Buddhism? Or scavenged a few magazines on the reform of Buddhist studies, and now itches to write about the Spirit of Buddhism too? Or overheard a few stock phrases from the monks who conduct funerals, feed the wandering souls, and preach scriptures and verses, and now gets it into his head to talk about the Spirit of Buddhism?” So I laughed at myself. Then I answered myself, to excuse myself to myself: “Quite true — this fellow has cultivated at no temple, studied with no one, does not know what the Buddhist books are; nor is he well-off enough to afford to buy Buddhist books; and even if he borrowed some to read, Buddhist books are no cheap matter that his ignorance could manage. He has no idea what vegetarian or plain eating is, nor what fasting six days or ten days a month means; he knows only how to beg and accept whatever others give in alms. And it is quite true that, thanks to reading those three vernacular newspapers, looking at those three magazines on Buddhist studies, and overhearing a few sermons from the funeral monks, he has come to know a little of what the Spirit of the Buddha is like — and so he writes it here for his brothers, people just as rustic as he is in Buddhist learning, to read and pass the time; and to invite his brothers of the same rank to strive to seek the True Principle in the natural light of what they themselves see and know, to help one another in matters of the spirit and avoid superstition — that is all. He would never dare compare himself, in letters, scriptures, and verses, with true cultivators, so as to fear their judgment. As for letters, scriptures, and verses, everyone must leave those to the abbots, preceptors, and instructors of the temples to explain to him; he would never dare touch them, so as to worry.” Having thought this through, I took up my pen at once and set down this question of the Spirit of Buddhism.

Ông Phật là Ông Phật, chớ không phải ông Phật là ông Thích Ca, còn ông Thích Ca là ông Thích Ca, chớ không phải ông Thích Ca là ông Phật. Vì sao vậy? Vì ông Thích Ca là một ông sanh đẻ nhà cùa họ Thích Ca đó mà thôi, còn không biết là mấy trăm ông Thích Ca khác nữa, cũng như Phật cũng không biết là mấy mươi trăm ngàn muôn ức triệu ông Phật khác nữa, từ đời trước đã có, đời nay đương có, và đời sau sẻ có nữa. Song le ông Thích Ca Tất Đạt Đa đó là một người của Ấn Độ khi ấy tôn xưng cho ông được cái danh hiệu là Phật lúc ông đương sống vậy, vậy đủ hiểu ông là một vị Phật trong muôn ngàn ức triệu các vị Phật khác mà thôi, chớ không phải một mình ông gọi là ông Phật được. Song muốn biết làm sao mà ông Thich Ca Tất Đạt Đa lại được người tôn là Phật tổ, cho đến ngày nay, hễ ai nói tới tiếng Phật thì cũng chỉ ngay vào ông mà nói, thì phải hiểu rằng ông là một người không có tánh mê tín như ai; ông là một người Giác Ngộ trước hết trong xứ Ấn Độ vậy. Hễ người mê tín thì không được Giác Ngộ, dầu cho có trường trai khỗ hạnh đời đời kiếp kiếp đi nữa, thì chúng sanh cũng hoàn chúng sanh, luân hồi cũng vẫn luân hồi, còn người Giác Ngộ thì chẳng hề mê tín, dầu cho ăn chi thì ăn nấy, rượu thịt cũng không ngại, mà trong một thời gian vắn vỏi, Phật cũng thành Phật mà thôi. Xét lấy ông Thích Ca Tất Đạt Đa đó thì đủ làm gương cho ai là người muốn thoát kiếp chúng sanh đặng thành Phật thì phải coi lấy đó đặng bắt chước mà sửa mình theo cách của ông sửa Tâm, sửa Tánh, sửa ý, sửa chí của mình đặng noi theo nghị lực của ông, thì mình ắc được thành Phật như ông chẳng sai. Chúng ta đã nhứt tâm Tín ngưởng theo Phật Thích Ca rồi, là vì hễ chúng ta mở miệng ra thì tôn thì tôn Ngài làm Bổn Sư, vậy thì chúng ta hảy cứ nhứt tâm mà Tín ngưởng theo Ngài, theo những lời dạy nào mà phát từ cửa miệng Ngài đặng chúng ta làm theo, tưởng chớ mê tín theo lời dạy của Phật nào khác hơn Ngài nữa.

The Buddha is the Buddha, not Shakyamuni; and Shakyamuni is Shakyamuni, not the Buddha. Why? Because Shakyamuni is simply one man born into the house of the Shakya clan; there are who knows how many hundreds of other Shakyas, just as there are who knows how many tens, hundreds, thousands, ten thousands, hundreds of millions, and millions of other Buddhas — who existed in former ages, exist now, and will exist in ages to come. But that Shakyamuni Siddhartha was a man of India whom the people of that time honored with the title “Buddha” while he was still living; so it is clear that he is one Buddha among countless myriads of other Buddhas, and not the only one who may be called Buddha. But to understand how Shakyamuni Siddhartha came to be honored as the Buddha-Patriarch, so that to this day whenever anyone says “Buddha” they point straight to him, one must understand that he was a man without the superstitious nature others have; he was the first person in India to Awaken. A superstitious person cannot be Awakened: even practicing perpetual fasting and austerities life after life, living beings remain living beings, transmigration remains transmigration. But the Awakened person is never superstitious; he eats whatever there is to eat, does not even shy from wine and meat, and in a short time a Buddha simply becomes a Buddha. Examining Shakyamuni Siddhartha is example enough for anyone who wishes to escape the life of living beings and become a Buddha: look to him so as to imitate him and correct yourself as he corrected his Heart, his Nature, his intention, and his will, following his strength of will — and you will surely become a Buddha as he did, without fail. We have already, with single heart, put our faith in Shakyamuni Buddha, since whenever we open our mouths we honor him as our Original Teacher (Bổn Sư); then let us keep, with single heart, putting our faith in him, in whatever teachings came from his own mouth, so as to follow them — and not be superstitiously led by the teachings of any Buddha other than him.

Nay tôi luận qua Tinh Thần Phật Giáo đây, thì tôi vẫn rút tắc qua những lời của Ngài nói mà tôi để ý xét tới, biết chắc rằng quả là lời của Ngài đặng luận thôi, ngoài ra những lời nói nào, hay là những việc chi khó tin được, thì tôi xin không chịu mê tín theo ai hết thảy. Lời tôi sẻ luận đây, là tôi dùng tinh lực của tôi mà tôi luận ; tôi một cứ do nơi Lương Tâm tôi chọn những điều chi có ý nghĩa sâu xa trong việc học Phật, ý nghĩa sâu xa mà không phải là việc huyển hoặc làm cho người phải mê tín, những ý nghĩa ấy tôi biết tới đâu thì tôi đều đem ra đặng bàn giải lập luận theo sở kiến sở văn của tôi mà thôi, chẳng trộm theo ý kiến của ai, chẳng dùng lời sáo ngữ của ai đặng phụ họa theo, dầu có trùng nhầm những lời nào của bực cao kiến đã luận đến rồi, thì ấy là sự phước sự may mắn của tôi bàn trúng đó, còn nếu có lời nào trái hẳng với ý kiến của chư tôn đọc giả, thì xin miểng chấp cho tôi và cũng xin phê bình vào đặng vạch đường chỉ ngõ cho nhau, cho rõ thấu Chơn Lý, ngõ hầu đồng bước trên cỏi Tinh Thần của nhà họ Thích vậy.

In discussing the Spirit of Buddhism here, I draw only on those of his words that I have examined and know for certain are truly his; beyond that, any words, or any matters hard to believe, I decline to follow superstitiously from anyone at all. What I will discuss here, I discuss by my own effort and strength; I rely solely on my Conscience to select whatever has deep meaning in the study of the Buddha — deep meaning, not marvels that make people superstitious. Whatever of those meanings I understand, I will set out to discuss and argue according to what I myself have seen and heard, not stealing anyone’s ideas, not using anyone’s stock phrases to echo them. If my words happen to coincide with what persons of lofty insight have already said, that is my good fortune in hitting the mark; and if any of my words are quite contrary to the views of my honored readers, I beg your forgiveness and ask you to criticize them, so that we may open the road and point the way for one another, to understand True Principle thoroughly, and so walk together in the spiritual realm of the House of Shakya.

Xét trong những lời của Tứ Đại Thánh Nhơn (Nho, Đạo, Thích và Gia Tô) dạy đời, thì chĩnh có một mình lời của Khổng Phu Tử dạy là dể hiểu dể nghe mà thôi, vì là lời của Ngài nói đều là sự hiện tại trước mắt, ai nghe cũng đều rõ được, song khó là khó có một điều, là không ai chịu làm theo cho giống lời Ngài dạy mà thôi; còn những lời dạy của Ba vị Giáo Chủ kia thì đều thật là khó hiểu, vì những lời của Ba vị ất dạy, phần nhiều đều là lời Nói Bóng, ai có để ý trầm ngâm đặng chính xét, thì hoặc may mắn hiểu được ít nhiều cùng chăng, nếu chẳng có để ý cẩn thận mà xét đến, cứ nghe suông qua, thì tôi chắc chẳng hề khi nào rõ được cái Chơn Tướng của lời nói của Ba vị ấy. Cái Chơn Tướng của lời nói đã chẳng thấy được, thì còn trông chi mà hiểu được đến cái Chơn Lý? Bởi vậy nên mới có sanh ra nhiều chi nhiều phái, là tại vậy đó.

Examining the words of the Four Great Sages (Confucius, Laozi, Shakyamuni, and Jesus) to the world, only the words of Master Kong are easy to understand and to hear, for his words all concern present matters before our eyes, and everyone who hears them understands. The only difficulty is that no one is willing to act on them as he taught. But the words taught by the other three Founders are all truly hard to understand, for most of what those three taught is figurative speech (Lời Nói Bóng); whoever attends to it and examines it thoughtfully may perhaps be fortunate enough to understand a little; but if one does not attend carefully and merely hears it in passing, I am sure one will never grasp the True Aspect of those three’s words. If one cannot see the True Aspect of the words, what hope is there of understanding the True Principle? That is why so many branches and sects have arisen.

Bài này ngày nay, đã gọi rằng là Luận về Tinh Thần của Phật Giáo thì tôi vẫn xin tìm kiếm nơi mục Tinh Thần của Đức Thích Ca mà thôi, còn những sự chi ngoài mục Tinh Thần của Phật Thích thì tôi xin kỉnh trọng những sách vở đã có, những truyền thuyết đã làm, những kinh tạng đã sẵn, cùng là những phim bóng đã chớp, những tuồng bài đã diển, nhữ bài của các vị chủ bút nhựt báo đã đăng, những lời của các Hòa thượng chư sơn đã giảng, tôi kính trọng như vậy, đặng để làm tài liệu, mà khảo sát về sau chớ tôi chẳng dám nối điêu một mảy.

Since this essay is called a discussion of the Spirit of Buddhism, I will seek only within the subject of the Spirit of Shakyamuni; as for matters beyond the Spirit of Shakyamuni, I respect the books that exist, the traditions that have been made, the scriptural canons already present, as well as the films that have flickered on the screen, the plays that have been staged, the articles editors have published in the newspapers, and the sermons of the abbots of the various mountain temples. I respect them as such, to serve as materials for later study; I would not dare invent a speck.

Bài luận này, tôi phân ra nhiều chương, mỗi chương có nhiều đoạn, chưa biết đến đâu là cùng. Vậy bắt đầu tôi cũng xin luận sơ chương của Ngài giáng sanh.

I divide this essay into many chapters, each with many sections, and I do not yet know where it will end. So I begin by discussing briefly the chapter of his descent into birth.

Luận về sự tích Bồ Tát trước khi giáng sanh

On the Story of the

Bodhisattva before His Descent into Birth

(Chương này phân ra ba đoạn)

(This chapter is divided into three sections)

Đoạn thứ nhứt : Nghe những vị tiền bối thuật chuyện và thấy một vài cuốn sách cùng là có đọc một đôi đoạn kinh ghi chép rằng : Đức Thích Ca Mâu Ni thành được bực Phật kiếp này, nhờ Ngài đã tu hành mấy trăm ngàn kiếp trước và cũng đã đắc đạo và cũng đã đến được bực Bồ Tát mấy kiếp trước rồi. Trước khi Ngài giáng sanh vào cửa họ Thích Ca đây, thì Ngài là một vị Bồ Tát ở tại cõi Đâu Suất Thiên, có Phật Đỉnh Quang chỉ bảo cho Ngài rằng: Còn phải giáng thế một lần nữa, đặng lo cứu độ chúng sanh cho giải thoát các điều tai nạn. Khi nào đã được mãn kiếp ấy rồi, thì mới được thành Phật.

First section: I have heard elders recount, seen a few books, and read a passage or two of scripture recording that Shakyamuni attained Buddhahood in this life thanks to having cultivated for hundreds of thousands of lives before, and having already attained the Way and reached the rank of Bodhisattva several lives earlier. Before he descended into the house of the Shakya clan, he was a Bodhisattva in the Tuṣita Heaven (Đâu Suất Thiên), where Dīpaṃkara Buddha (Phật Đỉnh Quang) instructed him that he must descend into the world once more to save living beings and free them from calamity; once that life was complete, he would become a Buddha.

Đoạn thứ hai : Ngài tự xét biết mình còn có một kiếp Nhơn Duyên lo cứu thế rất lớn lao như vậy, nên Ngài hằng lo chọn một nơi nào ở thế gian mà có nhơn duyên về phần xác thịt với Ngài, nghĩa là Ngài chọn một nơi nào ở thế hạ này, mà là một đôi vợ chồng nào có chí tâm mộ Đạo, có dẫy đầy phước đức, thì Ngài mới chịu đầu thai vào cửa nhà ấy, đặng Ngài mượn lấy cái xác thịt gọi là Con của Nhà ấy, đặng Ngài có được một cái xác thân vật chất của thế hạ này đặng có thể đi đứng nói năng, thì mới có thể Giác Mê chúng sanh được.

Second section: Knowing that he still had one life of great causal connection to save the world, he sought a place in the world with which he had a fleshly karmic bond — that is, he chose a place in this lower world, a married couple whose hearts sincerely loved the Way and who were full of merit and virtue; only into such a house would he consent to be conceived, so as to borrow the flesh called “the child of that house,” so that he might have a material body of this lower world with which to walk, stand, and speak — only so could he awaken living beings from delusion.

Đoạn thứ ba : Khi Ngài đã chọn được nhà của Vua Tịnh Phạn họ Thích Ca nơi xứ Ấn Độ, là nhà vua rất có Đạo Đức vừa vợ vừa chồng, đáng cho Ngài mượn xác dựa làm con, mà Ngài còn phải đợi cái thời giờ của Ngài đúng phải kỳ giáng thế thì Ngài mới chịu giáng sanh. Lúc Ngài xét đúng ngày giờ rồi, thì Ngài mới hóa làm một điềm chiêm bao cho Bà Ma Gia phu nhơn ngó thấy, trong lúc Bà đương ngủ trưa. Điềm chiêm bao ấy như vầy : Ma Gia phu nhơn đang ngủ trưa, Bồ tát hóa làm một điềm chiêm bao cho bà thấy, điềm chiêm bao như vầy: Có một người ngồi trên lưng một con Voi Trắng Sáu Ngà, chung vào nơi sường phía tay mặt của Bà, Người ngồi trên con voi này thì lại thấy phía trên người ấy còn có ba người hộ theo, một người cầm cái chày, một người cầm cái bánh xe và một người cầm một xâu chuổi. Đi theo mấy người này lại còn có nhiều người đờn ca xướng hát tiêu thiều nhạc trổi nghe rất êm tai.

Third section: He chose the house of King Śuddhodana (Vua Tịnh Phạn) of the Shakya clan in India, a king and queen both most virtuous, worthy for him to borrow a body and be their son; but he still had to wait until the time of his descent was exactly right. When he judged the day and hour to be right, he transformed himself into a dream for Queen Māyā (Ma Gia phu nhơn) to see while she was taking her afternoon nap. The dream was this: as Queen Māyā slept at noon, the Bodhisattva appeared to her in a dream — a person seated on the back of a white elephant with six tusks entered her right side. Above the person seated on the elephant were three more attendants: one holding a vajra-pestle, one holding a wheel, and one holding a rosary. Following them were many others playing music and singing, with flutes and pipes sounding most sweetly.

Lời luận : Những việc của Bồ Tát trước khi giáng sanh xuống trần thế, theo sách vở kinh kệ thì nói chẳng biết là bao nhiêu sự huyền bí, chỗ nói nhiều, chỗ nói ít, thêm thêm bớt bớt, không biết cuốn nào làm chắc thiệt, vì những sự ấy đều là những sự khi Bồ Tát còn ở trên Trời, mà là không biết là mấy mươi muôn kiếp ở trên Trời như vậy, ngày tháng năm nào ở đâu, nói cũng không có thứ tự, biết đâu là chơn, biết đâu là giả, mà những kiếp như vậy, hỏi thử lại coi mấy ông viết kinh viết sách đó làm sao mà biết được mà chép ra đó. Mà còn người nào nói lại đó làm sao biết mà nói cho người chép? Song le hễ phàm người đã có chí tìm Chơn Lý của một sự vật chi, thì phải phăn phải tìm cho thấu đáo, thì mới mong rõ thấu được cái sự Thật của sự vật ấy cho. Vì vậy nên tôi đây, dám bạo gan bỏ hết những chuyện gì hoang đàng quá đi, không xét đến, không luận đến, chỉ tóm tắc lại có ba đoạn như tôi đã lược kể ra trước đây, đặng để ý mà luận cho ra Tinh Thần của Phật, lúc Bồ Tát còn đương ở cảnh Chư Thiên.

Commentary: As to the deeds of the Bodhisattva before descending into the world, the books and scriptures tell of who knows how many mysteries, saying more in one place and less in another, adding here and subtracting there, so that one cannot tell which book is reliable. For all these things concern the Bodhisattva while still in Heaven — who knows how many tens of thousands of lives in Heaven — in what year, month, and day, and where, told in no order, so who can tell what is true and what false? And how, one might ask, did those who wrote the scriptures and books come to know such lives so as to record them? And how did whoever told them know, so as to tell the scribes? Yet whoever is resolved to seek the True Principle of any matter must trace and search it through thoroughly; only then can one hope to grasp the Truth of it. That is why I dare boldly set aside all the overly fanciful stories, neither examining nor discussing them, and condense it all into just the three sections I outlined above, so as to attend to and draw out the Spirit of the Buddha while the Bodhisattva was still in the realm of the Heavens.

Đã rằng Bồ Tát ở cõi Đâu Suất Thiên thì đã có nghe Phật Đỉnh Quang dạy có phải tái sanh giáng thế lại một lần nữa đặng giác mê cho chúng sanh, rồi mới được thành Phật. Vậy nay ta xét coi cảnh Đâu Suất Thiên ở đâu ? Phật Đỉnh Quang là Phật gì ?

It is said that the Bodhisattva, in the Tuṣita Heaven, heard Dīpaṃkara Buddha teach that he must be reborn into the world once more to awaken living beings from delusion, and only then become a Buddha. Now let us examine: where is the Tuṣita Heaven? Who is Dīpaṃkara Buddha?

Đâu Suất Thiên là một cõi Trời trong sáu cỏi Dục Giái ; tiếng Phạn kêu là Tuçita, Tàu dịch là Đâu Suất, nghĩa là Hết sự Tham Muốn, biết đủ mùi đời rồi. Bực nào trong lòng biết mừng cho mình rằng mùi đời đã đủ, không còn sự tham, sự muốn chi nữa, biết được vậy nên biết thôi, mà lại mừng, lại vui, thì bực ấy được Sống ở cõi Đâu Suất Thiên vậy. Trong sáu cõi Dục Giái, thì cõi này nhằm cõi thứ tư, nó ở giửa cõi Dạ Ma Thiên và cõi Lạc Hóa Thiên.

Tuṣita (Đâu Suất Thiên) is one of the six heavens of the Realm of Desire. In Sanskrit it is called Tuṣita; the Chinese render it Đâu Suất, meaning “the end of craving — having tasted enough of the world.” Whoever knows in his heart to be glad that he has tasted enough of the world, has no more craving or wanting, and knowing this, knows to stop — and is glad and joyful besides — such a one Lives in the Tuṣita Heaven. Among the six heavens of the Realm of Desire, this is the fourth, lying between the Yāma Heaven and the Heaven of Delight in Transformation.

Ba Cõi – Tam Giái

The Three Realms

Phật giáo chia Trời ra làm ba cõi là : Dục Giái: Cõi tham muốn ; Sắc Giái: Cõi vật chất ; Vô Sắc Giái: Cõi không Dục mà cũng không Sắc, duy còn có một cái Thức Tâm mà thôi.

Buddhism divides Heaven into three realms: the Realm of Desire (Dục Giái), the realm of craving; the Realm of Form (Sắc Giái), the realm of matter; and the Formless Realm (Vô Sắc Giái), the realm with neither desire nor form, where only a Consciousness-Mind (Thức Tâm) remains.

Một – Cõi Dục Giái là chỗ chứa những lòng Tham Muốn. Trong sự tham muốn ấy có hai việc trọng hơn hết là Tham Dâm và Tham Ăn. Cái Dâm dục và Thực dục ấy nó đều ngụ ở trong cái Tình nên những sự mê luyến về Tình thì đều thuộc về cõi Dục Giái. Cõi này trên thì gồm cả cõi Lục Dục các từng Trời ; giửa gồm cả Tứ Đại Bộ Châu ; dưới đến tận nơi chỗ thập bát tằng Vô Gián Địa Ngục.

One — the Realm of Desire is where all cravings are held. Among those cravings, the two weightiest are lust and gluttony. Lust and appetite both dwell within the passions, so all infatuations of passion belong to the Realm of Desire. Above, this realm includes the six desire heavens; in the middle, the Four Great Continents; and below, it reaches down to the eighteen levels of the Avīci (Uninterrupted) Hell.

Hai – Cõi Sắc Giái là chỗ chứa những đồ có hình chất như thân thể của muôn loài ở thế gian, như lâu đài phố xá nhà cửa, như đất nước cây cỏ, như trân châu bửu vật. Nói tóm lại là những đồ vật chất hữu hình nào rất tinh xảo thì đều thuộc về cõi Sắc Giái ; mà trong những vật ấy, loài người là đứng vào bực Hình Chất thứ nhứt. Cõi này có chỗ chia ra làm 16, hoặc 17, hoặc 18 từng, là tùy theo bực người thiền định cao thấp thể nào, mà đều ngụ vào trong bốn cấp.

Two — the Realm of Form is where things with form and substance are held: the bodies of all kinds in the world, towers, streets, and houses, land, water, trees, and grass, pearls and precious things. In short, all the most refined material things with form belong to the Realm of Form; and among those things, humankind stands in the first rank of Form and Substance. This realm is divided in some accounts into sixteen, seventeen, or eighteen levels, according to how high or low a person’s meditative absorption is, all lodged within four grades.

Ba – Cõi Vô Sắc Giái là cõi không một hình chất chi mà cũng không một màu sắc chi hết, duy còn có một cái Thức Tâm là cái Tâm biết phân biệt đặng trụ nơi các thiền định rất cao thâm vi diệu mà thôi. Cõi này đã là cõi không có hình chất mà cũng không có màu sắc chi nữa rồi, nên cái chỗ của nó là chỗ nào không nhứt định được, chỉnh biết nó là có bốn lớp hoặc bốn từng, gọi là Tứ Không Thiên.

Three — the Formless Realm is the realm with no form or substance at all and no color at all; only a Consciousness-Mind remains, the discerning Mind that abides in the most profound and subtle meditative absorptions. Since this realm has no form or substance and no color, its location cannot be fixed; one knows only that it has four layers or four levels, called the Four Heavens of Emptiness (Tứ Không Thiên).

Ba cõi này đều là chỗ thế giái của kẻ phàm phu buộc phải tới lui lai vảng hoài hoài, vì có vậy nên đời mới gọi là Sống Chết đó. Tuy là Ba (3) cõi, song nó vẫn thiệt là Sáu (6), vì ba cõi thì ở tại thế gian đây, trên mặt đất này đây, gọi là Dương Trần này, đặng Sống mà Gởi cái xác thân này, đặng lo tu hành mà bồi đấp cái thiện căn của mình, phòng khi Thát đặng Về nơi Ba cõi ở nơi Hư Không kia. Nơi Ba cõi Hư Không thật là xứ sở của ta đó, vì Tinh Thần gốc ở đó, Bổn Lai của ta là nơi đó. Người lúc Sống Gởi ở Dương Trần này, nhà Phật gọi là chỗ Địa Cư, tiếng Phạn gọi là Bhauma, tu hành cho vững, thiền định cho dày công phu, đến khi Thát Về nơi quê xưa cảnh củ của mình là Hư Không Cư, tiếng Phạn gọi là Antariksavasina ; về nơi đó được rồi, thì hoặc là được tấn hóa thêm đặng lên đến cõi khác, có lẻ được thong thã hơn ; nhứt là được lên đến cõi Vô Sắc Giái ; nếu chẵng được vậy, thì sụt xuống Vô Gián Địa Ngục.

These three realms are the world in which ordinary people are bound to come and go again and again — that is why the world speaks of Life and Death. Though they are Three realms, they are truly Six: for there are three realms here in the world, on the face of this earth, called this world of the living (Dương Trần), where we Live and lodge this body, so as to cultivate and build up our good roots, against the time when we Depart and Return to the three realms in the Void above. The three realms of the Void are truly our homeland, for our Spirit has its root there; our Original Source is there. While Living and lodging in this world of the living, a person is in what Buddhists call the Earth-Dwelling (Địa Cư), in Sanskrit Bhauma; cultivating steadfastly and deepening meditative effort, when he Departs and Returns to his old homeland, the Void-Dwelling (Hư Không Cư), in Sanskrit Antarikṣavāsina, he may there evolve further and rise to another realm, perhaps more at ease — above all to reach the Formless Realm; and if not, he sinks down into the Avīci Hell.

Luôn dịp tôi cũng xin biên luôn mấy từng Trời ở nơi Ba cõi ấy cho đọc giả xem sơ qua cho biết tên, phòng sau có chỗ nói đặng khảo cứu cho tiện. Đây là tôi biên tên ba cõi thuộc về Tinh Thần, nơi Hư Không Cư mà thôi, còn Ba cõi thuộc về vật chất nơi Địa cư, thì là trên mặt trái địa cầu này đây, chớ không ở đâu khác, vì vậy nên trên chốn Địa Cư này gọi là Nhơn Giái, gồm đủ cả các Hình Thể Hình Chất của ba bực ở Hư Không Cư, và Vô Gián Địa Ngục mượn chỗ đặng gởi cái xác thân đặng tu thân sửa lổi hay là trồng thêm phước đức thì tùy duyên của mỗi người gặp cảnh ngộ.

While I am at it, let me also list the heavens of those three realms so that readers may glance over their names, for convenient reference later. I list here only the names of the three spiritual realms in the Void-Dwelling; the three material realms in the Earth-Dwelling are right here on the face of this globe and nowhere else. That is why this Earth-Dwelling is called the Human Realm (Nhơn Giái): it contains all the Forms and Substances of the three ranks of the Void-Dwelling, and of the Avīci Hell, borrowed as a place to lodge the body so as to cultivate oneself, correct one’s faults, or plant further merit and virtue, according to each person’s karmic circumstances.

Dưới đây, tôi tóm tắt theo kinh sách Phật đặng giải nghĩa sự sấp đặt Ba cõi thế nào, còn phần tín ngưởng cùng không là phần tự do của chư tôn đó, không ai có quyền bảo hay là ép ai tin hay là không tin được.

Below, I summarize from the Buddhist scriptures to explain how the three realms are arranged; whether to believe it or not is your free choice, honored readers — no one has the right to tell or force anyone to believe or disbelieve.

Muốn rõ cách Triết Lý nhà Phật sấp đặt mấy cõi Trời, thì phải do nơi hòn núi Tu Di Sơn làm trung tâm điểm thì mới phân tích ra được, song Sự Lý của hòn núi này tả ra không phải một đôi trương giấy gì mà tả cho hết, vậy xin để chịu lại đó, khi nào sẻ giải riêng phần của nó. Hòn núi Tu Di đây, tiếng phạn gọi là Sumeru, Tàu có chỗ cũng kêu là Tô Mê Lư, nghĩa là rất cao, rất sáng, ở dưới chơn nó có cái Phong Luân (bánh xe Gió), ở trên mặt thì có Thủy Luân (bánh xe Nước), ở trên chót có Kim Luân hay là Địa Luân (bánh xe Đất), v.v.., xin kiếu lại đó, để chờ khi khác, đây tôi xin kể Ba cõi Trời (Tam Giái).

To understand how Buddhist philosophy arranges the heavens, one must take Mount Sumeru (Tu Di Sơn) as the central point; only then can it be analyzed. But the matter of this mountain cannot be described in a page or two, so let me leave it there and explain it separately some other time. Mount Sumeru, in Sanskrit Sumeru, sometimes rendered in Chinese as Tô Mê Lư, means “most high, most bright.” Beneath its foot is the Wind Wheel; above that the Water Wheel; and on top the Gold Wheel or Earth Wheel, and so on — let me excuse myself there and wait for another time. Here I will list the heavens of the Three Realms (Tam Giái).

 Dục Giái – Lục Dục Thiên – Kamadhatu 

Realm of Desire — the Six Desire Heavens — Kāmadhātu

(Trước khi kể tên 30 từng Trời nơi Ba Cõi, tôi xin nhắc lại cho chư tôn nhớ rằng Ba Cõi sẻ kể tên ra sau đây đều là tên những từng thuộc về thiêng liêng ở trên Hư Không Cư mà thôi (Antariksavasina). Còn phần Địa Cư (Bhauma) cũng là ba cõi ấy song nó thuộc về phần Hình Chất, thì đều là người ở nơi trên mặt trái địa cầu này là Nhơn Loại chúng ta đây).

(Before naming the thirty levels of Heaven in the Three Realms, let me remind you that the Three Realms named below are all levels belonging to the spiritual in the Void-Dwelling (Antarikṣavāsina) only. The Earth-Dwelling (Bhauma) part is the same three realms, but belonging to Form and Substance — that is, the people on the face of this globe: we humans.)

Cõi Trời này có sáu từng hay là sáu lớp, nên kêu là Lục Trùng Thiên, nó đều thuộc về phần Tham dục nên cũng kêu là Lục Dục Thiên.

This heaven has six levels or six layers, so it is called the Six-Tiered Heaven (Lục Trùng Thiên); all of them belong to craving, so it is also called the Six Desire Heavens (Lục Dục Thiên).

1.  Một – Tứ Vương Thiên

1. One — The Heaven of the Four Kings (Tứ Vương Thiên)

Từng này có Bốn vị Thiên Vương ở cai trị. Bốn vị Thiên Vưng này đều là hàng ngoại tướng của vua Đế Thích, ở trấn giữ nữa chừng núi Tu Di Sơn; chỗ ấy có một hòn núi kêu là Do Kiện Đà La (Yugamdhara). Hòn núi này có bốn cái chót, bốn chót núi ấy là chỗ ở của Bốn vị Thiên Vương đó vậy. Chỗ này là chỗ từng trời thấp hơn hết, bắt từ mặt đất kể lên từng trời này gọi là từng trời thứ nhứt đó. Bốn vị Thiên Vương đó cũng kêu là Hộ Thế Tứ Thiên Vương; còn từng trời đó kêu là Tứ Thiên Vương Thiên (Caturmahajakayika). Từng nảy cũng chia làm bốn hướng vậy, vì bốn chổ núi Do Kiện Đà La mọc theo bốn hướng trời. Phía Đông là Trị Quốc Thiên Vương ở. Phạn kêu là Dhritarastra. Vị này chuyên lo về việc cầm mối giềng cai trị và ủng hộ giữ gìn cho nước, nên ở trong động bằng bằng Vàng của núi Tu Di. Phía Nam thì là chỗ của Tăng Trưỡng Thiên Vương ở (Virudhaka), để chuyên lo người trong nước tu hành cho được thiện căn tấn phát, càng ngày càng thêm lớn lên, nên ở trong động bằng Lưu ly của núi Tu Di. Phía Tây phần của Quản Mục Thiên Vương (Virupaksa), dùng sức Thiên Nhản thanh tịnh đặng xem xét và ủng hộ cho trọn cõi Diêm Phù Đề, nên ở tại động bằng Bạc trắng của núi Tu Di. Phia Bắc là chỗ của Đa Văn Thiên Vương ở (Dhanada hay là Vaisramana), Vị này phước đức lớn lắm, danh vang cả thiên hạ bốn phương, nên ở trong động bằng Thũy tinh của núi Tu Di.

This level is governed by Four Heavenly Kings. These Four Heavenly Kings are the outer generals of King Śakra (vua Đế Thích), guarding the middle slopes of Mount Sumeru; there stands a mountain called Yugaṃdhara (Do Kiện Đà La). This mountain has four peaks, which are the dwellings of the Four Heavenly Kings. This is the lowest heaven; counting up from the earth, it is called the first heaven. The Four Heavenly Kings are also called the Four World-Protecting Heavenly Kings, and that heaven is called the Heaven of the Four Great Kings (Cāturmahārājakāyika). This level too is divided into four directions, since the four peaks of Mount Yugaṃdhara rise toward the four quarters. To the East dwells the King Who Upholds the Realm (Trị Quốc Thiên Vương), in Sanskrit Dhṛtarāṣṭra, who devotes himself to holding the bonds of government and protecting the country, and so dwells in the Golden cave of Mount Sumeru. To the South dwells the King of Growth (Tăng Trưởng Thiên Vương, Virūḍhaka), who devotes himself to helping the people of the land cultivate so that their good roots flourish and grow day by day, and so dwells in the Lapis-lazuli cave of Mount Sumeru. The West is the portion of the King of Wide Vision (Quảng Mục Thiên Vương, Virūpākṣa), who uses the power of the pure Heavenly Eye to observe and protect the whole of Jambudvīpa, and so dwells in the White Silver cave of Mount Sumeru. To the North dwells the King Who Hears Much (Đa Văn Thiên Vương, Dhanada or Vaiśravaṇa); his merit and virtue are very great, his name resounds through all four quarters, and so he dwells in the Crystal cave of Mount Sumeru.

2.  Hai – Điêu Lợi Thiên (Trayastrimsa).

2. Two — The Trāyastriṃśa Heaven (Đao Lợi Thiên)

Từng Trời này là từng thứ hai ở trên chót núi Tu Di Sơn, trên cao hơn cõi Diêm Phù Đề. Người ở bực Trời này cũng còn có Tình Dục như người ở thế gian vậy. Từng này chịu ánh chói của mặt nhựt khác hẳn với ở thế gian; một ngày một đêm tại đây là 100 năm của thế hạ; người ở cõi này sống lâu đến ngàn tuổi. Chỗ này thuộc về phần cai trị của vua Đế Thích (Sakra-devenam-Indra). Vua ở thành Hỷ Kiến, cũng có chỗ gọi rằng Thiện Kiến (bởi chữ Tàu viết chữ Hỷ là Mừng và chữ Thiện là Lành, hai chữ tùng tim với nhau, khác chút ít, nên bản thì in chữ Hỷ, bản thì in chữ Thiện, tam sao thất bổn, nên chưa biết chắc là Hỷ hay Thiện). Sự tích của vua Đế Thích lắm chỗ ly kỳ, sau có lúc rảnh, tôi sẻ tả ra cho các bạn xem.

This is the second heaven, on the summit of Mount Sumeru, higher than Jambudvīpa. People of this heaven still have passions and desires like people in the world. This level receives the sun’s radiance quite differently from the world: one day and night here equals one hundred years below, and its people live to a thousand years. It is governed by King Śakra (Śakra-devānām-Indra). The King dwells in the city of Hỷ Kiến (Joyful to Behold), also called in some places Thiện Kiến (Good to Behold) — because in Chinese the characters for “Joy” and “Good” look alike and differ only slightly, some editions print one and some the other; copied three times, the original is lost, so it is not yet certain whether it is Hỷ or Thiện. The story of King Śakra has many marvelous parts; later, when I have time, I will describe them for my friends to read.

Từng Điêu Lợi Thiên đây, cũng kêu là từng Tam Thập Tam Thiên, vì cõi này có 33 từng Trời, danh hiệu đều khác nhau. Từng Hỷ Kiến Thiên ở giữa là chỗ vua Đế Thích ngự. Đông, Tây, Nam, Bắc, mỗi hường đều có 8 từng khác nhau, cọng lại là 32 từng, hiệp với từng Hỷ Kiến là 33, đều chung phần vua Đế Thích thống ngự. Ba mươi hai từng kia là : 1. Thiện Pháp Đường Thiên, 2. Sơn Phong Thiên, 3. Sơn Đảnh Thiên, 4. Bát Hoằng Tha Thiên, 5. Cu Tra Thiên, 6. Tạp Điện Thiên, 7. Hoan Hỷ Viên Thiên, 8. Quan Minh Thiên, 9. Ba Lợi Gia Đa Thiên, 10. Ly Hiểm Ngạn Thiên, 11. Cốc Nhai Ngạn Thiên, 12. Ma Ni Tàng Thiên, 13. Thi Hành Thiên, 14. Kim Điện Thiên, 15. Mạng Hình Thiên, 16. Nhu Nhuyển Thiên, 17. Tạp Trang Nghiêm Thiên, 18. Như Ý Thiên, 19. Vi Tế Hành Thiên, 20. Ca Âm Hỷ Lạc Thiên, 21. Oai Đức Luân Thiên, 22. Nhựt Hành Thiên, 23. Diêm Ma Na Sa La Thiên, 24. Liêng Hành Thiêng, 25. Ảnh Chiếu Thiên, 26. Tri Huệ Hành Thiên, 27. Chúng Phân Thiên, 28. Mạng Đà La Thiêng, 29. Thượng Hành Thiên, 30. Oai Đức Nhan Thiên, 31. Oai Đức Diệm Luân Quan Thiên, 32. Thanh Tịnh Thiên, hiệp với Hỷ Kiến Thiên là 33 từng Trời nơi cõi Điêu Lợi Thiên. (Phận sự hành vi của 33 cõi Trời này, xin để bài khác tôi sẻ giải tường, vì đây chẳng phải chỗ luận về việc ấy). Sự sấp đặt 33 từng Trời này khác hẳng với sự sấp đặt trong bộ Tam Tự Kinh, vì sao vậy, sau tôi sẻ giải rành thêm.

This Trāyastriṃśa Heaven is also called the Heaven of the Thirty-Three (Tam Thập Tam Thiên), because it has thirty-three heavens, each with a different name. The Hỷ Kiến Heaven in the center is where King Śakra resides. East, West, South, and North each have eight different heavens, making thirty-two in all; together with Hỷ Kiến, thirty-three, all under King Śakra’s rule. The thirty-two are: 1. Heaven of the Hall of Good Dharma, 2. Mountain Peak Heaven, 3. Mountain Summit Heaven, 4. Bát Hoằng Tha Heaven, 5. Cu Tra Heaven, 6. Heaven of Mixed Palaces, 7. Heaven of the Garden of Joy, 8. Heaven of Radiant Light, 9. Pārijāta Heaven, 10. Heaven Beyond the Perilous Shore, 11. Heaven of the Valley-Cliff Shore, 12. Heaven of the Maṇi Treasury, 13. Heaven of Rotating Practice, 14. Heaven of the Golden Palace, 15. Heaven of the Garland Form, 16. Heaven of Softness, 17. Heaven of Varied Adornment, 18. Heaven of Wish-Fulfilment, 19. Heaven of Subtle Practice, 20. Heaven of Joy in Song, 21. Heaven of the Wheel of Majestic Virtue, 22. Heaven of the Sun’s Course, 23. Yama-nasala Heaven, 24. Heaven of Swift Practice, 25. Heaven of Reflected Light, 26. Heaven of Practice of Wisdom, 27. Heaven of Assembled Divisions, 28. Mandara Heaven, 29. Heaven of Upward Practice, 30. Heaven of Majestic Countenance, 31. Heaven of the Radiant Wheel of Majestic Virtue, 32. Heaven of Purity — together with the Hỷ Kiến Heaven, the thirty-three heavens of Trāyastriṃśa. (The duties and workings of these thirty-three heavens I will explain in detail in another essay, as this is not the place to discuss them.) This arrangement of thirty-three heavens differs entirely from the arrangement in the Scripture of the Three Characters (Tam Tự Kinh); why, I will explain more clearly later. [Translator’s note: the source spells the name “Điêu Lợi Thiên”; the standard Sino-Vietnamese form is “Đao Lợi Thiên.” Several of the thirty-two heaven names are transliterations whose meaning is uncertain and are given in their Vietnamese form.]

