Đức Tin Nguyên Vẹn
Giảng Đàn Chơn Lý của Đức Chí Tôn

Đức Tứ Bửu – 1950
Tài thì dựng nước cứu nguy,
Đức ra phổ hóa cho đời hưởng chung.
Tài là cái đức để quản trị thế gian,
Đức là cái tài để hóa Nhơn thành Đạo.
Tông Chi Gia Đình Đạo
Đức Bữu Tinh
31 July 1958
Tây Sư Tinh Quân
Tam Kỳ Nguyên Nguyên Bản Bản
Chơn Lý Tầm Nguyên Đại Đạo
Ngọc Hoàng Đại Đế Hội Giáo
Nhứt Tâm Qui Hướng
Vô Vi Chưởng Giáo Sư Phụ Đại Thiên Tôn
Nhứt Tâm Qui Hướng
Vô Hình Chủ Tể Pháp Luật Qui Điều
Nhứt Tâm Qui Hướng
Vô Kiệt Chí Tôn Cao Thiên Đại Đế
Lạy Thầy Vô Kiệt Cao Thiên,
Hóa Sanh vạn vật mối giềng Người Ta.
Luận Lý: “Tông Chi Gia Đình Đạo”
Người đời, nhà vua chúa, kẻ tước lộc quyền cao, bực phú hộ, vận mạng đất nước, đều có thể lập Tông Chi lên tới mấy đời kể ra cũng được trăm dư năm, ngoài ngàn năm được.
Nay, nhờ Trời khai Đạo Kỳ Ba, Người trong “Chơn Lý Tầm Nguyên“, về thời đại “Tam Kỳ Nguyên Nguyên Bản Bản“, thông đạt Đạo Lý của Võ Trụ, nên lập “Tông Chi Gia Đình Đạo” thì Vui, Thấy, Biết đã chồng chập dư muôn triệu ức kiếp từ Thể Vô Vi, Vô Hình, Hữu Hình, Tiên Thiên Khí Hóa, Hậu Thiên Vô Hình, Hậu Thiên Hữu Hình truy ra tới Nguyên Thỉ từ Trời mà có ra mà nay cũng Tại, cũng còn trong cái Hiện Tại (l’ Éternel Présent, the Eternal Now).
Đức Chí Tôn có phán:
“Trời còn, Chơn Lý vẫn còn,
Con nào theo Chơn Lý vẫn còn tự nhiên”.
Lạy Thầy Chúa Tể Kiền Khôn,
Mở lòng Bái Aí thương con với cùng.
Con đà lạc Tổ xiêu Tông,
Đem đường dẫn lối nhờ trông có Thầy.
Do Thánh Giáo Chơn Lý chỉ dạy:
Thầy là Thầy Chúa Tể Kiền Khôn là Đức Chí Tôn. Thầy xuống Ngôi Bổn Giác làm Linh Hồn dạy dỗ các con.
Đạo Thầy là Đạo Vô Vi.
Đạo Vô Vi là Đạo gì? Có phải là Đạo Âm Dương Vô Hình không?
Nếu Thầy gìn giữ Cơ Đạo chuyển về Âm Dương Vô Hình thì cũng không thấy gì, cũng không ích gì cả!
Đạo là “Vô Vi”. Thầy phải dụng “Hữu Vi” đặng sanh Thái Cực Đồ.
Hữu Vi là gì?
Hữu Vi tức là “Có” mà cái “Có” nầy rất tinh vi, vi diệu là cái “Có” của Cơ Mầu Nhiệm của Đạo.
Thái Cực Đồ tức là nữa Âm nữa Dương.
Dụng Hữu Vi sanh Thái Cực Đồ có nghĩa là: Thầy dùng cái “Có” nầy là Người đây để làm Sống Âm Dương Vô Hình của Trời Đất.
Thánh Giáo cũng phân thêm cho rõ:
Đấng Tạo-Hóa có ra bởi gốc hai luồn Điển Âm và Dương. Cũng do nơi Điển Lực của hai luồn Điển ấy mà Người lập nên Kiền Khôn Võ Trụ Vạn Vật. Người là một Vật của Tạo Hóa Công. Người là Sự Sống của Điển Lực ấy. Người cũng làm Sự Sống cho Điển Lực ấy. Điển Lực ấy tức là Điển Vô Vi của Thầy ban cho các con ngày nay vậy.