3.  Ba – Tu dạ Ma Thiên (Yama hay là Suyama) cũng có chỗ kêu là Diệu Thiện Thiên.

3. Three — The Suyāma Heaven (Tu Dạ Ma Thiên — Yāma or Suyāma), also called in some places the Heaven of Wondrous Goodness (Diệu Thiện Thiên).

Chữ Tu nghĩa là Khéo, Hay, Giỏi, Tốt. Chữ Dạ Ma nghĩa là Thời Giờ. Cõi Trời này khác hẳn với cõi trời Điêu Lợi Thiên. Nơi cõi này không sáng, không tối, không ngày không đêm, như ở cõi thứ nhì hay là cõi Trần vậy, vì ở đây mặt nhựt không soi thấu đến. Cõi này vẫn sáng sủa tươi tốt hoài, ngày như đêm, đêm như ngày, không phân biệt chi hết, người ở đó vẫn coi cái Thức Hoa nở hay là Hoa khép lại, đặng chia thời giờ mà thôi. Đã không phải là thời giờ của thế gian nữa nên gọi là Tu Dạ Ma, nghĩa là Thời giờ rất khéo rất đẹp rất tốt, tùy theo Thức Hoa đóng hay mở. Cõi này là cõi Trời thứ ba đó, tùy theo thời giờ của các thứ hoa mà vui vẻ, nên cũng gọi là cõi tùy theo thời giờ mà chia ra sự khái lạc.

The word Tu means skillful, fine, excellent, good; Dạ Ma means time. This heaven differs entirely from the Trāyastriṃśa Heaven. Here there is no light and no dark, no day and no night as in the second heaven or the dusty world, for the sun’s light does not reach here. This realm is always bright and fresh: day like night, night like day, no distinction at all; its people tell the time only by watching certain flowers open or close. Since it is no longer the time of the world, it is called Suyāma, meaning “the most skillful, beautiful, excellent time,” according to the opening and closing of the flowers. This is the third heaven, where joy follows the times of the various flowers; so it is also called the realm where pleasure is divided according to the hours.

4.  Bốn – Đâu Suất Thiên (Tusita)

4. Four — The Tuṣita Heaven (Đâu Suất Thiên)

Trước khi vào giải cung thứ tư này, tôi xin giải sơ lược qua chút ít về phần cõi Dục, vì cõi Trời này còn thuộc về cõi Lục Dục, nên người ở cõi này cũng còn Tham Dục vậy, mà Dục nó có sáu phần, nên gọi là Lục Dục. mà Thích Ca Bồ Tát trước khi giáng thế kỳ chót đặng làm Phật, thì Ngài vẫn ở tại cõi này. Vì vậy nên cõi này đây, tôi phải để tâm mà giải rành hơn các cõi khác một chút cho đọc giả để ý vào mà nghĩ kỷ xét chính.

Before explaining this fourth palace, let me explain a little about the realm of Desire, since this heaven still belongs to the six desires, and its people still have craving. Desire has six parts, so it is called the Six Desires. And Shakyamuni, as a Bodhisattva before his final descent to become a Buddha, dwelt in this very realm. That is why I must take care to explain this realm a little more fully than the others, for readers to attend to, ponder carefully, and examine rightly.

Dục nó có sáu phần, ở trong thân thể con người, ai ai cũng đều không khỏi bị nó phá hại làm cho mất phần thiêng liêng, làm cho phải sanh ra nhiều ít nghiệp khổ, làm cho phải quyến luyến trần duyên hoài.

Desire has six parts within the human body; no one escapes being ravaged by them — they make one lose one’s sacred portion, give rise to much or little karmic suffering, and keep one forever attached to worldly ties.

Note:

Lục dục (6 sự muốn) là :
The Six Desires are:

1.   Sắc dục : Thấy các màu như đỏ đen xanh trắng v.v. hoặc là sắc đẹp của con trai con gái mà sanh lòng ưa mến ;

1. Desire for color: seeing colors such as red, black, blue, white, and so on, or the beauty of men and women, and becoming attached;

2.   Hình mạo dục : Thấy dụng mạo hình dáng người xinh đẹp mà thèm ngó ;

2. Desire for form and appearance: seeing a beautiful face and figure and longing to gaze;

3.   Oai nghi tư thới dục : Thấy nết đi tướng đứng yểu điệu hoặc là bộ tịch kiều mị, hoặc cười liếc có duyên của người mà sanh lòng mến triếu ;

3. Desire for bearing and manner: seeing a graceful gait or posture, or charming ways, or a winsome smile and glance, and becoming fond;

4.   Ngữ ngôn âm thinh dục: Nghe lời nói diệu dàng đầm thấm êm ái bùi tai khoái ý, hoặc là nghe những tiếng ca hát thâm trầm tao nhã mà sanh lòng yêu chuộng ;

4. Desire for speech and sound: hearing soft, gentle, sweet words pleasing to the ear, or deep and refined singing, and becoming enamored;

5.   Tế hượt dục : Để tâm nơi các món thân thể của người, như nước da mịnh màng, da thịt mát mẻ, tay chơn mềm diệu v.v. mà sanh lòng mê luyến ;

5. Desire for smoothness and touch: setting one’s mind on a person’s body — smooth skin, cool flesh, soft hands and feet, and so on — and becoming infatuated;

6.   Nhơn tướng dục : Thấy nhơn tướng cốt cách của người điềm đạm chửng chàng mà sanh lòng tham muốn.

6. Desire for human features: seeing a person’s calm, dignified features and bearing and becoming covetous.

Xét trong sáu phần này, thì chúng ta thấy rõ cái Nghiệp của lòng Dục gây ra bởi sự Thấy hết năm, còn sự Nghe có một ; vậy ta hảy xét lại coi sự Nghe và sự Thấy ấy Gốc nó bởi đâu ? Mỗi việc chi cũng đều phải có Gốc mới sanh ra. Vậy Sáu phần Tham Muốn đây nó cũng có Sáu chỗ Gốc của nó mới sanh ra. Sáu chỗ Gốc ấy gọi là Lục Căn, là Nhản (con mắt), Nhỉ (lổ tai) , Tỷ (lổ mủi), Thiệt (cái lưởi), Thân (thân thể) và Ý (tâm ý). Bởi Lục Căn đây nên mới sanh ra Lục Cảnh (sáu cảnh) là : Sắc (sắc đẹp), Thinh (tiếng nói), Hương (mùi thơm), Vị (mùi ngon), Xúc (sự đá động), Pháp (sự bắt chước). Lục Cảnh đây cũng gọi là Lục Trần.

Examining these six parts, we see clearly that of the karma produced by desire, five parts arise through Seeing and only one through Hearing. So let us examine: where do Hearing and Seeing have their root? Everything must have a root from which it arises. So these six parts of craving also have six roots from which they arise. Those six roots are called the Six Faculties (Lục Căn): Eye, Ear, Nose, Tongue, Body, and Mind (Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý). From the Six Faculties arise the Six Objects (Lục Cảnh): Form (beauty), Sound (speech), Smell (fragrance), Taste (savor), Touch (contact), and Dharma (mental objects — rendered in the source as “imitation”). These Six Objects are also called the Six Dusts (Lục Trần).

(Cái nghiệp của con người hảy còn nhiều nữa, chẳng phải tại Lục Dục, Lục Căn, Lục Trần đây mà thôi, song nơi đây vì tôi muốn giải rõ chỗ Dục Giái là chỗ chứa Lục Dục, nên phải nói sơ một đôi chỗ gốc rễ sự tội lổi của sự Dục bởi đâu mà sanh, phòng biết nơi biết chốn đặng kiếm phương thế mà chừa mà bỏ. Sau tôi có dịp tôi sẻ kễ thêm, vì đoạn này chẳng phải chánh mục đích để giải đủ các cảnh ấy, e nói nhiều lạc đề.)

(Human karma has many more sources, not only the Six Desires, Six Faculties, and Six Dusts; but here, wishing to explain clearly that the Realm of Desire is where the Six Desires are held, I must say a little about the roots from which the faults of desire arise, so that we know where they are and may find a way to give them up and cast them off. Later, when I have occasion, I will list more; this section is not intended to explain all those realms fully, and I fear saying too much would stray from the topic.)

Sắc, Tinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp, đã gọi rằng Lục Cảnh hay là Lục Trân, nhưng mà nó cũng thuộc về sự tham muốn nên mới có sanh ra những cảnh ấy, nên nó cũng gọi là Luc Dục nữa.

Form, Sound, Smell, Taste, Touch, and Dharma are called the Six Objects or Six Dusts; but they also belong to craving, for only through craving do those realms arise, and so they are also called the Six Desires.

Đây nói qua cõi Đâu Suất Thiên, nên trong Lục Dục ấy, phải bớt cảnh Pháp (bắt chước) chỉ nói năm cảnh kia là Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc mà thôi. Vì nơi Đâu Suất Thiên không có cảnh Pháp. Năm cảnh kia gọi là Ngũ Cảnh hay là Ngũ Dục hoặc là Ngũ Trần (năm cảnh sanh ra bởi lòng ham muốn của cỏi hồng trần). Đã biết năm cảnh nầy nó là cái Cảnh mà thôi, nó có biết Tham Muốn là cái gì ! Song bị lấy nó, khiến người phàm phu phải mê luyến lấy nó mà sanh ra lòng Tham Muốn, nên mới gọi nó là Dục. Còn phần nó tuy gọi rằng là cái Cảnh, nhưng nó là Vật làm cho người nhơ bợn Chơn Lý, ô uế cả Lương Tâm, nên phải gọi cảnh của nó là Cảnh Trần (cảnh bụi bậm). Kinh Phật luận Năm điều Dục này làm hại người rất lớn, có than một đoạn như vầy:

Since we are speaking here of the Tuṣita Heaven, among those Six Desires we must leave out the object of Dharma and speak only of the other five: Form, Sound, Smell, Taste, and Touch — for in the Tuṣita Heaven there is no object of Dharma. Those five are called the Five Objects, the Five Desires, or the Five Dusts (five realms arising from the cravings of the red-dust world). We know that these five are merely objects; what do they know of craving! Yet ordinary people, captured by them, become infatuated with them and give rise to craving; that is why they are called Desires. As for themselves, though they are called objects, they are things that soil a person’s True Principle and defile the Conscience entirely; so their realm must be called the Realm of Dust. The Buddhist scriptures, discussing how greatly these Five Desires harm people, lament in one passage as follows:

« Thương thay cho chúng sanh, hằng bị năm phần Tham Muốn nó làm cho trong lòng tức giận, rồi hóa ra rầu buồn, biết vậy, mà sao cứ theo kiếm nó hoài không chịu thôi. Năm phần Tham Muốn này, nếu được nó cho được mạnh mẽ mau chóng chừng nào, thì khác nào như lửa đốt ghẻ chốc. Năm phần tham muốn đó, nếu có được nó là cũng không bổ ích chi hết, vì có được nó thì ví chẳng khác chi như loại chó như loại chó mà cần nhai cây đuốc vậy thôi. Năm phần tham muốn, nếu càng tranh giành nó chừng nào, thì ví chẳng khác như loài chim tranh giành cục thịt vậy thôi. Năm phần tham dục này nó đốt người, chẳng khác chi cầm ngọn đuốc cháy mà lại đi ngược gió. Năm phần tham muốn này nó hại người, ví chẳng khác như đi đường mà đạp nhầm rắn đọc. Năm phần tham muốn này nó có, không có thiệt, ví như được một món đồ chi trong lúc chiêm bao đó thôi. Năm phần tham muốn này nó không được trường cữu, ví chẳng khác đồ mượn trong giây phút. Người đời bị ngu dại nên lầm nó, mới tham muốn cho được năm phần ấy, cho đến khi chết rồi, mà cũng chẳng chịu bỏ nó đi, vì cái dại làm vậy nên mới chịu sự khỗ não đời sau không biết đâu mà lường mà đo mà tính cho được ».

“Pitiable are living beings, ever made angry at heart by the five cravings, which then turn into sorrow — knowing this, why do they keep pursuing them without stopping? These five cravings: the more strongly and swiftly one gets them, the more it is like scratching a sore with fire. These five cravings: even if one obtains them, they bring no benefit, for obtaining them is no different from a dog gnawing on a torch. These five cravings: the more one fights over them, the more it is like birds fighting over a scrap of meat. These five cravings burn a person, no different from holding a burning torch and walking against the wind. These five cravings harm a person, no different from stepping on a poisonous snake on the road. These five cravings exist yet are not real, like something obtained in a dream. These five cravings do not last, no different from something borrowed for a moment. People of the world, being foolish, mistake them and crave to obtain these five, until even at death they will not give them up; because of such folly, they must bear suffering in the life to come beyond all measure and reckoning.”

Những vị ở tại cõi Đâu Suất Thiên đây, đều là những bực đã trải qua chẳng biết bao nhiêu kiếp nơi ba cõi phía dưới là cõi Tư Vương Thiên, Điêu Lợi Thiên và Tu Dạ Ma Thiên nên nào là Lục Dục hay là Ngũ Dục chi cũng đều nếm đủ rồi, biết đủ rồi, nên đã hết thèm hết muốn tới nó rồi, nhờ vậy nên trong lòng vui vẻ mà biết được rằng mình đã Đủ những sự Tham Muốn ấy rồi. Những bực được biết như vậy mà lòng không còn quyến luyến tới nó nữa, thì mới được về ở nơi cõi Đâu Suất Thiên đây.

Those who dwell in the Tuṣita Heaven are all beings who have passed through who knows how many lives in the three realms below — the Heaven of the Four Kings, the Trāyastriṃśa Heaven, and the Suyāma Heaven — and so have tasted fully, known fully, every one of the Six Desires or Five Desires, and no longer crave or want them; thanks to this, they are glad at heart and know that they have had Enough of those cravings. Only those who know this, whose hearts are no longer attached to them, may come to dwell in the Tuṣita Heaven.

Cõi Đâu Suất Thiên này, đã là cõi thứ tư (bắt đầu từ dưới mặt đất, bỏ cỏi Nhơn Giái, đếm lên), bỏ chót núi Tu Di Sơn lại phái dưới, nên nó là một cõi rất cao rồi, ở không không giữa trời, nên cũng gọi là Không Cư, ánh sáng của mặt nhựt không còn có ăn thua gì đến nó nữa.. Một ngày một đêm (12 giờ) tại đây là 400 năm ở thế hạ. Một năm tại đây là 14,400 năm ở nhơn gian. Người ỡ tại cõi này sống lâu đến 4,000 tuổi. So số tuổi với thế gian, thì người đó sống tại thế hạ đến 57,600,000 tuổi (năm ức, 760 muôn tuổi).

The Tuṣita Heaven is the fourth heaven (counting upward from the earth, leaving out the Human Realm), leaving the summit of Mount Sumeru below; so it is a very high realm, in the empty space of the sky, and is therefore also called the Space-Dwelling (Không Cư); the light of the sun no longer has anything to do with it. One day and night (twelve hours) here equals four hundred years in the world below. One year here equals 14,400 years among humans. People of this realm live to four thousand years. Measured in the world’s years, such a person lives 57,600,000 years below (five hundred seventy-six myriads of years).

Tôi kể năm tháng ra cho đủ như vậy, chẳng phải tôi muốn kiếm giông dài làm chi cho nhọc, song vì tôi muốn xét cho biết rõ chỗ nói rằng:

I list the years and months in full like this not because I wish to be long-winded for no reason, but because I wish to examine and understand clearly the statement that:

Đức Thích Ca Mâu Ni thành được Phật kiếp này là nhờ Ngài tu hành đã mấy trăm ngàn kiếp trước và cũng đã đắc đạo thành được bực Bồ Tát nhiều kiếp rồi, mà trước khi giáng thế kỳ chót thì Ngài còn ở tại cõi Đâu Suất Thiên đây. Nay dùng theo con số ngày giờ năm tháng như trên đây đặng tính coi, thì thấy rõ ràng mấy ngàn kiếp trước của Ngài tu, đều là kiếp xác phàm của Ngài tại cõi Địa Cư (Nhơn Giái) mà thôi, chớ nào phải là tu ở Hư Không Cư hay là ở chỗ Tây Phương Cực Lạc Quốc nào xa đâu!

Shakyamuni attained Buddhahood in this life thanks to having cultivated for hundreds of thousands of lives before, and having attained the Way and the rank of Bodhisattva many lives before; and that before his final descent he still dwelt in the Tuṣita Heaven. Now, using the figures for days, hours, years, and months given above to reckon, one sees clearly that the thousands of former lives in which he cultivated were all lives in mortal bodies in the Earth-Dwelling (the Human Realm) — not cultivation in the Void-Dwelling or in some far-off Western Land of Utmost Bliss!

Vì người ở cõi Nhơn Giái sống lâu lối 100 tuổi, mà tại Đâu Xuất Thiên 12 giờ, thì là 400 năm ở thế hạ, vậy thì 100 tuổi tại cõi phàm, nó mới có 3 giờ tại Đâu Suất Thiên mà thôi. Nói tỷ mà nghe, dầu cho người đời thượng cổ kiếp sống lâu lắm cũng lối 1000 tuổi, thì 1000 tuổi cũng mới 2 ngày rưởi ở cõi Đâu Suất Thiên, thì 4000 tuổi ở tại Đâu Suất Thiên ắc phải đầu thai tại thế hạ này hết 612,000 kiếp, (ấy là tính về một kiếp là 1000 tuổi đó). Nhưng chẳng lẻ trong 612,000 kiếp ấy mà được hễ chết giờ này chỗ này, thì cũng trong giờ nấy đi đầu thai chỗ khác liền được sao, sao cũng phải lựa chỗ và lựa ngày đặng giáng sanh chớ! Vậy thì chúng ta cũng nên cho Ngài 2 ngày rưởi ở tại Địa Cư Thiên mà tu hành theo xác phàm và 2 ngày rưởi ở tại Hư Không Thiên đặng luyện kiếp và chọn chỗ lựa ngày mà giáng sanh, vậy thì Ngài phải có mặt tại thế hạ này hết 30,000 kiếp vậy.

For people in the Human Realm live about one hundred years, while twelve hours in the Tuṣita Heaven equal four hundred years below; so one hundred years in the mortal realm is only three hours in the Tuṣita Heaven. To give a comparison: even if people of high antiquity lived very long, about one thousand years, one thousand years is still only two and a half days in the Tuṣita Heaven; so four thousand years in the Tuṣita Heaven would require 612,000 incarnations in this lower world (reckoning one life as one thousand years). But surely, in those 612,000 lives, one could not die at a given hour and place and be reborn elsewhere in that very same hour; one must choose a place and a day to be born! So we should allow him two and a half days in the Earth-Dwelling Heaven cultivating in a mortal body, and two and a half days in the Void Heaven refining his life and choosing a place and a day to be born; then he must have been present in this lower world for some thirty thousand lives. [Translator’s note: the author’s figures are given as they appear in the source.]

Xét phỏng định sơ như vậy đặng xem những lịch sử của Ngài nói những kiếp trước của Ngài, kiếp thì làm con thú này, kiếp thì là người thế kia v.v., thì những việc ấy nào có phải là huyển hoặc đâu. (Coi đến đoạn giải Ba kiếp A Tăng Kỳ nữ mới rõ thêm).

Reckoning it roughly like this, and then looking at the accounts of his former lives — in one life an animal of this kind, in another a person of that kind, and so on — those accounts are not fanciful at all. (See the section explaining the Three Asaṃkhyeya Kalpas for more clarity.)

Đã nói sơ rõ cõi Đâu Suất Thiên, xin nói tiếp luôn qua hai cõi Lục Dục nữa cho trọn Sáu cõi Duc Giái.

Having explained the Tuṣita Heaven briefly, let me go on to the two remaining Desire Heavens, to complete the six heavens of the Realm of Desire.

Continue:

5.  Năm – Hóa Lạc Thiên (Nirmanarati) hoặc kêu là Lạc Biến Hóa Thiên (Nirmanarataya).

5. Five — The Heaven of Delight in Transformation (Hóa Lạc Thiên, Nirmāṇarati), also called the Heaven of Delightful Transformation.

Cõi này ở trên cõi Đâu Suất Thiên một từng, ở nhầm từng thứ năm của Dục Giái. Ở đây một ngày một đêm, thì là 800 năm của cõi thế hạ. Cõi này cũng còn thuộc về Ngũ Cảnh, hay là Ngũ Trần hoặc là Ngũ Dục, vì nó thuộc Dục Giái. Song le sự Tham Dục của người ở cõi này, không phải giống như các cõi kia, nên tự nơi mình dùng sức thần thông mà hóa ra cảnh nào mình muốn thích đặng vui thì cũng được, chẵng luận hình chất chi, hay là cách nào, nên cũng gọi là cõi Hóa Tự Lạc Thiên hoặc Diệu Biến Hóa Thiên.

This realm lies one level above the Tuṣita Heaven, the fifth level of the Realm of Desire. Here one day and night equals eight hundred years in the world below. This realm still belongs to the Five Objects, Five Dusts, or Five Desires, since it is part of the Realm of Desire. But the craving of its people is not like that of the other realms: by their own supernatural power they can conjure whatever scene they wish to enjoy, of any form or substance or manner; so it is also called the Heaven of Self-Transformed Delight, or the Heaven of Wondrous Transformation.

6.  Sáu – Tha Hóa Tự Tại Thiên (Paramrmitsvasavartina).

6. Six — The Heaven of Mastery over Others’ Transformations (Tha Hóa Tự Tại Thiên, Paranirmitavaśavartin).

Cảnh này là một cảnh khoái lạc hơn hết trong Sáu cảnh Trời nơi cõi Lục Dục ; lại là cảnh ở trên hơn hết, nên nó mới làm chủ cả năm cỏi kia. Nó muốn chơi bời thế nào cũng được thích ý tự tại, chẳng cần chi phải dùng đến những đồ phải cần dùng nơi cõi dưới, tự mình hóa hiện ra, rồi muợn những vật nơi cõi ấy thích tình đặng làm vui cho mình là đủ, nên mới gọi là Tha Hóa Tự Tại. Người ở cõi này, với người làm đầu cõi Sắc Giái là cảnh Ma Hê Thủ La Thiên đề là những bực Ma Vương làm phá hại cho Chánh Giáo đó. Đức Bồ Tát đặc đạo nơi cội Bồ Đề, cũng là bọn nó biến làm Thiên ma đến trêu ghẹo thử thách Ngài, đặng dắc Ngài đi lạc nẻo khác đó. Người chơn tu hảy ráng coi chừng, đừng khinh khi kiêu ngạo ỷ mình mà phả bị bọn này.

This realm is the most pleasurable of the six desire heavens, and also the highest, so it rules over the other five. Its people can amuse themselves however they please, freely and at ease, with no need to use the things required in the lower realms; they manifest themselves, then borrow the things of those realms to indulge their passions and amuse themselves — hence the name “Mastery over Others’ Transformations.” The people of this realm, together with the head of the Realm of Form, the Maheśvara Heaven (Ma Hê Thủ La Thiên), are the Demon Kings (Ma Vương) who wreak havoc on the True Teaching. When the Bodhisattva attained the Way beneath the Bodhi tree, it was this very band who transformed themselves into heavenly demons to tease and test him, trying to lead him astray onto another path. True cultivators, take care: do not be scornful, arrogant, or self-reliant, lest you fall prey to this band.

Sắc Giái – Rupadhata

Realm of Form — Rūpadhātu

Người nào tu hành đã trải thoát qua Sáu cõi Dục Giái nơi Lục Dục Thiên rồi, thì mới được bước qua cõi Sắc Giái này, nếm thử cho đủ, đặng trải qua cho biết nó là mấy cõi, mà cái hại của nó là thế nào, mà trừ cho được tuyệt, để Tâm cho trong sạch, mới có thể tấn hóa thêm lên được, bước vào đến bực Phật. Bồ tát lúc chưa giáng thế lần chót, chưa đầu thai vào nhà họ Thích Ca, thì Ngài vẫn còn ở nơi Đâu Suất Cung, cõi Trời thứ tư nơi Dục Giái mà thôi. Nhờ Ngài trải qua chẳng biết mấy mươi muôn kiếp tu hành trước rồi, nên Lục Trần đã đủ, song còn phải một kiếp Trần Duyên chót nữa mới rồi, mới bước vào bực Chánh Giác được. Lúc Ngài giáng thế kỳ chót ấy, chính là lúc Ngài dọn mình đặng bước qua cõi Sắc Giái đây, đặng lo rửa cho trong sạch các Sắc, mới được thành Phật đó, nếu chẳng vậy thì Ngài cũng vẫn phải còn lưu lại Đâu Suất Thiên mà thôi.

Only one who in cultivation has passed beyond the six realms of the Realm of Desire, the Six Desire Heavens, may step into this Realm of Form, taste it fully, and pass through it, so as to know how many realms it has and what its harm is, and eliminate it utterly, keeping the Heart pure — only then can one evolve further and step into the rank of Buddha. Before the Bodhisattva’s final descent, before he was conceived in the house of the Shakya clan, he still dwelt only in the Tuṣita Palace, the fourth heaven of the Realm of Desire. Having passed through who knows how many tens of thousands of lives of cultivation, he had had enough of the Six Dusts; yet one final life of worldly ties remained before he could step into the rank of Perfect Enlightenment (Chánh Giác). His final descent was precisely the time when he prepared himself to step into this Realm of Form, to cleanse all forms until pure, so as to become a Buddha; otherwise he would have had to remain in the Tuṣita Heaven.

Sắc Giái này gồm có Bốn Cõi Thiền, gọi là Tứ Thiền Thiên, nhưng còn thêm một cõi thứ năm nữa, lại kêu là Tịnh Phạn Địa. Tu hành trải qua được đủ Tứ Thiền Thiên và Tịnh Phạn Địa rồi, mà đã đều được thanh tịnh rồi, mới được bước qua Vô Sắc Giái đặng trau giồi thêm cho được Thiệt Không Không. Tới được địa vị Thiệt Không Không này, mới gọi là Hoàn Toàn. Chính lúc này là lúc xác thân của Thích Ca Tất Đạt Đa phải trau giồi lắm lắm đó. Vì vậy nên lúc Phật còn ở tại Đâu Suất Thiên, thì còn gọi là Bố Tát, đến chừng trải qua được kiếp Thích Ca Tất Đạt Đa rồi, biết dọn mình trong sạch rồi, biết Thiền Định theo bốn cõi Tứ Thiền Thiên nơi Sắc Giái rồi, và vượt qua đủ được bốn cảnh Vô Sắc Giái rồi, khi ấy mới được gọi là Phật, nên mới có danh xưng Thích Ca Văn Phật đó.

This Realm of Form comprises Four Meditation Realms, called the Four Dhyāna Heavens (Tứ Thiền Thiên), with a fifth realm besides, called the Pure Brahma Ground (Tịnh Phạn Địa). Having passed through all Four Dhyāna Heavens and the Pure Brahma Ground in cultivation, and having become pure and still in all of them, one may step into the Formless Realm to refine oneself further toward True Emptiness of Emptiness (Thiệt Không Không). Only on reaching that station of True Emptiness of Emptiness is one called Complete. It was precisely at this point that the body of Shakyamuni Siddhartha had to refine itself most intensely. That is why, while the Buddha was still in the Tuṣita Heaven, he was still called Bodhisattva; only after passing through the life of Shakyamuni Siddhartha — knowing how to make himself pure, knowing how to meditate through the four Dhyāna Heavens of the Realm of Form, and passing beyond all four realms of the Formless Realm — was he called Buddha, and so came the title Shakyamuni Buddha (Thích Ca Văn Phật).

Cõi Sắc Giái này gồm có Bốn cỏi Thiền Thiên và một cõi Tịnh Phạn Địa. (Muốn rõ nghĩa chữ Thiền là thể nào, xin coi nơi Mục cuốn sau tôi sẻ giải rõ, vì nó nhiều cách và nhiều bực lắm. Nơi đây tôi chỉ giải sơ qua mấy cõi Sắc Giái mà thôi, vì nơi đây chưa phải là vấn đề phải giải chữ Thiền cho kỷ, sợ e phải lạc đề).

This Realm of Form comprises the four Dhyāna Heavens and the Pure Brahma Ground. (To understand clearly what the word Thiền [Dhyāna, meditation] means, please see a later volume where I will explain it clearly, for it has many methods and many levels. Here I only explain the realms of Form briefly, since this is not yet the place to explain the word Thiền in detail, lest I stray from the topic.)

Bốn cõi Thiền là : Sơ Thiền Thiên, Nhị Thiền Thiên, Tam Thiền Thiên, và Tứ Thiền Thiên.

The four Dhyāna realms are: the First Dhyāna Heaven, the Second Dhyāna Heaven, the Third Dhyāna Heaven, and the Fourth Dhyāna Heaven.

Sơ Thiền Thiên là bực sơ đẳng của cách Tham Thiền, đặng bước vào trong  bốn lớp trời. Bực này gồm có bốn lớp trời là : Phạn Thiên (Brahmakayia), Phạn Chúng Thiên (Brahmaparsadya), Phạn Phụ Thiên  (Brahmapurchita), Đại Phạn Thiên (Mahabrahma).

The First Dhyāna Heaven is the beginning grade of the method of meditation, stepping into four layers of heaven: the Heaven of Brahmā’s Retinue (Brahmakāyika), the Heaven of Brahmā’s Assembly (Brahmapāriṣadya), the Heaven of Brahmā’s Ministers (Brahmapurohita), and the Heaven of the Great Brahmā (Mahābrahmā).

Nhị Thiền Thiên nghĩa là cách Tham Thiền lớp thứ hai, đặng bước vào cõi Trời Sắc Giái. Lớp này có Ba bực là : Thiếu Quan Thiên (Parittabha), Vô Lượng Phạn Quan Thiên (Apramanabha) và Quan Âm Thiên (Abhasvara).

The Second Dhyāna Heaven means the second layer of the method of meditation, stepping into the heavens of the Realm of Form. This layer has three grades: the Heaven of Lesser Light (Parīttābha), the Heaven of Immeasurable Light (Apramāṇābha), and the Heaven of Radiant Sound (Ābhāsvara).

Tam Thiền Thiên nghĩa là lớp Tham Thiền thứ ba, đặng tránh khỏi sự ô uế nơi Sắc Giái. Lớp này có ba bực là : Thiếu Tịnh Thiên (Tarittasbha), Vô Lượng Tịnh Thiên (Apramanasubha), Biên Tịnh Thiên (Subhakrtsna).

he Third Dhyāna Heaven means the third layer of meditation, to escape the defilements of the Realm of Form. This layer has three grades: the Heaven of Lesser Purity (Parīttaśubha), the Heaven of Immeasurable Purity (Apramāṇaśubha), and the Heaven of Pervasive Purity (Śubhakṛtsna).

Tứ Thiền Thiên nghĩa là lớp Tham Thiền thứ tư, đặng dứt các sự nhơ bợn xấu xa nơi cõi Sắc Giái. Lớp này có ba bực là : Vô Vân Thiên (Anabharaka), Phước Sanh Thiên (Punyaprasava), Quảng Quã Thiên (Brhatphala).

The Fourth Dhyāna Heaven means the fourth layer of meditation, to cut off all impurities and ugliness of the Realm of Form. This layer has three grades: the Cloudless Heaven (Anabhraka), the Heaven Born of Merit (Puṇyaprasava), and the Heaven of Great Fruit (Bṛhatphala).

 Đã dứt được các Sắc nơi Bốn Cõi Thiền Thiên gồm có 13 lớp rồi, còn phải dọn mình cho trong sạch yên lặng nữa, đặng bước vào Bảy cái Địa vị sau này, Bảy Địa Vị ấy đều đứng vào hạng Tịnh Phạn Địa, là : Vô Tưởng Thiên (Avrha), Vô Thiền Thiên (Atapa), Vô Nhiệt Thiên (Sudrsa), Phổ Kiến Thiên (Sudarsama), Sắc Cứu cánh Thiên (Akanistha), Hòa Âm Thiên (Agnhanistha) và Đại Tự Tại Thiên (Mahamahesvara)

Having cut off all forms in the four Dhyāna Heavens, comprising thirteen layers, one must still make oneself pure and still in order to step into the following seven stations, all belonging to the Pure Brahma Ground: the Heaven of No Thought, the Heaven Without Affliction (Avṛha), the Heaven Without Heat (Atapa), the Heaven of Good Vision (Sudṛśa), the Heaven of Universal Vision (Sudarśana), the Heaven at the Summit of Form (Akaniṣṭha), and the Heaven of Great Sovereignty (Đại Tự Tại Thiên, Maheśvara). [Translator’s note: the names and Sanskrit equivalents in this list follow the source, in which some pairings appear to be shifted; they are reproduced as given.]

Lời dặn thêm : Nếu ai đọc đến đoạn Sắc Giái này, mà không để ý cho kỷ thì tưởng rằng cõi này, cõi Đại Tự Tại Thiên này là cõi cao quí nhứt, đã vượt qua từ lớp Phan Thiên nơi cõi Sơ Thiền, đến được luôn luôn nơi lớp Đại Tự Tại Thiên là lớp thứ 7 của cõi Tịnh Phạn Địa, nghĩa là lớp trên hết cũa cõi Sắc Giái, thì chắc là mừng lắm, vì tưởng đâu nó là một cõi siêu tuyệt rồi, hay đâu nó là một cõi rất độc hại ghê gớm hơn hết. Bởi cõi này là cõi đứng đầu trên hết cả 20 cõi Sắc Giái, nên Ma Hê Thũ La Là là con Ma Vương này thường hay hiệp với con Ma Vương cai trị nơi đây, nó đủ sức quyến rù kẻ chơn tu đặng phá hại Chơn Lý. Con Ma Vương này thường hay hiệp với con Ma Vương nơi cõi thứ sáu của Dục Giái, cõi Tha Hóa Tự Tại Thiên đặng biến hóa vô cùng phép lạ, mà dụ dổ kẻ tu hành làm cho phá giái, dầu cho ai chí tâm mộ Đạo bực nào, bọn nó cũng kiếm đủ cách làm cho người ấy xiêu lạc qua tả đạo bàn môn cho được, thì nó mới chịu nghe cho. Chư tôn phải nhớ rằng Thích Ca Tất Đạt Đa lúc đã ngộ Đạo rồi, thì cũng còn bị bọn này thử thách 49 ngày ; Gia Tô Cơ Đốc (Jesus Christ) kia, cũng phải bị chúng nó cám dổ 49 ngày vậy, Đến chừng thấy hai Vị này nhứt tâm theo Chơn Lý, không còn chút nào Vọng nữa, thì bọn nó mới chịu lui xa cho. Xét vậy, nên tôi phải nói qua chút ít cho chư tôn rõ cái tài lực biến hóa của bọn này mà gớm cho nó ; nên ai là người muốn thật tu, thì chớ đem chút lòng Vọng, hễ có Vọng, thì phải mắc kế bọn này, vì nó đủ sức đam cả sự giàu sang của thế gian, đặng cho ai là người theo nó, miễn là đừng theo Chơn Lý thì thôi. (Xin xem các tích của nó dụ dổ  quến rù Thích Ca Tất Đạt Đa và Gia Tô Cơ Đốc, lúc hai vị này đắc Đạo thì rõ). May là hai Vị ấy đã hoàn toàn Giác Ngộ, nên mới khỏi bị bọn nó cám dổ, nếu bựa bựa mứa mứa, thì ắc phải sa ngã rồi, huống chi là ai đương thời buổi này, tu hành chưa biết dưa múi ra sao, mới vừa vừa biết ọ ẹ một hai tiếng trường trai, mới lem nhem biết thẳng lưng quì gối tưởng Phật, cùng là mới vừa biết nhóp nhép một đôi chữ Tiên Thiên Hậu Thiên, mà đã gọi là phép tắc vô cùng, di sơn đảo hải, sái đâu thành binh, đặng gạt gẩm chúng sanh, thì những người như vậy nào có đến đổi chi cho bọn Đại Tự Tại Thiên hay là bọn Tha Hóa Tự Tại Thiên phải ra tay, bọn nó chỉ dùng một đứa tiểu tốt trong hạng Nhu Nhuyễn Thiên, lòi ra một cái gót chơn, thì đủ cho những ai kia gục đầu cúi lạy sát đất, tưởng đâu là Đức Quan Âm giáng thế, hoặc là bọn nó chỉ sai một đứa trong bọn Tạ Điện Thiên lòi ra đầu chơn ngón út thì cũng đủ cho ai kai sụp mặt, chắc rằng là Quan Thánh giáng lâm rồi, thì tự nhiên chúng nó đủ sai làm trò cười cho chúng nó, mặc sức hỉ hỉ cười cười đặng gạt gẩm kẻ mù mê. Thương thay! Thương thay! Thương cho kẻ dốt nát mà vinh mặt! (Đoạn này giải rành ra còn dài lắm, xin rút bớt một khúc, nơi đây chỉ nói tóm vài lời, còn tập sau sẻ đem ra làm mục riêng giải rõ)

A further caution: Whoever reads this section on the Realm of Form without attending carefully may think that this realm — the Heaven of Great Sovereignty — is the noblest of all, having passed from the Brahmā layer of the First Dhyāna all the way to the Heaven of Great Sovereignty, the seventh layer of the Pure Brahma Ground, the topmost layer of the Realm of Form; and would surely be overjoyed, imagining it a transcendent realm — little knowing that it is the most poisonous and terrifying realm of all. Because this realm stands at the head of all twenty realms of Form, Maheśvara — this Demon King — often joins with the Demon King who rules here, strong enough to lure true cultivators so as to destroy True Principle. This Demon King often joins with the Demon King of the sixth realm of Desire, the Heaven of Mastery over Others’ Transformations, to work endless magical transformations and seduce cultivators into breaking their precepts; however sincerely devoted to the Way a person may be, they will try every means to make him slip into heterodox ways and side-doors, and will not rest until they do. Honored readers, remember that even after Shakyamuni Siddhartha had awakened to the Way, he was still tested by this band for forty-nine days; and Jesus Christ (Gia Tô Cơ Đốc) too was tempted by them for forty-nine days. Only when they saw that these two followed True Principle with single heart, without the least delusion left, did they withdraw. Considering this, I must say a little so that you understand the transforming power of this band and loathe it. Whoever wishes truly to cultivate must not harbor the least reckless delusion (Vọng); wherever there is delusion, one falls into their schemes, for they have power enough to offer all the riches and glory of the world to whoever follows them — so long as one does not follow True Principle. (See the stories of how they seduced and lured Shakyamuni Siddhartha and Jesus Christ when those two attained the Way, and it will be clear.) Fortunately those two were fully Awakened, and so escaped their temptations; had they been half-hearted, they would surely have fallen. How much more so anyone in these times who, cultivating without yet knowing head from tail, has barely learned to mumble a word or two about perpetual fasting, has barely learned to straighten his back, kneel, and think of the Buddha, or has barely learned to mouth a couple of words about Prior Heaven and Later Heaven — and already claims boundless magical powers, moving mountains and overturning seas, turning beans into soldiers, so as to deceive living beings. Such people are not worth the effort of the Great Sovereignty band or the Others’ Transformations band; that band need only send a petty soldier from the ranks of the Heaven of Softness to poke out a heel, and those people will bow their heads to the ground, thinking Quan Âm has descended to earth; or send one from the Heaven of Mixed Palaces to poke out the tip of a little toe, and they will prostrate themselves, sure that Quan Thánh has come down — and so naturally the demons can make them a laughingstock, giggling and laughing as they please while deceiving the blind and deluded. What a pity! What a pity! Pity the ignorant who pride themselves! (This section, explained fully, would be very long; I cut it short here, saying only a few words; a later volume will treat it as a separate subject.)

Vô Sắc Giái – Arupadhata

Formless Realm — Arūpadhātu

Cõi này là cõi Tứ Không Thiên (Caturupabrama-Loka).

This realm is the Four Heavens of Emptiness (Tứ Không Thiên, Catur-ārūpya-brahmaloka).

Người được thoát qua khỏi Dục Giái và Sắc Giái rồi, mới có thể mà tu đến Bốn lớp Trời này được. Người tu hành nhập định đã được vững vàng, Tâm không còn Vọng nữa, đã thoát ra mấy cái Ma kiếp thử thách rồi, trong Tâm không còn chi là Dục là Sắc nữa, nên cái Thức nó mới định được mà Trụ vào cảnh Vô Sắc Giái này, mới thật là cảnh Trời Không Không đó, nó có Bốn cảnh, mà không phải thật là Cảnh, vì nó là Không Không :

Only one who has escaped the Realm of Desire and the Realm of Form can cultivate as far as these four layers of heaven. When one who cultivates has entered absorption firmly, the Heart no longer reckless, having escaped the demonic trials, with no Desire or Form left in the Heart — only then can Consciousness be stilled and abide in this Formless Realm. This is truly the heaven of Emptiness of Emptiness. It has four realms, yet they are not truly realms, for they are Emptiness of Emptiness:

1.   Không Vô Biên Xứ – Akasanantyayatama.

1. The Sphere of Boundless Space — Ākāśānantyāyatana.

2.   Thức Vô Biên Xứ – Vijnananantyayatana.

2. The Sphere of Boundless Consciousness — Vijñānānantyāyatana.

3.   Vô Sở Hữu Xứ – Akincanyayatana.

3. The Sphere of Nothingness — Ākiñcanyāyatana.

4.   Phi Tưởng – Phi Phi Tưởng Xứ – Naivasamjnanasamjnayatana.

4. The Sphere of Neither Perception nor Non-Perception — Naivasaṃjñānāsaṃjñāyatana.

(Bốn cõi này giải rõ rất dài, sau tôi sẻ giải về mục Tứ Thiên và Tứ Không cho dọc giả chư tôn, ai muốn rõ cách Tham Thiền Nhập Định là thể nào, kẻo người muốn học mà vô sư vô sách, nghe lời người chỉ quàn, thường bị lủ Ma Vương phá khuấy, nên chẳng biết bao nhiêu người sai lạc Chơn Lý mà phải xiêu ngã qua tả đạo bàn môn, là vì nơi một cái Nhập Định và Tham Thiền sái cách mà ra vậy).

(These four realms would take a very long time to explain clearly; later I will explain the subject of the Four Dhyānas and the Four Emptinesses for honored readers who wish to understand what meditation and entering absorption are — lest those who wish to learn, without teacher or book, follow someone’s haphazard instruction and are often thrown into confusion by the Demon Kings. For who knows how many people have strayed from True Principle and slipped into heterodox ways and side-doors because of practicing meditation and absorption in the wrong way.)

Lịch Sử và Gia Phổ họ Thích Ca (Sakya)

History and Genealogy of the Shakya Clan (Sakya)

Thích là họ của Phật Thế Tôn. Lúc Pháp nhà Phật mới đến Trung Quốc, kẻ sải còn xưng hô theo họ của mình, hoặc xưng hô là Trúc, hoặc kẻ đệ tử nhiều người xưng hô theo họ của thầy mình, như sải Chi Độn gốc là họ Quang, mà học Đạo với sải Chi Khiêm, nên cũng xưng hô mình là họ Chi; sải Bạch Đạo Du gốc là họ Phùng, mà học Đạo với sải Bạch Thi Lê Mật Đa nên xưng mình là họ Bạch v.v… Đến trào Tấn, người Đạo An định lại rằng: Phật vốn là họ Thích Ca, nên hễ ai vào cửa nhà Phật thì phải tùng theo họ của Phật, nên dùng họ Thích. Kịp đến lúc sau, có người đem kinh A Xá về Trung Quốc, thì trong kinh quả có dạy như vầy, nên thiên hạ phải tùng theo. Trong kinh A Xá dạy rằng : « Tứ Đại hà nhập hải, diệc vô bổn danh tự, đăng danh vi hải, thữ diệc như thì », nghĩa là: Nước bốn sông lớn chảy về biển, thì nước ấy cũng không phân biệt tên là nước của con sông nào, chỉnh đồng một mùi mặn với nước biển nên kêu là Biển, thì nay ai vào cửa Phật cũng vậy.

Thích is the clan name of the World-Honored Buddha. When the Buddhist Dharma first came to China, monks still used their own family names, or called themselves “Trúc” (from India); or many disciples took their teacher’s surname — for example, the monk Chi Độn was originally surnamed Quang, but studied the Way with the monk Chi Khiêm, and so called himself by the surname Chi; the monk Bạch Đạo Du was originally surnamed Phùng, but studied with the monk Bạch Thi Lê Mật Đa and so called himself Bạch, and so on. Under the Jin dynasty (Tấn), Dao’an (Đạo An) ruled that since the Buddha was of the Shakya clan, whoever entered the gate of the Buddha must take the Buddha’s clan name, and so used the surname Thích. Later, when someone brought the Agama Sutra (kinh A Xá) to China, it was found indeed to teach this, so everyone followed. The Agama Sutra teaches: “When the four great rivers enter the sea, they no longer keep their original names, but are called only ‘the sea’; so it is here too” — that is, the waters of the four great rivers, flowing into the sea, are no longer distinguished as the water of this or that river, but share one salty taste with the sea and are called the Sea; so too whoever enters the gate of the Buddha.

Pháp nhà Phật vào Trung Quốc có bốn giống là: Xái Lợi, Bà La Môn, Trưởng Giả, Cư Sỉ. Hễ người nào xuất gia học Đạo theo Như Lai thì cạo tóc râu, mặc ba bộ Pháp Y, không còn xưng hô họ gốc của mình nữa, chính kêu là đệ tử của Thầy Sa Môn Thích Ca mà thôi; vậy nên các bực Ty Kheo, các bục trong bốn giống đều cạo tóc râu để chứng rằng mình có đức tin, vững bền việc xuất gia mà học Đạo, thì phải diệt tên họ của mình, mà xưng rằng là « Thích Ca Đệ Tử », Đức Huệ Năng Đại Sư cũng xưng như vậy, nên lúc Ngài dưng sớ về Trào cho vua Cao Tông nhà Đường đặng Ngài từ chức, vỉ trong mình có bịnh, thì trong sớ Ngài có câu như vầy: « Triều Châu, tào Khê Sơn, Thích Ca Huệ Năng từ tật biểu » nghĩa là: xứ Triều Châu, núi Tào Khe, họ Thích Ca tên Huệ Năng dưng biểu từ chức vì có bịnh.

The Buddhist Dharma entering China had four classes: Kṣatriya (Xái Lợi), Brahmin, Householder-Elder (Trưởng Giả), and Lay Devotee (Cư Sĩ). Whoever left home to study the Way after the Tathāgata shaved head and beard, wore the three Dharma robes, and no longer used his original family name, but called himself only a disciple of the Śramaṇa Shakya. So the bhikṣus and members of all four classes shaved head and beard to show that they had faith and were steadfast in leaving home to study the Way; they had to extinguish their own names and call themselves “Disciples of Shakya.” The Great Master Huệ Năng (Huineng) also called himself so: when he submitted a memorial to Emperor Gaozong of Tang asking to resign his office because of illness, the memorial contained the line: “Triều Châu, Tào Khê Mountain, Shakya Huệ Năng, memorial resigning on account of illness” — that is: of the region of Triều Châu, Mount Tào Khê, of the Shakya clan, named Huệ Năng, submits a memorial resigning because of illness.

Sư Tăng Hựu có làm tập gia phổ của họ Thích Ca, biên rằng: Người con thứ tư của vua Ý Ma bị đày đến Tuyết Sơn, ở trong rừng Trực Thọ; khi người con thứ tư đẻ được một đứa con, thì vua rất mừng và nói rắng: đứa con này thiệt là đứa con Thích, nên nó mới được tự mình còn mà tự lập, nên đặt nó rằng họ Thích.

The monk Sengyou (Tăng Hựu) compiled a genealogy of the Shakya clan, recording: the fourth son of King Ikṣvāku (vua Ý Ma) was exiled to the Himalayas, dwelling in the Trực Thọ forest. When that fourth son had a son of his own, the king rejoiced greatly and said: “This child is truly a capable child, able to survive and establish himself on his own,” and so named him with the surname Thích.

Giải nghĩa: Tiếng Thích nghĩa là Hay, Giỏi. Cũng có nghĩa rằng: Ở trong rừng Trực Thọ nên kêu rằng là Thích, vì tiếng Phạn kêu Trực cũng là Thích.

Explanation: The word Thích (Śākya) means able, capable. It is also said that because they lived in the Trực Thọ forest they were called Thích, since in Sanskrit “Trực” is also “Thích.”

Cũng có sách nói rằng: Nước vua Ý Ma có cây đại thọ tên là cây Thích Ca rất xanh tốt, dìm dà; có thầy tướng nói rằng: Chỗ này sanh ra vị Quốc Vương, vì vậy nên vua Ý Ma đem người con thứ tư đến đó ở. Nhơn đó nên đặt tên giống là họ Thích.

Some books also say: in King Ikṣvāku’s country there was a great tree called the Shakya tree, very green and lush; a physiognomer said, “This place will give birth to a king,” and so King Ikṣvāku sent his fourth son to live there. For that reason the lineage was named the Thích clan.

Người Tiền Mục Ông giải rằng: Họ Thích là giống Xái Lợi. Ấy là giòng giống của vị đế vương, mà trong ấy có họ Thích rất sang trọng hơn hết, cai trị nước Trung Thiên Trúc, ở cã đô hội của bốn nước Thiên Trúc, người nào đi ra bốn phương mà ở chỗ ấy, hễ làm vua thì kêu là « Tắc Vương », còn làm dân kêu là « Tắc Chưởng » vì tiếng Thích với tiếng Tắc cũng giống nhau, chớ gốc cũng là một họ.

Tiền Mục Ông explained: the Thích clan belongs to the Kṣatriya caste — the lineage of kings and emperors — and within it the Thích clan was the most noble, ruling the country of Central India, in the capital of the four Indian kingdoms. Whoever went out from there to the four quarters and settled, if he became king, was called “Tắc Vương,” and if he was a commoner, “Tắc Chưởng,” because the sounds “Thích” and “Tắc” are alike; at root they are one clan.

Thích Tử – Thích Nữ (Con giống Thích)

(Sons and Daughters of Shakya)

Thích Tử nghĩa là đệ tử của Phật Thích Ca mà ra, nên kêu là Thích Tử. Có câu rằng: « Phi Sa Môn, Phi Thích Ca Tử », nghĩa là: Chẳng phải là thầy Sa Môn, thì chẳng phải là con của Thích Ca. Trong kinh Lăng Nghiêm có câu như vầy: « Nại hà Như Lai diệc độ chi hậu, thực chúng sanh nhục, danh vị Thích Tử » ? nghĩa là: ví ý chi sau khi Đức Như Lai diệc độ rồi, mà những kẻ ăn thịt chúng sanh lại gọi mình rằng con giòng họ Thích ?

Thích Tử means one who came forth as a disciple of Shakyamuni Buddha, and so is called a “Son of Shakya.” There is a saying: “Not a Śramaṇa, not a son of Shakya” — meaning one who is not a Śramaṇa monk is not a son of Shakya. The Śūraṅgama Sutra has this line: “How is it that after the Tathāgata’s extinction, those who eat the flesh of living beings call themselves sons of Shakya?“

Kinh A Xá có nói rằng: Phật dạy các bực Tỳ Kheo, có bốn họ xuất gia không còn dùng họ củ của mình, chỉnh kêu rằng là thầy Sa Môn, con họ Thích mà thôi, bởi vì sanh ra đời là nhờ ta mà sanh, còn nên là nhờ là nhờ Pháp mà nên, cũng như bốn cái sông lớn đều ở nơi cái Nguồn A Nậu Đạt, núi Tuyết Sơn mà chảy ra vậy.

The Agama Sutra says: the Buddha taught the bhikṣus that those of the four castes who leave home no longer use their old family names, but are called only Śramaṇas, sons of the Shakya clan — for they were born into the world through me, and they are perfected through the Dharma — just as the four great rivers all flow out from the Anavatapta Lake source in the Himalayas.

Có 4 câu phân biệt giòng họ Thích như vầy:

There are four sayings distinguishing the Shakya lineage, as follows:

« Thị Thích Tử, phi Sa Môn, nải Vương Chưởng giả », nghĩa là: thiệt con họ Tích mà chẳng phải thầy Sa Môn, ấy là giòng nhà vua vậy.

“A son of Shakya but not a Śramaṇa — that is the royal line“: truly of the Shakya clan but not a Śramaṇa — that is the king’s lineage.

« Thị Sa Môn, phi Thích Tử, Bà La Môn giã », nghĩa là: thiệt là thầy Sa Môn mà chẳng phải thiệt con giòng họ Thích, là Bà La Môn vậy.

“A Śramaṇa but not a son of Shakya — that is a Brahmin“: truly a Śramaṇa but not truly of the Shakya lineage — that is a Brahmin.

« Thị Sa Môn, thị Thích Tử, Tỳ Kheo giả », nghĩa là: thiệt là thầy Sa Môn, mà thiệt là con giòng họ Thích, là bực Tỳ Kheo vậy.

“A Śramaṇa and a son of Shakya — that is a bhikṣu“: truly a Śramaṇa and truly of the Shakya lineage — that is the rank of bhikṣu.

« Phi Sa Môn, phi Thích Tử, nhị tiện tánh giả », nghĩa là: chẳng phải thầy Sa Môn, chẳng phải con giòng họ Thích, thì là hai họ đê tiện vậy, chữ phạn kêu là Sakyaputriya.

“Neither a Śramaṇa nor a son of Shakya — those are the two lowly castes“: neither a Śramaṇa nor of the Shakya lineage — those are the two base castes. In Sanskrit: Śākyaputrīya.

Thích Nữ: Thích Nữ cũng như Thích Tử vậy, nghĩa là giòng họ Thích, mà đều phe đờn bà, con gái.

Daughters of Shakya, like the Sons of Shakya, meaning of the Shakya lineage, but women and girls.

Thích Môn:

Thích Môn nghĩa là Cửa của Thích Giáo. Chữ Môn nghĩa là chỗ thông vào, mà cũng có nghĩa là Sai Biệt, vì chúng sanh nào có duyên mà thông vào được, nên kêu là « Môn », mà cũng sai biệt hơn các Giáo khác, nên kêu là « Môn ».

Thích Môn means the Gate of the Shakya Teaching. The word Môn means a place one passes through, and also means distinct: because living beings with the affinity can pass through it, it is called “Gate,” and because it is distinct from the other teachings, it is called “Gate.”

Thích Đế:

Thích Đế là vị vua cai trị cõi trời thứ 33, là ông Thích La, nên kêu là Thích Đế, thường kêu rằng là Đế Thích ở cung Thiện Kiến.

Thích Đế is the king who rules the thirty-third heaven, Śakra (Thích La), and so is called Thích Đế; he is commonly called Đế Thích, residing in the Thiện Kiến palace.

Thích Ca (Sakya) là nói tắc Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni)

Thích Ca (Śākya) is short for Thích Ca Mâu Ni (Śākyamuni).

Thích Ca Mâu Ni là con vua nước Tịnh Phan Vương (Suddhoddana  thuộc Nepal ngày nay), ở thành Ca Tỳ la (Kapilavastu), mẹ tên la Ma Dà (Maya), tên kêu là Tất Đa Thái Tử, đẻ ở nơi phương đông thành Ca Tỳ La, vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini). Đẻ rồi 7 ngày thì mẹ chết, người dì tên là Ba Đồ Ba Đề nuôi. Thầy Bạt Đà La Ni (Bharani) dạy. Lúc tuổi trẻ, đối với những hiện tượng của nhơn sanh thì đã có chỗ suy xét rồi (tư duy – SamyaSankalpa), nên hoặc khi ở dưới gốc cây Diệm Phú thì suy xét sự Khỗ của kẻ canh nông, hoặc thấy các loài cầm thú ăn thịt nhau mà nhàm cuộc nhơn sanh hay trang đấu, lại có khi dạo chơi trên bốn cửa thành, thấy cái tướng của kẻ sanh lão bịnh tữ mà nhàm , nên có ý trốn đời, bèn nương đêm trăng biểu tên hầu mình tên Sa Mặc là bạn với mình, cởi ngựa trắng tên Kiển Trắc đặng xuất gia tìm đến ông Bạ Ca Bà (Bhargava) mà nghe cái Đạo khỗ hạnh xuất ly, lại hỏi kiếm ông A Lam Ca Lam nơi nước Ma Yết Đà, phía bắc thành Vương Xá, núi Di Lầu (Meru) đặng nghe phái sải Tăng Khư thuyết pháp, rồi lại trở qua mà hỏi rõ Đạo với Quốc Đà La Tiên (Udraka). Trải qua mấy chỗ ấy đều chẳng đặng giống cái phép mầu của Ngài muốn kiếm, Ngài bèn bỏ vào làng Ưu Lâu Tần La, rừng Khỗ hạnh sửa mình một cách rất nghiêm khỗ trong 6 năm, hình dung ốm o gầy mòn, trải những sự khỗ rất gắt gao. Kế đó Ngài lấy làm sự khỗ hạnh này chẳng phải Đạo giải thoát đặng đến Niết Bàn, nên Ngài quyết định đổi sự hành vi những ngày trước, bèn đi tấm nơi sông Ni Liên Thuyền đặng rữa sạch bụi bậm đống dơ trong mình, chịu ăn cháo sữa của một người thôn nữ dưng, bèn ngồi nơi núi Chánh Giác, dưới gốc cây Bồ Đề mà suy xét, nói rằng: « Chẳng đặng bực Chánh Giác thì chẳng đứng dậy chỗ này ». Ngài xem cái phép Tứ Diệu Đề và Thập Nhị Nhơn Duyên, nhờ vậy mà thành bực Giác giả (Bouddha) Thế Tôn (Lokajestha) làm thầy được bực nhơn thiên. Thuở ấy Ngài được 35 tuổi. Từ ấy nhẩn sau, trên bốn mươi ngoài năm, Ngài du lịch bốn phương, dạy dổ các chủng loại. Qua đến năm kỷ ngươn 487 năm, thì Ngài Nhập Niết Bàn, nơi ngoài thành Câu Thi, dưới hai gốc cây Sa La, gói bằng những bông thơm trắng.

Shakyamuni was the son of King Śuddhodana (in present-day Nepal), of the city of Kapilavastu (Ca Tỳ La); his mother was named Māyā, and he was called Prince Siddhārtha. He was born east of Kapilavastu, in the Lumbinī garden. Seven days after his birth his mother died, and his aunt, named Mahāprajāpatī, raised him. He was taught by the teacher Bharani. In his youth he already reflected on the phenomena of human life (right thought — samyak-saṅkalpa): sometimes beneath a rose-apple tree he pondered the suffering of farmers; or, seeing birds and beasts devour one another, he grew weary of the strife of human life; and once, strolling out through the four gates of the city, he saw the signs of birth, old age, sickness, and death and grew weary of them, and resolved to flee the world. Taking advantage of a moonlit night, he told his attendant Chandaka, his companion, to saddle the white horse Kanthaka, and left home. He sought out Bhārgava to hear the Way of ascetic renunciation; then sought out Ārāḍa Kālāma in the country of Magadha, north of the city of Rājagṛha, on Mount Meru, to hear the Sāṃkhya monks expound their doctrine; then went on to inquire about the Way from the sage Udraka. Passing through all these places, he found none matching the wondrous Dharma he sought; so he went into the village of Uruvilvā, to the forest of austerities, and disciplined himself in the most severe way for six years, his body wasting away to skin and bone, enduring the harshest hardships. Then, judging that these austerities were not the Way of liberation leading to Nirvāṇa, he resolved to change his former practice: he bathed in the Nairañjanā River to wash the dust and grime from his body, accepted a bowl of milk-rice offered by a village maiden, and sat down on the Mount of Perfect Enlightenment, beneath the Bodhi tree, to reflect, saying: “Until I attain Perfect Enlightenment, I will not rise from this place.” He contemplated the Four Noble Truths and the Twelve Links of Dependent Origination, and thereby became the Awakened One (Buddha), the World-Honored One (Lokajyeṣṭha), teacher of humans and gods. He was then thirty-five years old. From then on, for more than forty years, he traveled the four quarters teaching all kinds of beings. In the year 487 [before the Common Era], he entered Nirvāṇa outside the city of Kuśinagara, beneath a pair of Sāla trees, wrapped in fragrant white flowers.

Cù Đàm (Gautama)

Cù Đàm là họ Phật từ đời Cổ Lai đến giờ, hoặc kêu là Cồ Đàm, Kiều Đáp Ma, dều là giòng giống họ Thích.  Họ Thích có năm chưởng tộc kêu là : Cù Đàm, Cam Gia, Nhựt Chưởng, Thích Ca, xá Di.

Cù Đàm is the Buddha’s family name from ancient times; also rendered Cồ Đàm or Kiều Đáp Ma, all of the Shakya lineage. The Shakya clan has five branch-names: Gautama, Ikṣvāku (Cam Giá), Sūryavaṃśa (Nhựt Chủng), Śākya, and Śākī (Xá Di).

Xét sự họ Thích Ca có nhiều tên như vậy, thì có nhiều lý thuyết như sau này:

Considering that the Shakya clan has so many names, there are several theories, as follows:

Sách Thập Nhị Du Kinh xét cái nhân duyên của Cù Đàm và Xá Di, nói rằng : Sải Phạn Chí Cù Đàm là học trò của họ Cù đàm, người đời kêu rằng là Tiểu Cù Đàm, bị giặc giết nơi vườn Cam Giá hay là Cam Giá Quả, ông thầy hay được, bèn dùng thây của Tiểu Cù Đàm trộn với bùn, chia ra làm hai cục, niệm chú 10 tháng, thành hình ra một trai và một gái, bèn đặc họ là Cù Đàm, tên là Xá Di.

The Thập Nhị Du Kinh examines the causal origins of Gautama and Śākī, saying: the Brahmin ascetic Gautama had a disciple of the Gautama clan, called by people the Lesser Gautama, who was killed by bandits in the sugarcane garden (Cam Giá). His teacher, learning of it, mixed the Lesser Gautama’s corpse with mud, divided it into two lumps, and chanted spells over them for ten months, until they took the form of a boy and a girl; he gave them the surname Gautama and the name Śākī.

Kinh Phật Bổ Hạnh nói rằng: Người ông 6 đời của vua Tịnh Phạn, bị người bắn chết, mà từ trong khối máu mọc ra hai mục mía ngọt (cam giá), rồi hóa ra một trai một gái, nên lấy, nên lấy Cam Giá làm họ, biệt xưng là Nhựt Chưởng. Người con thứ tư họ này dời qua phía bắc mà ở, thủ xướng ra làm họ Thích Ca, biệt xưng rằng là Xá Di. Phật Như Lai là giòng rốt của giòng vua họ Cam Giá (Iksvaku). Cồ Đàm là họ giòng Thích Ca (Sakya) ở trong giòng Nhựt Chưởng (Suravindas). Họ Xá Di (Saki) là danh từ của tánh nết giòng Thích Ca như nhà Nho kêu là Thuần thục vậy.

The Buddhacarita (Phật Bổn Hạnh Kinh) says: King Śuddhodana’s ancestor six generations back was shot and killed, and from the clotted blood sprang two stalks of sweet sugarcane (cam giá), which turned into a boy and a girl; so they took Ikṣvāku (Sugarcane) as their surname, also called Sūryavaṃśa (Solar Lineage). The fourth son of this clan moved north and founded the Shakya clan, also called Śākī. The Tathāgata Buddha is the last scion of the royal Ikṣvāku line. Gautama is the family name of the Shakya line within the Solar Lineage (Sūryavaṃśa). The name Śākī describes the character of the Shakya line, as the Confucians would say “pure and refined.”

Cù Đàm Di (Gautami)

Cũng kêu là Cù Đàm Di, Kiều Đàm Di, Kiều Đáp Di, những tiếng này đều là thinh âm của người gái kêu họ Cù Đàm. Trong kinh nói rằng mấy tiếng này đều là cái biệt hiệu của người Dì Phật Như Lai. Người Dì này tên là Ma Ha Ba Đồ Ba Đề, người ta lấy họ mà kêu, nên kêu rằng Cù Đàm Di, còn Phật Như Lai kêu dì bằng Kiề Đảm Di.

Also called Cù Đàm Di, Kiều Đàm Di, Kiều Đáp Di — these are all the feminine forms used for a woman of the Gautama clan. The scriptures say these are the special names for the Tathāgata’s aunt. This aunt was named Mahāprajāpatī; people called her by her clan name, Gautamī, and the Tathāgata called his aunt Gautamī.

Họ Thích Ca (Sakya Muni)

The Shakya Clan (Śākyamuni)

Cũng kêu là Thích Ca Văn, Thích Ca Văn Ni, Thích Ca là họ vậy, là một cánh họ của giống Xái Đế Lợi, gốc kêu là họ Cù Đàm, sau chia họ mà xưng là họ Thích Ca, họ này cọng có 5 tên khác nhau. Chữ Thích Ca, Tàu dịch rằng “Năng” nghĩa là “Hay”. Có câu “Năng giả, Năng lực dả”, nghiã là Năng ấy là cái Năng lực vậy, hay là chữ Hay là Sức Hay vậy.

Also called Thích Ca Văn or Thích Ca Văn Ni. Thích Ca is the clan name, a branch of the Kṣatriya caste, originally called the Gautama clan, later divided off and called the Shakya clan; this clan has five different names in all. The word Thích Ca is rendered in Chinese as “Năng,” meaning “Able.” There is a saying: “Năng is capacity” — that is, Năng means the power of being able.

Kinh Huệ Huyển giải rằng: “Trong giòng Thích Ca, người nào có danh dự trọng vọng, thì kêu là Thích Ca Năng”.

The Huệ Huyển commentary explains: “In the Shakya lineage, whoever had great honor and esteem was called Shakya the Able.”

Tên Mâu Ni cũng kêu là Văn Ni, Tàu dịch rằng là Tịch Mịch, cũng dịch là Nhơn (thương), Nhẩn (nhịn), Măng (đầy đủ), Nho (người học hay, lời nói hay, làm cho người yêu, hay làm cho người phục). Đã bỏ được cái lổi của ba nghiệp: Thân, Khẩu, Ý, mà yên lặng vắng vẻ vậy, ấy là chứng hiệu tôn xưng đức hạnh bề trong và bề ngoài của các bực Thánh vậy.

The name Mâu Ni (Muni), also Văn Ni, is rendered in Chinese as Tranquil Silence (Tịch Mịch), and is also rendered as Benevolence (loving), Forbearance (patience), Fullness (completeness), and Scholar (one learned, well-spoken, who makes people love and submit). Having cast off the faults of the three karmas — body, speech, and mind — and become still and quiet, it is a title honoring the inner and outer virtue of the Sages.

Mâu Ni (Muni):

Kinh « Đại Nhựt » giải rằng : Tiếng Mâu Ni là tiếng để giành kêu chung các vị Phật. Tàu dịch rắng Tịch (lặn lẻ), cũng gọi rằng Tịch Mịch. Tịch Mịch có hai nghĩa : một nghĩa lấy theo sự tích mà nói và một nghĩa xét theo lý mà nói.

The Mahāvairocana Sutra (Đại Nhựt Kinh) explains: the word Muni is a title used for all Buddhas in common. The Chinese render it Tịch (silent, still), also Tịch Mịch (tranquil silence). Tranquil silence has two meanings: one taken from the story, and one examined from Principle.

Lấy theo sự tích mà xét, thì lúc Thái tử Tất Đạt Đa mới vào đầu thai nơi thành Tỳ La, thì khiến các con giòng họ Tích đều nín lặng không nói, nên Vua Cha phụ thêm cho kêu thêm hai tiếng Mâu Ni ; còn từ lúc xuất gia nhẩn sau thì thường trau giồi nết Nhà Thiền nên lặn lẻ không nói chuyện, bởi cớ ấy nên người đương thời cho hiệu là Mâu Ni Tiên, Mâu Ni là cái Tôn hiệu để kêu chung cho những người học Đạo mà nín lặn, ngăn đứt được ba cái nghiệp : Thân, Khẩu, Ý.

Taken from the story: when Prince Siddhārtha first entered the womb in the city of Kapilavastu, all the sons of the Shakya clan fell silent and did not speak; so the King his father added the two words “Muni” to his name. And from the time he left home onward, he constantly cultivated the conduct of the Meditation School, remaining silent and not conversing; for that reason people of his time gave him the title Muni the Sage (Mâu Ni Tiên). Muni is an honorific used for all who study the Way in silence and cut off the three karmas of body, speech, and mind.

Kinh « Tỳ Nại Gia » có biên rằng : Thuở ấy Đức Bồ Tát ngồi xe báu, thì có trăm ngàn vị Nhơn thiên hộ đưa Ngài vào đầu thai nơi thành Tỳ La ; đương đời ấy, các con cái giòng họ Thích Ca tánh ý hay kiêu ngạo lẳn lơ, hay nói nhiều lời, mà đến lúc Bồ Tát vào thành đầu thai rồi, thì các vị vương tử ấy đều nín lặn không nói như bực Mâu Ni ; Vua Cha thấy vậy mới nói với các tôi rằng : Mấy đứa Thich Ca tử tự lâu nay tánh ưa nói và hay lẳn lơ, kiêu ngạo, ngày nay Thái Tử nhập kiếp rồi thì chúng nó đều nín lặn không nói như vị Mâu Ni, vậy thì nên đặt tên cho Thái Tử là Thích Ca Mâu Ni.

The Vinaya (Tỳ Nại Gia) records: at that time the Bodhisattva rode in a jeweled carriage, escorted by hundreds of thousands of humans and gods, to enter the womb in the city of Kapilavastu. In that age the sons of the Shakya clan were by temperament proud, flirtatious, and talkative; but once the Bodhisattva had entered the city to be conceived, those princes all fell silent and did not speak, like Munis. The King his father, seeing this, said to his ministers: “These Shakya sons have long been fond of talk, flirtatious, and proud; now that the Prince has entered this life, they have all fallen silent and do not speak, like Munis — so the Prince should be named Shakyamuni.”

Kinh « Phật Bổn Hành » nói rằng : Lúc Bồ Tát đi đường, hay bước chậm đặng xem xét nghỉ ngơi, nếu có ai hỏi việc chi, thì Ngài nín lặn mà chẳng trả lời. nhơn dân thấy vậy mới nói với nhau rằng : « Ông Tiên này chắc là con giòng giống họ Thích », nên đặt tên riêng kêu ông là Thích Ca Mâu Ni.

The Buddhacarita says: when the Bodhisattva walked along the road, he often stepped slowly to observe and rest; if anyone asked him something, he kept silent and did not answer. The people, seeing this, said to one another: “This sage must be of the Shakya lineage,” and so gave him the special name Shakyamuni.

Lấy theo Lý mà xét, thì hai tiếng Mâu Ni ấy nghĩa là lặn lẻ, thanh tịnh, ba nghiệp Thân, Khẩu, Ý đều tịch mịch, nên kêu là Mâu Ni, thì chỗ Phật chứng quả cũng đồng với các vị Thánh Nhơn bực Tam Thừa, đều là tịch mịch hết thãy, nên nương đó mà kêu Phật là Mâu Ni, vì tiếng đó để dành kêu các vị Phật và các vị A La Hán.

Examined from Principle: the two words “Muni” mean silent, pure, and still, the three karmas of body, speech, and mind all tranquil; so he is called Muni. And the Buddha’s realization is the same as that of the Sages of the Three Vehicles, all tranquil and silent; so on that basis the Buddha is called Muni, since that word is reserved for Buddhas and Arhats.

Kinh « Duy Thức Luận » nói rằng : « Ai không học cái nghiệp Thân Ngữ thì kêu là Thân Ngữ Mâu Ni ». Lấy đó mà xét thì biết ý nghĩa chữ Mâu Ni là người không học, nếu giải vậy thì cớ sao Dức Mâu Ni không học mà thành Phật ? Là vì hễ người đã đến bực A La Hán rồi thì đã được thiệt bực Mâu Ni rồi, các việc phiền nảo đều đã dứt hết rồi, không cần phải học với ai nữa mới gọi là Phật.

The Vijñaptimātratā-siddhi (Duy Thức Luận) says: “Whoever no longer needs to learn the karma of body and speech is called a Muni of body and speech.” From this one sees that Muni means one who no longer needs to learn. If explained so, why did the Muni become a Buddha without study? Because whoever has reached the rank of Arhat has already truly attained the rank of Muni; all afflictions are already cut off, and he need learn from no one any more — that is what is called Buddha.

Kinh « Đại Nhựt Sớ » giải rằng : « Mâu Ni ấy là nghĩa tịch mịch, chỉ rằng cái Thân, Ngữ, Tâm của Phật cứu cánh đều tịch diệt, qua khỏi địa vị ngôn ngữ rồi, chớ khá lấy sự tiểu tịch diệt của các bực Nhị Thừa mà làm ví dụ, nên kêu Phật là Đại Mâu Ni ».

The Commentary on the Mahāvairocana Sutra explains: “Muni means tranquil silence, indicating that the Buddha’s body, speech, and mind are ultimately all extinguished in stillness, beyond the station of words; one may not compare it with the lesser stillness of the Two Vehicles; so the Buddha is called the Great Muni.”

Kinh « Đồng Thập Nhị » luận rằng : Mâu Ni nghĩa là tịch mịch vậy. Hễ cái chỗ Tường Tịch thì nó Vị, Diệu, Tịch, Tuyệt, U, Thâm, Huyền, Viển, chẳng biết dùng lời nói chi mà giải nghĩa cho rõ hết được, cái Pháp giái như vậy là cái Pháp Tich Nhiêu Đại Diệt Độ chỉnh có Phật là một người cứu cánh được thanh tịnh như vậy, nên kêu là Mâu Ni.

The Đồng Thập Nhị treatise says: Muni means tranquil silence. That place of complete stillness is subtle, wondrous, still, transcendent, hidden, deep, mysterious, and remote — no words can explain it fully. Such a Dharma realm is the Dharma of great stillness and extinction; only the Buddha is one who has ultimately attained such purity and stillness, and so he is called Muni.

Kinh « Đồng Thập Tam » nói rằng : Hai chữ Mâu Ni là cái hiệu chung của Phật vậy. Trung Quốc dịch là Tịch, nghãi là Tịch được các sự phiền nảo, tịch được các sự sanh tữ, nên được về ở chỗ Đại Niết Bàn ; khi ở cõi Tam Giái thì tịch được các lời luận xàm, đặng chứng rõ Chơn Lý vậy.

The Đồng Thập Tam treatise says: the two words “Muni” are a common title of the Buddha. China renders it Tịch (stilled) — meaning one who has stilled all afflictions and stilled birth and death, and so dwells in the Great Nirvāṇa; and while in the Three Realms, has stilled all idle arguments so as to realize clearly True Principle.

Thích Ca Phát Tâm

Shakya’s Arousing of the Mind

Kinh « Trí Độ » nói rằng : Trước ba kỳ A Tăng kỳ kiếp, có vị Phật kêu là Thích Ca Mâu Ni ; Đức Thế Tôn gặp được vị Phật này mà phát tâm và nguyện rằng xin y theo y theo vị Phật đó đặng làm Phật ; ấy là lời phát tâm trước hết của Thế Tôn vậy, nên nay Thế Tôn cũng được y như lời nguyện đó, được làm Thích Ca Mâu Ni, những công việc của Thế Tôn đi hành hóa cũng đồng ý như vị Phật kia vậy.

The Mahāprajñāpāramitā-śāstra (Trí Độ Luận) says: three asaṃkhyeya kalpas ago, there was a Buddha called Shakyamuni; the World-Honored One met this Buddha, aroused the mind of enlightenment, and vowed to become a Buddha just like that Buddha. That was the World-Honored One’s very first arousing of the mind; and so now the World-Honored One has attained exactly according to that vow, becoming Shakyamuni, and his works of teaching and transforming are in the same spirit as that earlier Buddha’s.

Kinh « Câu Xá » nói rằng : Đức Thế Tôn ta xưa kia là một vị Bồ Tát, thuở ban đầu trước hết, có gặp một vị Phật tên Thích Ca Mâu Ni, bèn đứng trước vị Phậy ấy phát lời hoằn thệ nguyện rằng : « Tôi xin ba lần làm Phật như Phật Thế Tôn này vậy » Vị Phật kia cũng chứng rằng : « Đến chừng mạc kiếp rồi sẻ ra đời, lúc tịch diêc sẻ ở lại mà sửa Pháp ngàn năm », nên Thế Tôn ta cũng nhứt nhứt đồng với vị Phật kia vậy.

The Abhidharmakośa (Câu Xá Luận) says: our World-Honored One was long ago a Bodhisattva; at the very beginning he met a Buddha named Shakyamuni, and before that Buddha he made the great vow: “Three times may I become a Buddha just like this World-Honored Buddha.” That Buddha also confirmed: “When the final age comes you will appear in the world, and after your extinction your Dharma will remain for a thousand years.” And so our World-Honored One is in every respect the same as that Buddha.

Kinh « Pháp Hoa » nói rằng : Xưa kia, lúc kiếp quá khứ, đã lâu lắm rồi, có một vị Phật tên là Đại Thống Tri Thắng Như Lai, vị Phật này lúc chưa xuất gia thì có 16 người con, đến sau cũng đếu xuất gia làm bực Sa Di hết thảy, những người này đều nghe kinh Pháp Hoa mà được thành Phật. Người con thứ 10 ấy là Đức Thích Ca Như Lai ngày nay vậy. Nhưng mà trong kinh có nói rằng : Thuở ấy Như Lai đã từng dưng nuôi cho trăm ngàn muôn ức vị Phật đặng tịnh tu nết Phạn, mà tìm bực A Nậu Đa La Tam Mạo Tam Bồ Đề, thì lúc này chẳng phải là lúc của Ngài phát tâm ban đầu vậy.

The Lotus Sutra (Pháp Hoa Kinh) says: long ago, in a past age very far back, there was a Buddha named Mahābhijñājñānābhibhū Tathāgata (Đại Thông Trí Thắng Như Lai). Before this Buddha left home he had sixteen sons, who later all left home as novices (śrāmaṇera); all of them heard the Lotus Sutra and became Buddhas. The tenth son is the Shakya Tathāgata of today. Yet the sutra also says that at that time the Tathāgata had already made offerings to hundreds of thousands of millions of Buddhas, purely cultivating the Brahma conduct and seeking Anuttarā Samyak-Saṃbodhi — so that was not the time of his first arousing of the mind.

Kinh « Bí Hoa » thì nói rằng: Thuở xưa lúc vua Vô Tránh Niệm trị nước San Đề Lam, người Bữu Hải Phạn Chí có một người con xuất gia học Đạo thành được vị Bữu Tạng Như Lai. Người Bữu Hải Phạn Chí cũng có xin vua cùng ngàn con của vua với nhiều người khác nữa đều phát tâm một lược đặng tu hành, trong số này đều nghe lời theo và nguyện xin về nơi chỗ Thinh Tịnh Phật Quốc, song có một ngàn đệ tử và năm người thệ giả lại nguyện xin về nơi thế giái ô trược. Rồi sau lại người Phạn Chí cũng phát 500 lời đại nguyện xin đế nơi thế giái ô trược. Phạn Chí đó là Thích Ca ngày nay vậy. Ấy là người bực thứ tư trong bực Phật Hiển Kiếp vậy; nhưng mà đây chỉnh ghi lúc một lần hóa kiếp của vị Hiển Kiếp Hóa Thân mà thôi.