Thánh Giáo dạy tiếp:
Thử nghĩ, có phải Người đây làm cho Sống Âm Dương của Trời Đất không? Các con từng nói: Vạn Vật cũng làm sống Âm Dương của Trời Đất mà lầm. Vạn Vật cũng làm Sống Âm Dương của Trời Đất , nhưng đâu có làm Sống Âm Dương của Trời Đất như Người đặng, bằng Người đặng, vì vậy mới có câu:
“Người là một Vật Tối Linh trong Vạn Vật“.
Nay, Người có tại thế rồi nên Thầy mới dạy rành:
“Tâm Trung báu lạ vô cùng”.
Ở thế, Người thiệt thiệt Người tức là Người Trời, Con Trời, phải do theo lòng Trời mà sống, do Tâm mà Sống mới rằng Sống theo Thể Vô Vi, Vô Hình tức là Sống với phần Thiêng Liêng Tinh Thần mới rằng Biết Sống. Sống thiệt thiệt Sống là Sống cùng với Đạo, Sống làm Một với sự Sống Thiên Nhiên là Trời.
Cái thân vật chất nầy đâu phải thiệt nó là Người nên Đạo gọi nó là Cái Người vì Người thiệt thiệt Người là Người Vô Tận Đạo gọi là Con Người nên cái vật là thân hữu kia là để cho Người dùng làm Thể Hữu Hình đặng tỏ bày Bổn Thể Thiên Nhiên của Ngôi Trời Độc Nhứt nơi Tâm rất chí thiện chí mỹ. Nó là cái Vật bởi chất vật vô hình tạo thành cũng gọi là cái thân vật chất, cái thân chót hết của Con Người xuống thế.
Người vốn bởi gốc Lý Sanh Khí Hóa nên Lý Khí là Hồn Xác Tinh Thần của Người, còn cái vật kia vốn sanh trong khuôn Tứ Giả, vốn cũng đồng một Sự Sống như nhau vì bởi “Một” mà ra bởi “Một” mà nên hình song khác bực tinh thần.
Từ đây, thấu Lý rồi, Hiểu rồi, thì đừng lầm lộn Con Người với Cái Người nửa. Nói quyết: Con Người chẳng hề ăn cơm gạo bao giờ! Cái Người kìa mới dùng cơm gạo mà nuôi sống cho, nên thiên về vật chất đó.
Hiểu rồi thì đừng lộn “Mình” mà phải bị lộn “Điển” ở trong mình mình mà hại đến Chơn Thân của mình mà không hay.
Nhờ Trời khai Đạo Kỳ Ba mới thấu nổi cái Lý Sâu Nơi Lòng, chính nó là cái Đức Tin nguyên vẹn mạnh mẽ trong trống trong sáng vững chắc nơi lòng vậy.
Người trọn đủ Chơn Ngươn mới thật có Đức Tin Nguyên Vẹn nên Tự Biết nơi mình sẵn có một cái Sức Mạnh Vô Hình Thiêng Liêng phi thường vững trải tự Thể nó rước nổi cái Điển của Trời làm thêm Sự Sáng Sống Tinh Thần cho Người nên Bổn Phận Người Tu Chơn theo Đạo Một của Thầy là phải đem mình đến tận cái Mục Đích Trời Định cho Người là đến tận cái Thể chí thiện chí mỹ đó mới có thể giúp công Hóa Hóa Sanh Sanh cho Trời là Hóa Sanh Vạn Vật làm cho ra một cái Thế Giái Chơn Nhơn Vô Hình nữa đó vậy. Cái Biết nầy do nơi Lương Tri mà Biết mới rằng Tự Biết, tức là do Thiên Tánh vậy. [1]
Dưòng thế nên Nguyên Đại nào cũng có nơi mình, cũng Biết, cũng Thấy, cũng Thông, cũng Hiểu, cũng Sống ở nơi cái Sống Sáng Tự Nhiên là Trời Sống nơi mình đây bất tiêu bất diệt.