The Karuṇāpuṇḍarīka Sutra (Bi Hoa Kinh) says: long ago, when King Vô Tránh Niệm ruled the country of San Đề Lam, the Brahmin Bửu Hải had a son who left home to study the Way and became the Ratnagarbha Tathāgata (Bửu Tạng Như Lai). The Brahmin Bửu Hải also asked the king, the king’s thousand sons, and many others to arouse the mind together and cultivate; all of them heeded and vowed to go to Pure Buddha-lands; but a thousand disciples and five others vowed instead to go to the defiled world. Then the Brahmin too made five hundred great vows to go to the defiled world. That Brahmin is the Shakya of today. He is the fourth Buddha of the Bhadrakalpa (Hiền Kiếp — “Auspicious Eon”); but this records only one transformation-life of the Bhadrakalpa’s manifested body.

Phẩm kinh « Thọ Lượng trong Phá Hoa » biên rằng: Ngôi Báo Thân của Đức Thế Tôn đã thành Đạo lúc quá khứ lâu lắm rồi.

The Chapter on the Life Span of the Lotus Sutra records: the Reward Body (Báo Thân) of the World-Honored One attained the Way in the very distant past.

Kinh « Phạm Vỏng » biên rằng: Ngôi Hóa Thân của Thế Tôn qua lại nơi cỏi Ta bà thế giái này đã 8,000 lần rồi.

The Brahmajāla Sutra (Phạm Võng Kinh) records: the Transformation Body (Hóa Thân) of the World-Honored One has come and gone in this Sahā world eight thousand times.

Sự Tu Hành trong ba kiếp A Tăng Kỳ của Thích Ca:

Shakya’s Cultivation through the Three Asaṃkhyeya Kalpas:

Kinh “Trí Độ Luận” nói: Đức Bồ Tát hễ qua khỏi một kiếp A Tăng Kỳ rồi thì cũng trở lại một kiếp khác nữa. Kiếp A Tăng Kỳ đầu bài, trong lòng Bồ Tát chưa biết rằng mình đã được làm Phật hay chưa được làm Phật, qua đến kiếp A Tăng Kỳ thứ nhì, thì Bồ Tát trong lòng biết mình sẻ được làm Phật, tuy Ngài chưa nói rằng mình sẻ được làm Phật, nhưng Ngài đã rõ ràng biết mình sẻ được làm Phật, nên Ngài bèn phát ra lời nói không chỗ sợ sệt rằng: Ta qua đời sau sẻ được làm Phật là Thích Ca Văn Phật.

The Mahāprajñāpāramitā-śāstra says: when the Bodhisattva has passed through one asaṃkhyeya kalpa, he returns for another. In the first asaṃkhyeya kalpa, the Bodhisattva does not yet know in his heart whether he will become a Buddha or not; in the second asaṃkhyeya kalpa, the Bodhisattva knows in his heart that he will become a Buddha — though he does not yet say so, he knows clearly that he will; and in the third, he speaks out fearlessly: “In a future age I will become a Buddha, the Buddha Shakyamuni.“

Từ đời quá khứ của Thích Ca Văn Phật đến đời Kế Na Thi Khí Phật, kêu là kiếp A Tăng Kỳ thứ nhứt, lúc ấy Bô Tát đã bỏ dứt Nhơn Thân cô gái rồi. Từ kiếp Kế Na Thi Khí Phật đến kiếp Nhiên Đăng Phật, là kiếp A Tăng Kỳ thứ nhì, lúc đó là lúc Bồ Tát dùng 7 cọng Sen xanh cúng dưởng Phật Nhiên Đăng, Ngài mặc áo da hưu, bỏ tóc xã, trây bùn. Lúc ấy Phật Nhiên Đăng thọ ký cho Ngài rằng: Ngươi đời sau sẻ làm Phật tên là Thích Ca Mâu Ni. Từ kiếp Phật Nhiên Đăng đến kiếp Phật Tỳ bà Thi, là kiếp A Tăng Kỳ thứ ba, qua kiếp thứ ba rồi, thì Ngài đã trồng được cái Nhân Duyên 32 Tướng Nghiệp.

From the past age of Shakyamuni Buddha to the age of Ratnaśikhin Buddha (Kế Na Thi Khí Phật) is called the first asaṃkhyeya kalpa; at that time the Bodhisattva had already left behind a woman’s body. From the age of Ratnaśikhin Buddha to that of Dīpaṃkara Buddha (Nhiên Đăng Phật) is the second asaṃkhyeya kalpa; at that time the Bodhisattva offered seven blue lotus stalks to Dīpaṃkara Buddha, wore a deerskin robe, and spread his hair over the mud. Then Dīpaṃkara Buddha prophesied to him: “In a future age you will become a Buddha named Shakyamuni.” From the age of Dīpaṃkara Buddha to that of Vipaśyin Buddha (Tỳ Bà Thi Phật) is the third asaṃkhyeya kalpa; having passed through the third, he had planted the causes of the Thirty-Two Marks.

Kinh “Câu Xá” luận rằng: Trước lúc Bồ tát phát tâm thì Ngài đã gặp một vị Phật tên là Thích ca Mâu Ni, từ khi gặp này nhẩn sau, thì Ngài đã cúng đường thêm 7 muôn 5 ngàn vị Phật nữa, vị Phật của Ngài cúng đường chót là Bữu Khiết Phật, cũng kêu là  Kế Na Thi Khí Phật, ấy là mảng một kiếp A Tăng Kỳ thứ nhứt. Kế đó Ngài cúng đường thêm được 7 muôn 6 ngàn vị Phật nữa, vị Phật chót tên là Phật Nhiên Đăng, ấy là mảng kiếp A Tăng Kỳ thứ nhì. Từ đây, Ngài lại cúng đường thêm được 7 muôn 7 ngàn vị Phật nữa, vị Phập của Ngài gặp chót hết tên là Thắng Quang Phật, cũng kêu là Tỳ Bà Thi Phật, ấy là mảng kiếp A Tăng Kỳ thứ ba. Từ đây nhẩn sau, thì phái Tiểu Thừa xét trong 32 cái Nhân Duyên Tướng Nghiệp của Ngài mà giải ra sự 100 kiếp tu của Ngài.

The Abhidharmakośa discusses: before the Bodhisattva aroused the mind, he met a Buddha named Shakyamuni; from that meeting onward he made offerings to 75,000 more Buddhas, the last being Ratnaśikhin Buddha — that completed the first asaṃkhyeya kalpa. Next he made offerings to 76,000 more Buddhas, the last named Dīpaṃkara — that completed the second asaṃkhyeya kalpa. From there he made offerings to 77,000 more Buddhas, the last he met being Victorious Light Buddha, also called Vipaśyin Buddha — that completed the third asaṃkhyeya kalpa. From then on, the Hīnayāna school, examining the causes of his Thirty-Two Marks, explains his hundred kalpas of cultivation.

Muốn biết một A Tăng Kỳ kiếp là bao nhiêu năm thì viết số ra 1 con zéro đứng trước, kế đó 60 con zéros, tiếng phạn kêu là Asainkhya.

To know how many years one asaṃkhyeya kalpa is, write the figure one followed by sixty zeros; in Sanskrit it is called asaṃkhya (innumerable). [Translator’s note: the source’s wording of this figure is slightly garbled; it is rendered here according to its evident sense.]

Thích Ca nhờ Mật Giáo mà thành Phật:

Shakya Became a Buddha through the Esoteric Teaching:

Ngài đã làm hết thảy các việc phải đáng làm, nên được đến địa vị Bồ tát, rồi lại đã nương theo phép Hiển Giáo (dạy trống) mà tu hành, tới được nơi cảnh Sắc Cứu Cảnh Thiên, ngồi nơi kim cang bữu tọa, mà chứng được quả Vô Thượng Bồ Đế. Ngài ngồi nơi trên không gian mà suy xét đặng làm Phật quả cho viên mảng, nhưng mà Ngài chưa thay được cái bổn tánh của tự tâm. Vì vậy mà các vị Phật khắp trên Không Gian mới nhóm lại, thức tỉnh Ngài, cho Ngài biết phải bắt đầuThiền Định và trao cho Ngài cách Ngũ Tướng Quan Mô, bảo học đặng làm Phật quả Ngũ Trí viên mảng mới được.

He had done everything that should be done, and so reached the station of Bodhisattva; then, relying on the method of the Exoteric Teaching (Hiển Giáo), he cultivated until he reached the Akaniṣṭha Heaven (Sắc Cứu Cánh Thiên), sat upon the vajra jewel-seat, and realized the fruit of Unsurpassed Bodhi. He sat in space reflecting, so as to bring the fruit of Buddhahood to completion; but he had not yet transformed the original nature of his own mind. Therefore the Buddhas throughout space gathered and roused him, letting him know that he must begin meditative absorption, and they gave him the method of the Five-Aspect Contemplation (Ngũ Tướng Quán), telling him to learn it so as to complete the Buddha-fruit of the Five Wisdoms.

Tuổi của Thích Ca xuất Gia:

Shakya’s Age at Leaving Home:

Việc này có hai lời nói khác nhau:

On this there are two different accounts:

Kinh “Trung A Xá”, kinh “Tăng Nhứt A Xá”, kinh “Đại Niết Bàn”, kinh “Bổn Hành Tập”, kinh “Lục Bộ Tạp Sư” đều nói rằng: Ngài 29 tuổi xuất gia, khỗ hạnh 6 năm đến 35 tuổi thì đắc Đạo.

The Madhyama Āgama, the Ekottara Āgama, the Mahāparinirvāṇa Sutra, the Abhiniṣkramaṇa Sutra, and the Lục Bộ Tạp Sư all say that he left home at twenty-nine, practiced austerities for six years, and attained the Way at thirty-five.

Kinh “Tu Hành Bổn Khởi », kinh “Thoại Ứng Bổn Khởi”, kinh “Lục Đạo Tập” đều nói rằng: Ngài 19 tuổi xuất gia, 30 tuổi đắc Đạo.

The Tu Hành Bổn Khởi Kinh, the Thoại Ứng Bổn Khởi Kinh, and the Lục Độ Tập Kinh all say that he left home at nineteen and attained the Way at thirty.

Xét hai cái thuyết này thì cái thuyết thứ nhứt có lịch sử rõ hơn nên xét được, vậy phải tùng theo cái thuyết thứ nhứt.

Examining these two accounts, the first has clearer historical support and can be verified; so one should follow the first.

Các tên lạ của Thích Ca:

Other Names of Shakya:

Kinh “Quang Nghiêm” biên rằng:Đức Văn Thù Bồ tát vưng lịnh Phật bảo chư đệ tử rằng: Như Lai khắp bốn cõi ta bà thế giái này cứu độ chúng sanh, hoặc xưng rằng Nhứt Thiết Nghĩa Thành, hoặc xưng Viên Mảng Nguyệt, hoặc xưng Sư Tử Hẩu, hoặc xưng Thích Ca Mâu Ni, hoặc xưng Đệ Thất Tiên, hoặc xưng Tỳ Lư Dà Na, hoặc xưng Cổ Đàm, hoặc xưng Đại Sa Môn, hoặc xưng Đạo Sư. Ngài xưng như vậy trót ngàn ngoài tên, bảo chúng sanh ráng xét mà thừa nhận.

The Quang Nghiêm Kinh records: Mañjuśrī Bodhisattva, by the Buddha’s command, told the disciples: “Throughout the four regions of this Sahā world, the Tathāgata saves living beings, being called Sarvārthasiddha (All Aims Accomplished), or Full Moon, or Lion’s Roar, or Shakyamuni, or the Seventh Sage, or Vairocana, or Gautama, or Great Śramaṇa, or Guide.” He is called by more than a thousand such names; he tells living beings to strive to examine them and acknowledge them.

Bốn người hầu của Thích Ca là:

Shakya’s Four Attendants are:

Văn Thù Bồ Tát, Phổ Hiền, Ca Diếp, A Nan.

Mañjuśrī Bodhisattva, Samantabhadra (Phổ Hiền), Kāśyapa (Ca Diếp), and Ānanda (A Nan).

Thích Ca Vô Sư:

Shakya Had No Teacher:

Hoặc có người hỏi Phật: Thầy Phật là ai? Phật đáp rằng: “Ta đã không thầy, mà cũng không có bạn. Một người nào không có lổi lầm, dầu lạnh cũng ấm lại được. Những vị Phật đã thành rồi lúc trước đều là người không có Đạo mà thành Đạo được, là vì mình Tự Ngộ được nhứt thiết Pháp. Hễ lúc mình còn gây cái Nhơn, thì mình phải nhờ vị Sư Bảo chỉ dắt; đến lúc Nhân viên Quả mảng rồi, thì tự mình Ngộ lấy mình.” Người ấy hỏi thêm nữa rằng: cái vị Phật đầu bài trước hết, số một đó, có thầy hay không? Ngài đáp rằng: “Không có Thầy, chỉnh xét cái huyền diệu của Tánh Chơn Như đặng mình ung đúc mình, thì tự nhiên tự nơi mình phát ra cái linh trí mà thành được”.

Someone once asked the Buddha: “Who is the Buddha’s teacher?” The Buddha answered: “I have no teacher, nor any companion. Whoever has no faults, even if cold, can grow warm again. The Buddhas who attained before were all people without the Way who attained the Way, because they awakened by themselves to all dharmas. While one is still creating causes, one must rely on a teacher and spiritual friend to guide one; but when the causes are complete and the fruit fulfilled, one awakens oneself.” The person asked further: “That very first Buddha of all, number one — did he have a teacher?” He answered: “He had no teacher; he simply contemplated the mystery of the Nature of Suchness (Chơn Như) to mold himself, and naturally from within himself the numinous wisdom arose, and so he attained.“

Tất Đạt Đa (Siddartha):

Siddhārtha:

Hay là Tất Đạt, Tất Đa, Tất Đa Án Tha. Chánh tiếng là Tát Bà Hạt Thích Tha Tất Đa (Sarvartha’siddha)

Also Tất Đạt, Tất Đa, Tất Đa Án Tha. The proper form is Sarvārthasiddha.

Trung Quốc dịch là: Nhứt Thiết Nghĩa Thành, nghĩa là: nhứt thiết việc nghĩa đều làm nên rồi. Ấy là tên của Phật Thích Ca thuở còn làm Thái Tử, con vua Tịnh Phạn vậy.

China renders it as Nhứt Thiết Nghĩa Thành — “all aims accomplished,”

Buddha while he was still a prince, the son of King Śuddhodana.

Kinh “Bổn Hành Tập” nói rằng: Đời nhà Tùy giải nghĩa chữ Tất Đạt Đa là Thành Lợi, nhà Hớn giải nghĩa rằng là tên hồi lúc làm Thái Tử. Đến lúc đắc Đạo, biết được cã thãy những Pháp, nên kêu rằng là Phật.

The Abhiniṣkramaṇa Sutra says: the Sui dynasty explained the name Siddhārtha as “Accomplished Benefit“; the Han explained it as his name while a prince. When he attained the Way and knew all the Dharmas, he was called Buddha.

Kinh “Huệ Huyễn Âm” giải rằng: kêu cho đủ tến của Tất Đạt Đa là Tát Phược Án Tha Tất Địa. Tát Phược nghĩa là Cả Thãy vậy, Án Tha nghĩa là Việc vậy, Tất Địa nghĩa là Nên vậy, chỉ nghĩa là: Nhứt thiết những việc phải làm đều đã thành tựu rồi vậy.

The Huệ Huyển Âm Nghĩa explains: the full form of Siddhārtha is Sarvārthasiddhi (Tát Phược Án Tha Tất Địa). Sarva means “all,” artha means “affairs,” siddhi means “accomplished” — that is: all the affairs that must be done have already been accomplished.

Ngũ Ngũ Bá Niên (5 lần 500 năm)

Five Periods of Five Hundred Years

Lúc Phật sấp tịch diệt có nói tiên tri rằng : Hễ ta tịch diệt rồi, thì Pháp Giáo của ta thay đổi năm (5) kỳ, mỗi kỳ là 500 năm. Mổi kỳ thay đổi như vậy, thì những người thay đổi Pháp Giáo của ta đều có lập một cái tên riêng, đặng cho bền vững (kiên cố) cái Pháp của mình.

When the Buddha was about to enter extinction, he prophesied: “After my extinction, my Dharma-Teaching will change through five periods, each of five hundred years. In each period of change, those who change my Dharma-Teaching will set up a name of their own, so as to make their own Dharma firm (kiên cố).”

1.   Kỳ 500 thứ nhứt kêu là « Giải Thoát Kiên Cố » vì kỳ này, Chánh Pháp của ta còn đương thạnh, nên các bực Tỳ Kheo đều còn đương theo Pháp Giáo của ta mà được Giải Thoát.

1. The first five hundred years is called “Firm in Liberation,” for in this period my True Dharma is still flourishing, and the bhikṣus still follow my Dharma-Teaching and attain liberation.

2.   Kỳ 500 năm thứ nhì kêu là « Thiền Định Kiên Cố ». Bực giải thoát đã mòn mà cái Chánh Pháp Thiền Định Tam Mụi hởi còn vững vậy ; nên người nào còn nương theo đó cho vững thì đến được địa vị Giải Thoát.

2. The second five hundred years is called “Firm in Meditation.” Liberation has worn thin, but the True Dharma of meditative absorption and samādhi remains firm; so whoever still relies on it firmly can reach the station of liberation.

3.   Kỳ 500 năm thứ ba kêu là « Đa Văn Kiên Cố », vì lúc này các việc thiệt hành theo Pháp của ta đã gần suy, chỉnh còn nhiều bực Đa Văn nên còn được bền vững đặng duy trì Giáo Pháp của ta.

3. The third five hundred years is called “Firm in Much Learning,” for at this time the actual practice of my Dharma has nearly declined; only many learned ones remain, and so it is still kept firm, upholding my Teaching.

4.   Kỳ 500 năm thứ tư kêu là « Tháp Tự Kiên Cố », vì lúc này Chánh Pháp của ta đã thiệt suy hết, nên những người yêu chuộng Pháp Giáo của ta chỉnh còn cất chùa cất tháp, gọi rằng thạnh mà thôi, nên kêu rằng là « Tháp Tự Kiên Cố ».

4. The fourth five hundred years is called “Firm in Stupas and Temples,” for at this time my True Dharma has truly declined entirely; those who love my Dharma-Teaching only build temples and stupas and call it flourishing; so it is called “Firm in Stupas and Temples.”

5.   Kỳ 500 năm thứ năm kêu rằng là « Đấu Tranh Kiên Cố », vì lúc này Chánh Pháp của ta không còn chi gọi là còn nữa, người gọi rẳng dùng Chánh Pháp của ta đều lấy sự tranh đấu làm hơn. Những lời nói cùng những lời ca tụng gọi rằng là của ta đều tùy ý thêm bớt ẩn ánh đặng cho bền vững cái Giáo của mình mà tranh dành cao thấp với Giáo Lý khác nên kêu là «Đấu Tranh Kiên Cố».

5. The fifth five hundred years is called “Firm in Strife,” for at this time nothing of my True Dharma can be said to remain; those who claim to use my True Dharma all take contention as superiority. The words and hymns said to be mine are added to, cut, and obscured at will, so as to make their own teaching firm and contend for high and low with other teachings; so it is called “Firm in Strife.”

Đệ tử hỏi thêm rằng: nếu như lời Tiên Tri của Phật nói vậy, thì Pháp Giáo của Phật sẻ tiêu mất hay sao ?

A disciple asked further: “If it is as the Buddha prophesies, will the Buddha’s Dharma-Teaching vanish?”

Phật đáp: Việc chi ở tại cõi Nhơn Thiên này đều chẳng qua khỏi luật tuần hoàn, hễ hết thạnh thì đến suy, hết loạn rồi đến trị ; Pháp Giáo của ta nơi cõi này cũng luân chuyển theo đó. Nhưng mà đến ngày mãng kỳ Đấu Tranh Kiên Cố rồi, sẻ có những vị La Hán ở nơi kỳ Đa Văn Kiên Cố trở lại lập công quả cho Pháp Giáo ta mà đam về nơi kỳ « Giải Thoát Kiên Cố » cho đặng có thể trờ về nơi Niết Bàn. (Còn tiếp)

The Buddha answered: “Nothing in this realm of humans and gods escapes the law of cycles: when flourishing ends, decline comes; when disorder ends, order comes. My Dharma-Teaching in this realm likewise turns in that cycle. But when the period of ‘Firm in Strife’ is complete, Arhats from the period of ‘Firm in Much Learning’ will return to perform meritorious work for my Dharma-Teaching and bring it back to the period of ‘Firm in Liberation,’ so that it may return to Nirvāṇa.” (To be continued)

Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới

The Three-Thousand Great-Thousand Worlds

Triết lý Đạo Phật cho rằng:

Buddhist philosophy holds that:

Cả thảy nhựt nguyệt tinh tú và trái địa cầu này đây (Visible Universe with its trillions of galaxies) gọi là Một Bầu Thế Giới nhỏ (Tiểu Thế Giới).

All the suns, moons, stars, and this globe of earth (the visible universe with its trillions of galaxies) are called one small world (Tiểu Thế Giới).

Hiệp được 1000 thế giới nhỏ như vậy kêu là Tiểu Thiên Thế Giới (1000 cái Tiểu Thế Giới).

One thousand such small worlds together are called a Small Thousand World (Tiểu Thiên Thế Giới).

Hiệp lại được 1000 cái Tiểu Thiên Thế Giới lại thì kêu là Trung Thiên Thế Giới.

One thousand Small Thousand Worlds together are called a Middle Thousand World (Trung Thiên Thế Giới).

Hiệp lại được 1000 cái Trung Thiên Thế Giới lại thì kêu là Đại Thiên Thế Giới. Như vậy thì một cái Đại Thiên Thế Giới có được 1,000,000,000 (một tỷ) Tiểu Thế Giới vậy.

One thousand Middle Thousand Worlds together are called a Great Thousand World (Đại Thiên Thế Giới). Thus one Great Thousand World contains 1,000,000,000 (one billion) small worlds

.

Mà toàn cả thế giới đến tới bực Tứ Thiền Thiên có được đến ba ngàn (3000) cái Đại Thiên Thế Giới. Vậy nên gọi là Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới. Cộng lại là 3,000,000,000,000 Tiểu Thế Giới hết thảy.

And the whole universe, up to the level of the Fourth Dhyāna Heaven, contains three thousand (3,000) Great Thousand Worlds; so it is called the Three-Thousand Great-Thousand Worlds. In all, 3,000,000,000,000 small worlds.

Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới này ở trong Tâm Phật, dùng Phật Nhãn ngó thấy được đó.

These Three-Thousand Great-Thousand Worlds are within the Buddha’s Heart, and can be seen with the Buddha-Eye.

Thoại Hà Nguyễn Hữu Phùng

(1935)

Tinh Thần Khổng Giáo

The Spirit of Confucianism

Bài của

An essay by

Đức Đạo Tổ Thoại Hà Nguyễn Hữu Phùng

(the Venerable Patriarch of the Way, Thoại Hà Nguyễn Hữu Phùng)

(1935)

Khổng Phu Tử sanh trước kỷ ngươn 551 năm, kể đếm năm nay là năm 1935, cọng lại là 2486 năm, tưởng các nước Âu lẩn Á luận sự Văn chương Đạo đức của Ngài không phải là không đủ, nhưng xét kỹ lại coi, thì thấy hễ nhầm trào vua nào nước nào chịu cái thuyết của Ngài thì lập miểu thờ, khiến cả nước phải tuân theo lời dạy của Ngài; còn nhằm trào vua nào nước nào không vừa ý, thì phá miểu đốt sách, cũng có khi đến đổi chôn sống học trò của Ngài, như Tần Thỉ Hoàng kia vậy cũng không chừng. Xưa nay vẫn như thế, chúng ta cũng chẳng lấy chi làm lạ. Nhẩn đến lúc sau đây, Trung Hoa nổi lên cách mạng rập chê bai Đạo Đức của Ngài, làm cho trót trên hai mươi năm nay, danh tiếng của Ngài phải bị mất giá trị biết bao nhiêu! Đương lúc như vậy, ai cũng tưởng rằng Khổng Giáo không cò đứng vững trên thế kỷ thứ 20 này với Trung Hoa nữa. Chẳng những bọn China như vậy mà thôi, cho đến nước Việt Nam ta, những năm rốt đây, nhiều người trong làng Âu học cũng chê đè ruồng rẩy cái Văn Giáo của Ngài, là một thứ văn giáo để dạy khoa cử, cứ lo bề thủ cựu không chịu nghinh tân, làm cho tinh thần con người hóa ra nhu nhược, nên khó bước vào con đường tấn hóa, chớ không có làm điều chi cho ích lợi khiến cho đến đổi nước nào có tôn sùng văn giáo Khổng học thì lòng phá đổi cựu học đặng đem tân học thế vào.

Confucius was born 551 years before the Common Era; counting to this present year, 1935, that makes 2,486 years. One would think that the nations of both Europe and Asia have discussed his literature and his moral teaching quite enough. Yet looking closely, we see that whenever the reign of some king or the age of some nation accepted his doctrine, temples were built to worship him and the whole country was made to obey his teachings; and whenever the reign of some king or nation was displeased with him, his temples were torn down and his books burned — at times his students were even buried alive, as under Qin Shi Huang (Tần Thỉ Hoàng). So it has always been, and we need not find it strange. Then, more recently, China rose up in revolution and joined in disparaging his moral teaching, so that for more than twenty years now his name has lost who knows how much of its worth! At such a time, everyone supposed that Confucianism could no longer stand firm in China in this twentieth century. And not only the Chinese: even in our own country of Vietnam, in these last years, many in the circles of Western learning have also scorned and cast aside his literary teaching, calling it a kind of learning fit only for the examinations, forever clinging to the old and refusing to welcome the new, turning people’s spirit weak and soft so that they can hardly step onto the road of progress, and doing nothing useful at all — so much so that any country which honored Confucian learning was eager to tear down the old learning and put the new learning in its place.

Ôi thôi ! Bực Chí Thánh như Khổng Phu Tử, Lễ nghi Văn giáo như núi như biển, trời đất dầu đổi, chớ lễ nghi trật tự của Ngài khó ai đổi được, mà còn phải giữ chưa trọn với đời cạnh tranh vật chất này thay ! Ai là người có chí về Tinh Thần, về Lễ nghi, về phong tục, về Đạo Đức, thấy vậy mà chẳng buồn thầm!

Alas! A Supreme Sage such as Confucius, whose rites and literary teaching are like the mountains and the seas — heaven and earth may change, yet his rites and order no one can easily change — and still they cannot be fully kept in this age of material competition! Whoever has a heart for the things of the Spirit, for rites, for customs, for moral virtue, how could they see this and not grieve in silence!

Chúng ta sanh ra trót 2500 sau, nay lại đem cái học thuyết của Ngài ra mà bàn luận, nghe qua tưởng cũng chẳng đúng chi cho lắm, mà nhứt là người sanh ra tại xứ Nam Kỳ này, là xứ Nho học tiêu mòn đã lâu, Nho thơ không còn sót lại, vậy thì có biết chi đâu dùng làm tài liệu đặng khảo cứu mà phòng dám to gan luận đến tinh thần Đạo Đức của Khổng Phu Tử, đặng làm trò cười cho các bực đàng anh nơi xứ khác, là xứ có chịu văn hóa của Ngài nhiều thêm sách vở đầu đủ nữa sao ?

We, born a full 2,500 years after him, now bring his teaching out for discussion; at first hearing it may seem hardly fitting — above all for one born here in Cochinchina (Nam Kỳ), a land where Confucian learning has long since worn away and no Confucian books remain. What, then, would we have as material for study, that we should dare so boldly to discuss the spirit of Confucius’s moral teaching, only to become a laughingstock to our elder brothers in other lands, lands that received far more of his culture and have books in full besides?

Xét sơ qua thì như vậy, đáng lẽ nín đi là phải, song le tưởng lại cho chính đáng, thì thấy rõ ràng ngày nay sự sống của Khổng Giáo nơi xứ này, chẳng khác chỉ mành treo chuông, nếu ai có lòng lo cho phong tục nước nhà, tưởng cũng nên để ý nhắc nhở vào Khổng học, tùy theo sức của mình biết, tưởng cũng không phải là không bổ ích vậy.

On first consideration, then, it would be proper to stay silent. But on thinking it over more justly, one sees clearly that today the life of Confucianism in this land is like a bell hung by a single thread. Whoever cares for the customs of our nation should, I think, take heed and call Confucian learning back to mind, each according to the measure of what they know; and this, I believe, would not be without benefit.

Muốn xét cho rõ biết tinh thần của Khổng học thể nào, thì khó xét cho tường tận được, vì như tôi đã nói ở trên rằng: Xứ Nam Kỳ này ngày nay đã không co bực lão sư túc nho, mà sữ kinh điển tịch đều thiếu, thì làm sao mà nghiên cứu cho tận tường được, vậy thì nay muốn xét cho rõ tinh thần của Khổng học, thì chi cho bằng chúng ta hãy xét tắc một việc, là xét coi những công việc của Khổng Phu Tử trọn đời làm những chi, hễ được bấy nhiêu thì cứ xét bấy nhiêu, lấy đó chúng ta suy ra, thì đủ thấy Tinh Thần của Khổng Giáo được chút ít rồi, tôi tưởng tính như vậy cũng là gọn. Vậy bây giờ chúng ta hãy bắt đầu xét công việc của Ngài làm những chi.

To examine clearly what the spirit of Confucian learning truly is would be hard to do thoroughly, because, as I said above, this land of Cochinchina today no longer has its old masters and learned elders, and its histories, classics, and canonical texts are all lacking. How then could one study it in full detail? So, if we now wish to see the spirit of Confucian learning clearly, nothing is better than to examine a single matter: what Confucius did throughout his whole life. Whatever we can learn of it, we examine just that much, and reasoning from it we will already see a little of the Spirit of Confucianism. I think that approach is simple enough. So let us now begin to examine what works he did.

Từng nghe Phu Tử ta sanh nhầm đời kỹ cương đã rối loạn, đạo cha con, anh em, vợ chồng, bậu bạn, vua tôi, chi chi cũng không còn ai kể đếm tới nữa; vua chúa coi sự loạn luân là thường, cha con coi việc cướp giựt giàu sang là hơn, còn chi nói đến việc vợ chồng, anh em, bậu bạn, thì còn có nghĩa lý chi nữa đâu! Phu Tử ta thấy vậy, nên toan cải lương xã hội lại cho có trật tự, cho biết yêu thương nhau, nên những lời Ngài dạy đời, thì bắt đầu dạy việc Thảo thuận làm trước, vì Ngài xét rằng: nếu muốn cải lương cái chế độ của quốc gia xã hội thì trước hết phải cải lương cái chế độ cùa gia tộc mới được, vì tiếng tuy gọi là Quốc Gia chế độ, chớ trong ấy gồm có nhiều cái Gia Đình chế dộ. Gồm nhiều gia đình mới thành Tộc phái ; gồm nhiều cái tộc phái mới nên được cái Quốc thể; hễ gia đình thì có Gia trưởng chủ trương, Tộc phái thì có Tộc trưởng chủ trương; mà hễ Quốc thể thì có Quốc Quân chủ tể, còn tiếng Xả Hội là tiếng chung cho mỗi nơi nào có hội trưởng nghị sự, lập chế độ đặng ra hiệu lịnh cho người thuộc trong bộ phận của mình, buộc đều phải nghe theo; còn cái bộ phận của người ta, mỗi người đều là một cái Tiểu Phần Tử rất nhỏ nhen thuộc về trong cái xả hội nào mình đang đứng đó mà thôi; có hiệp được nhiều cái tiểu phần tử như vậy mới thành ra được một cái xả hội. Vì vậy nên nếu muốn cải lương cho mỗi xả hội đều có trật tự, thì hay hơn hết là phải dạy cho mỗi cái tiểu phần tử trong mỗi bộ phận đều phải biết Thảo, Thuận, Ngay, Tin làm trước.

We have heard that our Master was born in an age when the bonds of order had fallen into chaos: the ways of father and son, elder and younger brother, husband and wife, friend and friend, ruler and subject — no one gave any thought to any of them anymore. Kings and lords took incest as ordinary; fathers and sons held robbery for wealth and rank to be the better course; and as for husband and wife, brothers, and friends, what meaning or principle was left in them at all! Seeing this, our Master set out to reform society and restore its order, so that people would know how to love one another. So in his teaching of the world, he began by teaching filial piety and harmony (Thảo thuận) first. For he reasoned: if one wishes to reform the system of the nation and society, one must first reform the system of the family. Though we call it a national system, within it are contained many family systems. Many families together make a clan; many clans together make the body of a nation. A family has its head of household to direct it; a clan has its clan elder; a nation has its sovereign as master. And the word “society” is a general word for any place where there is a head who deliberates, sets up institutions, and issues orders to the people within his part, binding them all to obey. As for the parts of the people themselves, each person is only one very small “particle” (Tiểu Phần Tử) belonging to whatever society he is standing in; only by joining many such small particles does a society come to be. Therefore, if one wishes to reform each society so that it has order, best of all is to teach each small particle within each part to know Filial Piety, Harmony, Uprightness, and Faithfulness (Thảo, Thuận, Ngay, Tin) first.

Xét vì trong mỗi gia đình, nếu được anh em biết thương yêu nhau, vợ chồng biết dạy dổ nhau, cha con biết thuận thảo nhau, bậu bạn biết khuyên can nhau, lớn nhỏ biết kính nhường nhau, thì nào còn có lo chi trong nước không được yên, cả thiên hạ không được thái bình?

For within each family, if brothers know how to love each other, husband and wife know how to teach each other, father and son know how to be in harmony, friends know how to counsel each other, and old and young know how to respect and yield to each other — what worry would remain that the country would not be at peace, or that all under heaven would not enjoy Great Peace (thái bình)?

Bản tâm của Khổng Phu Tử đã quyết định như thế rồi, nên Ngài mới xét lại rằng: nếu muốn thi hành cho được cái mục đích ấy, thì trừ ra phải cho có một cái quyền cai trị người mới làm được, bằng không có quyền ấy thì làm sao nói ra cho người ta nghe và cho người ta tuân theo ? Đã biết rằng đương đời ấy kỹ cương đã rối loạn, song le cái quân quyền hởi còn mạnh, vì vậy nên Ngài mới chẳng nệ mệt nhọc, trải qua nước này, sang đến nước khác, giốc lòng chọn cho được một vị hiền quân nào biết chịu nghe theo lời Ngài chỉ bảo, đặng trao cái quyền hành chánh cho Ngài, thì Ngài mới đủ sức mà thi hành cái chánh sách của Ngài đã yêu ấp trong lòng, quyết làm cho có kết quả mới vừa bụng của Ngài; vì vậy nên Ngài thường nói rằng: «nếu có một vị Hiền Quân nào biết dùng ta lối giáp năm, thì đã ngó thấy khá rồi, bằng dùng đến ba năm, thi cái chánh sách đã thành tựu, phong hóa đã nên, cái chánh kiến của ta lo giúp đời cứu dân đều được hoàn toàn kết quả». Tiếc thay! Đương đời ấy chẳng phải là không có một vị thời quân nào không biết nghe lời Ngài, song cũng vì kẻ quyền thần nganh gổ Ngài lắm, sợ e nếu Ngài nắm được chánh quyền thì bất lợi cho bọn họ, nên mới kiếm nhiều phương thế gièm pha châm chích đặng làm cho vua tôi lạt nẻo nhau đặng có xa nhau. Cũng có lúc lại bị nước láng giềng sợ, nếu để cho Ngài đắc thế thì nước họ phải suy, nên lập kế phá hoại, làm cho nọ phải lầm, cho Ngài phải thất chí bỏ đi; cũng có khi có vua không trọn lòng cung kỉnh Ngài, nên Ngài thất vọng mà không chịu giúp.

Confucius’s own heart had resolved upon this; and so he reasoned further: if one wishes to carry out this aim, it cannot be done except with some power to govern people; without such power, how could one speak and have people listen and follow? He knew that in that age the bonds of order were in chaos, yet royal authority was still strong. That is why, sparing no weariness, he passed through one state and crossed to another, devoting himself to finding some worthy ruler (Hiền Quân) willing to heed his counsel and entrust him with administrative power, so that he would have strength enough to carry out the policy he had long cherished in his heart, resolved to bring it to fruit before he would be content. So he often said: “If some worthy ruler would employ me for a single year, things would already look well; and if for three years, the policy would be accomplished, good customs established, and my right views for helping the world and saving the people would all bear complete fruit.” What a pity! In that age it was not that there was no ruler at all who would listen to him; but the powerful ministers were set hard against him, fearing that if he gained political power it would not profit their faction, and so they found many ways to slander and needle him, to cool relations between ruler and minister and drive them apart. At times neighboring states, fearing that if he gained his footing their own states would decline, plotted to undermine him, deceiving that ruler and making the Master lose heart and leave. And at times a king did not show him full respect, so that the Master, disappointed, would not consent to serve.

Cái chí của Khổng Phu Tử ta lo làm Đạo giúp đời chẳng có chút mỏi, nên trọn đời Ngài đi khắp các nước, không có một nước nào là không có dấu xe của Ngài đi đến, tuy nhiều khi bị hoạn nạn cho đến đổi bị vây, bị đói, nhưng cái chí của Ngài chẳng có chút sè sụt, Ngài một tin nơi sức học của Ngài có thể cứu đời được, nếu như có ai thiệt lòng nghe theo lời Ngài chỉ dạy. Nhiều khi Ngài than rằng: «Ta nào phải như trái bầu trái bí gì đâu, lẻ nào treo hoài đó mà không ăn cho được». Vì cớ chi mà Ngài tin chắc nơi Ngài, là vì Ngài quá tin nơi Trời; Ngài từng nói rằng: Nếu Trời mà không muốn cho thiên hạ thái bình thì thôi, trái lại như Trời mà muốn trị yên thiên hạ, thì trong đời này nếu chừa Ngài ra thì nào còn có ai nữa đâu ! Ấy là cái đức tin của Ngài rất mạnh mẻ và rất lớn lao như thế, nên dầu cho Ngài bị nhiều việc cam go hiểm trở, song Ngài chẳng hề sờn lòng.

Our Confucius’s will to practice the Way and help the world never tired in the least. All his life he traveled through every state; there was not one state his carriage wheels did not reach. Though often he met misfortune, even to being besieged and starving, his resolve never slackened at all. He trusted wholly that his learning had the power to save the world, if only someone would sincerely follow his teaching. Often he sighed: “Am I a gourd or a melon, then, to hang here forever and never be eaten?” Why was he so sure of himself? Because he trusted so deeply in Heaven. He once said: if Heaven did not wish all under heaven to have peace, so be it; but if, on the contrary, Heaven wished to bring order and peace to the world, then in this age, apart from him, who else was there! Such was his faith — so strong and so vast — and so, however many trials and dangers he met, his heart never wavered.

Trong những lúc Ngài dạo khắp các nước đặng dạy người và lo sữa phong tục cho đời cùng là định thi hành cái Giáo Lý của Ngài ấy, thì Ngài dạy những điều chi, mà Ngài quá chắc rằng cái thiên chức và cái nhiệm vụ của Ngài là cao tối trọng?

In those times when he traveled through all the states to teach people, to reform the world’s customs, and to put his Teaching into practice — what did he teach, that made him so certain his Heaven-given office and mission were of the highest importance?

Như đã nói ở phía trước rồi, sự học của Khổng Phu Tử ta là dùng Luân Lý làm trọng; nên cái Giáo Lý của Ngài cũng dùng luân lý làm gốc; mà cái luân lý cũng chẳng phải chi là lạ, nó ở trong lòng người chớ chẳng có ở đâu xa, ai ai cũng đều có sẵn, nên những điều của Ngài đem ra chỉ dạy cho người cũng chẳng ngoài cái Chơn Lý bổn nhiên của mọi người đã có. Cái ấy là chi? Ấy là những luật nhựt dụng của người với người phải cư xử đối đải thù tặc vảng lai với nhau hằng ngày mà thôi. Như Ngài dạy kẻ làm vua người thì phải ở cho có Nhơn; kẻ làm tôi người thì phải cho có sự Cung kính; kẻ làm con ở với cha mẹ thì phải có Hiếu; người làm cha mẹ ở với con cái thì phải có lòng Từ, phép ở với cả thảy người trong nước thì phải cho có sự Tín v.v.

As said before, our Confucius’s learning took Ethics (Luân Lý — the moral bonds of human relations) as the weightiest matter; so his Teaching, too, took ethics as its root. And this ethics is nothing strange: it lies within the human heart, not anywhere far away; everyone already has it. So the things he brought out to teach people were nothing outside the original True Principle (Chơn Lý bổn nhiên) that every person already possesses. What is that? It is simply the everyday laws by which person and person must conduct themselves, treat one another, and exchange courtesies and dealings day by day. Thus he taught that one who is ruler over others must abide in Benevolence (Nhơn); one who is a subject must have Reverence (Cung kính); one who is a child toward his parents must have Filial Piety (Hiếu); one who is a parent toward his children must have Kindness (Từ); and the rule toward all people in the country is to have Faithfulness (Tín), and so on.

Giáo lý của Khổng Phu Tử đã chẳng ngoài vòng luân lý, nên sự dạy của Ngài là vụ cho mỗi người đều phải thật hành cái nghĩa vụ của mình, đặng đối đãi với người bền trên, người bề dưới, người trong thân, người ngoại thích, người láng giềng cùng cả thảy những người nào mà mình có quan hệ đến. Bỡi sự dạy của Ngài là vụ sự thật hành như vậy nên trọn đời Ngài chẳng hề mở miệng nói về chuyện chi quái gở, chẳng nói về việc ỷ sức mạnh, chẳng nói về việc rối râm và chẳng nói về thần quyền. Ngài cứ một lòng nói về phận sự Đạo Đức của mỗi người phải lo tròn phận sự mà thôi.

Since the Teaching of Confucius did not go outside the circle of ethics, his instruction aimed at having each person actually carry out his own duty in dealing with those above, those below, kin, in-laws, neighbors, and all the people with whom one has relations. Because his teaching aimed at such actual practice, all his life he never opened his mouth to speak of anything uncanny, did not speak of reliance on brute force, did not speak of disorder, and did not speak of spirits’ powers (thần quyền). With a single heart he spoke only of the duty of moral virtue that each person must fulfill.

Cái chủ nghĩa của Ngài là thuộc về chánh trị; nếu ai chẳng xét rõ thì tưỡng rằng chánh trị (politics) với luân lý (moral) là hai việc khác nhau, bỡi ý tưởng rằng hai việc ấy khác nhau nên nhiều người chuyên trị về Chánh Trị học hay làm sái cái chủ nghĩa, rồi hóa thành Cách Mạng (revolution), là bởi chẳng biết dùng Luân Lý làm căn bản cho nền chánh trị mà ra. Nếu biết dùng Luân Lý làm căn bản cho chánh trị, thì nào có đến đổi như thế. Xét coi, nếu mỗi cái tiểu phần tử trong mỗi bộ phận đều biết làm xong cái nghỉa vụ của mình, cha phải đạo làm cha, con phải đạo làm con, anh phải đạo làm anh, em phải đạo làm em, chồng phải đạo làm chồng, vợ phải đạo làm vợ, bậu bạn cư xử với nhau cũng đều phải đạo, lần lần ra cư xử với chòm xóm láng giềng cũng đều hòa nhã, cứ vậy mà thi hành khắp cùng trong cã thiên hạ cũng đều yêu thương lấy nhau, thì nào có đến đổi chi phải gây ra đến phong trào phá hoại. Ấy cái chủ nghĩa của Khổng Phu Tử ta bắt đầu là phải sửa cái nền luân lý cho có trật tự là như thế. Ngài thường nói rằng: «Một nhà đua chen về sự thương yêu nhau, thì cã nước đua chen mà thương yêu nhau; một nhà đua chen về sự kính nhường nhau, thì cã nước cũng đua chen sự kính nhường nhau». Cái bản tâm của Ngài đã chủ ý dạy về sự thương yêu kính nhường như vậy, bảo sao Ngài chẳng lo sửa từ cá nhơn từ cái tiểu phần tử làm trước! Nếu mỗi người đều biết nghe theo lời dạy của Ngài, nhìn nhận rằng mình là một cái bộ phận nhỏ trong xã hội, nên phải lo làm cho tròn nghĩa vụ đặng giúp ích cho đoàn thể của xã hội cho được tấn hóa, thì sự dạy luân lý cho có trật tự kia mới thể có gầy nên sự nghiệp vững bền cho nền chánh trị, chẳng chối cải chi nữa. Xét kỷ như thế, thì thấy rõ ràng cái mục đích của Khổng Phu Tữ dạy từ cá nhân, là chỉ yếu đặng duy trì xã hội cho được tấn hóa về phương diện đạo đức mà thôi, nên cái chủ nghĩa của Ngài là cải lương xã hội, nên Ngài hễ thấy thời cuộc có chỗ chi không được khéo, thì Ngài liền lập thế đặng sửa đổi lại, chẳng chịu để cho tới rối loạn mà phải cải cách. Ngài thường nói rằng: «Phàm làm việc chi thì phải nương theo nền móng cũ mà làm, chớ chẳng nên sửa đổi mà xây cái mới».

His doctrine belongs to the domain of government. One who does not examine it clearly will think that politics and morals are two different things. Because they think the two are different, many who specialize in political science often misapply their doctrine, and it turns into Revolution — which comes from not knowing how to use Ethics as the foundation of government. If one knew how to use Ethics as the foundation of government, how would things ever reach such a pass? Consider: if every small particle within each part knew how to complete its own duty — the father following the way of a father, the son the way of a son, the elder brother the way of an elder brother, the younger the way of a younger, the husband the way of a husband, the wife the way of a wife, friends dealing with each other rightly, and gradually outward to dealing gently with the hamlet and neighbors — and so it were carried out throughout all under heaven, everyone loving one another, then how would it ever come to stirring up movements of destruction? Such is the doctrine of our Confucius, which begins by setting the foundation of ethics in order. He often said: “When one household vies in love for one another, the whole country vies in love for one another; when one household vies in respect and deference, the whole country too vies in respect and deference.” His heart having purposed to teach love, respect, and deference in this way, how could he not have begun by reforming the individual, the small particle, first! If each person knew to heed his teaching, recognizing that he is a small part within society and so must fulfill his duty to help the social body progress, then this teaching of ethics and order could indeed build a firm and lasting work for the foundation of government; there is no denying it. Examining it thus closely, one sees clearly that Confucius’s aim in teaching from the individual was only to sustain society and help it progress in the moral dimension. So his doctrine was one of social reform: whenever he saw something in the affairs of the time that was not done well, he at once devised a way to correct it, not letting it reach chaos so that it had to be overturned. He often said: “In whatever one does, one should build upon the old foundation, rather than tearing down to raise something new.”

Khổng Phu Tử đã có một cái chủ nghĩa luân lý chánh trị như thế, sao Ngài chẳng đề xướng lý thuyết của Ngài ra cho người ta khuynh hướng theo, lại phải đi tìm kiếm cho được một vị Hiền Vương nào biết nghe lời của Ngài đặng dùng Ngài thì Ngài mới thi hành cái chủ nghĩa ấy được, bằng không thì thôi? Bởi tính như Ngài vậy, nên trọn đời Ngài không làm được việc chi hết, cho đến đổi nội trong cả vòng Trung Quốc không chọn được một vua nào giúp đở được, rồi lại than thở muốn đi ra khai hóa cho các mán rợ cữu di, lời ăn tiếng nói đã không đồng, mà phong tục lại càng khác nữa, thì Ngài có phương thế nào mà thi thố cái chủ nghĩa của Ngài được? Nếu vậy cái chủ nghĩa luân lý chánh trị ấy nó không có tốt đẹp hoàn toàn bằng các chủ nghĩa khác sao?

Since Confucius had such a doctrine of ethical government, why did he not proclaim his theory so people would incline toward it, instead of having to go searching for some worthy king who would heed him and employ him before he could carry out that doctrine — and otherwise give up? Because of this disposition of his, he accomplished nothing at all his whole life, to the point that within all of China he could not find one king to support him, and then he sighed that he wished to go out and civilize the barbarians of the Nine Tribes (cữu di) — whose speech was not the same and whose customs were still more different. What means would he have had to put his doctrine into practice there? If so, is that doctrine of ethical government not as fine and complete as other doctrines?

Không, chẳng phải vậy đâu, Khổng Phu Tử ta sanh nhằm thời đại trật tự trong nước đều xiên ngã, trên là vua chúa quan quyền đều lấy lòng xảo trá đặng đối đải với nhau, dưới là các hạng dân bị mê mụi dốt nát, mặc ai muốn dắc đi ngã nào thì theo ngã nấy, chẳng biết sao là phải, sao là quấy; còn Phu Tử ta lại chẳng chịu phá hoại xả hội, cứ một lòng lo cải lương xả hội mà thôi; trong nước tuy là rắc rối, lòng người tuy là tinh yêu, song ngôi thứ hãy còn chớ chưa đổ nát, nên Ngài phải căn cứ vào cái trình độ, nương theo cái hoàn cảnh đương buổi ấy, đặng lập ra một cái chủ nghĩa sắp đặt trật tự của cái nền luân lý đã sẵn dạy từ đời Thượng Cổ củ các bực thánh Đế Minh Vương lại cho xong, đặng sữa đổi phong tục cho được hoàn toàn mỹ mản, chớ Ngài không chịu tự mình cải tạo một cái nền tảng mới đặng lập dị cầu cao. Ngài từng tự xưng mình rằng: «Ta thuật lại những việc xưa, chớ không lập ra một việc mới». Lấy đó mà xét thì đủ thấy cái lương tâm của Ngài thể nào rồi. Tuy cái Giáo Lý của Ngài chẳng được người đời sùng bái cho lắm, nên chẳng được chống chỏi với cái thời gian đương buổi ấy mặc dầu, song cái ảnh hưởng về sự nghiệp, về Đạo đức của Ngài di truyền dến ngày nay, cả thảy toàn cầu đều công nhận và khâm phục, đều cho Ngài rằng là một nhà đại triết học, cái bực người như vậy, cái công nghiệp của người như vậy, nào phải để cho người tầm thường, kẻ võ phu, bọn hủ nho mỉa mai đặng phê bình được đâu. Đã biết rằng Giáo Lý của Ngài thi thố ra đương đời không được, nên Ngài mới bị gian truân nhiều đoạn, song Ngài cũng đã hiểu trước rằng: gặp cái hoàn cảnh như Ngài đang lúc bây giờ, nếu muốn cải lương xả hội, trừ cái lý thuyết của Ngài ra, thì không còn phương phép nào cao hơn mà đối phó cho xứng đáng, vì cái Giáo Lý ấy nó đã thuộc về tinh thần, thuộc về Đạo Đức, mà nó là con đường của mỗi người phải dùng hằng ngày không được rời ra, vì nó là một cái Chơn Lý đã sẵn có trong Tâm của mỗi người rồi, chớ chẳng phải ở đâu xa mà phải tìm kiếm cho mệt nhọc, cần là cần phải trau giồi nó lại cho sáng suốt, làm cho nó mới lại, làm cho nó thiệt khéo, thiệt tốt, thiệt đẹp và đủ. Xét rõ về chính trị của Trung Quốc lúc xứa, từ Nghiêu, Thuấn, Vỏ, Thang, Văn, Võ truyền trao tâm pháp và trị pháp cho nhau, đều chẳng ngoài sự sửa cái Nhơn Tâm cho thành Đạo Tâm, vì vậy nên những việc nhựt dụng của nền luân lý cang thường là cần phải gìn giữ cho có trật tự là trước nhứt.

No, it is not so. Our Confucius was born in an age when the order within the country had all fallen askew: above, kings, lords, and officials dealt with each other with cunning and deceit; below, the common people were befuddled and ignorant, following whatever road anyone led them down, not knowing right from wrong. Yet our Master would not consent to destroy society; with a single heart he sought only to reform it. Though the country was in turmoil and people’s hearts were sly, the order of ranks still existed and had not yet collapsed. So he had to base himself on the level of the people and follow the circumstances of that time, to set up a doctrine that would put back in order the foundation of ethics already taught since High Antiquity by the sage Emperors and enlightened Kings, so as to reform customs to completeness and beauty — rather than creating some new foundation of his own to stand out and seek eminence. He described himself thus: “I transmit the things of old; I do not create anything new.” From this one can see what kind of conscience he had. Although his Teaching was not much revered by the people of his day, and so could not hold out against the times, the influence of his work and his moral virtue has been handed down to today; the whole world acknowledges and admires it, and calls him a great philosopher. Such a person, such a work, is not something for ordinary people, brute soldiers, or pedantic scholars to mock and criticize. He knew that his Teaching could not be put into practice in his own day, which is why he suffered many hardships; yet he also understood beforehand that in circumstances such as his, if one wished to reform society, there was no higher method than his own theory to meet it fittingly. For that Teaching belongs to the spirit, belongs to moral virtue; it is the road each person must use every day and cannot leave, because it is a True Principle already present in each person’s Heart, not somewhere far away that one must wearily seek. What is needed is only to polish it bright again, make it new again, make it truly skillful, truly good, truly beautiful and complete. Looking clearly at the government of ancient China, from Yao, Shun, Yu, Tang, King Wen, and King Wu (Nghiêu, Thuấn, Vỏ, Thang, Văn, Võ), who handed down to one another the Method of the Heart (tâm pháp) and the Method of Governing (trị pháp), all of it was nothing other than reforming the Human Heart (Nhơn Tâm) into the Heart of the Way (Đạo Tâm). That is why the daily affairs of the foundation of the constant moral bonds (cang thường) must above all be kept in order

.

Khổ tâm của Phu Tữ ta hành Đạo cực nhọc như thế, là chẳng phải giốc lòng lập danh đặng kiếm công danh phú quí chi, chỉnh vì Ngài tự nhận lấy cái Thiên chức Ngài là phải khai đường dẫn lối đặng dìu dắy người vào đường ngay lẽ phải, đặng hạn chế cái tình dục và cái vật dục nó làm cho mờ ám cái lương tâm của con người đi, nó làm cho người quên hẳn rằng: Người sở dỉ khác hơn cầm thú là nhờ có một cái Lương Tâm này nó đã đựng đầy đủ cã Chơn Lý đả ban phú rồi khi ban sơ, cái Lương Tâm ấy nó rất lành, rất tốt, rất đẹp, rất khôn ngoan khéo léo, rất sáng láng trong sạch; hiềm vì người bị sai mê theo cái hoàn cảnh xấu xa nó triêm nhiểm đầm thấm vào mình đã lâu mà không hay không biết đặng chừa , đặng lánh, đặng rứt, đặng bỏ nó đi, mà trở về theo cái sơ tánh của mình. Cái chủ tâm của Ngài là như thế, nên Ngài cần dùng phải có một vị Hiền Quân giúp sức với Ngài đặng thi hành cái chánh giáo của Ngài mới được mỉ mãn. Chẳng phải cái chánh sách của Ngài là không được khéo, hay là không thích hợp với thời cuộc, hãy xét coi khi Ngài còn làm chức Đại Từ Khấu đó thì biết. Lúc đó trong tay Ngài cầm cả chánh quyền, Ngài cai trị nước Lổ có ba tháng mà nước Lổ cả được thái bình, nhà tối ngủ khỏi lo đóng cửa, đồ rơi rớt ngoài đường sợ mất, trong nước không kẻ phỉnh gạt lường lận, kẻ đi đường không lấn lướt nhau, mà lại biết kính nhường nhau, người làm ruộng không lấn ranh nhau, người buôn bán không nói thách giá, ấy là việc người với người đối đãi với nhau phần bề ngoài bề ngoài đó; còn việc cư xử với nhau bề trong nơi gia đình thì chẳng cần chi phải nói nhiều, vì cái chánh sách của Ngài là vụ Hiếu, Để, Trung, Tín làm căn bản cho nền Luân Lý làm đầu. Xét vậy thì đủ hiểu sự dùng Luân Lý làm gốc cho nền chánh trị đặng giúp ích cho xả hội theo Giáo Lý của Khổng Phu Tử nó quí hóa là bực nào.

The anguish with which our Master practiced the Way, toiling so hard, was not from any resolve to make a name or seek fame, wealth, and rank. It was only because he took upon himself the Heaven-given office of opening the road and showing the way, leading people onto the straight path and right reason, so as to restrain the passions and material desires that darken the human conscience — that make people forget entirely that what sets Man apart from beasts is this Conscience (Lương Tâm), which was filled with the whole of True Principle bestowed at the very beginning. That Conscience is supremely good, supremely fine, supremely beautiful, supremely wise and skillful, supremely bright and pure; the pity is that people, led astray by foul surroundings that have long soaked into them, do not notice it or know to give it up, avoid it, tear it away, and cast it off, so as to return to their own original nature. Such was the purpose of his heart; therefore he needed a worthy ruler to lend him strength in carrying out his right teaching, that it might be fulfilled. It was not that his policy was unskillful or unsuited to the times — look at the time when he held the office of Grand Minister of Justice (Đại Từ Khấu) and you will know. Then, holding full political power in his hands, he governed the state of Lỗ (Lu) for three months, and the state of Lu enjoyed great peace: at night houses slept without worry of shutting their doors; things dropped on the road were not lost; in the country there was no cheating or swindling; travelers on the road did not jostle one another but knew to respect and yield; farmers did not encroach on each other’s boundaries; merchants did not overcharge. That is how people dealt with one another outwardly; as for conduct within the family, there is no need to say much, since his policy aimed at Filial Piety, Brotherly Respect, Loyalty, and Faithfulness (Hiếu, Để, Trung, Tín) as the foundation, with Ethics at the head. Considering this, one understands well how precious it is, in the Teaching of Confucius, to use Ethics as the root of government in order to benefit society.

Học thuyết của Khổng Phu Tử là vụ sự thật hành, hễ nói chi thì vụ làm cho được nấy, chớ không phải nói suôn, hay là biết nói mà không biết làm, hoặc là nói được mà làm không được, vì vậy nên Phu Tử nói rằng: «Ta cũng muốn đặt điều đặng nói tuốt, song xét lại sao cho bằng đem ra đặng làm cho chắc chắn, rõ ràng cho mọi người thấy, người biết là hơn». Bởi vậy nên sự Ngài dạy dổ, thì Ngài dạy vụ phải học cho rộng trước, vì có học được rộng, mới thấy xa hiểu rõ được; nhưng Ngài lại dặn rằng: «Phải học cho rộng, mà phải hỏi cho chính chắn, phải nghĩ cho kỷ lưởng, phải phân cho rành rẽ, chừng nào chắc chắn, không còn chỗ nghi nghờ nữa, thì phải gia tâm đặng làm cho nên việc, đừng thối chí». Sự học của Khổng Phu Tử nó rộng lớn bực nào thì tôi đây không rõ được cho lắm, song le lậy nơi một lời dạy của Ngài to tác dường ấy, thì đũ biết sức Ngài học thể nào rồi; nên đệ tử của Ngài từng ví Ngài như là mặt trời, tưỡng không phải là quá tặng vậy. Ngài vốn là người siêng học, nên Ngài mới có lòng siêng dạy người, vụ cho người làm nên được người như Ngài vậy. Ngài từng nói rằng: Từ khi Ngài nên 15 tuổi, thì Ngài đã gắng chí nơi sự học rồi, mà học cho đến năm 70 mới nên; nghe vậy, đủ biết sự học không cùng, so lại với câu «thập niên đăng hỏa» của mấy bác nho xưa khoe mình, nghĩ càng thêm ngợp!

The doctrine of Confucius aims at actual practice: whatever is said, one aims to do just that, not merely talk — not knowing how to speak but not how to act, nor being able to say it but unable to do it. That is why the Master said: “I too would like to set out words and speak on and on; but on reflection, how could that compare with bringing it forth and doing it surely and clearly, for everyone to see and know?” So, in his teaching, he required first that one study broadly, for only by broad study can one see far and understand clearly. But he also charged: “Study broadly, inquire carefully, reflect thoroughly, distinguish clearly; and when you are sure and no doubt remains, then apply your whole heart to accomplishing the work, and do not lose heart.” How vast Confucius’s learning was I cannot know well; but taking just this one great teaching of his, one knows enough of the strength of his learning. So his disciples once likened him to the sun, and I think that was no overpraise. He was by nature diligent in study, and so he had a heart diligent in teaching others, aiming to make others become persons as he was. He once said that from the age of fifteen he set his will upon learning, and studied until seventy before he was complete. Hearing this, one knows that learning has no end; compared with the boast of “ten years by the lamplight” (thập niên đăng hỏa) of the old scholars, it is all the more overwhelming!

Phu Tử ta học thì rộng, biết thì nhiều, song xem Ngài đem sự học ấy ra đặng ứng dụng với đời, thì coi không có chi là bề bộn nhọc nhằn cho lắm. Ngài thường nói: «Phải Nghĩa thì làm, chớ không lòng mưu lợi; phải Đạo thì giúp, chớ không lòng kể công: bởi bực quân tử thì cứ xét rõ nơi nghĩa vụ của mình mà làm, chớ nào phải như kẻ tiểu nhơn sao mà cứ so đo từ phân hào đặng kiếm lợi ?». «Đã biết rằng sự giàu sang thì ai lại không ham, sự nghèo hèn nào ai lại có muốn, song le nếu giàu sang mà phi Nghĩa, thì giàu sang mà làm gì, còn nghẻo hẻn mà trúng Đạo, thì dầu cho ăn cơm nguội, uống nước lạnh, nằm queo, co tay làm gối, thì cũng là vui». Vì sao Ngài lại vui cái thú nghèo đó hơn, mà lại khinh sự giàu sang phi nghĩa nọ? Nghèo mà vui nổi gì? Nghèo thì ăn cơm nguội, uống nước lạnh, nằm chèo queo, đó là thường, mà vui nổi gì? Sự giàu sang, sự nghèo hèn, ấy đều là vật ở ngoài thân ta; người đời mảng so đo cân lường lấy những vật bề ngoài ấy, đặng gọi là giàu, nghẻo, sang, hèn; rồi đề xướng lên cái tiếng: hễ ai dư giã những món đồ bề ngoài thân mình ấy thì cho là giàu sang, gọi là vinh; còn ai thiếu thốn đồ bề thân mình ấy thì cho là nghèo hèn, gọi vậy là nhục. Ấy là vinh nhục của phần đời cho, của phần đời gọi; ta thử hỏi coi cái đời kia nó có bền vững với đời của nó cùng chăng? Huống chi cái tiếng của đời cho, của đời kêu, của đời gọi, mà lại làm sao cho đủ gọi vinh, gọi nhục cho bực người đã có học Đạo, có biết Đạo rồi, thì biết có một món rất quí, rất tốt, rất báu, rất đẹp, rất đáng thương mến, đáng trân trọng, đáng gìn giữ từng giờ, đáng giồi mài từng bửa, ấy là cái Chơn Lý nơi Lương Tâm ta đó mà thôi; trừ vật này ra, thì chẳng luận là vật chi, hễ đời gọi rằng quí, người học Đạo coi dường bọt nước, xem thể mây bay kia, chớ nào có qui chi đâu!

Our Master studied broadly and knew much; yet when we see him apply that learning to the world, it does not look burdensome or toilsome at all. He often said: “If it is Righteous, do it, without a heart for profit; if it is of the Way, help, without a heart for counting merit. For the noble person (quân tử) simply looks clearly at his own duty and does it — is he like the petty person (tiểu nhơn), weighing every fraction and hair to seek profit?” And: “Of course, who does not desire wealth and rank, and who wants poverty and lowliness? Yet if wealth and rank are not by Righteousness, what use are they? And if one is poor and lowly but in accord with the Way, then even eating cold rice, drinking cold water, lying curled up with a bent arm for a pillow — there is joy in that.” Why did he find more joy in the pleasure of poverty, and despise unrighteous wealth and rank? What joy is there in being poor? To be poor is to eat cold rice, drink cold water, and lie curled up — that is ordinary; what joy is in it? Wealth and rank, poverty and lowliness, are all things outside our own self. People of the world are busy weighing and measuring these outward things to call themselves rich, poor, noble, or base; and then they proclaim the saying: whoever has an abundance of these things outside himself is called wealthy and noble, and that is called glory; whoever lacks these things is called poor and lowly, and that is called disgrace. That is glory and disgrace as the world gives it and the world names it. Let us ask: is that world itself lasting, together with its own age? How much less can the name the world gives, calls, and labels be enough to confer glory or disgrace upon one who has studied the Way and knows the Way — who knows there is one thing most precious, most good, most treasured, most beautiful, most worthy of love, worthy of honor, worthy of guarding every hour and polishing every day: and that is only the True Principle within our Conscience. Apart from this, no matter what thing it is, whatever the world calls precious, the student of the Way regards as a bubble of water, as drifting clouds — what preciousness is there in it at all!

Trong Lương Tâm người đã sẵn có Chơn Lý của Trời ban phú cho từ thuở ban sơ, mới gọi thật rằng là của quí cho, Chơn Lý ấy nó là Đạo, nó là Đạo dạy làm Con Người cho ra phải là Con Người, vì người hễ muốn làm cho nên Con Người thì phải biết Đạo làm người, mà Đạo làm người có chi lạ hơn là Nhân với Nghĩa. Bởi Khổng Phu Tử ta biết có Nhân Nghĩa là quí, ngoài Nhân với Nghĩa ra, thì chẳng có chi quí hơn nữa, nên trọn đời Ngài đem ra ứng dụng với đời, cũng chẳng chi lạ hơn là Nhân với Nghĩa.

Within the human Conscience there is already the True Principle bestowed by Heaven from the very beginning; that alone truly deserves to be called precious. That True Principle is the Way (Đạo); it is the Way that teaches one to be a Human Being worthy of the name. For if a person wishes to become a true Human Being, he must know the Way of being human; and the Way of being human is nothing stranger than Benevolence and Righteousness (Nhân và Nghĩa). Because our Confucius knew that Benevolence and Righteousness are precious, and that apart from them nothing is more precious, all his life what he applied to the world was nothing other than Benevolence and Righteousness.

Phu Tử đáp nghĩa chữ Nhân với chư môn đệ tuy có nhiều cách không giống nhau, ấy là cách dạy dổ đặc sắc của Ngài là tùy theo người nào có bịnh chỗ nào thì Ngài dùng thuốc chỗ ấy đặng chửa ngay vào đó cho mau lành, chúng ta nay góp nhóp lượm lặc lại các nghĩa ấy đặng xét coi, thì thấy rõ rằng: «Nhân» nghĩa là Thương Người, chớ có chi đâu lạ. Hễ người biết thương người thì đâu có làm hại người; hễ chẳng là hại người, thì phải đem lòng lo lắng, săn sóc, vừa giúp người, coi ngươi như mình vậy. Hễ biết coi người như mình, thì nào có chia rẻ ta Người ra làm hai. Hễ chẳng chia rẻ ta Người ra làm hai, thì Ta Người đã Hiệp Một như con một nhà rồi, vật chi Ta muốn thì Người cũng muốn. Người muốn thì Ta cũng muốn, xét được vậy thì nên biết sự kỉnh nhường nhau không chích mích nhau, mà hòa thuận với nhau luôn. Người trong một nhà biết kính nhường nhau, thì người trong môt xóm một làng cũng biết kỉnh nhường nhau, lần lần lớn ra cho tới người trong một nước cũng đều biết kỉnh nhau nhường nhau; càng ngày càng rộng thêm ra nữa, thì người trong cả thế giái cũng đồng biết sự kỉnh nhường như vậy, thì lo chi là thiên hạ không được thái bình! Ấy là cái nghĩa chữ Nhân gốc là Thương người mà ra, mà sự Thương người ấy nó làm ích lợi cho người là dương nào! Vậy thì cái Nhân ờ trong Lương Tâm này nó có đáng quí, hầu là những đồ bề ngoài cùa cái đời gọi quí đó, là quí?

The Master answered his disciples on the meaning of the word Nhân (Benevolence) in many different ways — that was his distinctive way of teaching: according to where each person’s ailment lay, he applied the medicine to that very place to cure it quickly. Gathering up those meanings now and examining them, we see clearly that “Nhân” means to Love People (Thương Người) — nothing strange about it. One who knows how to love people will surely not harm people; and not harming people, one must take to heart caring for them, looking after them, helping them, regarding others as oneself. Knowing how to regard others as oneself, how would one divide Self and Others into two? Not dividing Self and Others into two, Self and Others are already United as One, like children of one house: what I want, others want too; what others want, I want too. Seeing this, one knows to respect and yield, not to clash, but to live always in harmony. When the people of one household know to respect and yield to one another, then the people of a hamlet and a village also know to respect and yield, and gradually outward until the people of a whole country all know to respect and yield; and as it widens day by day, the people of the whole world likewise know such respect and deference — then what worry is there that all under heaven will not have Great Peace! That is the meaning of the word Nhân, whose root is Loving People; and how greatly that love benefits people! So is the Benevolence within this Conscience worth more — or are those outward things the world calls precious the precious ones?

Nhưng mà hễ biết được nghĩa chữ Nhân rồi, còn phảo biết nghĩa chữ Nghĩa nữa mới được, nếu biết Nhân mà không biết Nghĩa, thì cũng chẳng quí chi vậy. «Nghĩa» là Nhằm, là Phải, là Trúng mới gọi là Nghĩa, bằng chẳng Nhằm, chẳng Phải, chẳng Trúng thì là phi Nghĩa, thì là sái Đạo. Vì vậy nên việc chi mình xét nên làm, thì sẻ làm, bằng chẳng nên làm thì đừng làm. Ví dụ như cha thì phải biết thương con, con thì phải mến cha, chồng thì phải thương vợ, vợ thì phải thương chồng, anh em thì phải thương yêu nhau, ấy là phải Nghĩa đó. Nếu trái lại, cha nhà không thương, vợ nhà không mến, anh em nhà không hòa thuận, xóm giềng không kính nhường, mà lại đi thương cha người, mến vợ người, quí trọng anh em người, kính nhường xóm giềng ở đâu khác; làm như vậy có phải Nghĩa hay không? Vì vậy nên sự Thương nó cần phải cho nhằm Nghĩa mới được, nên hai hai chữ Nhân Nghĩa nó cần phải dính với nhau luôn luôn. Nếu sự Thương mà phải Nhân phải Nghĩa, thì trước hết phải Thương, phải Kính, phải Nhường người trong nhà, trong thân tộc làm trước rồi sau mới đem sự Thương, sự Kính, sự Nhường ấy ra mà Thương, mà Kính, mà Nhường người ngoài, cho đến cùng cả thảy người cả nước mới là phải cho.

But once one knows the meaning of Nhân, one must still know the meaning of Nghĩa (Righteousness); to know Benevolence without knowing Righteousness is likewise of little worth. “Nghĩa” means to be On the Mark, to be Right, to be Correct; only that is called Righteousness. If it is not on the mark, not right, not correct, then it is unrighteous, it strays from the Way. Therefore, whatever one judges ought to be done, one does; if it ought not be done, one does not do it. For example: a father must love his child, a child must cherish his father, a husband must love his wife, a wife must love her husband, brothers must love each other — that is Righteous. If, on the contrary, one does not love one’s own father, does not cherish one’s own wife, is not in harmony with one’s own brothers, does not respect one’s neighbors, and yet goes off to love another’s father, cherish another’s wife, honor another’s brothers, and respect neighbors somewhere else — is acting so Righteous or not? Therefore Love must be directed according to Righteousness; so the two words Benevolence and Righteousness must always cling together. If Love is to accord with Benevolence and Righteousness, one must first love, respect, and yield to those within one’s household and kin, and only afterward bring that love, respect, and deference out to love, respect, and yield to those outside, and so on to all the people of the whole country — only then is it right.

Chánh nghĩa hai chữ Nhân, Nghĩa như đã tõ bày đó, nên Phu Tử ta hoặc dạy người, hoặc ứng tiếp vật chi đều chẳng ngoài hai chữ Nhân, Nghĩa. Mà biết cho rõ được, cho khỏi lầm lộn, thì Phu Tử ta dạy người trước hết phải Học rộng, phái Hỏi chính, phải Nghĩ kỷ, phải Phân rành rồi sẻ đem ra mà thật hành, nên như đã nói phía trước rằng Học thuyết của Khổng Giáo là vụ nơi Thật Hành. Song muốn cho được thật hành, Phu Tử ta chẳng những dạy phải Học rộng, phái Hỏi chính, phải Nghĩ kỷ, phải Phân rành mà thôi đâu, người học còn phải lắm công phu mới đem ra thật hành xong. Ngài dạy rằng: «Phàm việc chi hay là vật chi, phải khảo cứu cho cùng tột cái lý của sự vật đó, đừng cho một chỗ nào mà sự xét của mình không được đến tột; đã xét đến tột rồi, thì lại phải đem hết sức biết của mình cho tinh tế, mà tìm cho đến chỗ tinh vi của sự vật ấy, phải cho đàn tinh kiệt tứ, vụ thấu cho được chỗ kỳ cùng mới thôi».

The true meaning of the two words Benevolence and Righteousness being as set forth, our Master, whether teaching people or responding to anything, never went outside these two words. And to know them clearly, so as not to be confused, our Master taught that one must first Study broadly, Inquire carefully, Reflect thoroughly, Distinguish clearly, and only then bring it forth into practice; hence, as said before, the doctrine of Confucianism aims at Actual Practice. But to be able to practice, our Master taught not only to study broadly, inquire carefully, reflect thoroughly, and distinguish clearly; the student must still put in much effort before bringing it into practice. He taught: “In any affair or any thing, one must investigate to the very utmost the principle of that thing, leaving no place where one’s examination does not reach the end; and having examined to the end, one must then bring the full power of one’s knowing, refined and subtle, to seek out the most subtle point of that thing — exhausting one’s essence and thought, aiming to penetrate to the very last point before stopping.”

(Sự học này cũng thể như ngày nay các khoa vật lý học, hóa học, bác vật học của Âu Mỹ vậy, song khác là khoa học của Âu Mỹ là xét cái vật lý của sự vật bề ngoài cảm xúc vào, còn Phu Tử ta xét lý sự vật nơi trong phát ra).

(This kind of learning is like the physics, chemistry, and natural sciences of Europe and America today; the difference is that Western science examines the material principles of things as they strike us from outside, whereas our Master examined the principle of things as it issues forth from within.)

«Trong những lúc mà minh khảo cứu sự vật cho được tinh tế như vậy, thì mình phải thâu trọng cái phóng tâm của mình về, phải dẹp hết cái phóng túng nó chạy lăng xăng ở cảnh ngoài đó, đặng để một cái ý cho rất thiệt tình, rất quả quyết vào một việc của mình đang lo tìm kiếm xét nét đây; mà lại còn phải sửa cái tâm mình cho được trọn nhứt tâm vào việc ấy, đặng định một mối nào phải theo, con đường nào phải dùng đặng đi tới, rồi cứ theo đó mà phăn hoài đặng làm cho nên việc». Phàm việc chi, cứ dọn mình được như vậy hoài, ban đầu coi còn thấy có chỗ khó, sau lâu ngày hóa quen, nên hễ gặp việc thì biết, gặp việc thì thông, chẳng còn đợi phải mất ngày giờ mới là hiểu thấu chánh lý của nó.

“While one is investigating things so finely, one must gather back one’s scattered heart (phóng tâm), put down all the restlessness that runs hither and thither in the outer world, so as to set one’s intention most sincerely and most resolutely upon the single matter one is now seeking and examining; and one must further rectify one’s heart so that it is wholly one-pointed on that matter, to settle which thread to follow and which road to take to arrive, and then keep following it to unravel it until the work is accomplished.” In any matter, if one keeps preparing oneself this way, at first there still seem to be difficult places, but after long days it becomes habit; so whenever one meets a matter one knows, whenever one meets a matter one comprehends, no longer needing to spend days and hours before understanding its true principle.

Cái tư cách của mình dọn mình đã được có phương pháp hoàn toàn cao thượng như vậy, rồi «cứ nương lấy đó mà chỉ biễu cho những người trong nhà mình, người dưới quyền mình, đều phải do theo một cách thể ấy mà sửa mình; nếu có thế lực chút ít thì dạy luôn cho xóm giềng bắt chước theo, nếu được thế lực nhiều thì dạy tràng ra cả nước, được như vậy, thì nào có lo chi người trong nước không phát đạt được» ! Nếu mỗi người đều đủ trọn nhơn cách làm người rồi, gọi việc chi thuộc về Nhơn Đạo, đều biết dụng Hiếu, Đễ, Trung, Tín, Cung, Kỉnh, Khiêm, Nhượng; việc trong nhà vậy, việc ngoài đường cũng vậy, đều xử trọn Nhân, trọn Nghĩa, dầu cho gặp những việc chi khó khăn cho thế mấy nữa là cũng không mất ngày giờ cho mình xét đặng sự Phải mà làm, sự Quấy mà chừa, ấy những cái Công Hiệu như vậy là bỡi đâu mà nên? Có phải là bởi Giáo Lý của Khổng Phu Tử ta chỉ biểu dạy dổ người đều có phương pháp chánh đáng, có trật tự phân minh chăng? Mà những phương pháp ấy, Phu Tử ta dùng vật chi làm mụch đích đặng chỉ cho người biết đặng làm theo trúng một cách dễ dàng như vậy? Có chi đâu là lạ! Có chi đâu là xa! Phu Tử ta dùng có một vật là chỉ cho người phải tìm lấy cái Chơn Lý có sẵn trong Tâm Tánh của mỗi người rồi từ khi mới sanh ra, đặng mượn theo mà đi cho trúng đó chớ có chi đâu! Ngặt tự bấy lâu nay người bỏ cái Chơn Tâm, Chơn Tánh đó đi, không săn sóc  đến nó, cứ bo bo đeo đuổi cái khí bẩm vật chất bề ngoài mà gọi rằng quí, cứ nong trang theo cái tình dục của xác thịt nó sai khiến, cứ lăn lóc chăm chúi theo nó hoài mà không dám cải cái mạng lịnh của nó, sợ nó rời ra mà hết sang đi chăng, nên đành quên bỏ ông Chủ Nhà của mình là cái Bổn Tánh tự nhiên rất tốt, rất lành, rất trong sạch, rất sáng láng kia, đàng để cho ông Chủ Nhà ấy bị cái hoàn cảnh bề ngoài nó sai bợm gia đình lôi cuốn vào đóng kính, khóa chặc lại trong một gian phòng, để tự ý cho bọn nó tung hoành theo tình dục bề ngoài, cho phu phỉ cái ý ham muốn của chúng nó, kiệu sải nước lớn nước nhỏ tùy theo tên nài với cái hàm thiết giây cương, đặng lo ăn thua với đời, mà ông Chủ Nhà không hay biết chi hết! Phu Tử ta thấy vậy biết là sái đường, nên nhắc nhở người phải nhớ lại nhà mình đã có ông Chủ sẵn rồi, phải tỉnh lại đặng nhìn biết lấy ông mà do nơi mạng lịnh cùa Ông, theo lời phải của Ông, đặng dọn dẹp nhà cửa lại cho sạch, lau chùi bàn ghế lại cho sáng, cắt khiến lại cho mấy đứa gia đinh phải tùng lịnh chủ nhà đừng nghe lời kẻ bề ngoài xúi dục, thì nhà cửa mới được trang hoàng vén khéo chắc chăn khỏi hư khỏi nát, chớ Ngài có kiếm cái căn bản nào ở bề ngoài, đặng đem nhét vào bảo ai phải phục tùng đâu, nên sự giáo dục của Ngài không phiền phức mà lại dễ làm là vì vậy đó.