Nên Người xuống thế phải giữ gìn vững chắc “Ngọc Kinh” nơi lòng chớ để cho nó mẻ khờn nức nẻ, phải trát ma cho khéo, chính
Ngọc Kinh là cái Ngôi Trời Độc Nhứt nơi Tâm.
Thầy có dạy:
“Ngọc kia dầu có mẻ khờn,
Trát ma cho khéo còn hơn khi lành”.
Sự Tu
Ấy đó là dạy Người xuống thế phải “Tu” mà là “Tu Chơn” vậy. Ngoài ra là tu giỡn, tu chơi, tu quyền, tu thế, tu đời, tu quen.
Nên “Tu Chơn” là Tu lấy Phần Hồn cho vững trải Phần Thiêng Liêng trên bước Đường Tấn Hóa Thiên Nhiên:
“Tấn Hóa là chỉ yếu phải Tư”
có nghỉa là đi cho vững bước Trường-Sanh của Đạo thì trước nhứt phải trau sửa mình, – Tu là Sửa chữa, – Tu là Sửa Mình chớ chẳng phải chi khác, – mình nầy đã bị nhuộm hồng trần, mình nầy là cái Mình Điển.
Vậy, muốn Tu thì phải thật Tu mới Thành, tức là Sửa Chữa Mình theo Điển Vô Vi của Thầy. Sửa Điển trong mình mình vì toàn Thân toàn Thể Con Người là “Điển”, mà cái Điển nơi mình phần xác là Điển Hạ Thiên nó rất nặng nề không được trong sạch, nhưng nó là cái Thông Hiểu Biết của Con Người sau khi có xác thân rồi biết, nên cái biết vụng về thô sơ đó là cái Điển Quang lạc mối chánh chơn, nó lại che án khuất cái Thiên Ngươn thanh tịnh không hiện ra được.
Tu cho quỉ phục Thần kiên, thì Người mình, Con Trời đó được phục hồi cựu vị nơi Vô Vi của Vô Vi Cảnh Giái, tức là sửa chữa cho Điển Hạ Thiên nối liền được với Điển Trung Thiên, Cao Thiên, tới Cao Việt Thiên Đài hóa thành một Hơi Thanh Khí Sanh Hóa của Nguồn Ngươn Khí Hóa Sanh từ Trời mà ra, như thế là:
“Thầy thở đặng dài Hơi,
Thì con đặng việc đặn lời nghe con!”
Suy kỹ nghiệm cang rõ ra thì Thánh Giáo Chơn Lý ngay thời kỳ nầy chánh nghĩa là Ơn Trên phóng Điển là phóng Con Đường dẫn bước Đường cho các con do theo Mối Điển Trời chớ chẳng chi khác.
Thông suốt trong ngoài trên dưới như thế mới là Người trọn đủ Chơn Ngươn là Người Thiệt Thiệt Người (l’homme véritable) tức là Trời ở thế hạ là Lý Chơn vậy, mới có thể tu theo Chơn Lý bền vững đặng, mới rõ câu:
Thiên Sanh hữu Mạng,
Thiên Mạng vi tôn.
Nhờ sự học Đạo, – Học Đạo là học Sự Sống về Tinh Thần,- học Đạo và tùy theo bực Đạo Học, Đạo Hành với sự Tu Tỉnh mình, mà Người nầy đặng biết cái thân xác vật chất này nó là Vật Lý của Trời thì là Vô Ngã Vô Nhơn mới hay:
Người không Tuổi Trường Sanh muôn tuổi,
Người không Tên muôn tuổi không già.
Không Tuổi tức là không sống trong Thời Gian mà Sống trong cái Hiện Tại của Ngôi Trờn Độc Nhứt nơi Tâm.
Không Tên, là không có trong Không Gian, mà thiệt có trong cái Hiện Tại của Sự Sống Thiên Nhiên, tức là có trong cái Nguồn của Nguồn Ngươn Khí Hóa Sanh của Trời. Cái Nguồn của Nguồn Ngươn Khí Hóa Sanh nào khác cái Tâm của Trời của Đạo.
Có mà Không, Không mà Có là vậy đó mới thật rằng Không.