Once one’s manner of preparing oneself has a method so complete and lofty, then “relying on it, one shows those in one’s household and those under one’s authority, so that all follow the same pattern in reforming themselves; if one has a little influence, one teaches the neighbors as well to imitate it; if one has much influence, one teaches it widely to the whole country. If so, what worry would there be that the people of the country could not flourish!” If each person had fully the character of a human being, then in everything belonging to the Human Way (Nhơn Đạo) all would know how to use Filial Piety, Brotherly Respect, Loyalty, Faithfulness, Reverence, Respect, Humility, and Deference (Hiếu, Đễ, Trung, Tín, Cung, Kỉnh, Khiêm, Nhượng) — at home and on the road alike — dealing with all in full Benevolence and full Righteousness; and however difficult the matters they met, it would not cost them days and hours to discern the Right to do it and the Wrong to leave it. Where do such Effects come from? Is it not because the Teaching of our Confucius shows and teaches people with a right method and a clear order? And in that method, what thing did our Master use as the aim, to show people how to follow it correctly with such ease? Nothing strange! Nothing far away! Our Master used just one thing: he showed people that they must seek the True Principle already present in each person’s Heart-Nature (Tâm Tánh) since birth, and rely on it to walk aright — nothing else! The trouble is that for so long people have cast off that True Heart and True Nature (Chơn Tâm, Chơn Tánh), not caring for it, clinging tight to their outward material endowment and calling it precious, eagerly following wherever the passions of the flesh drive them, tumbling and toiling after them endlessly without daring to defy their commands, afraid that if they let go they would lose their rank. And so they willingly forget and abandon the Master of their own House — their original, natural Nature (Bổn Tánh), supremely good, supremely kind, supremely pure, supremely bright — letting that Master of the House be dragged by the outer circumstances, which lead the household servants astray, and locked up tight in one room, while that gang runs riot at will after outward passions to gratify their cravings, galloping across great lands and small at the whim of the groom with his bit and bridle, to compete with the world — and the Master of the House knows nothing of it at all! Our Master, seeing this, knew it was the wrong road; so he reminded people to remember that their house already has its own Master, to wake up and recognize him, to follow his commands and his right counsel, to clean the house, polish the tables and chairs bright again, and give the household servants fresh orders to obey the master of the house and not listen to outsiders’ incitements — only then is the house adorned, well kept, and secure from ruin. He did not seek some foundation outside, to stuff in and tell people they must submit to it. That is why his education is not complicated and is easy to practice.

Có kẻ bài bác rằng Khổng Phu Tử ta dạy người tuy là rất chánh đáng, song Ngài cứ dụng Cá Nhơn làm căn bản vị, nên sự dạy của Ngài chưa được gọi là hoàn toàn mỹ mản, vẫn còn cái chủ nghĩa ích kỷ ở trong, vì nếu theo cái thuyết luân lý, thì cái quan niệm của Ngài quá thiên trọng về tư cách của cá nhân mà thôi, nên mới khiến cho những bực quân tử nhà Nho hay quá ỷ mình là đúng bực thượng lưu, mà miệt thị những người chẳng biết Đạo Nho, hóa ra trong xả hội không được đầm ấm mà lại có hại cho đường kinh tế, thì sự ấy Phu Tử cũng khó bề từ nan rằng không có lổi vậy. Mà Phu Tử ta có lổi chăng ?

Some critics object that although Confucius taught people quite rightly, he used the Individual as the basic unit, so his teaching cannot yet be called complete and perfect; there is still an element of self-interest in it. For, according to his ethical theory, his conception places too heavy an emphasis on the character of the individual alone; that is what makes the noble Confucian scholars rely too much on themselves as the upper class and look down on those who do not know the Confucian Way, so that society is not warm and harmonious and it even harms the economy — and for this, they say, the Master can hardly deny some fault. But is our Master at fault?

Tiếp theo bài trước tôi xin giải sự người công kích cái chủ nghĩa của Khổng Phu Tử dùng luân lý làm căn bản vị cho xả hội, nên mấy bực quân tử nhà Nho quá ỷ mình, làm cho cái hoàn cảnh hiện thời không được đầm ấm, vì nổi hai cái học thuyết Tân Cựu chưa dung hợp với nhau; thêm là không nghe Phu Tử giảng dạy sự kinh tế, nên cái học thuyết của Ngài chưa được gọi là hoàn toàn châu đáo.

Continuing from the previous article, I would like to answer those who attack Confucius’s doctrine of using ethics as the basic unit of society, saying that it makes the noble Confucian scholars too self-reliant, so that present circumstances are not warm and harmonious, because the two schools of thought, New and Old, have not yet been reconciled; and moreover that one does not hear the Master teaching economics, so his doctrine cannot yet be called complete and thorough.

Đã biết mấy bực nhà Nho ngày nay đó, cũng có qua ỷ mình rằng là bực lão thành, nên cũng có quá tự tôn tự cao tự đại một chút, song le muốn cho phân biệt hai tiếng nhà Nho, tôi xin chư quí đọc giả cho phép tôi giải thêm cho rõ sao gọi là người Nhà Nho, sao chẳng phải là người Nhà Nho, cho chư vị dể bề biện biệt, rồi sẻ đem lời phê bình Đạo Nho của Khổng Phu Tử. Xin chớ tưởng lầm rằng mấy cụ đồ, cụ tú, cụ nhiêu, cụ cử ấy đều là người Nhà Nho đâu! Người Nhà Nho là người ở trong Nhà Đạo Nho, Học theo Đạo Nho, Hành theo Đạo Nho, dạy dổ dìu dắc người theo nết na khuôn phép của Đạo Nho, người như vậy mới đáng gọi là người Nhà Nho; chớ chẳng phải những người học chữ Nho, biết đọc sách Nho, biết nhớ thuộc lòng những câu văn chữ Nho, đặng nói cho lia, cho nhiều, cho tráng câu đặng giậm vào câu chuyện nghe cho bùi tai mà gọi là người Nhà Nho đâu. Bỡi Đạo Nho với Chữ Nho, hai nghĩa rất khác nhau như trời với vực. Đạo là Đạo, còn Chữ là Chữ, không ăn thua với nhau chi hết.

Granted, the Confucian scholars of today do rely somewhat too much on themselves as venerable elders, and so are a little too self-important, lofty, and proud. But to distinguish the term “person of the Confucian House” (người Nhà Nho), I ask my honored readers’ permission to explain further what is called a person of the Confucian House and what is not, so that you may distinguish easily, and then I will bring forward a critique of Confucius’s Confucian Way. Please do not mistakenly think that those old teachers, licentiates, village notables, and graduates are all people of the Confucian House! A person of the Confucian House is one who dwells in the House of the Confucian Way, Studies according to the Confucian Way, Acts according to the Confucian Way, and teaches and guides others according to the conduct and rules of the Confucian Way; only such a person deserves to be called a person of the Confucian House. Not those who learned Chinese characters, can read Confucian books, can recite from memory phrases of classical Chinese to speak fluently, abundantly, and grandly, stuffing them into conversation so it sounds pleasant to the ear — they are not people of the Confucian House. For the Confucian Way (Đạo Nho) and Confucian Letters (Chữ Nho) are two meanings as different as heaven and the abyss. The Way is the Way, and Letters are Letters; they have nothing to do with each other at all.

Tiếng gọi rằng Đạo Nho ấy, là một cái Học Thuyết của Đức Khổng Phu Tử lập ra, mục đích và tôi chỉ rất chú trọng về sự Giáo Hóa. Nó tuy không phải như một cái tôn giáo nào, song sức mạnh của nó không tôn giáo nào bì kịp, là vì Đạo này dạy người có hai phần, một là hình nhi thượng học, và một phần hinh nhi hạ học, mà hai phần ấy đều do nơi những việc ứng sự tiếp vật, nhựt dụng thường hành của mỗi người phải có và phải biết, phải làm hằng ngày, hằng giờ, hằng thiếu thì không được, dầu cho trẻ nhỏ từ 6, 7 tuổi cho đến người già cả đầu bạc răng rụng cũng phải thông hiểu; dầu cho kẻ hèn hạ là bực ngu phu ngu phụ, cho thẳng đến bực Thánh Hiền là cũng không được phép rời; dầu cho trên hết là bực Thiên Tử dĩ chí bực thấp thỏi hơn hết là bực cùng dân, là cũng không được phép quên sót; dầu cho từ việc nhỏ mọn kín đáo còn đương ở trong bụng, thẳng đến việc lớn lao ra bao hàm cã kiền khôn võ trụ, là cũng không việc chi qua khỏi; dầu cho từ nơi chỗ gần là cái xác thân của mỗi người và việc của mỗi nhà, dĩ chi khắp cã thiên hạ thế giái, là cũng không một ai được phép xa lìa khỏi mình giây phút; dầu cho kẻ man di mọi rợ, thẳng đến người văn minh tấn hóa, bực nào là cũng không khi nào mà chẳng có nó ở trong Tâm mình; dầu cho thời đại nào cũng vậy, từ muôn ngàn năm lúc trước, thẳng đến ngày nay và luôn luôn tới muôn ngàn năm kế sau nữa, là cũng không khi nào làm cách nào mà mất bỏ nó được v.v… Dầu cho việc chi nhỏ mọn từ việc Cá nhơn đối với Cá nhơn, thẳng qua cho đến phần chánh trị, phần xả hội, phần nhơn quần, luân lý, triết học, đạo đức, tín ngưởng, trật tự, chế độ, lể nghi, phong hóa v.v… cũng không một việc gì mà Đạo Nho thiếu sót không có chỉ dạy đến.

What is called the Confucian Way is a Doctrine founded by Confucius, whose aim and purpose lay most heavily on Teaching and Transformation (Giáo Hóa). Though it is not like a religion, its strength is matched by no religion, because this Way teaches people in two parts: learning of what is above form (hình nhi thượng — the metaphysical) and learning of what is below form (hình nhi hạ — the physical). And both parts arise from the dealings with affairs and things, the daily constant practices that each person must have, must know, and must do every day and every hour — one may not lack them for a moment. From a little child of six or seven to an old person with white hair and fallen teeth, all must understand it. From the lowliest simple man and simple woman straight up to the Sages and Worthies, none is allowed to leave it. From the very highest, the Son of Heaven, down to the very lowest, the poorest commoner, none is allowed to forget or omit it. From the smallest, most hidden matter still lying within one’s breast, straight up to great matters embracing all of heaven, earth, and the universe, there is nothing beyond it. From the nearest place — each person’s own body and each family’s affairs — out to all under heaven and the whole world, no one is allowed to be apart from it for a moment. From the uncivilized tribes straight up to civilized and progressive people, at whatever level, there is never a time when it is not within one’s Heart. In whatever age — from tens of thousands of years before, straight to today, and on for tens of thousands of years to come — there is never a time or a way in which it can be lost or cast off, and so on… In every matter, from small dealings between Individual and Individual, straight through to government, society, community, ethics, philosophy, morality, belief, order, institutions, rites, customs, and so on — there is not one thing the Confucian Way fails to teach.

Đạo Nho sở dỉ dạy được bao quát lớn lao như vậy, là chỉ có dụng Cá Nhơn làm căn bản vị, chỉ dùng cái thuyết Luân Lý đặng sửa cải tư cách của từ Cá Nhơn, khiến cho từ Cá Nhơn biết Tự Sửa lấy mình, mỗi người đều phải biết cái Nghĩa vụ của mình, mỗi mỗi người đều phải biết trau giồi cái Nhơn cách của mình cho được Chí Thiện, mỗi người đều phải tôn cái Đức Tánh của mình mà cũng phải trọng sự Học hỏi cho biết Đạo đặng làm theo cho nhầm Đạo. Ấy là sự Tu Thân của cách Đạo Nho dạy vậy đó. Cái triết lý của Khổng Phu Tử sở dỉ khác hơn các bực Giáo Chủ khác cũng tại nơi đó; mà Khổng Phu Tử sở dỉ làm được Khổng Phu Tử là cũng tại nơi đó. Khổng Phu Tử dạy người «Tu Thân», Ngài chẳng hề dùng mê tín, chẳng hề dùng lời huyển hoặc, chẳng hề dùng tên một vị quì thần nào đặng rùng ép người bảo phải sợ, phải tin; chẳng hề nói sự Tiền Nhân Hậu Quả, chẳng hề nói việc Thưởng Phạt Thiên Đàng Địa Ngục chi hết, Ngài chỉ day mỗi người biết Sửa Mình theo cho trúng Chơn Lý, cho trúng với Chơn Tánh, cho trúng với Bản tâm của Trời phú cho mỗi người thuở ban sơ mà thôi. Hễ mỗi người đều biết dược cách Sửa Mình như vậy, biết trau giồi cái Đức Tánh của mình như vậy, biết đem cái Lương Tri của mình về theo cái Lương Tâm của mình như vậy thì cái Nhơn Cách của mỗi người đều được tận thiện tận mỹ rối. Cái Nhơn Cách của mỗi người đã đều được hoàn toàn chí mỹ rối, thì mỗi người đều biết cái Nghĩa vụ của mình phải làm làm sao rồi. Hễ biết được chắc chắn cái Nghĩa vụ của mình phải làm làm sao rồi, thì nào có dám Tự Do Hành Động, vì biết rõ cái Thân này thuộc về một cái bộ phận nhỏ nhen của một Đoàn thể trong Xã Hội, nếu mình muốn cho Xã Hội được rở ràng, được phát đạt, được có danh lành tiếng tốt, thì cái Thân này trước phài Sửa cho được trong sạch, cho được dùng theo nhơn cách của một cái tiểu bộ phận của một cái đoàn thể trong Xã Hội của mình đương đứng đương ở, ấy là các Tu Thân của Khổng Phu Tử ta dạy đó. Thấy đó thì biết rõ nghĩa Tu Thân là Sửa Mình, chớ có chi đâu. Mà muốn cho được gọi rằng người biết Tu thân, thì trước hết phải Tu Tâm. Tu Tâm nghĩa là Sửa cái Tâm của mình cho trúng với Chơn Lý, cho trúng với Chơn Tánh, cho trúng với Bản Tâm khi ban sơ, chớ không chi lạ. Hễ người biết Tu Thân, Tu Tâm thì chẳng hề khi nào dám Tự Do hành Động, vì phải lo giúp đở đoàn thể của mình đặng làm nên sự nghiệp cho Xã Hội, vì mình đây, cái thân nhỏ nhen này đây, nó là một cái tiểu phần tử cùa Xã Hội mà thôi.

The reason the Confucian Way can teach so comprehensively and vastly is only that it uses the Individual as the basic unit, using only the theory of Ethics to reform the character of each Individual, so that each Individual knows to Reform Himself; each person must know his own Duty; each and every person must know to polish his own Character to Utmost Goodness (Chí Thiện); each person must honor his own Virtuous Nature and also value Study and Inquiry, to know the Way and act in accordance with the Way. That is the Self-Cultivation (Tu Thân) taught by the Confucian Way. That is where Confucius’s philosophy differs from other Founders of Teachings; and that is what made Confucius Confucius. Confucius taught people “Self-Cultivation”; he never used superstition, never used fantastic words, never used the name of any ghost or spirit to frighten people into fear and belief; never spoke of causes in past lives and effects in later ones, never spoke of reward and punishment in Heaven and Hell at all. He taught each person only to Reform Himself in accord with True Principle, in accord with True Nature, in accord with the Original Heart Heaven bestowed on each person in the beginning. When each person knows how to Reform Himself thus, knows how to polish his Virtuous Nature thus, knows how to bring his Innate Knowing (Lương Tri) back into accord with his Conscience (Lương Tâm) thus, then each person’s Character is already utmost good and utmost beautiful. When each person’s Character is complete and perfectly beautiful, each knows what his Duty must be and how to do it. Knowing surely what one’s Duty is and how to do it, how would one dare Act Freely at whim, knowing clearly that this Self belongs to a small part of a Body within Society? If one wishes Society to be glorious, to flourish, to have a good name and fine reputation, then this Self must first be Reformed to be pure, to be used according to the character of a small part of a body within the Society in which one stands and lives. That is the Self-Cultivation taught by our Confucius. From this one knows clearly that Tu Thân means Reforming Oneself, nothing else. And to be called one who knows Self-Cultivation, one must first Cultivate the Heart (Tu Tâm). Tu Tâm means Reforming one’s Heart to accord with True Principle, with True Nature, with the Original Heart of the beginning — nothing strange. One who knows Self-Cultivation and Heart-Cultivation never dares Act Freely at whim, for he must help his own body of people to accomplish the work of Society, since he himself, this small self, is only a small particle of Society.

Ôi ! Người Nhà Nho, người Chơn Nho, người học Đạo Nho Chơn Chánh của Khổng Phu Tử ta, biết Tu Thân đặng lo cho đoàn thể, đặng lo cho Xã Hội như vậy, sao ai lại nở gọi cách dạy theo cái thuyết Luân Lý của Phu Tử ta thiên trọng về Cá Nhơn chủ nghĩa, nên những bực quân tử nhà Nho hay lo ích kỷ mà khiến cho hoàn cảnh ngày nay không được đầm ấm?

Oh! The person of the Confucian House, the True Confucian (Chơn Nho), the one who studies the true and right Confucian Way of our Confucius, who knows Self-Cultivation in order to care for his community and his Society in this way — how could anyone bear to say that teaching according to our Master’s theory of Ethics overemphasizes individualism, so that noble Confucian scholars tend to be self-serving and make present circumstances cold and discordant?

Muốn cho rõ thêm cái mụch đích của cái thuyết Tu Thân nó làm nên cho Xã Hội được tấn hóa, được phát đạt là dường nào, tôi xin giảng thêm cho rành cho rõ nữa, cho dể bề anh em suy xét.

To make clearer how far the aim of the theory of Self-Cultivation brings Society progress and prosperity, I will explain it further, more fully and clearly, so that you, my brothers, may easily reflect on it.

Sách Nho có dạy rằng: Từ bực trên là bực Thiên Tử, dỉ chí đến bực thấp là bực Thứ Dân, ai ai rắc rắc, đều phải sửa mình làm gốc. Vì hễ là mỗi người đều Sửa Mình cho được rồi, thì chẳng lẽ bỏ qua cái gia đình của mình mà không Sửa, lẽ nào đành thấy người trong gia đình của mình chẳng biết lo tròn phận sự, mà mình nở bỏ qua không dạy không sửa hay sao? Nếu mình bỏ qua đi, thì chỉ nghĩa rằng mình không biết làm nghĩa vụ của mình cho tròn, thì cái Nhơn Cách của mình ở đâu? Nếu mình biết lo Nhơn Cách của mình cho tròn, thì thấy trong gia đình của mình nếu có ai là người chẳng biết Sửa mình, thì mình phải dạy họ cho biết; họ biết được rồi, họ làm được rồi, thì chíng là người trong cái gia đình của mình đều biết được Tu Thân đó. Người trong gia đình của mình đều biết và làm được sự Tu Thân, thì gia đình mình được vui vẻ đầm ấm, trật tự, thuận hòa, ấy chính nghĩa là Tề Gia đó, vì Tề Gia cũng nghĩa là Sửa Nhà cho có trật tự.

The Confucian books teach: from the highest, the Son of Heaven, down to the lowest, the common people, everyone without exception must take reforming oneself as the root. For once each person has Reformed himself, he surely will not pass over his own family without Reforming it. Could he bear to see someone in his family not knowing to fulfill their duty, and pass it by without teaching and correcting them? If he passed it by, that would only mean he does not know how to fulfill his own duty; then where is his Character? If he knows to fulfill his Character, then seeing anyone in his family who does not know how to Reform themselves, he must teach them to know; once they know, once they can do it, then the people of his family all know Self-Cultivation. When the people of his family all know and practice Self-Cultivation, the family is joyful, warm, orderly, and harmonious — that is precisely the meaning of Regulating the Family (Tề Gia), for Tề Gia means Setting the House in order.

Hễ Nhà được yên rồi, trong Làng Xóm cũng được yên, vì Làng Xóm là nhiều cái Nhà mà hiệp nên chớ có chi, vậy nên Làng Xóm cũng gọi là một cái Tiểu Xã Hội vậy. Một cái Tiểu Xã Hội được yên, thì nhiều cái Tiểu Xã Hội khác cũng được yên, lần lần thành ra cả nước đều được yên, cả thế giới cũng đều được yên, ấy vậy gọi là chi đó, có phải gọi là Thiên Hạ Thái Bình hay không ? Thử coi Thiên Hạ Thái Bình như vầy là gốc tại đâu? Có phải gốc là do nơi mỗi mỗi người đều biết Tu Tâm, Tu Thân theo lời Khổng Phu Tử ta dạy hay không? Biết được vậy rồi, thì có lẻ đâu lại nở đổ tội cho Phu Tử dạy Luân Lý là quá thiên trọng về chủ nghĩa Cá Nhơn?

Once the House is at peace, the Village too is at peace, for a Village is nothing but many Houses joined together; so the Village is also called a Small Society. When one Small Society is at peace, many other Small Societies are at peace too, gradually until the whole country is at peace, and the whole world is at peace. What is that called — is it not called Great Peace Under Heaven (Thiên Hạ Thái Bình)? Consider: where is the root of such Great Peace Under Heaven? Is its root not in each and every person knowing to Cultivate the Heart and Cultivate the Self as our Confucius taught? Knowing this, how could anyone bear to blame the Master, saying his teaching of Ethics overemphasizes individualism?

Cái mụch đích Chủ Nghĩa Cá Nhơn (le Principe de l’Homme – Humanity Principle) của Khổng Phu Tử dạy, là dạy mỗi người phải đều lo tròn Đạo Đức của mình, lo tròn Nghĩa vụ của mình, mỗi việc đều phải đến cho được cái địa vị Chí Thiện. Còn cái tiếng Cá Nhơn Chủ Nghĩa (Principle de l’Individualité – Individuality Principle) của người đời nay hay dùng đặng nói đó, là chỉ cho mỗi người ai ai cũng phải đều lo lấy cái tư lợi, lo ích kỷ, lo được riêng phần mình, chẳng quản phần người khác sống chết thế nào. Xin chư tôn chớ lẩn lộn hai cái chủ nghĩa, hai cái thuyết này, vì tiếng Chủ Nghĩa Cá Nhơn là làm theo Chánh Lý Đạo người Quân Tử phái làm (Quân Tử vụ ư nghĩa), còn tiếng Cá Nhơn Chủ Nghỉa là làm theo tình đời của hạng Tiểu Nhơn (Tiểu nhơn vụ ư lợi). Ấy bốn tiếng Chủ Nghĩa Cá Nhơn và Cá Nhơn Chủ Nghỉa nghe qua, nếu không phân biệt thì rất dể mà lầm, vì sự hành vi nó trái hẳn với nhau dường như mặt trời với mặt trăng vậy.

The aim of the Principle of the Person (Chủ Nghĩa Cá Nhơn — le Principe de l’Homme, the Humanity Principle) that Confucius taught is to teach each person to fulfill his own Moral Virtue, fulfill his own Duty, and bring every affair to the station of Utmost Goodness. Whereas the term Individualism (Cá Nhơn Chủ Nghĩa — Principe de l’Individualité, the Individuality Principle) that people today often use refers to each person caring only for his private gain, self-interest, his own portion, regardless of whether others live or die. I ask you, honored ones, not to confuse these two doctrines, these two theories. For the Principle of the Person means acting according to the right Principle that the Way of the Noble Person requires (“the noble person is concerned with righteousness” — Quân Tử vụ ư nghĩa), while Individualism means acting according to the worldly feelings of the Petty Person (“the petty person is concerned with profit” — Tiểu nhơn vụ ư lợi). Those four-word terms, Chủ Nghĩa Cá Nhơn and Cá Nhơn Chủ Nghĩa, on first hearing are very easily confused if not distinguished, yet their conduct is as opposite as the sun and the moon.

Dùng một cái ví dụ này nữa thì chúng ta thấy rõ. Ví dụ : một cái nhà trường là chỗ để hiệp lại nhiều tên sĩ tử, mà cái nhà trường lại được nổi tiếng, là nhờ nơi đâu? Có phải là nhờ mỗi tên sĩ tử đều biết lo tròn nghĩa vụ của mình chăng? Một cái xưởng công nghệ, là chỗ hiệp lại nhiều tên nhơn công, mà cái xưởng lại được có danh, cũng là nhờ mỗi người công nhơn trong xưởng đếu biết lo tròn phận sự. Một cái sư đoàn là chỗ nhiều tên quân lính hiệp lại đặng rèn tập, mà cái sư đoàn ấy lại được ngợi khen là cũng nhờ nơi mỗi tên lính đều biết lo xong, lo tròn trách nhậm của mình đó. Một cái gia đình, một cái gia tộc, là chỗ hiệp nhiều người bực làm con, nhiều người bực làm em mà nên. Nếu mỗi tên làm con, mỗi tên làm em, đều biết lo tròn phận sự của mình, đều biết được nghĩa vụ của mình, đều biết giữ luân lý đặng gìn giữ danh tiếng cho gia đình cho được bình yên trật tự, thì cái gia đình gia tộc ấy được danh thơm tiếng tốt. Nay chúng ta hiệp nhiều cái trường học ấy lại, hiệp nhiều cái công xưởng ấy lại, hiệp nhiều cái gia tộc ấy lại, thì thành ra một nước, mà nước ấy lại nổi danh, thì có phải đều là do nơi mỗi tên sĩ tử, mỗi tên nhơn công, mỗi tên quân lính, mỗi tên làm con, làm em, đều biết lo tròn Nghĩa vụ Cá Nhơn của mình mà ra đó chớ nào có lạ chút nào. Ấy là cái Chủ Nghĩa Cá Nhơn của Khổng Phu Tử ta dạy, là dạy mỗi người đều phải lo tròn phận sự của mình cho tận thiện tận mỹ, đặng hiệp chung lại cho nên một cái sự nghiệp cả thể cho quốc gia, cho Xã Hội, chớ nào có phải dạy cái Cá Nhơn Chủ Nghỉa như hoàn cảnh ngày nay đương chủ trương lo tư kỷ đó đâu.

One more example will make it clear. Take a school, a place where many students gather: what makes that school famous? Is it not that each student knows to fulfill his own duty? A workshop is a place where many workers gather; the workshop gains a name likewise because each worker in it knows to fulfill his task. A military division is a place where many soldiers gather to train; that division is praised likewise because each soldier knows to complete and fulfill his responsibility. A family, a clan, is made up of many who are children and many who are younger siblings. If each child and each younger sibling knows to fulfill his role, knows his duty, knows to keep the moral bonds so as to guard the family’s name and keep it peaceful and orderly, then that family and clan gains a fragrant name and good repute. Now join many such schools together, many such workshops, many such clans, and they make a nation; and if that nation becomes renowned, is it not all because each student, each worker, each soldier, each child and younger sibling knows to fulfill his own Individual Duty? There is nothing strange in it at all. That is the Principle of the Person (Chủ Nghĩa Cá Nhơn) taught by our Confucius: teaching each person to fulfill his role to utmost goodness and utmost beauty, so as to join together into one whole work for the nation and for Society — not teaching the Individualism (Cá Nhơn Chủ Nghĩa) of self-interest that the present age is championing.

Cái Tinh Thần Nhà Nho của Khổng Phu Tử đã dạy như đã nói sơ lược nơi trên đó, vậy thì nếu ai ai cứ đều do theo cái tôn chỉ đó mà làm theo, đặng Tu lấy cái Thân mình, thì lo chi Thân không được yên, Nhà không được vững, Nước không được thạnh trị, Thiên Hạ không được thái bình! Người nào được sửa mình theo lề luật ấy mới được gọi rằng là Người Nhà Nho, mới được gọi rằng người trong cửa Nhà Nho, mới được gọi rằng người Quân Tử Nhà Nho. Nếu được gọi là người Quân Tử Nhà Nho rồi, thì xử vào cái hoàn cảnh nào chẳng luận,  thì cũng đều làm cho hoàn cảnh ấy đều được đầm ấm êm đềm bình an hết thảy. Tiếc vì người Quân Tử Nhà Nho ngày nay ít gặp, ít thấy, mà cũng ít nghe, trái lại người tiểu nhơn Nhà Nho thì đâu đâu cũng gặp, xứ xứ cũng thấy. Vì bực tiểu nhơn Nhà Nho này quá nhiều nên mới gây ra cái tiếng chẳng tốt chẳng lành chung cho Đạo Nho, mà hại cho danh giá của Khổng Phu Tử nữa.

The Spirit of the Confucian House taught by Confucius is as briefly described above. If everyone followed that principle and acted accordingly, to Cultivate his own Self, what worry would there be that the Self would not be at peace, the House not firm, the Country not well governed, and All Under Heaven not in Great Peace! Only one who reforms himself by those rules may be called a Person of the Confucian House, one within the gate of the Confucian House, a Noble Person of the Confucian House. Once one may be called a Noble Person of the Confucian House, then whatever circumstances one is placed in, one makes those circumstances warm, gentle, and peaceful for all. The pity is that today Noble Confucians are seldom met, seldom seen, and seldom heard of; on the contrary, Petty Confucians are met everywhere and seen in every land. Because these Petty Confucians are so many, they have given the Confucian Way as a whole a bad and unwholesome name, and harmed the reputation of Confucius as well.

Muốn biết Tiểu Nhơn Nho là người thể nào, kỳ sau tôi sẻ giải tiếp, đặng phân biện cho trọn cái vấn đề.

What sort of person a Petty Confucian is, I will explain next time, so as to settle the question fully.

Kỳ trước tôi có hẹn với anh em rằng tôi sẻ giải tiếp đặng phân biện cho rành sao gọi là bực Quân Tử Nhà Nho, sao gọi là bực Tiểu Nhơn Nhà Nho. Trước khi chỉ rõ sao rằng là Tiểu Nhơn Nho, thì tôi xin phải giải nghĩa hai tiếng Quân Tử và Tiểu Nhơn ra cho rành cho mỗi người đều hiểu được hai cái danh từ ấy cho đúng, thì để phân biệt Quân Tử Nho với Tiểu Nhơn Nho, vì hai tiếng này cũng là tiếng Danh Từ vậy.

Last time I promised you, my brothers, that I would continue, to distinguish clearly what is called a Noble Confucian and what is called a Petty Confucian. Before showing clearly what a Petty Confucian is, I must explain the two words Quân Tử (Noble Person) and Tiểu Nhơn (Petty Person) clearly, so that everyone understands these two terms rightly, and can then distinguish the Noble Confucian from the Petty Confucian, since these two words are likewise terms

.

Hai tiếng Quân Tử và Tiểu Nhơn, thường hay ở cửa miệng của người nhà Nho, vì trong sách Nho dùng hai tiếng này đã lâu và đã nhiều rồi, chẳng khác chi đời nay nói bực Thượng Lưu hay là bực Hạ Lưu vậy, ai cũng biết nói, song le tưởng cũng ít người hiểu cho đúng mà dùng trong khi chỉ vào một bực người nào hay một hạng người nào, vì Thượng Lưu cũng có Tiểu Nhơn mà Hạ Lưu cũng có Quân Tử vậy.

The two words Quân Tử and Tiểu Nhơn are always on the lips of Confucians, for the Confucian books have used them long and often — just as today we say “upper class” or “lower class.” Everyone can say them, yet I think few understand them rightly when applying them to a certain person or class of people; for the upper class too has its Petty Persons, and the lower class too has its Noble Persons.

Thường thường người ta gọi người nào có văn học, ăn trên ngồi trước, giàu sang, nói chi thì người ta nghe nấy v.v. là người Quân Tử ; trái lại ai không ăn học chữ nghĩa, nghèo hèn, nói chi thì người ta bác bẻ, ấy là Tiểu Nhơn. Có người lại cho rằng : Hễ ai sai khiến người được thì là Quân Tử, còn ai bị người sai khiến thì là Tiểu Nhơn. Giải nghĩa danh từ và đặc tên hạng người như vậy thật sái hẳng với chánh nghĩa của hai danh từ ấy.

Usually people call someone a Noble Person if he is educated, sits in the seat of honor, is wealthy and of high rank, and whatever he says is heeded, and so on; and on the contrary, whoever is unlettered, poor and lowly, and contradicted whenever he speaks, is a Petty Person. Some even hold that whoever can command others is a Noble Person, and whoever is commanded by others is a Petty Person. Defining the terms and naming classes of people this way is utterly contrary to the true meaning of the two terms.

Khổng Phu Tử có kêu thầy Tử hạ dạy rắng : « Nhữ vi Quân Tử Nho, vô vi Tiểu Nhơn Nho », nghĩa là : nhà ngươi hãy làm người Nho bực Quân Tử, chớ làm người Nho bực Tiểu Nhơn. (Le Philosophe, interpellant Tseu Hia, lui dit : Que votre savoir soit le savoir d’un homme supérieur et non celui d’un homme vulgaire – G. Pauthier). Thầy Tử Hạ là một bực đệ tử trong hàng thứ nhứt của Khổng Phu Tử, mà Ngài còn răn dạy như vậy thay, vậy thì nào có phải ai là người có học mới được gọi là Quân Tử đâu. Lại Khổng Phu Tử cũng có nói : « Quân Tử dụ ư nghỉa, Tiểu Nhơn dụ ư lợi », nghĩa là : người Quân Tử thì hiểu rõ bên phần Thiên Lý hơn, còn kẻ Tiểu Nhơn lại hiểu rõ bên phần nhơn dục hơn. (L’homme supérieur est influencé par la justice, l’homme vulgaire est influencé par l’amour du gain – G. Pauthier). Xét câu này thì càng rõ không phải ai giàu có sang trọng thì là Quân Tử hết thảy, vì kẻ Tiểu Nhơn xảo bên đường mưu lợi lắm, hễ gặp việc chi hoặc tín điều chi, thì cũng sẵn có cái kế quyệt xảo đặng làm cho ra tư lợi rồi, ngoài cái việc lợi, thì phe ấy không còn đếm tới việc chi là phải quấy là nhơn nghĩa nữa, vì vậy nên bực người này mới giàu sang cho; còn người Quân Tử thì bo bo lo làm việc phải, thì nào dược giàu có bao giờ. Dùng hai câu của Khổng Phu Tử nói trên đây mà so sánh, thì thấy rõ Quân Tử với Tiểu Nhơn khác nhau là tại nơi Đức Tánh thể nào mà thôi, chớ không phải tại nơi học nhiều, hay là giàu sang mà gọi là Quân Tử, còn trái lại là Tiểu Nhơn đâu!

Confucius once called Master Zixia (Tử Hạ) and taught him: “Nhữ vi Quân Tử Nho, vô vi Tiểu Nhơn Nho” — that is: “Be a scholar of the Noble kind, not a scholar of the Petty kind.” (The Philosopher, addressing Zixia, said to him: “Let your learning be the learning of a superior man and not that of a vulgar man” — G. Pauthier.) Master Zixia was among the foremost rank of Confucius’s disciples, and yet the Master still admonished him so; so it is surely not true that whoever is educated may be called a Noble Person. Confucius also said: “Quân Tử dụ ư nghĩa, Tiểu Nhơn dụ ư lợi” — that is: “The Noble Person understands best the side of Heaven’s Principle (Thiên Lý), the Petty Person understands best the side of human desire.” (The superior man is influenced by justice; the vulgar man is influenced by love of gain — G. Pauthier.) Examining this saying makes it all the clearer that not everyone wealthy and noble is a Noble Person; for the Petty Person is very cunning in the ways of scheming for profit — whatever affair or article of belief he meets, he already has some crafty plan to turn it to private gain; and beyond profit, that sort gives no thought to right or wrong, to benevolence or righteousness. That is why such people get rich and noble; whereas the Noble Person clings to doing what is right, so when would he ever get rich? Comparing these two sayings of Confucius, one sees clearly that the Noble Person and the Petty Person differ only in their Virtuous Nature (Đức Tánh) — not that much learning or wealth and rank make one a Noble Person and the opposite a Petty Person!

Người ở đời mà phê bình tư cách người ta bằng hai tiếng Quân Tử hay là Tiểu Nhơn, thì cũng đủ vinh cho người được khen và nhục cho người bị chê đó rồi; song le nếu phê như lời tôi đã nói ở trước rằng: «hễ ai có văn chương chữ nghĩa, giàu có sang trọng, ăn trên ngồi trước v.v. thì là Quân Tử, còn trái lại là Tiểu Nhơn», thì thật nhiều người bị chê hay là được khen đều không đúng như lời phê.

When people of the world appraise someone’s character with the words Noble Person or Petty Person, that is enough to bring glory to the one praised and disgrace to the one criticized. But if one judges as I said before — “whoever has literary learning, wealth and rank, sits in the seat of honor, etc., is a Noble Person, and the opposite is a Petty Person” — then truly many who are criticized or praised do not match the judgment at all.

Luôn đây, tôi cũng xin trưng một vài lời của Khổng Phu Tử chỉ rõ các đức tánh sai biệt của quân tử và tiểu nhơn là thể nào cho chư tôn gẩm xét (rút trong Luận Ngữ).

Herewith I would also cite a few words of Confucius showing clearly how the virtues of the noble and the petty person differ, for your consideration, honored ones (drawn from the Analects, Luận Ngữ).

Một: «Quân Tử thân đảng đảng, Tiểu Nhơn trường thích thích» nghĩa là: Người Quân Tử rộng rải, mỗi việc đều do nơi Thiên Lý mà làm, ở địa vị nào thì làm theo địa vị nấy, trên không hổ với Trời, không xấu với Tông Môn, dưới không thẹn với Đất, không để danh nhơ với nhơn quần xả hội, nên không một giờ khắc nào mà tâm địa không được vui vẻ thơ thới bình thường hoài; còn kẻ Tiểu Nhơn thì hãy bị vật dục sai khiến, bo bo cứ việc mưu lợi, một cái lợi nhỏ cũng không bỏ, dám làm đến việc cang danh phạm nghĩa đặng kiếm một món lợi chi đó, hay là kiếm một lời khen chi đó, chẳng kể cái lợi đó hay tiếng khen đó là vinh hay là nhục, miểng là được vinh mặt vinh mày một lúc với bạn bè thì thôi, vì vậy nên kẻ Tiển Nhơn không giờ phút nào mà không sầu não ái ngáy lo ngại cắn rức trong lòng. (L’homme supérieur a de l’égalité et de la tranquilité d’âme; l’homme vulgaire épouvre sans cesse du trouble et de l’inquiétude – G. Pauthier).

First: “Quân Tử thản đãng đãng, Tiểu Nhơn trường thích thích” — that is: The Noble Person is broad and at ease; he does every affair according to Heaven’s Principle; in whatever station he is, he acts according to that station; above, he is not ashamed before Heaven nor disgraced before his ancestral lineage; below, he is not abashed before Earth nor leaves a stained name before the community and society; so there is not one hour or moment when his heart is not joyful, untroubled, and at peace. But the Petty Person is driven by material desire, clinging to schemes for profit, not letting go of even a small gain, daring to go against his name and violate righteousness to get some gain or some word of praise, not caring whether that gain or praise is glory or shame, so long as he can show a proud face to his friends for a moment. That is why there is not an hour or minute when the Petty Person is not sorrowful, anxious, fretful, and gnawed within. (The superior man has evenness and tranquility of soul; the vulgar man feels ceaseless trouble and disquiet — G. Pauthier.)

Hai: «Quân Tử Châu nhi bất Tỷ; Tiểu Nhơn Tỷ nhi bất Châu», nghĩa là: Muốn phân biệt sao gọi là Quân Tử, sao gọi là Tiểu Nhơn, thì xét những tánh tình cư xử và những sự hành vi của người nào ấy coi thuộc về Công hay là Tư thì mới rõ thấy. Xưa nay dầu cho bực Quân Tử hay là Tiểu Nhơn chi chi cũng vậy, cũng phải có người quen lớn thân thích, nên mới có kẻ hậu người bạc, kẻ thương người ghét; lại cũng có lúc xử việc này thì vầy, xử việc khác thì khác; hoặc là phải tùy theo thời thế mà thay đổi chế biến cái tư cách cùng là phận sự trong lúc phải làm, chẳng khác chi Trời ban ngày phải sáng mà ban đêm phải tối vậy, lúc thì phải có trăng cho tròn, mà có lúc lại cũng phải không có một chút ánh sáng vậy. Nhưng mà những lúc như vậy phải cho Công lý kìa mới được gọi là Quân Tử, bằng Tư tâm ích kỷ, vụ Lợi riêng, vụ Danh riêng, vụ báo cừu riêng, hay là rửa nhục riêng, mà chẳng quản đến sự Công lợi Công ích cho nhơn quần, chẳng nhớ trước liệu sau xét coi sự làm ấy, hoặc là nó sẻ làm cho tài sản, hoặc cho danh giá, hoặc cho nhơn sanh sẻ ra thể nào, chỉ lo ích kỷ mà thôi, người như vậy ấy chánh là kẻ tiểu nhơn vậy. (L’homme supérieur est celui qui a une bienveillance égale pour tous, et qui est sans égoisme et sans partialité. L’homme vulgaire est celui qui n’a que des sentiments d’égoisme sans disposition bienveillante pour tous les hommes en général – G. Pauthier).