Định Tâm
Học Định Tâm, Thiệt Định Tâm, là phải vượt ngoài vòng Không Gian và Thời Gian; phải luôn luôn phải thường thường như vậy mới gọi đặng là Tâm Sống. Tâm Người có Sống mới chứa đặng sự Sống của Trời phú giao. Tâm như vậy mới gọi đặng là Võ Trụ Vạn Vật. Tâm như vậy mới gọi đặng là Không Tâm, mới gọi đặng là Hư Tâm.
Vậy, muốn được Trường Sanh thì phải theo về với Đạo. Phải tách khỏi cái thể hữu hình mà Sống qua phần Vô Hình cho khỏi bề vật chất niếu trì, tuy cũng còn là vật chất song đã đổi hẳn Không Gian bước qua khỏi các cảnh Dục Sắc Vô của thế giái hữu hình, vượt qua khỏi cái không gian ô tạp nặng nề vật chất thì Tinh Thần đặng trong sạch nhẹ nhàn càng mau càng lẹ càng gần được với Thầy, ấy là Biết Sống cùng Sự Sống thiên nhiên vô hình là Sự Sống của Đạo nên Thường Tồn Thường Tại.
Sống qua Vô Hình là các Mối Thần nó qua, các Mối Thần nơi Người chí chánh chí chơn nó qua là nó theo Lý Sanh Chánh Đại Quang Minh của nó là Mối Một của nó, nên nó mới Sáng mau lẹ. Nó Sống nhờ Hơi. Hơi nầy là Hơi Điển, nên Hơi Điển cùng là mối Thần Điển làm sự Sáng Sống Tinh Thần nó qui hướng trúng Đường theo cái Chí Huớng của Cha Trời Thiêng-Liêng, mà trúng Đường tức là nhầm Đạo là trở về Ngôi Chủ của nó là cái Chơn Tâm, như thế là Người Sống tại Tâm làm Một với cái Tâm Thiên Lý nên cái Thể Sống Sáng nầy nó mới đồng Thể với Trời, thì Thiên Tánh được phục nguyên. Đến đây Người không còn là Người nữa mà là Thiên Tánh vậy tức là Lý của Trời thì cái sẵn Thông, sẵn Biết tự nhiên là Lương Tri Báu Trời.
Thể của Trời gốc Nguồn Hư Không Ngươn Khí rất điềm tĩnh nhờ sức Thần ẩn trong nó. Người hữu hạn ra Người Vô Tận thì Tình Dục hóa thành Đức Dục, sự Sống nhỏ ra sự Sống lớn Toàn Thể Chung của Võ Trụ Vạn Vật.
Cái Sáng Biết mau lẹ, càng mau càng lẹ nó liên tiếp nhau, Sáng là Biết, Biết là Sáng là Điển vậy. Cái Hơi đó nó không đứt đoạn như một cái vòng tròn không thấy mồi manh đâu hết. Cái Điển nó Sáng nên mình Biết chớ có chi Sáng Biết mau lẹ vậy, nên qua Vô-Hình là các Mối Thần nó qua mà mình Biết liền, ấy là chỗ không nghe mà nghe, chỗ không thấy mà thấy.
Hiểu Biết trong mình như vậy là Thấy bên Vô-Hình, vì Vô-Hình là Chủ-Tể, Pháp-Luật Điều-Qui.
Đạo là sự Thông Hiểu nên thấu lý cái Nguyên Bản của mình như thế là Kiến Tánh, thông đạt Đạo-Lý của Võ-Trụ như thế là Minh-Tâm, nên Kiến Tánh Minh Tâm là lập lại đặng cho mình cái Chơn-Thân Chơn-Thể trọn lành trọn tốt là Con Đường Thông Hiểu Duy Nhứt thì đó là Mình Điển Tiên Thiên, – Bổn Thân đó-, cũng là Con Đường ngay của Trời ở lòng Người Chí-Chánh Chí-Chơn phải để bước lên vậy [1]. Sống qua Vô-Hình là đi trên Con Đường duy-nhứt là mình Sống Thiệt Sống với Con Đường Trời lập cho Con Trời đi cho vững bước Trường Sanh. Thể Vô-Vi đến cùng Vô-Vi Độc-Nhứt làm một Thể Độc-Nhứt nơi Tâm, Nguyên Bản ra Bản Nguyên thì Thân, Tâm, Tánh, Mạng hiệp tròn như xưa nơi Bạch Ngọc Kinh của Thầy.
Thầy có khuyên:
Đường nơi Tâm Ngọc cầm khó sánh,
Khuyên các con chớ lánh nghe con.
Rõ thông Đại Đạo như thế, thông hiểu đặng như vậy [2], nên cái xác thân nầy, tấm thân sanh đây mới gọi đặng là cái Tiểu Kiền Khôn đâu còn phải là cái xác thân của kẻ phàm phu tục tánh nửa.
Nay Người tỉnh ngộ đặng mình rồi thì phải tiếp dưỡng tài-bồi làm cho ra cái Chơn-Nhơn Thế-Giái, một Ngôi Trời Đất nhỏ Vô-Hình, một Sự Sống đầy đủ Chơn-Ngươn.
Đạo Thầy huyền diệu nói sao cùng!
Vậy, Người Đạo phải do theo lòng Trời mà Sống vì sự sự vật vật thuộc về Tinh-Thần ở trong châu thân Người đều sống theo Lý Tự-Nhiên của nó không điều trở ngại nên Tâm Người mới Sống mới chứa được sự Sống của Trời phú-giao nên đặng Thanh-Tịnh Hư-Vô, thì Người mới có thể an-phận thủ-thường, bất kỳ trong hoàn cảnh nào tùy thì biến việc.
Đức Sư-Phụ có nói:
“Sanh, Lão, Bịnh, Tử của Đại Đạo là an là thuận với Chơn-Lý, hễ an thuận với Chơn-Lý thì được hoàn-toàn với Lý với Đạo mà hiêp-nhứt với Vô-Vi mà về với Thầy chớ có chi gọi khổ mà lo diệt”.
Hỏi: Các Mối Thần nầy lạc mối Chơn của nó là tại sao?
Thưa: Là khi Người thế-gian thâu các Mối-Thần nầy lại cho mình riêng làm sự sáng biết riêng cho mình, mà cũng không hay, tưởng vậäy là phải vậy, chỉ cho vậy là mình biết nhờ đầu óc mà thôi thì tự nhiên nó phải lạc Mối Chơn của nó, Người mới ra Người tư riêng, sống riêng, tưởng riêng, biết riêng theo Cái Người tên tuổi phàm đời, đâu đâu cũng vậy xứ nào người nấy, người nào xứ nấy, Cái Người cũng hiểu nhau một thế, sống chia Người rẽ Ta mới không thoát vòng khôn dại thị phi, theo vòng Lý-Trí.
Lý-Trí [3] chính nó là cái Sáng Biết của Thời-Gian; Không-Gian nào thì có Thời-Gian nấy, Thời-Gian nào thì có Điển-Lực nấy mà đây là cái Điển-Lực của Hậu-Thiên Hữu-Hình. Đầu óc là một cái cơ sở dùng cho Hơi Điển Trời chảy qua mà thôi. Có Hơi thì có Sáng, có Sáng thì có Biết mà người thế-gian rạp nhau mà gọi nó là cái trí-óc, cái trí khôn riêng của mình, cái Lý-Trí.
Đầu óc mà trí tri nổi gì!
Nói rõ, hãy suy kỹ nghiệm cang thì biết đầu óc là một cái máy thiên-cơ rất huyền của Trời dặt để cho Tinh Thần của Trời quản-trị thế-gian, chớ nào phải đó là chỗ thiệt biết của Cái Người tạo ra cho mình riêng, tranh khôn tranh khéo tranh hay tranh giỏi, cướp quyền của Tạo Hóa mà hại lẫn nhau trong chỗ chia rẽ Ta Người.
Không một ai Sống riêng ngoài vòng Tạo-Hóa mà nên Người bao giờ! Lại tránh khỏi Luật Thiên-Điều báo ứng.
Chớ Sống xa Trời mà lầm!
Chớ Sống chia rẽ mà hại lẫn nhau!
Nguồn Chơn-Lý đâu pha Lý-Trí,
Nguồn Lý-Chơn muôn kỷ chẳng mòn!