Second: “Quân Tử Châu nhi bất Tỷ; Tiểu Nhơn Tỷ nhi bất Châu” — that is: To distinguish what is a Noble Person and what is a Petty Person, look at a person’s dispositions, dealings, and conduct, and see whether they belong to the Public good or the Private; then it becomes clear. From of old, whether Noble or Petty, everyone has acquaintances, elders, and kin, and so there are those treated generously and those treated thinly, those loved and those disliked; and there are times when one matter is handled one way and another matter another way; or one must change and adapt one’s manner and duty according to the times, just as Heaven must be bright by day and dark by night, sometimes with a full moon and sometimes with not a speck of light. But in such times, only one who keeps to Public justice may be called a Noble Person. Whoever acts from a private, self-serving heart — seeking private gain, private fame, private revenge, or to wipe out a private shame — without regard for the common gain and common good of the community, without looking back or ahead to consider what that action will do to property, to reputation, or to the people, caring only for self-interest — such a one is precisely a petty person. (The superior man is one who has an equal benevolence for all, and who is without egoism and without partiality. The vulgar man is one who has only feelings of egoism, without benevolent disposition toward all men in general — G. Pauthier.)

Ba: «Quân Tử Hòa nhi bất Đồng, Tiểu Nhơn Đồng nhi bất Hòa». Như đoạn trên đã nói, muốn phân biện sao cho rõ ai là quân tử, ai là tiểu nhơn, thì hãy xét tánh tình cữ chỉ hành động của người ấy coi coi lo về nơi việc Công nghĩa hay là chuyện Tư lợi, vụ no cái Nhơn tâm hay là vụ vung bồi Thiên lý, vụ cho nên Nghĩa lớn hay là vụ kiếm Lợi vặc ? Nói cho thật kỷ, người muốn biên biệt Quân Tử với Tiểu Nhơn, thì chỉ nên xét cái tư tưởng của người kia Công hay Tư là đủ, song le Công hay Tư chẳng phải tự nơi mình phán đoán riêng theo Tư ý của mình, rồi giẩn dụ cho người khác theo phe mình đặng phán đoán. Nếu mình làm như vậy, thì chỉ nghĩa rằng mình Vị Ngã, Ích Kỷ, Tư Tâm dầu cho mình tuy gọi là người đứng vào hạng phê bình, mà chính mình là Tiểu Nhơn đó, tiểu nhơn tiềm tâm ích kỷ.

Third: “Quân Tử Hòa nhi bất Đồng, Tiểu Nhơn Đồng nhi bất Hòa” (The Noble Person is in Harmony but not in Conformity; the Petty Person is in Conformity but not in Harmony). As said in the passage above, to distinguish clearly who is noble and who is petty, look at a person’s dispositions, bearing, and actions, and see whether he is concerned with Public righteousness or private gain, with feeding the Human Heart or with banking up Heaven’s Principle, with accomplishing great Righteousness or with grabbing petty Profit. To put it precisely: one who wishes to distinguish the Noble from the Petty need only examine whether the other’s thought is Public or Private. But whether it is Public or Private is not something to judge privately by one’s own Private opinion and then lure others to one’s faction to judge with one. If one does so, it only means one is Self-centered, Self-serving, Private-hearted; though one may call oneself a person in the role of critic, one is oneself a Petty Person — a petty person with a hidden self-serving heart.

Muốn biết cái tánh tình cữ chỉ hàng động của bực Quân Tử, thì là khó, hãy xét lời Khổng Phu Tử nói trên đó thì rõ. Người Quân Tử biết Đạo có Một, mà Người thì vẫn nhiều; vì vậy nên xử với Người thì trong lòng vẩn biết dùng Đạo mà giúp nhau, việc hư nên quấy phải cũng đều nương sự Học đam ra dùng, đặng làm Nên cho nhau, chẳng hề bưng bợ nịnh hót lùa dở; dầu trong những công việc làm, tuy là ý tứ có khác nhau nên cải cọ  nhau, nhưng mà những sự cải cọ ấy đều là vụ cho ra lẻ phải mà thôi, nên người ngoài thấy vậy gọi là chẳng đồng ý kiến, song thật trong lòng vốn chỉ có một mục đích là xét và làm cho được cùng lý mà thôi, nên dầu ý kiến tuy Chẳng Đồng, mà tâm chí tánh tình vẫn Hòa Hiệp với nhau; chẳng khác chi trong một bửa cơm tuy chẳng có món nào giống món nào, món thì cay, món thì mặng, món thì lặt, món kia chát, món nọ chua, nhưng mà nhờ nó khác tánh như vậy, mà người đầu bếp biết hiệp nó lại, nêm nếm cho nó hòa lại với nhau, thì ăn mới đẹp miệng. Ấy gọi là Hòa với nhau mà chẳng Đồng nhau vậy. Tiểu nhơn thì tư cách trái hẳng. Tiểu nhơn thì vụ sự a dua bợ đở, một người nói ra nhiều người Rập theo một phía, Đồng nhau một khuôn chẳng cần chi phải quấy, việc không nói có, chẳng đếm chi sự nên hư nó biết Đồng nhau bề ngoài, mà nó không biết Hòa nhau bề trong, nên nó phải rả, phải mòn, phải tiêu. Ấy gọi là Hòa mà chẳng Đồng vậy. (L’homme supérieur vit en paix avec tous les hommes, sans toutefois agir absolument de même. L’homme vulgaire agit absolument de même, sans toutefois s’accorder avec eux – G. Pauthier).

To know the dispositions, bearing, and actions of the Noble Person is hard; examine Confucius’s words above and it becomes clear. The Noble Person knows the Way is One, while People are many; so in dealing with People he always knows to use the Way to help one another; in matters of failure and success, wrong and right, he draws on his Learning to help one another Succeed, never flattering, fawning, or coaxing. Even in the work they do, though their ideas differ so that they argue with one another, those arguments aim only at arriving at what is right; so outsiders seeing it say they disagree, yet truly their hearts have only one aim — to examine and act in full accord with principle. So though their opinions are Not the Same, their hearts, wills, and dispositions remain in Harmony with one another. It is like a meal in which no dish is like another — one is spicy, one salty, one bland, one astringent, another sour — yet because their natures differ, the cook knows how to combine them and season them into harmony, and only then is the meal delightful. That is called being in Harmony without being the Same. The Petty Person’s manner is quite the opposite. The Petty Person aims at echoing and fawning: one speaks, and many fall in on one side, all Alike in one mold, with no care for right or wrong, saying a thing exists when it does not, giving no thought to success or failure. They know how to be Alike outwardly but do not know how to be in Harmony inwardly; so they must fall apart, wear away, and vanish. That is called being Alike without being in Harmony. (The superior man lives in peace with all men, without however acting absolutely the same. The vulgar man acts absolutely the same, without however being in accord with them — G. Pauthier.)

Bốn: Hỏi: Nếu như trên đã nói, bực Quân Tử thì hòa với nhau mà chẳng Đồng nhau, vậy Hòa với nhau hoài, lâu ngày sau khỏi thành phe đảng? Còn nếu xử sự mà không Đồng nhau, thì tánh nết phải phải cương quyết nghiêm nghị, lâu ngày sao cho khỏi chích mích? Nếu chích mích nhau thì phải xa cách nhau, vậy thì làm sau mà Hiệp với nhau cho được mà gọi là Hòa ? Nếu Hòa với nhau thì tâm tánh phải Đồng nhau, vậy thì chẳng khỏi thành ra phe đảng thì hóa ra chẳng khác Tiểu Nhơn. Vậy thì biết làm sao cho vuôn tròn được?

Fourth — Question: If, as said above, Noble Persons are in Harmony without being Alike, then if they keep being in Harmony, will they not in time form a faction? And if in handling affairs they are not Alike, their natures must be firm and stern; how then, over time, can they avoid friction? If they have friction they must drift apart; then how can they Unite and be said to be in Harmony? And if they are in Harmony, their hearts and natures must be Alike, and then they cannot avoid forming a faction, becoming no different from Petty Persons. So how can one make it come out right?

Đáp: Lời hỏi ấy rất đúng, Khổng Phu Tử biết trước rồi, nên đã có dạy rằng: «Quân Tử căng nhi bất Tranh, Quân nhi bất Đãng», nghĩa là: tánh tình người Quân Tử rất ngay thẳng, nên trong những cơn ứng sự tiếp vật đều đứng vào con đường lể pháp, tuy thật là nghiêm nghị, là vì buộc mình phải theo luật Chơn Lý, không Tư vị, vụ công nghĩa chớ chẳng phải muốn tranh hơn thua chi với ai, tuy ở vào địa vị hay là hoàn cảnh có đông người, song chỉ biết có Đạo làm Gốc, chẳng chịu tùy theo thế tục tình đời a dua nịnh hót với ai. Đã chẳng chen giành hơn thua với ai, vậy thì nào có chích mích ai bao giờ! Nhờ vậy nên tuy Hòa với người mà chẳng hề để cho người làm cho mình phải xiêu trôi, vẫn đứng vững nơi địa vị Trung lập, vẫn cứ noi theo Công lý chánh giáo, trơ như đá, vững như trổng, chẳng khác một cây Đồng trụ đứng giửa giòng sông, chẳng hề bị giọt nước làm cho xiêu được. Tâm địa đã chánh đại quang minh như vậy, thì nào có phe đảng gì! (L’homme supérieur est ferme dans ses résolutions, sans avoir de différends avec personne; il vit en paix avec la foule, sans être dans la foule – G. Pauthier).

Answer: That question is very apt. Confucius foresaw it, and so taught: “Quân Tử căng nhi bất Tranh, Quần nhi bất Đảng” — that is: The Noble Person’s nature is upright and straight, so in all dealings with affairs and things he stands on the road of rites and law; he is indeed stern, because he binds himself to follow the law of True Principle, without Partiality, aiming at public righteousness and not wishing to contend with anyone for victory. Though he may be in a station or circumstance among many people, he knows only the Way as his Root and will not follow worldly customs and feelings to echo or flatter anyone. Since he does not jostle with anyone for victory, how would he ever have friction with anyone! Therefore, though he is in Harmony with others, he never lets others sway him; he stands firm in his position of the Mean (Trung lập), following public justice and the right teaching, unmoved as stone, firm as a post, like a Bronze Pillar standing in the middle of a river that no drop of water can sway. With a heart so upright, great, and luminous, what faction could there be! (The superior man is firm in his resolutions, without having quarrels with anyone; he lives in peace with the crowd, without being of the crowd — G. Pauthier.)

Trước đây tôi xin đem ít câu cách ngôn của Đức Khổng Phu Tử ra đặng xét cho đúng mực nghĩa của hai cái danh từ sao gọi là Quân Tử, sao gọi là Tiểu Nhơn. Còn muốn cho phân biệt sao gọi là Quân Tử Nho, sao gọi là Tiểu Nhơn Nho, thì xin độc giả hãy bước đến vài bước nữa thì thấy rõ.

Above I have brought forth a few maxims of Confucius to examine precisely the meaning of the two terms, what is called a Noble Person and what is called a Petty Person. As for distinguishing what is called a Noble Confucian and what is called a Petty Confucian, I ask the reader to take a few more steps, and it will become clear.

Ban đầu chúng ta trước xét từ cá nhơn đặng phân biệt quân tử và tiểu nhơn cho rành. Chúng ta dùng cây cân và cái gương theo những lệ luật mực thước của Khổng Thánh đã nói đó, thì chúng ta đã rõ từ người, từ người, từ hạng người, từ hạng người rồi, ai sao là đúng Quân Tử, còn ai sao là quân tử diện thị bối phi; ai sao là đúng tiểu nhơn, mà ai sao là tiểu nhơn đầu trộm đuôi cướp; vậy thì chúng ta hãy thoán con mắt qua thì đủ phân biệt được không lầm rồi; vậy nay chúng ta hãy xét sao gọi là người Nhà Nho? (Nghĩa sao gọi là người Nhà Nho, tôi đã giải nơi tạp chí số 1,2,3 rồi, nên đây tôi không đam vào nữa). Chúng ta trước đã xét từ Cá Nhơn của mỗi xưng rằng người Nhà Nho rồi, chúng ta đều phán đoán minh bạch không sai, vậy thì nay chúng ta đây cũng là Người Nhà Nho vậy, chúng ta hãy tự phán đoán lấy cá nhơn của mình thữ coi, coi tronh mình có mấy phần Quân Tử, mấy phần Tiểu Nhơn? Chúng ta gọi mình là Người Nhà Nho rồi, thì cái phần nào thuộc về Tiểu Nhơn mà nó đeo theo trong mình chúng ta đón ấy nó đều là Tiểu Nhơn Nho đó, hãy rức bỏ nó ra cho tuyệt; còn phần nào thuộc về hạng Quân Tử đó, thì phần ấy là Quân Tử Nho đó, hãy gìn giữ nó lại cho kỷ cang. Xét lời Khổng Phu Tử dạy Thầy Tử Hạ rằng: «Nhà ngươi hãy làm Quân Tử Nho, chớ làm Tiểu Nhơn Nho», xét rõ thì thấy Quân Tử hay Tiểu Nhơn là cái Đức Tánh mà thôi. Việc nào mình giữ lòng ngay thật chơn chánh, vụ nơi sự Công Nghĩa ấy là Tốt, ấy là Đức tánh của bực Quân Tử, trong những lúc như vậy thì mình được đứng vào địa vị Quân Tử Nho; còn những lúc nào không được vậy thì cũng là mình đây, mà mình phải biết mình rằng lúc này đó là lúc mình ở địa vị Tiểu Nhơn Nho vậy. Cũng là một mình mình, mà nếu mình phán đoán cho người ta được, thì tự mình cũng phải phân biệt lúc quấy lúc phải của mình, đặng mình tự sửa lấy mình cho chánh đại quang minh, phải diệc hết các tánh xấu xa trong mình cho đừng còn nữa, thì thấy những Đức Tánh Quân Tử Nho sẻ lộ ứng ra, khi ấy làm sao mà không Hòa với người Quân Tử Nho!

At first we examined from the individual, to distinguish the noble and the petty clearly. Using the scale and the mirror according to the rules and standards Confucius set out, we already know clearly, person by person and class by class, who is truly a Noble Person and who is a noble person in face but contrary at the back; who is truly a petty person and who is a petty person with a thief’s head and a robber’s tail. So we need only glance with our eyes to distinguish them without error. Now let us examine what is called a Person of the Confucian House. (The meaning of “Person of the Confucian House” I have already explained in issues 1, 2, and 3 of the magazine, so I will not include it again here.) We have already examined the Individual of each who calls himself a Person of the Confucian House, and our judgments were clear and correct. Well then, we too are People of the Confucian House; let us judge our own individual self and see: within us, how many parts are Noble and how many Petty? Having called ourselves People of the Confucian House, whatever part belongs to the Petty and clings to us — that is all Petty Confucianism; tear it out completely. And whatever part belongs to the Noble — that is Noble Confucianism; guard it carefully. Examining Confucius’s teaching to Master Zixia, “Be a Noble Confucian, not a Petty Confucian,” one sees clearly that Noble or Petty is only a matter of Virtuous Nature. In whatever affair we keep our heart upright, sincere, true, and right, and aim at Public Righteousness, that is Good, that is the Virtuous Nature of the Noble Person; at such times we stand in the station of the Noble Confucian. At other times, when we cannot do so, it is still the same self — but we must know ourselves, that at that moment we are in the station of the Petty Confucian. It is the very same one self; and if we can judge others, we must also distinguish our own wrong moments and right moments, so as to reform ourselves to be upright, great, and luminous, and must root out every vile trait within us so that none remains. Then the Virtues of the Noble Confucian will shine forth; and at that time, how could we not be in Harmony with Noble Confucians!

(Còn nữa).

(To be continued.)

Thoại Hà Nguyễn Hữu Phùng

(1935)

Bài trừ mê tín nước Nam

Eradicating Superstition in Vietnam

Đức Hổn Ngươn Thiên Sư

(His Holiness the Primordial Celestial Master)

Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài

Director of the Hiệp Thiên Đài

Mỹ Tho, 8 Jan 1935

Đức Chí Tôn mở Đại Đạo Tam Kỳ ngày nay, là giốc phá cái mê muội của chúng sanh đặng đem về đường Chơn Lý. Vậy thì những người nào lảnh cái trách nhậm dìu dắc chúng sanh ấy phải có cái can đảm, cái nghị lực đặng phá những mê tín vô lối của chúng sanh mới được, chẳng lẻ chìu theo thói củ tục xưa, mỗi việc mỗi tin càng, mỗi sợ mích lòng mà gọi rằng là Chơn Lý.

Đức Chí Tôn (the Supreme Being) opens the Great Way of the Third Period today resolved to break the delusion of living beings and bring them back to the road of True Principle. Therefore, whoever takes up that responsibility of guiding living beings must have the courage and the strength of will to break down living beings’ groundless superstitions; one cannot go along with old ways and ancient customs, believing everything blindly and fearing to offend anyone, and call that True Principle.

Cái mê tín của thói tục nước Nam chẳng có chi hơn là cái mê Cúng Lạy các bụt Thần, chẳng luận là phải quấy chi hết, vì gọi cúng lạy như vậy là được Phước, bằng chẳng vậy thì là có Tội; chớ họ chẳng chịu xét rằng Tội hay Phước là tại nơi mình làm, hễ làm lành thì gặp Phước còn làm dử thì bị Tội. Đã chẳng biết bao nhiêu sách vở của Thánh Hiền xưa để lại dạy bảo rằng Trời không tư vị ai, Trời không vì có cúng có lạy mà ban phước, mà vì không cúng lạy mà Trời oán hại ai, nhưng than ôi, những lời nói phải, nói ngay thì ít ai chịu để tai vào, còn như những lời cám dổ quỉ ma thì nhiều người ưng ý. Tại sao vậy? Là tại ít người có can đảm nghị lực đứng đợt ra mà biện biệt sự phải sự quấy cho nhơn sanh rõ đó, dầu cho có làm đi nữa, là cũng nói sơ qua một vài lần rồi thôi, chớ không ai chịu gánh vát làm cái việc phải cho đến cùng. Cái người biết phải đã ít, mà lại còn ít nói, ít chịu gánh vát, còn bọn gạt gẩm chúng sanh thì lại nhiều, nhiều chẳng biết bao nhiêu mà kể, nhiều cho đến đổi đủ các hạng người, nhứt là bọn thầy chùa, bọn nhơn bông, bọn phù thủy, bọn pháp môn, bọn bóng chàng đồng cốt, bọn coi ngày, coi giờ, coi sao, coi hạng, bọn chữ nho hủ lậu, bọn văn sĩ tài quèn, thì lại càng Mê Tín hơn hết. Cái Mê Tín của bọn này nó đã nhuốm vào óc, thấm vào xương đã lâu rồi.

The superstition of our Vietnamese customs is nothing so much as the craze for making offerings and bowing to every idol and spirit, regardless of right or wrong, because people say that making offerings and bowing in this way brings Blessing, and that not doing so is a Sin. They will not consider that Sin or Blessing lies in what one does oneself: do good and one meets Blessing; do evil and one incurs Sin. Countless books left by the Sages and Worthies of old teach that Heaven is partial to no one; Heaven does not bestow blessings because one makes offerings and bows, nor harm anyone in resentment for not making offerings and bowing. But alas, few will lend an ear to right and straight words, while many welcome the tempting words of ghosts and devils. Why is that? Because few have the courage and will to step forward and distinguish right from wrong so that the people see clearly; and even when someone does, he says it briefly once or twice and stops; no one will shoulder the right work to the end. Those who know what is right are few, and they speak little and shoulder little; whereas those who deceive living beings are many — more than can be counted — so many that they span every kind of person: above all the temple monks, the “nhơn bông” ritualists, the sorcerers, the magic-sect practitioners, the spirit mediums and trance dancers, the readers of auspicious days, hours, stars, and fates, the moldy old Chinese-letters pedants, and the paltry men of letters — they are the most Superstitious of all. The Superstition of this crowd has long since dyed their brains and soaked into their bones.

Xét rõ kỷ lại coi sự Mê Tín này có từ bao lâu nay? Mê Tín mà gọi rằng là theo Đạo Phật, tưởng rằng làm chay, làm mã mà vớt vong hồn khỏi sa đọa địa ngục, là từ đời Đường đến nay (lối 1000 năm), thạnh hành từ đời Hậu Lương đến nay (lối 800 năm).

Look closely: how long has this Superstition existed? Superstition calling itself a following of Buddhism, imagining that holding requiem fasts and burning paper effigies can rescue lost souls from falling into hell, dates from the Tang dynasty to now (about 1,000 years), and has flourished from the Later Liang to now (about 800 years).

Mê Tín mà gọi rằng là theo Đạo Tiên, tưởng rằng cúng Tiên Thánh thì được phước, có từ đời Nam Tống (đến nay ước 700 năm). Trên đây tôi kể về thời đại bên Tàu đó.

Superstition calling itself a following of Taoism, imagining that making offerings to Immortals and Sages brings blessing, dates from the Southern Song (about 700 years ago). Here I am counting the periods in China.

Còn nước Nam ta là nước hấp thụ văn hóa của Tàu, nên đạo Lão, đạo Phật mới có thể tràng lang qua được. Hai Đạo này tràng qua nước Nam là từ đời Lý, đến nay lối 500 năm.

As for our Vietnam, it is a country that absorbed Chinese culture, which is why Taoism and Buddhism could spread over to it. These two Ways spread to Vietnam from the Lý dynasty, about 500 years ago.

Xét lúc thời đại Mê Tín còn ở bên Tàu, họ tưởng rằng làm chay là mở được cửa địa ngục, và cúng Tiên Thánh thì được phước đức to lớn, nên chẳng ai được phép làm, duy có một mình ông vua trong nước mới được làm mà thôi; vì vậy nên những việc này thì là phần vua làm. Tuy thì như vậy, mà chẳng phải mỗi vua mỗi làm, có ông thì không, có đời thì chịu, có đời thì bỏ, chớ không có bó buộc. Kịp đến trào nhà Thanh, trên 300 năm nay, vì vua Tàu là người Mảng Châu, mà người cầm quyền là mấy vị hoàng hậu, nên càng mê tín dị đoan hơn bội phần. Cũng vì người cầm quyền quá nỗi mê tín sự cúng kiến, nên các quan trong trào, cùng là những người ăn học trong nước, nếu muốn cho thân cận với vua thì đua nhau tìm kiếm cách này thế kia đặng đặt điều bày vẻ thêm vị Thần này vị Thánh nọ, phải cúng vía sanh vía tử, bằng chẳng vậy thì sẻ quở trách; hoặc là ngày nào vị Thần này đi tuần dương gian, vị khác đi tuần âm phủ…, không hơi đâu mà kể cho hết. Mà hễ vua trên ưng chịu rồi, thì cho lịnh in ra sách, chép vào lịch, đặng truyền ra cho nhóm dân cứ đó mà thi hành theo. Vì vậy nên sự truyền bá tư tưởng cúng kiến mới khắp cùng trong nước, mạnh ai muốn đặt điều chi thi đặt thêm, miển là cho no miệng ấm thân thì thôi, không ai cấm đoán chi. Bọn xẩm và kẻ hạ lưu thì lại mê tín phần đông nhiều hơn.

In the era when Superstition was still confined to China, people believed that holding requiem fasts could open the gates of hell, and that making offerings to Immortals and Sages brought great blessing and merit; so no one was permitted to perform them except the king of the country alone; these things were the king’s prerogative. Even so, not every king performed them — some did and some did not, some reigns accepted them and some abandoned them; there was no compulsion. Then came the Qing dynasty, over 300 years ago; because the Chinese emperors were Manchus, and those who held power were certain empresses, superstition and heterodoxy increased many times over. Because those in power were so obsessed with offerings, the court officials and the educated of the country, wishing to win the ruler’s favor, vied to find this way and that to invent and embellish yet another Spirit here and another Sage there, whose birth and death anniversaries must be observed with offerings or else they would scold; or on such a day this Spirit tours the world of the living, that one tours the underworld… — there is no breath enough to list them all. And once the ruler above approved, he ordered it printed in books and entered in the almanac, to be handed down to the people to observe accordingly. That is how the ideas of offering-making spread throughout the country; anyone who wished to invent something added it on, so long as it filled his belly and warmed his body, and no one forbade anything. The Chinese women and the lower classes were, for the most part, all the more superstitious.

Trên đây là tôi kể sơ lược sự Mê Tín dị đoan của bọn Tàu, khởi sự bắt đầu là lối 1000 năm nay, mà thạnh hành tràng lang ra cho đến thôn quê là mới 300 năm nay mà thôi.

Above I have briefly related the Superstition and heterodoxy of the Chinese, which began about 1,000 years ago, but flourished and spread out to the countryside only within the last 300 years.

Đây tôi kể sơ qua nước Nam mình.

Here I will briefly relate our own Vietnam.

Nước Nam từ khi Bắc Thuộc, thì có một vài vị Thánh Tăng trào Lý (lối 500 năm nay) biết rõ Chơn Lý Đạo Phật, nên lúc ấy người trong nước không quá mê tín; dầu cho có mê tín, là trọng những vị nào có hiển Thánh, có anh linh, mà trong nước mình có ngó thấy, hoặc là người của nước mình mà thôi, vì vậy nên trong nước thật là nhiều chùa, song chùa thờ người nào đều có sự tích hiển hích anh linh phò hộ nước nhà thôi, chớ không thờ Thần nước khác, mà trọng Phật thì nhiều, vì nước có Thánh Tăng. Như vậy, tuy là mê tín, song còn có chỗ đáng khen. Ấy thuộc về Trung Bắc lưởng kỳ đó. Kịp đến cuối trào Hậu Lê, lúc Nguyễn Trịnh tranh hùng, lối 200 năm nay, bọn giặc Hồng Tú Toàn ở Quản Đông thất bại, chạy qua trú ngụ nước Nam, khi ấy mới có một bọn ô hạp đó đến ở Biên Hòa Gia Định ta, mà bày đặt đem qua những vị Thần của xứ nó đặng thờ, và truyền bá những tư tưởng mê tín dị đoan của xứ nó cho Nam Kỳ ta đây, cũng nhứt là mấy chị xẩm chạy giặc đó nhiều chuyện hơn hết. Ôi cũng ông này, bà kia, vía kia, vía nọ, giấy tiền vàng bao, cò bay ngựa chạy, nói không xiết, xin lật lịch Ngọc hạp đó thì rõ, mà toàn là ai ở đâu mình không biết, người ở xứ nào mình cũng không quen, mà buộc người mình phải mua đồ của nó đặng cùng. Xét coi vì ý chi mà người khách dể truyền bá cái tư tưởng của họ cho người mình quá đi vậy? Cũng vì trong lúc ấy nước mình đương bị giặc loạn, mà khách thì cũng là ngươi chạy giặc, nên tin rằng hễ cúng vái Trời Phật cho thường thì nước sẻ bình yên; mà lòng người ai lại chẳng muốn cho nước được thái bình, nên cứ vái vái cúng cúng hoài, mà không suy xét chi hết.

In Vietnam, after the period of Chinese domination, there were a few Holy Monks under the Lý dynasty (about 500 years ago) who knew clearly the True Principle of Buddhism; so at that time the people of the country were not excessively superstitious. Even where there was superstition, people honored only those who had become manifest Sages, who had numinous power, whom our own country had witnessed, or who were our own people. That is why the country had very many temples, but each temple worshiped only someone with a history of manifest, numinous power protecting the nation — not the Spirits of other countries; and Buddha was much honored, since the country had Holy Monks. So, though it was superstition, it still had something praiseworthy. That pertains to the two regions of Central and Northern Vietnam. Then, toward the end of the Later Lê, when the Nguyễn and Trịnh contended for supremacy, about 200 years ago, rebels defeated in Guangdong (Quảng Đông) [the source names Hồng Tú Toàn — Hong Xiuquan], fled over to take refuge in Vietnam; and then a motley band of them came to live in our Biên Hòa and Gia Định, and brought over the Spirits of their own land to worship, and spread their land’s superstitious and heterodox ideas to our Cochinchina here — above all those Chinese women fleeing the war, who were the most given to such stories. Oh, this lord, that lady, this feast day, that feast day, votive paper money and gold, paper storks flying and paper horses galloping — more than can be told; just leaf through the Ngọc Hạp almanac and you will see. And all of them we know not who or from where, people of a land we are not acquainted with; yet our people are obliged to buy their goods to make offerings. Consider why the foreigners so easily spread their ideas to our people? It is because at that time our country was beset by war and rebellion, and the foreigners were likewise people fleeing war; so they believed that if one prayed and made offerings to Heaven and the Buddhas regularly, the country would be at peace. And whose heart does not wish the country to have peace? So people kept on praying and offering, without reflecting at all.

Ngày nay tuy rằng sự mê tín ấy đã quá lâu rồi, cha truyền con nối, sự dị đoan đã thâm nhiểm vào óc của họ rồi, tuy biết rằng là khó gở, nhưng tuy biết khó mà phái ráng gở mới là phải cho, được chút nào hay chút nấy. Huống chi trong nước ngày nay chẳng phải là lúc đại loạn như lúc Nguyễn Trịnh giao chiến, mà lúc này lại là lúc Đức Chí Tôn mở Tam Kỳ Đại Đạo, giao Chơn Lý cho Trung Ương cầm, đặng phá những sự mê tín của nhơn sanh, đặng dìu dắc họ về đường ngay lẽ chánh, nếu chúng ta chẳng gánh vát cái trách nhậm ấy, thì ai vô đây mà chịu cho?

Today, though this superstition is very old, handed down from father to son, and heterodoxy has deeply soaked into people’s brains, and though we know it is hard to undo, still, knowing it is hard, we must strive to undo it — that is what is right; whatever little we can do is that much gained. All the more so since today our country is not in great turmoil as when the Nguyễn and Trịnh were at war; rather, this is the time when Đức Chí Tôn opens the Great Way of the Third Period and entrusts True Principle to the Trung Ương (Central Holy See) to hold, in order to break down the people’s superstitions and guide them back to the straight path and right reason. If we do not shoulder that responsibility, who else will come in to bear it?

Nguyễn Hữu Phùng

Việc thờ phượng

On Worship

Bài giảng của

A sermon by

Đức Tổ Sư Nguyễn Hữu Phùng

(the Venerable Founding Master Nguyễn Hữu Phùng)

(Trích Đuốc Chơn Lý số 6 – Dec 1935)

(Excerpted from Đuốc Chơn Lý [The Torch of the Eternal Truth], no. 6 – Dec 1935)

Kính chư vị Thiên Phong Chức Sắc và Tín đồ nam nữ Lường Phái,

To the honored Heaven-ordained Dignitaries (Thiên Phong Chức Sắc) and the male and female believers of both branches (Lưỡng Phái):

Cũng vì sắp đặt trong việc thờ phượng nơi Tòa Thánh Trung Ương đây và các nơi gọi rằng là tùng theo Trung Ương đặng Hành Chơn Lý, từ bấy lâu nay chưa được hoàn toàn, vẫn cứ vái thờ những bụt Thần hoang đàng hoài, nào là Tể Thiên Đại Thánh, nào là Thập Điện Diêm Vương, v.v…, ma không ra ma, Phật không nên Phật, vì vậy mà ngày nay tôi có đôi lời gọi là giảng giải chút ít trong cách sắp đặt thờ phượng lại cho anh em chị em xét, ngỏ hầu chấn chỉnh cho có vẻ trật tự một ít, đặng tranh cái tiếng kẻ chê chúng ta là người mê muội. Tưởng anh em chị em cũng nên để ý một chút, còn về phần nghe hay là không nghe, ấy tự nơi Lương Tâm của anh chị vậy.

Because the arrangement of worship here at the Trung Ương Holy See, and at the places that claim to follow the Trung Ương in Practicing True Principle, has for a long time not yet been set right — people still keep praying to and worshiping fantastic idols and spirits: the Great Sage Equal to Heaven (Tề Thiên Đại Thánh), the Ten Courts of the Yama Kings (Thập Điện Diêm Vương), and so on — not proper ghosts, not proper Buddhas — therefore today I have a few words, by way of a little explanation on rearranging worship, for you, brothers and sisters, to consider, so that we may set things somewhat in order and answer those who reproach us as deluded people. I think you, brothers and sisters, should pay a little attention; as for whether you heed it or not, that rests with your own Conscience.

Đức Chí Tôn mở Đại Đạo kỳ ba này, là dốc phá những cái mê tìn của con cái Người đã bị thói quen triêm nhiểm vào chẳng biết mấy mươi muôn đời muôn kiếp rồi. Cũng vì những thói mê tín ấy nên con cái của Người phải bị luân trầm khổ hải mà xây vần trì niếu lôi kéo theo cái bánh xe luân hồi chẳng biết ngày nào trở về Bạch Ngọc Kinh với Người được. Đức Chí Tôn thấy vậy, biết con cái của Người mảng bị luân hồi hoài, nên bị ma niếu quỉ trì, quên quê xưa cảnh củ, nên Người có than rằng:

Đức Chí Tôn opens the Great Way of this Third Period resolved to break down the superstitions that have soaked into His children through habit for who knows how many tens of thousands of ages and lifetimes. Because of those superstitious habits, His children must sink in the sea of suffering, turning and turning, held fast and dragged along by the wheel of transmigration, not knowing what day they may return to the White Jade Palace (Bạch Ngọc Kinh) with Him. Đức Chí Tôn, seeing this — knowing His children are ever caught in transmigration, so that demons hold them and devils bind them, and they forget their ancient homeland — lamented thus:

Luân hồi nhiều kiếp ngu si càng nhiều.

“Through many lives of transmigration, ignorance only grows.”

Vì cớ chi mà Người than thở lại trái hẳn với lời người đời thường ví rằng luân hồi là tấn hóa? Chúng ta thử nghĩ coi: luân hồi mà tấn hóa nổi chi ! Luân hồi càng nhiều chừng nào thì lại càng ngu si nhiều chừng nấy thì có, chớ nào thấy tấn hóa nổi gì. Thử nghĩ coi, ai ai cũng biết rằng loài người sanh ra đây là nhờ một Điểm Linh Quan của Đức Chí Tôn mà ra, Đức Chí Tôn là Đại Từ Phụ của loài người, tiếng nói này ai ai cũng đều biết nói, và tiếng nói ấy thường dính hoài nơi cửa miệng của mỗi người, mà cớ sao loài người lại biết nói mà không biết xét? Nếu biết xét vậy sao lại quên hẳn rằng Đại Từ Phụ là Đức Chí Tôn, sao lại quên hẳn Người đi, mà vẫn cứ mơ tưởng, triếu mến, thương xót, hoài vọng, kính trọng hoài muôn ngàn thứ bụt Thần, không sao kể xiết, đành đoạn chia rẻ Lương Tâm Chơn Tánh của mình kính mến Đức Chí Tôn đi, đặng sang sớt qua cho mấy bụt Thần ấy? Nào là Thần Táo, Thần Địa, Thần Mọi, Thần Gông; nào là Bà Chằng, Bà Hồng, Bà Thủy, Bà Cốt; nào là Xát Ông, Xát Cậu, Xát Cô, Xát Tướng; nào là Ông Gốc, Ông Tà, Ông Hộ, Ông Tiêu; nào là Đạo Lộ Ngũ Hành, nào là Cô Hồn thập loại v.v…, ôi thôi giấy mực nào mà tả cho hết những tên tà ma quỉ mị mà gọi rằng Thần Thánh ấy; hơi hám đâu mà kể cho xiết những sự mê tín của loài người ! Mà nhứt là xứ Việt Nam ta đây, là chỗ chứa đủ các loài Ly, Mị, Vọng, Lượng, ma quỉ tinh yêu của các xứ khác đem lại, chẳng luận là ở xứ nào, hễ ai biểu thờ chi thì thờ, biểu cúng chi thì cúng, biểu vái chi thì vái, biểu lạy chi thì lạy, mà lại thờ phượng cúng kiến vái lạy một cách rất là cung kỉnh là khác nữa ! Xét vậy coi, có phải luân hồi nhiều kiếp ngu si càng nhiều hay không? Sao lại nở đành quên hẳn có Đức Chí Tôn kia là Đại Từ Phụ của loài người là một Đấng đã ban cho chúng ta một điểm Linh Quang đặng đến nơi cõi hồng trần này làm cho xứng danh phận Tam Tài, phòng có ngày trở về Bạch Ngọc Kinh mà Hiệp Nhứt lại với Thầy? Sao lại đành sang sớt cái lòng tín ngưởng chơn chánh kia mà đem chia năm xẻ bảy ra đặng thờ phượng những bụt Thần nọ? Sao chẳng chịu tự xét lấy mình coi làm cách lòng một dạ hai như vậy có chánh đáng hay không?

Why does He lament in a way so contrary to what people commonly claim — that transmigration is progress? Let us think: what progress can transmigration make! The more transmigration, the more ignorance — that there is; but what progress do we see? Think: everyone knows that humankind is born here thanks to a Point of Numinous Light (Điểm Linh Quang) from Đức Chí Tôn; Đức Chí Tôn is the Great Compassionate Father of humankind. Everyone knows how to say these words, and these words always cling to everyone’s lips — so why does humankind know how to say them but not how to reflect on them? If they knew how to reflect, how could they so utterly forget that the Great Compassionate Father is Đức Chí Tôn, so utterly forget Him, and yet keep dreaming of, longing for, pitying, yearning toward, and revering endlessly ten thousand kinds of idols and spirits beyond counting — willingly dividing up the love and reverence their Conscience and True Nature owe to Đức Chí Tôn, to share it out among those idols and spirits? There is the Kitchen God, the Earth God, the Spirit of the Wild Tribes, the Spirit of the Cangue; there is Lady Chằng, Lady Hồng, Lady of the Waters, Lady Medium; there is Lord Possessor, Young Master Possessor, Maiden Possessor, General Possessor; there is the Lord of the Tree Root, the Lord Tà, the Guardian Lord, the Lord Tiêu; there are the Five-Element Spirits of the Roads, the Ten Classes of Orphan Souls, and so on… — oh, what paper and ink could describe all the names of those evil demons and goblins called Spirits and Sages; what breath could suffice to list all of humankind’s superstitions! And above all our land of Vietnam, which harbors every kind of mountain sprite, goblin, water imp, and wraith (Ly, Mị, Võng, Lượng), demons and fox-spirits brought in from other lands; no matter what land they come from, whatever anyone says to worship, people worship; whatever to offer, they offer; whatever to pray to, they pray; whatever to bow to, they bow — and they worship, make offerings, pray, and bow in a most reverent manner besides! Considering this, is it not true that through many lives of transmigration, ignorance only grows? How can people bear to forget utterly that there is Đức Chí Tôn, the Great Compassionate Father of humankind, the One who gave us a point of Numinous Light to come to this red-dust world and live worthy of our station among the Three Powers (Tam Tài), that one day we may return to the White Jade Palace and be United as One again with the Master? Why do they willingly share out that true and right faith, splitting it into fives and sevens to worship those idols and spirits? Why will they not examine themselves to see whether being of two minds this way is right or not?

Đức Chí Tôn thấy rõ lòng dạ con cái của Người vì luân hồi nhiều kiếp quá nên quên cả cội nguồn, cũng như kẻ thế gian vì xiêu lạc nhiều đời quá nên quên xứ chôn nhau cắt rún, nên trót trên hai ngàn năm nay, Người thường cho Tứ Đại Thánh Nhơn giáng thế đặng nhắc nhở cái Bổn Nguyên của loài người không phải là ở nơi trên mặt trái địa cầu này, nên dạy phải một lòng tín ngưởng nơi một vị Thượng Đế mà thôi. Tuy lời dạy có khác nhau, là bởi tùy theo thời cuộc và tùy theo phong thổ đặng lập cách dạy cho người dể hiểu dể nghe, đặng biết nơi biết chỗ và biết phương thế đặng Tu Tâm Dưởng Tánh cho trong sạch đặng có thể mà trở về nơi chỗ Thiêng Liêng kia là quê cảnh đó.