Tông Chi Gia-Đình Đạo thành lập như thế.
Ớ Ngưởi! Hãy mau tự tỉnh đặng cứu lấy mình.
Phước thay!
Vui thay!
Cho Người trong Chơn-Lý Tầm Nguyên
Tây Sư Tinh Quân Bữu Tinh
31 July 1958
Biết Mình
Tây Sư Tinh Quân
02 Dec 1946
Muốn tìm “Người”, tức là muốn tìm “Mình” mà lại tìm mãi trong vật thì tìm đâu ra mối, tìm không thấy mối, lại không biết mối nó ờ đâu mà tìm thì sự tìm ấy vẩn vơ trên nhánh lá thì bao giờ mới phăn đến Cội Nguồn Chơn Lý. Vì đó mà cái văn minh tấn bộ về vật chất nó có bổ ích chi đặng cho Con Người về sự Sống đâu. Mình hại mình thì có chớ nào phải cứu sống cho nhơn loại quần sanh đâu, cho Người trong cã thế gian nầy đâu!
Thưong thay! Con đường khổ cứ đi, cái vật khổ cứ tạo, rồi tranh nhau mà sống trong cái khổ đó mà không hay không biết.
Bởi vậy:
Đành quên Đạo cả tinh thần,
Đành vùi cát bụi Chơn Thân của mình.
Nói thế là buộc các hạng Người phải Tu hay sao? Vì cho rằng ở con đường đời thì lấm bề khổ não dầu có có qyuền quí bực nào, giàu của thế nào cũng không tránh khỏi cái Sanh Lão Bịnh Tử nên rập nhau trong một đời sống ngắng ngũng, đua chen tranh lấn cho đặng miến mồi phú quí công danh mà hưởng cái thanh nhàn trong thở đầu râu tóc bạc.
Nào dàm nói thế! Mà nói như thế là chán đời rồi hay sao?
Thưa: Đâu phải như thế! Đâu có kêu gọi người bảo người Tu! Đâu phải chê người rằng chán đời!
Có phần đông trong hạng người đi tu, càng thấy càng ngày càng mê muội tối tâm, càng thấy đua tranh về phần phải về con đường Tu của mình mà khinh thường con đường Tu của kẻ khác. Còn Người chán đời lại còn tối tâm hơn nữa. Cảnh đời sao mà chán nó. Nếu nó kể đếm đến mình thì có chán nó mà làm chi! Nếu chán đời, không phải cành đời thiên nhiên, mà chán cái đời của đời tạo thì người đời cũng không ai kể đếm gì đến, thì cũng không chán nó mà làm gì!
Nếu chán đời, không phải cái đời thiên nhiên mà chán cái đời của đời tạo. Như thế là có hai hạng chán hai hạng về đời với về cái đời của đời tạo. Vì đâu cũng một Người mà lấm đều mâu thuẫn trong mình?
Mà nói cho chí lý, rằng mình là Người Đạo Lý, sao nỡ chia mình với võ trụ vạn vật ; võ trụ vạn vật với mình không đồng một thể, một sự sống hay sao?
Vậy, dầu mình có nên một bực Người thì cũng nên với một sự sống nhỏ chia rẽ đó vậy thôi.
Sự Sống nhỏ là Người thế gian;
Sự Sống lớn là Người Đạo Lý;
Sự Sống vô tận là Người Chơn Lý.
Nên, cách trí tinh thần mà xét cho ra sự lý chơn thật này mới là thiệt Người Đạo Lý của Chơn Lý vậy.
Người với võ trụ vạn vật cũng đồng một sự sống như nhau, nếu biết đặng như vậy thì hãy đem võ trụ vạn vật vào mình, tức là đem tinh thần của võ trụ vạn vật là Một vơí Tâm sống mình, thì mình mới có thể sống ngan hàng với Trời Đất là sống thật cùng với sự sống vậy (vivre la vie), thì Mình này mới bao la võ trụ.
Thân thể Ta bao la võ trụ,
Thân thể Người bao phủ thế gian.
Thân thể Người bao phủ thế gian thì caí thân nầy là cái Tiểu Kiền Khôn; còn thân thể Ta bao la võ trụ thì sự sống của Ta là sự sống của Kiền Khôn võ trụ. Thấy rõ, tinh thần của Người sống đến bực nào cũng đặng, thì còn trông chi còn ngóng đợi chi mà chẳng Tu cái Chơn Thân Chơn Thể là cái Mình Thiệt cùa mình, đem nó đến cõi phúc của nó.
Biết Mình thì phải Tu mới có thể thoát tục trần.
“Hồng Ân” là Ân Điển của Trời. Trời ban cho sự sáng sống như vậy.
Khi “Đi” có Lịnh. Lịnh nầy là Mạng. Mạng Lịnh tức là Hồng Ân của Trời, là bùa hộ thân sống, nhờ “Đó” mà mình có “Đây”, lại đặng thung dung tự toại.
Khi Về, thì cùng vui trong chỗ làm tròn sứ mạng.
Về, Đi, Đi Về, cũng Một, là Một vồng tròn; Về, Đi, Đi, Về, chẳng chút ngừng nghỉ, có phải là Sự Sống Vô Vi hay không? (Sans commencement signifie: c’est l’immortalité, c’est la vie éternelle).
Người Đạo Lý phải nên Người Chơn Lý. Vậy cuộc hồng trần để lại cho hồng trần: Sống thôi. Tự mình Sống vui thôi. Vậy là vui cùng với Đạo.
“Laisses la Vie peindre sa beauté sur la toile de ton être;
Fais de toi le sol où elle s’épanouira,
N’arrêtes pas son flux incessant.
L’homme qui marche parmi les chaos, droit à son but,
Voilà l’Amour de la Vie”
Con Người tại Thế
(Tàn cư từ cõi Tiên Thiên Khí Hóa đến tận cõi trần gian)
Tánh Mạng vừa gieo tách dậm ngàn,
Ngươn Thần vận chuyển lướt trùng sang,
Thiên Chơn ung đúc Thân trong trắng,
Căn bản dồi trao Thể diệu hoàng.
Hiệp Nhứt Vô Vi Ngôi Thánh Định,
Hòa xong vạn vật Mối thần Linh.
Giống Trời ương sẳn nên Người Thiệt,
Võ trụ từ đây Một với Mình.
Nguyễn văn Kiên
Thánh danh:
Tinh Quân
Có nghiệm xét, có kinh ngiệm, có thật nghiệm, thì mới biết mới thấy sự vui thật nó có cái Gốc Vui của nó là Cội Phúc của đời sống của Con Người, thì thấy mỗi vật có tinh thần sống trong châu thân Con Người đều có Gốc hết. Sự vậy không phải là vô vi sao?
Cha mẹ tổ tông ông bà có để lại cái Đức cho cháu con nên ngày nay con cháu mới “võng dù nghinh ngan trên con đường tinh thần”, trên con đường sống tinh thần mà thiệt là tinh thần, thì cái Danh Thinh của cha mẹ đâu có mất, cũng còn trong Mình mình đây.
Như thế có phải Người tròn chữ “Hiếu” không?
Suốt thông Hiếu Đễ mới ngoan,
Lầm thông Hiếu Đễ hại càng xiết bao!
Tiếng nói mà là Hơi Điển ra thành chữ đây là tiếng tinh thần của tinh thần đó.
Nói đến đây là bước một bước rất xa với câu mở đầu là “Tìm Mình”.
Không xa đâu, vì cũng là “Mình” đó mà nay thấy rõ ràng trước mắt.
Mình nầy, Người này, sự Sống này, Mình Điển này, nó có chê cái cảnh đời thiên nhiên kia đâu, mà nó cũng không mơ cái cảnh đời của người đời tạo, vì vậy nó mới là “Vô Nhơn”, mà Vô Nhơn tức là Lý mà là Chơn Lý vậy.
Đạo Trời Khai sáng rỡ như thanh thiên bạch nhựt nào có khuất lấp ai, có làm cho ai mê muội đâu, mê muội chi cũng bởi chỗ “lộn mình”, lầm tưởng mình là Người xác thịt hoài, nên tuy gập đặng
Người Gốc của Nguyên Gốc Bổn Nguyên
Mà không thấy biết đặng thì biết bao giờ mới ra khỏi cái Khuông Tứ Giả.