Đức Chí Tôn sees clearly the hearts of His children: because they have transmigrated through so many lives, they have forgotten their very roots and source, just as worldly people who have wandered astray for many generations forget the land where their birth cord was buried. That is why, for more than two thousand years, He has often sent the Four Great Sages (Tứ Đại Thánh Nhơn) to descend into the world to remind people that humankind’s Original Source is not here on the surface of this globe, and so to teach them to place their faith single-heartedly in one Supreme Being (Thượng Đế) alone. Though their teachings differ, that is because, according to the times and the local conditions, they set up ways of teaching that people could easily understand and accept, so that people would know the place and the way to Cultivate the Heart and Nourish the Nature (Tu Tâm Dưỡng Tánh) to purity, that they might return to that Sacred place which is their homeland.

Tứ Đại Thánh Nhơn qua đời chẳng bao lâu, thì lần lần nhơn sanh nếp củ cũng chẳng chịu chừa, bạ đâu vơ đó, nay cốt này, mai đồng kia, giả danh Thượng Đế, phỉnh gạt chúng sanh, chùa miểu linh đình, Thần Tiên tấp nạp. Chúng sanh vì quá vọng tâm, chi dốc giây phút làm Tiên Phật cho được nên ma quỉ mới có thể chen vào, bùa giấy phép ma, trừ tà diệt quỉ, xúm xích nhau đồn rùm chẳng khác loài ruồi bu bịnh ghẻ, những cơn đau đớn như vậy, dầu cho quan lương y dùng thuốc tẩy trược, cũng chưa ắc giống ruồi kia tiêu tan mau chóng được tất?

Not long after the Four Great Sages passed from the world, people gradually would not give up their old habits either, grabbing at whatever came to hand: today this medium, tomorrow that spirit-dancer, falsely using the name of the Supreme Being to deceive living beings, temples and shrines in lavish profusion, Spirits and Immortals in a crowd. Because living beings were so reckless of heart, set on becoming Immortals and Buddhas in an instant, demons and devils could squeeze in: paper talismans and demonic spells, exorcising evil and destroying devils, crowding together and spreading noisy rumors like flies swarming over a festering sore. With such agonizing ailments, even if a good physician used purging medicines, could that brood of flies be wiped out quickly?

Đức Thượng Đế rất đau lòng, vì thấy con cái của Người không ai dìu dắc, nên Người mới « thân thân giá hạnh Nam Thiên », đặng để mắt coi ra thế nào, khi Người xét rõ rồi, liền có một câu than thở như vầy :

The Supreme Being was deeply pained, seeing His children with no one to guide them; so He came “in His own Person, descending in His royal progress to the Southern Heaven” (thân thân giá hạnh Nam Thiên), to see with His own eyes how things stood. When He had examined it clearly, He at once uttered this lament:

Đã đòi kiếp dày công nhọc sức,
Dạy chúng sanh kỉnh Phật thờ Trời ;
Thương thay cũng tại số người,
Ngạo lời Thánh Huấn kỉnh lời quỉ vương.

“Through how many lives, with great toil and labor,
I have taught living beings to revere the Buddhas and worship Heaven;
Alas, it lies in people’s own fate:
They mock the Holy Teachings and revere the words of the demon king.”

Xét lời than thì thấy rõ một kiếp của Đức Chí Tôn giáng thế là một kỳ phổ độ chúng sanh đó.

Examining this lament, one sees clearly that each lifetime in which Đức Chí Tôn descends to the world is a period of universal salvation of living beings.

Chúng ta thử nghỉ coi, lúc Nhứt Kỳ Di Đà, Thái Thượng, Phục Hy, Nhị Kỳ Tứ Đại Thánh Nhơn, cũng đều dạy phải nhìn nhận và tín ngưởng Một Thượng Đế mà thôi, chớ có dạy thờ phượng tôn sùng bực Thần nào khác, mà sao chúng ta ngày nay không nhớ mà làm theo, lại cứ ngạo báng khinh khi lời vàng đá của Phật Trời, lại nỡ chìu chuộng quí yêu lời ma quỉ hoài.

Let us think: in the First Period, Amitābha, Thái Thượng (Laozi), and Phục Hy (Fu Xi), and in the Second Period, the Four Great Sages, all taught us to recognize and believe in One Supreme Being only, and did not teach worship and veneration of any other spirit. Why then do we today not remember and act on it, but keep mocking and slighting the golden, adamant words of the Buddhas and of Heaven, and bear to keep coddling and cherishing the words of demons?

Bởi rõ lòng dạ nhơn sanh chưa được hoàn toàn giác ngộ rằng gốc Đạo là có Một, mà trời và loài Người cũng vẫn có Một, nên Tam Kỳ Phổ Độ ngày nay bổn thân Đức Chí Tôn giáng thế chỉ bày và giải rõ cho chúng ta rằng Đạo có Một mà Chơn Lý cũng vẫn có Một. Hễ ai biết rõ được Một ấy thì mới có thể mà Hiệp Nhứt với Thầy đặng về với Đạo, hằng trái Chơn Lý thì sẻ bị Ngũ Lôi Hỏa Kiếp. Vả hiệp nhứt là Hiệp Nhứt với Thầy với Đạo, chớ Thầy chẳng có dạy Hiệp Nhứt với ông Mô, ông Mô hết thảy. Nếu ông X hay ông Y nào buộc chúng sanh phải hiệp nhứt với ông ấy, thì tức nhiên ông ấy giả mạo danh Đạo đặng đoạt quyền của Đức Chí Tôn đó. Mà Đạo là chi? Chẳng nói ai cũng rõ biết rằng: Đạo là Chơn Lý đó, chớ nào có phải Đạo là vầy bè hiệp lũ, hay là cúng quải linh đình đâu?

Because the hearts of the people were plainly not yet fully awakened to the fact that the root of the Way is One, and that Heaven and humankind are also One, in today’s Third Period of Universal Salvation (Tam Kỳ Phổ Độ) Đức Chí Tôn Himself descends to the world to show and explain clearly to us that the Way is One and True Principle is One. Only whoever knows that One clearly can be United as One with the Master and return to the Way; whoever goes against True Principle will meet the Five Thunders and the Fire Calamity (Ngũ Lôi Hỏa Kiếp). And to be united as one is to be United as One with the Master and with the Way; the Master never taught to be United as One with Mr. So-and-so and Mr. So-and-so. If some Mr. X or Mr. Y binds living beings to be united as one with him, then he is falsely using the name of the Way to usurp the authority of Đức Chí Tôn. And what is the Way? Without being told, everyone knows: the Way is True Principle — the Way is not forming cliques and gangs, nor lavish offerings and feasts.

Vậy nay chúng ta xét rõ thấu biết Chơn Lý là chuộng sự Tinh Thần, nếu Tinh Thần được Hiệp Nhứt được Hiệp Nhứt, biết có Một Thầy là Đức Chí Tôn, là Đại Từ Phụ, là Chúa Tể Kiên Khôn Thế Giái, là một Đấng Cha Chung, thì khuyên hảy dẹp các tư ý tư tâm, dẹp bỏ những tư tưởng sái quấy tự thuở vô thỉ đến nay, đừng tin quàn tưởng vơ rằng có bụt Thần nào khác dám làm tấm vách tương đứng giửa trung gian đặng ngăn cấm ai hay là che đở ai, chẳng cho chúng ta cầu nguyện hay là tín ngưỡng trực tiếp đến Đức Chí Tôn được, hoặc là phải nhờ cậy bụt Thần ấy làm gián tiếp thì mới có thể đem lòng thành kỉnh của ta đến trao lời lại với Đức Chí Tôn được. Hay là có thần thánh nào dám làm họa làm phước cho người mà đoạt quyền của Tạo Hóa được. Đức Chí Tôn có dạy :

So now, examining thoroughly, we know that True Principle values the Spirit. If the Spirit is United as One, knowing that there is One Master, Đức Chí Tôn, the Great Compassionate Father, the Sovereign Lord of the Universe, the one Common Father of all, then I urge you to set aside your private ideas and private hearts, to put away the wrong and mistaken notions held since beginningless time until now, and not to believe rashly or imagine wildly that some other idol or spirit dares to stand as a partition wall in between, to bar anyone or shield anyone, so that we cannot pray to or place our faith directly in Đức Chí Tôn — or that we must rely on that idol or spirit as an intermediary before we can bring our sincere reverence to speak with Đức Chí Tôn. Nor that any spirit or saint dares to deal out misfortune or blessing to people, usurping the authority of the Creator. Đức Chí Tôn has taught:

Trời có Một thì Ta có Một,
Có Ta rồi nên cột có Người ;
Người nên Ta được thãnh thơi,
Ta Người chung hiệp Một Trời nào ba,
Ta Người nếu rẽ nhau ra,
Ta Người chia rẽ quỉ ma chen vào.

“Heaven is One, and so I Am One;
Since I Am, bound to Me there is Man;
When Man is accomplished, I Am at ease;
I Am and Man joined together are One Heaven, not three.
If I Am and Man split apart,
When I Am and Man are divided, demons and devils squeeze in.”

Xét đó thì đủ hiểu Trời với Linh Hồn ta cùng xác thân ta đây đều có Một mà thôi. Một mà Ba, mà ba cũng là Một, ngoài ra không còn có bụt Thần nào khác nữa. Nếu xác thân của người không chụi hiệp với Linh Hồn, thì làm sao Hiệp Nhứt với Trời được? Nếu chẳng được Hiệp Nhứt với Trời là tại nơi mình chẳng chịu tin cậy nơi Trời Độc Nhứt mà lại ỷ lại nơi bụt Thần khác, nên mới có loài ma quỉ chen vào đứng bực trung gian, buộc ta phải tin cậy nơi nó đó. Nếu chúng ta là con cái của Thầy mà chẳng trọn lòng tin cậy nơi Thầy, lại còn van vái cúng lạy Thần quyền nào khác, thì đáng gọi là con cái của Thầy hay không? Con người sao nỡ quên lời dạy:

From this one understands enough that Heaven, our Soul, and this body of ours are One only. One yet Three, and Three yet One; beyond that there is no other idol or spirit. If a person’s body will not join with the Soul, how can he be United as One with Heaven? If one cannot be United as One with Heaven, it is because one will not trust in the One Sole Heaven but relies on other idols and spirits; that is why the demon kind squeeze in to stand in between, binding us to trust in them. If we are the Master’s children and do not trust the Master wholeheartedly, but still pray, make offerings, and bow to some other spirit-power, do we deserve to be called the Master’s children? How can we bear to forget the teaching:

«Phải tin cậy Môt Trời Độc Nhứt»,

“You must trust in The One God Within”

Thầy có dạy phải tin cậy nơi quỉ Thần nào đâu.

Did the Master ever teach us to trust in any demon or spirit?

Bởi Đức Chí Tôn đã biết nơi cõi Tam Giái này không được sốt sắng lòng tín ngưởng nơi Trời Độc Nhứt, nên Người trước đã sai Tam Giáo Thánh Nhơn đến giảng dạy tột lý rồi, ví như Khổng Phu Tử thì dạy việc Hiếu Để Trung Tín Lễ Nghĩa Liêm Sỉ, đặng ngăn ngừa lòng tham dục, sự tham dục này thuộc về cõi Dục Giái, nếu lòng người biết điều Liêm Sỉ Lễ Nghĩa, thì đâu còn tham lam sự quấy, ham muốn điều hư ! Đức Thích Ca Mâu Ni thì dạy sự giải thoát đặng cứu những sự Khỗ trong vòng Sanh, Lão, Bịnh, Tử, vì loài người cứ quẩn quanh trong vòng ấy là đều bị sắc dục mà ra, hễ thoát được vòng sắc dục rồi, ấy là thoát nơi cõi Dục Giái đó. Đức Lão Tử thì dạy việc Đạm Bạc Hư Vô, ấy là chỉ chỗ cho thoát khỏi cõi Vô Sắc Giái đó. Tam Giáo Thánh Nhơn mỗi người dạy chúng ta cách thoát một cõi, nếu ai biết hiệp Tam Giáo lại được làm Một đặng trau giồi Tâm Tánh, thì là giải thoát luông cả Tam Giái rồi. Đến sau lại còn có Gia Tô Giáo Chủ còn chỉ cho ta rằng Thượng Đế tại Tâm, nên phải tin cậy một mình Đức Thượng Đế là đủ. Nếu chúng ta được y như lời Tứ Đại Thánh Nhơn dạy, và Hiệp Nhứt sự dạy lại làm một, thì nào lo chi chẳng về được với Trời, vì vậy nên Thầy có dạy :

Because Đức Chí Tôn knew that in these Three Realms (Tam Giái) faith in the One Sole Heaven was not fervent, He first sent the Sages of the Three Teachings to come and teach to the utmost of principle. For example, Confucius taught Filial Piety, Brotherly Respect, Loyalty, Faithfulness, Propriety, Righteousness, Integrity, and Sense of Shame, to guard against the craving of desire — this craving belongs to the Realm of Desire (Dục Giái); if people’s hearts knew Integrity, Shame, Propriety, and Righteousness, how would they still covet wrongdoing and crave what is corrupt! Đức Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni) taught liberation, to save from the Suffering in the cycle of Birth, Old Age, Sickness, and Death; for humankind circles round within that cycle because of sensual desire, and to escape the circle of sensual desire is to escape the Realm of Desire. Đức Lão Tử (Laozi) taught Simplicity, Emptiness, and Non-Being (Đạm Bạc Hư Vô) — that shows the place to escape the Formless Realm (Vô Sắc Giái). Each of the Sages of the Three Teachings taught us how to escape one realm; whoever knows how to join the Three Teachings into One to polish the Heart-Nature is liberated from all Three Realms at once. Later came the Founder of Christianity, who further showed us that God is in the Heart, so one need only trust in God alone. If we can do exactly as the Four Great Sages taught, and Unite their teaching into one, what worry is there that we cannot return to Heaven? That is why the Master taught:

Tứ Đại Thánh bốn nhà hiệp Một,
Mới đủ làm rường cột Cao Đài.

“The Four Great Sages, four houses joined as One,
That alone suffices as the beams and pillars of Cao Đài.”

Đến lúc Tam Giáo Thánh Nhơn qua đời rồi, lòng người cũng còn yêu chuộng quỉ ma, nên Đức Chí Tôn muốn cho con cái Người được vẹn toàn Tâm Tánh, nên biết bao nhiêu phen sai người đến trấn nhậm nơi cõi Tam Giái, đặng trấn áp nhơn tâm cho được yên tịnh, đặng có vững bước vào con đường tấn hóa. Ất Tam Trấn là vậy đó. Là những vị Đại Hiền, những vị Thánh Tăng, những bực Đại Đức thay thế cho Tam Giáo Thánh Nhơn, tùy theo thời cuộc mà Thầy sai xuống đặng độ dẩn chúng sanh đó. Những vị Tam Trần này đã có tự bao lâu rồi, từ khi Tam Giáo Thánh Nhơn qua đời nhẩn sau, chẳng biết là mấy trăm mấy ngàn vị, chớ nào phải có ba vị Lý Bạch, Quan Công và Quan Âm đó đủ gọi là Tam Trân đâu ! Thánh Huấn có câu:

After the Sages of the Three Teachings passed from the world, people’s hearts still loved demons and devils; so Đức Chí Tôn, wishing His children to keep their Heart-Nature whole, sent people again and again to take up the governance of the Three Realms, to calm and settle human hearts so they might step firmly onto the road of progress. That is what the Tam Trấn (Three Governances) is. They are the Great Worthies, the Holy Monks, the Great Virtuous Ones who replace the Sages of the Three Teachings, whom the Master sends down according to the times to save and guide living beings. These Tam Trấn have existed for a long time — from when the Sages of the Three Teachings passed from the world onward, who knows how many hundreds or thousands of them — and it is not just the three, Lý Bạch (Li Bai), Quan Công (Guan Yu), and Quan Âm (Guanyin), who suffice to be called the Tam Trấn! The Holy Teachings say:

Thay Tam Giáo lập bàn Tam Trấn,
Tùy theo thời độ dẩn chúng sanh.

“In place of the Three Teachings, the Tam Trấn council was set up,
To save and guide living beings according to the times.”

Lấy đó mà xét, thì rõ thấy Bàn Tam Trần của Đức Chí Tôn sai xuống trần định cho loài người là chẳng biết bao nhiêu người, chớ nào phải là có Ba vị kia đâu?

From that one sees clearly that the Tam Trấn council Đức Chí Tôn sent down to the world for humankind comprises who knows how many persons — not only those Three!

Cũng bởi chúng sanh mê mẩn chìm đấm theo Tả Đạo Bàn Môn nên coi lời dạy của những vị Tam Trấn ấy rất rẻ rúng, không chịu tuân theo, chẳng màn chẳng đếm tới, nên khi chư Thần trấn thủ Tam Giái về chầu chực có tâu lại tình hình chúng sanh thể nào, nên khi Đức Chí Tôn giá hạnh Nam Thiên đặng xem xét con cháu giống Tiên Rồng nơi Tam Giái thì quả y như lời Tam Trần đã tâu đó, nên Đức Chí Tôn có lời than thở rằng:

Because living beings, deluded, were sunk in heterodox and side-door Ways (Tả Đạo Bàng Môn), they regarded the teachings of those Tam Trấn as worthless, would not obey them, and paid them no heed at all. So when the Spirits governing the Three Realms returned to attend court and reported how things stood with living beings, and Đức Chí Tôn made His royal progress to the Southern Heaven to look upon the descendants of the Immortal-and-Dragon race (Tiên Rồng) in the Three Realms, it was indeed just as the Tam Trấn had reported; so Đức Chí Tôn lamented:

Phế Ngọc Kinh Nam Thiên giá hạnh,
Thầy bổn thân thấy cảnh đau lòng;
Các con rắn rắn rồng rồng,
Coi lời Tam Trấn như không chẳng màng.
Lại thêm bày lớp dị đoan,
Mê sa ma quỉ tội tràng vạ lây.

“Leaving the Jade Palace, I made My royal progress to the Southern Heaven;
I, the Master, in My own Person saw a scene that grieved My heart;
My children, half snake, half dragon,
Treat the words of the Tam Trấn as nothing and pay no heed.
And besides they lay on layer upon layer of heterodoxy,
Lost among demons — sin spreads far and calamity spreads wide.”

Xét đó thì chúng ta thấy rõ Tam Trần là có từ thuở nào cho đến bây giờ, chớ nào có phải là mới có lối trên 10 năm nay đâu?

From this we see clearly that the Tam Trấn have existed from of old until now — not only for a little over ten years.

Nhưng lòng Đức Chí Tôn là trời biển, chẳng nở để cho con cái của Người hư cho đến đổi lây tiếng xấu đến Người là Cha Chung, vì vậy nên Người phải thâu các bực Tam Trấn về, rồi bổn thân Người giáng thế dạy đời, đặng dìu dắc chỉ bảo cho cạn tiếng, chừng nào đến đâu hay đó, vì lúc mạt kiếp này, Ngũ Lội Hỏa Kiếp đương giàn kia. Người chẳng lẻ còn để trì hưởn mà Bổn Thân không đến dạy dổ cho ráo lời, lại nở cứ sai người đi thay mặt hoài được. Vì thấy chúng sanh quá sợ loài ma quỉ, cho đến đổi những chỗ thờ phượng Trời Phật cũng còn sợ ma quỉ đến phá khuấy, nên cũng phải cậy có Hộ Pháp đứng đó đặng gìn giữ ma quỉ giùm cho nữa, nên đã có Lịnh Người dạy triệt Hộ Pháp đi, không cần dùng nữa, hễ có Thầy đến rồi, thì trước mặt Thầy không ai được phép đứng đối diện. Còn Tam Trấn thì là vô số Thánh Thần Tiên Phật của Thầy sai hạ giáng từ bao giờ cho đến bây giờ, chớ chẳng phải là có ba vị kia mà thôi, mà những vị Tam Trấn ấy vì phận sự đã mản, nên Thầy đã rút về Trung Thiên rồi, không còn ở thế hạ này nữa mà phải đặt ngan vai với Thầy mà không trọn được đức tin; lại nếu có nhớ đến công ơn, thì hãy nhớ hết thảy chư Thánh chư Phật chư Tiên, chớ có lẻ nào lại quên ơn hằng hà sa số người có cống lớn trước mà lại trọng có ba người đó thôi; vì vậy nên đã cũng có Lịnh dạy dẹp mấy cái tượng ấy đi, bởi Đạo đã chẳng dùng hình tượng thì chớ, mà lại cũng chẳng lẻ chẳng nhớ công ơn nhiều vị lớp trước đã có công giúp Thầy hành Đạo, lại nở lòng treo có những tượng nào có kiểu sẵn của khách trú đã vẻ mà tưởng rằng có bấy nhiêu đó là đủ. Đức Chưởng Giáo cũng có cắt nghĩa rõ ràng những bực chư Thiên chư Thánh chư Phật chư Tiên đứng chầu lễ Đức Chí Tôn, thì sắp hàng tròn trước mặt Thầy như những hàng tinh tú đứng vòng nơi Tử Vi Cung vậy, chớ chẳng có một vị nào dám ngồi hoành đối ngan hàng với Thầy hay là đứng án trước mặt Thầy được.

But the heart of Đức Chí Tôn is like heaven and sea; He could not bear to let His children go to ruin to the point of bringing disgrace upon Him, their Common Father. That is why He had to recall the Tam Trấn, and then Himself descend to the world to teach, to guide and instruct us with every last word, come what may, for in this final age the Five Thunders and the Fire Calamity are poised and ready. He surely could not still delay and not come Himself to teach to the last word, and bear to keep sending others in His place. Seeing that living beings were so afraid of demons — so much that even in places of worship of Heaven and the Buddhas they still feared demons would come to make trouble, and so had to rely on a Hộ Pháp (Dharma-Protector) standing there to guard against demons for them — He gave His Order to remove the Hộ Pháp, as no longer needed: once the Master has come, no one may stand face to face before the Master. And the Tam Trấn are the countless Sages, Spirits, Immortals, and Buddhas the Master has sent down from of old until now, not only those three; and those Tam Trấn, their duty being completed, the Master has withdrawn to the Central Heaven (Trung Thiên); they no longer remain in this lower world to be set shoulder to shoulder with the Master so that faith cannot be whole. And if one remembers merit and grace, then remember all the Sages, all the Buddhas, all the Immortals; how could one forget the grace of countless beings who rendered great service before, and honor only those three? That is why there was also an Order to remove those statues. For the Way does not use images to begin with; and moreover one surely cannot fail to remember the grace of the many of earlier generations who helped the Master practice the Way, and bear to hang up only certain statues of a ready-made pattern painted by Chinese residents, thinking that is enough. Đức Chưởng Giáo (the Head of the Teaching) also explained clearly that the Heavenly Beings, Sages, Buddhas, and Immortals who stand in attendance to pay homage to Đức Chí Tôn are arrayed in a circle before the Master, like the ranks of stars standing round the Tử Vi Palace (the Purple Subtlety, the Pole Star palace); not one dares to sit level and opposite the Master, or to stand blocking the way before the Master.

Xét các cớ như trên đây đã nói, vậy ngày nay chúng ta cũng nên dùng nghi chư Thiên chư Phật thế vào hai cái nghi hai bên, mà không được đối án với nghi của Thầy ; làm như vậy thì đã trúng cách lịch sự mà nào có hại chi cho ba vị mà chúng ta gọi là Tam Trần tự trên mươi năm ấy đâu, ví dầu ba vị đó mà có quả là Tam Trấn thiệt đi nữa, thì cũng phải đứng sắp hàng vòng theo chư Thiên chư Phật mà chầu Thầy, chớ nào có phép gì ngồi ngan với Thầy đặng vuốt râu cho chúng ta lạy như lạy Thầy vậy bao giờ! Cái lễ phép là bực nhứt, dầu Đời dầu Đạo cũng vậy, thử nghĩ coi như cách sắp đặt như bấy nay vậy, có trật tự có phép tắc chút nào không? Dầu cho ba vị ấy còn sống, có Thầy giá ngự đến, thì ba vị ấy có dám ngồi ngan với Thầy mà vuốt râu như vậy hay không?

Considering the reasons stated above, today we too should use emblems of the Heavenly Beings and Buddhas in place of the two emblems on either side, and they must not face the Master’s emblem as a rival altar. Doing so is fully in accord with proper decorum, and does no harm at all to the three we have for over ten years called the Tam Trấn. Even if those three truly were Tam Trấn, they too would have to stand in line in the circle with the Heavenly Beings and Buddhas to attend upon the Master — never would they have any right to sit level with the Master, stroking their beards, for us to bow to as we bow to the Master! Propriety comes first, in the World and in the Way alike. Think: in the arrangement as it has been until now, is there any order or decorum at all? Even if those three were still alive, and the Master came in His royal presence, would those three dare to sit level with the Master and stroke their beards like that?

Người ta ai ai cũng trọng Trời Phật Tiên Thánh là phải, song tự lâu nay cũng quen con mắt theo cách cái sải ở chùa họ sắp Phật hàng ngan giãy giọc đầu chùa, bực nào cũng có, khác nào chợ Phật, hàng xén Phật, ai muốn việc gì, vô chùa sẵn đủ, miểng là đem tiền dưng cúng là rồi việc. Phật Thánh, ma quỉ, hộ pháp, chúa ôn, tiêu diện, quỉ sứ, đồng đình, xích lan, hà bá, thủy quan, cô hồn thập loại chi chi có sắm đủ đầy chùa, mặc sức cho người van vái cúng lạy.

It is right that everyone honors Heaven, the Buddhas, Immortals, and Sages; but for a long time our eyes have grown used to the way the monks in their temples line up Buddhas in rows across and down the whole temple, every rank of them — like a Buddha market, a Buddha notions stall: whatever anyone wants, the temple has it all ready, so long as one brings money to offer and the matter is settled. Buddhas and Sages, demons and devils, Dharma-protectors, plague lords, the Burnt-Face Ghost King, demon messengers, village guardian spirits, red-railed spirits, river gods, water officials, the Ten Classes of Orphan Souls — whatever there is, the temple is stocked full of it, for people to pray, offer, and bow to their heart’s content.

Chúng ta nay, quyết chí tùng theo Chơn Lý, tin cậy Một Trời Độc Nhứt, dốc tu Tâm dưởng Tánh cho trong sạch cái kiếp thiêng liêng hầu về hiệp nhứt với Thầy như lời Thầy đã dạy, dốc thoát luân hồi, dốc được trường sanh bất tử, dốc xưng rằng mình theo Chơn Lý, dốc hiệp nhứt với Thầy, dốc lòng cầu Đại Đạo, mà nếu chẳng chịu hiểu rằng Đạo là có Một, lại muốn phô bày hình tượng ra đặng làm cách bán Trời buôn Thánh hay sao?

We now are resolved to follow True Principle, to trust in the One Sole Heaven, determined to cultivate the Heart and nourish the Nature, purifying our sacred life so as to return and be united as one with the Master as He taught — determined to escape transmigration, determined to attain eternal life beyond death, determined to call ourselves followers of True Principle, determined to be united as one with the Master, wholeheartedly seeking the Great Way. If we will not understand that the Way is One, do we instead want to display images in order to sell Heaven and trade in Sages?

Bởi tôi nghe rằng nhiều người khóc lóc, dọn mất bàn Ông này Bà nọ của họ đi, họ tủi hổ, họ chua xót, nhứt là mấy bà già cả. Mấy bà này tủi khóc như vậy là phải, là vì cái tầm con mắt của mấy bà từ nhỏ đến lớn hễ đến chùa thì dốc coi chùa nào nhiều tượng, nhiều hình, nhiều bàn, nhiều cốt, nhiều ghế, nhiều nghi, chùa bao lớn mặc dầu, miểng là bàn ghế cho nhiều hàng ngủ vì chẳng đếm, dầu cho ngoài hàng ba hàng tư, ngoài hiên ngoài chài gì mặc dầu, miễng là cho nhiều lư nhan, cho nhiều chỗ đốt giấy tiền vàng bạc, cho nhiều chỗ cho họ lạy, thì họ vừa lòng và khen lại đồn rằng chùa đó lớn đủ Phật, dầu cho lạy rụng đầu gối mà họ cũng cười vui mà nói rằng khỏe. Ngày nay họ thấy Chơn Lý là Chơn Lý, không gạt ai một mảy, không chịu một chút nào dối trá, sái cái quen của họ nhiểm đã lâu rồi, bảo sao họ không khóc cho được! Thêm lại Trời Phật thì ở xa, yêu ma lại ở gần, nhũng bọn tả đạo bàn môn, ác tăng quỉ sống cũng nhiều, chúng nó thấy vậy lại càng lời to tiếng nhỏ, rủ rĩ rù rì, bảo sao các bà không tin cho được? Đương lúc Đệ Tam Tiểu Thời Kỳ này, là lúc Quỉ Vương Phật Tổ hai đường chống nhau, bao giờ quỉ cũng đứng trước Thần, lời dạy đã rành rành đó, sao không ai xét? Chúng ta đã gọi là người con cái của Thầy, chúng ta nở để lòng nào chẳng thương đồng bào chúng ta đương bị bẫy bị dò của quỉ vương rù quến cám dổ kia, mà nở chẳng ra tay tế độ, vậy chớ ai gọi rằng là người lập công bồi quả ở đâu? Mấy bà đã là người già cả quê mùa dốt nát, một mảnh giấy của Tòa Thánh gởi đến cắt nghĩa cho họ, hỏi lại mấy bà có biết gì không? Có hiểu gì không? Có hay có nghe điều gì không? Thì quả thật không hiểu chi ráo! Mà cũng không ai chịu giải nghĩa cho mấy bà nghe!  Như vậy có trách mốc mấy bà được hay không, hay chúng ta nên trách chúng ta là người không làm tròn phận sự đặng giúp Thầy? Đã không ai chịu làm tròn công quả đặng giúp Thầy, mà ai ai cũng giành phần là hiến thân cho Đạo! Tâm Đạo! Một lòng một dạ với Đạo!

For I hear that many people are weeping because their altars to this Lord and that Lady have been cleared away; they are mortified, they are heartbroken — above all the old women. It is natural that these women should weep so, for from childhood to old age, whenever they went to a temple, the scope of their eyes was set on seeing which temple had the most statues, the most images, the most altars, the most spirit figures, the most chairs, the most emblems. However big the temple, so long as the altars and seats stood in rows beyond counting — even out on the third and fourth rows, out on the veranda and the porch, no matter — so long as there were many incense burners, many places to burn votive paper money of gold and silver, many places for them to bow, they were satisfied and praised it and spread the word that that temple was big and had every Buddha; even if they bowed till their knees fell off they would laugh happily and say it did them good. Today they see that True Principle is True Principle — it deceives no one a hair’s breadth, admits not the slightest falsehood — contrary to the habits that have long soaked into them; how could they not weep! Besides, Heaven and the Buddhas are far away while the demons are close at hand; and the crowd of heterodox side-door Ways, wicked monks and living devils, are many too — seeing this, they talk loud and talk soft, whispering and murmuring; how could the old women not believe them? In this Third Lesser Period, when the Demon King and the Buddha Patriarch oppose each other on two roads, the demon always stands ahead of the Spirit — the teaching on this is plain; why does no one examine it? We who call ourselves the Master’s children — how can we bear not to pity our compatriots who are caught in the traps and snares of the demon king’s luring and tempting, and not lend a hand to save them? Otherwise, who would we call people building merit and accumulating good works? The old women are elderly, rustic, and unlettered; when a sheet of paper from the Holy See is sent to explain to them, ask them back: do they know anything? Understand anything? Have they heard or learned anything? Truly they understand nothing at all! And no one will explain it to them either! In that case, can we blame the old women, or should we blame ourselves as those who did not fulfill our duty to help the Master? No one will fulfill the work of merit to help the Master, yet everyone vies to claim they have devoted themselves to the Way! Hearts of the Way! Single-hearted toward the Way!

Kính thưa cùng Thiên phong Chức sắc và tín đồ nam nữ cả thảy đâu đâu.

With respect, to all the Heaven-ordained Dignitaries and the male and female believers everywhere:

Lời tuy phân tường chưa được cạn lý, song cũng đã dài quá rồi, e nói lâu nữa phải mệt anh chị, tuy chưa được cạn lý mặc dầu, nhưng bao nhiêu đó cũng đủ cho anh chị xét Đạo Lý chơn chánh của Trời là thể nào rồi. Đạo của Thầy, nhắc tắt ra vài câu Thánh huấn đã dạy, thì cũng đã hiểu Đạo là chi vậy.

Although these words have not yet exhausted the principle, they are already too long; I fear if I speak longer it will tire you, brothers and sisters. Though not yet exhausting the principle, this much is enough for you to consider what the true and right Principle of the Way of Heaven is. As for the Master’s Way, recalling briefly a few lines of the Holy Teachings already given, one understands what the Way is.

Đức Chí Tôn đã có dạy rằng:

Đức Chí Tôn has taught:

Đạo Thầy chánh chánh đường đường,
Đạo dạy cang thường, luân lý, nghĩa nhơn.
Đạo không dạy việc rối đời,
Đạo dạy con người dỉ Hiếu vi tiên.
Đạo là phẵng lặng trang bằng,
Dường như gió tạnh Trời trăng đêm rằm.
Đạo Trời có Một không đôi,
Đạo là Sự Sống cứu người thế gian.
Đạo không tách một rẻ hai,
Đạo là hiệp nhứt cả loài thế gian.
Đạo Thầy như nước trong ngần,
Đạo không xao dợn phân vân rộn ràng.
Đạo là phẵng lặng trang bằng,
Đạo không thử thách nhố nhăn cải Trời.

“The Master’s Way is upright and open,
The Way teaches the constant bonds, ethics, righteousness, and benevolence.
The Way does not teach things that disturb the world;
The Way teaches people to put Filial Piety first.
The Way is calm, level, and even,
Like a night of the full moon when the wind has stilled.
The Way of Heaven is One, not two;
The Way is the Life that saves the people of the world.
The Way does not split one or divide two;
The Way unites as one all the kinds of the world.
The Master’s Way is like water, crystal clear;
The Way has no ripples, no wavering, no bustle.
The Way is calm, level, and even;
The Way does not put on absurd tests to defy Heaven.”

Chúng ta nếu để tâm chí vào đặng nghe, xét là làm theo những lời Thánh huấn đã dạy ấy, thì sự thờ phượng của Đạo dạy là dạy :

If we set our heart and will to hear, examine, and act upon these words of the Holy Teachings, then the worship the Way teaches is this:

Phải tin cậy Một Trời Độc Nhứt,
Phải ân cần tuyệt dứt phàm tâm ;
Phải dồi đức hạnh cao thâm,
Phải cho Bác Ái, phải tầm Lý Chơn.

“You must trust in the One Sole Heaven;
You must diligently cut off the worldly heart entirely;
You must polish virtue lofty and deep;
You must be Universally Loving, you must seek True Principle.”

Chớ có lăn xăn lộn xộn chi đâu! Đức Chí Tôn muốn ta tìm biết Chơn Lý đặng học đặng theo, nên Người phải lập Đạo tràng nơi Trung Ương và Người cũng đã có dạy rằng :

Not running about in confusion at all! Đức Chí Tôn wants us to seek and know True Principle, to learn it and follow it; so He had to establish the place of the Way at the Trung Ương, and He also taught:

Lập Trung Ương Thầy trao gánh nặng,
Dạy các con dứt hẳn phàm tâm;
Đừng lòng chia rẻ mà lầm,
Đừng lòng dại dột mà cầm rằng khôn.
Xét coi nội quả Kiên Khôn,
Có ai qua được Chí Tôn là Thầy.
Thầy đâu có dạ tự tôn,
Song Ngôi Chí Bửu Chí Tôn là Thầy

“Founding the Trung Ương, the Master hands you a heavy burden,
Teaching you, My children, to cut off the worldly heart entirely;
Do not be mistaken by a divided heart,
Do not hold, with a foolish heart, that you are wise.
Look through the whole sphere of Heaven and Earth:
Is there anyone surpassing Đức Chí Tôn, who is the Master?
The Master has no heart for self-exaltation,
Yet the Throne of Utmost Treasure and Utmost Honor is the Master’s.”

Lúc Đức Chí Tôn lập Trung Ương, chấn chỉnh nền Chơn Lý Đại Đạo, thì Người cũng đã có dạy rằng:

When Đức Chí Tôn founded the Trung Ương and set in order the foundation of the True Principle of the Great Way, He also taught:

Đuốc Chơn Lý Trung Ương sán tỏ,
Người đi đường phải ngó mà theo ;
Thuyền đi vững lái êm lèo,
Bộ đi tránh khỏi hiểm nghèo gai chông.
Ấy là Đuốc Chủ Nhơn Ông,
Cả mưa chẳng tới, to dông không lờ.

“The Torch of True Principle of the Trung Ương shines bright;
Those who walk the road must look to it and follow;
Boats go with steady helm and gentle sheets,
Those on foot escape the dangers of thorns and spikes.
That is the Torch of the Master of the House (Chủ Nhơn Ông):
No rain can reach it, no great storm can dim it.”

Chúng ta đọc suốt các lời của Đức Chí Tôn đã dạy thì rõ biết rằng Đạo có Một, Một ấy là Chơn Lý, mà Chơn Lý ấy là vật trong tay của Đấng Chủ Nhơn Ông, là Trời, là Thầy, là Luật Tạo Hóa, là Chúa Tể Kiền Khôn thế giái, là Đại Từ Phụ, là Đức Chí Tôn vậy,

Reading through all of Đức Chí Tôn’s teachings, we know clearly that the Way is One; that One is True Principle; and that True Principle is the thing in the hand of the Master of the House — who is Heaven, who is the Master, who is the Law of Creation, the Sovereign Lord of the Universe, the Great Compassionate Father, who is Đức Chí Tôn.

Vậy thì ngày nay chúng ta đã gọi mình rằng là người tìm Chơn Lý, hỏi vậy chúng ta có nên dẹp hết những cái vọng tâm, vọng tưởng, vọng cầu, đặng Định Tâm Tỉnh Trí lại mà Biết có Một Ngôi Chúa Tể Kiên Khôn là Một Ngôi Độc Nhứt, chớ không phải là hai, ba, bốn, năm gì nữa, như chúng ta đã lầm tự bấy lâu nay, thờ phượng bàn ghế nghi tiết cho chật chùa, cứ do theo cái phàm tâm hoài mà chia sẻ sang sớt cái lòng tín ngưởng chơn chánh của ta cho bụt Thần khác?

So today, since we call ourselves seekers of True Principle, I ask: should we not put away all reckless hearts, reckless thoughts, and reckless prayers, so as to Still the Heart and Clear the Mind (Định Tâm Tỉnh Trí) and Know that there is One Throne, the Sovereign of Heaven and Earth, One Sole Throne — not two, three, four, or five, as we have mistakenly held for so long, worshiping with altars, seats, emblems, and rites crammed throughout the temple, forever following the worldly heart and dividing and sharing out our true and right faith to other idols and spirits?

Đã biết rằng sự tín ngưởng là sự tự do của anh chị, tôi không dám cải chút nào, nhưng nếu tôi không giải ra cho minh bạch sự phải sự quấy, e tôi làm chưa tròn trách nhậm tôi chăng? Vậy nên tôi cáo đôi lời biện bạch gọi rằng là đủ phận sự của tôi rồi đó. Còn anh chị tôi không dám ép.

I know that faith is your freedom, brothers and sisters; I dare not dispute it in the least. But if I did not explain clearly what is right and what is wrong, I fear I would not have fulfilled my responsibility. So I set forth these few words of clarification, which I count as fulfilling my duty. As for you, brothers and sisters, I dare not compel you.

Nay kính,

Respectfully,

Nguyễn Hữu Phùng