Trời Khai Đạo, rõ ra, là tới thời kỳ Khai Đạo đặng cứu vớt sanh linh ai còn chúc điểm lương tâm, biết mình là Nhơn loại, phòng có tránh cái Kiếp Ngũ Lôi.
Nay Biết Mình nên phài Tu mà cứu mình.
Bức Tranh Tinh Thần
Giảng Đàn Chơn Lý của Đức Chí Tôn
Bổn nầy, chữ viết đây, là Gia Tài Thiêng Liêng để lại cho trong Đạo,
8 Jan 1957 – Xuân Đinh Dậu
Tây Sư Tinh Quân
Thi: Bức Tranh Tinh Thần
Sống tả giống giòng một vẽ tranh.
Tự nhiên ung đúc Chí Hùng Anh,
Tiên Thiên Hóa Khí Tâm như lọc,
Hậu vận thuần Hơi Tánh mới linh.
Sắc sắc Kiền Khôn công Tạo Hóa,
Không không thế giới phận nhơn sinh,
Tam Kỳ Mối Đạo Vô Vi Nhứt,
Đạt Lý Huyền Cơ vẹn chữ Thành.
Nguyễn văn Kiên
Tân An
Giảng Bức Tranh Tinh Thần
Giảng Đàn nầy chỉ cho chư vị biết sống thiệt về bên Vô Hình.
Bài thi nầy, tôi đây, Tinh Quân nầy chỉ vạch chán chường những sự vật thuộc về tinh thần ở trong châu thân Người cho Người thiệt thấy thiệt biết, chẳng vậy thì Người tưởng cái thân xác nầy nó là Mình lại là của mình, là Người tên tuổi phàm đời, nên Người tên tuổi phàm đời tự xưng mình là ông nầy bà nọ, cô kia chú nọ. Xưng bum sùm dậy Trời động Đất làm cho đến đổi đảo điên trật tự nơi không trung, mới không còn kể đếm đến ai nửa, chia Người rẻ Ta, chỉ biết có mình là trước nhứt, không nghĩ đến Ngọc Kinh nơi mình nên:
“Loạn trật tự Thánh Thần đâu chứng.”
“Sống” đây chỉ là “Thiên Tánh”.
“Chí Hùng Anh” đây là cái “Đức Tin Nguyên Vẹn”, mạnh mẻ, trong trống, trong sáng, trong ngần ở trong Tâm Con Người Trời Sanh. Nên câu: “Tự nhiên ung đúc Chí Hùng Anh” có nghĩa là:
“Thầy sanh Thầy phú đủ Hồn,
Thầy sanh Thầy dạy chẳng còn sót chi.”
Ông Văn Trung Tữ đời gọi Người là Thánh Nhơn, tu đạt được cái Lý nầy nên nói:
“Tự Tri giả Anh, tự tri cố năn tri nhơn” tức kẻ biết mình gọi là “Anh”, kẻ biết mình rồi mới biết đặng Người. Se comprendre soi même en sa propre essence, c’est comprendre la Totalité où le « Je » a disparu.
« Tự Thắng giả Hùng, tự thắng cố năn thắng nhơn » tức kẻ tự thắng là kẻ biết sửa mình, kẻ tự thắng gọi là « Hùng », kẻ tự thắng rồi mới thắng đặng người, là thắng đặng cái nhơn dục vọng tình.
Hiện thời Âu Mỹ tìm chưa ra cái Mối Sanh Hóa này ở trong mình Người nên Thầy có nói :
« Mối Vô Vi Âu Mỹ đương tìm ».
Mối nầy là Mối Cả, Mối Lý Sanh Khí Hóa, Mối Một chánh gốc đầu bài ở trong Tâm Người, một Sự Thường. Đức Phù Hựu có nói : « Trong lòng Trời Dất và loài Người đều chứa một Sự Thường mà thôi, ấy là cái Đức Tin Nguyên Vẹn đó ».
« Chí Hùng Anh » cũng là cái Chí Hướng của Cha Trời Thiêng Liêng.
Có kinh nghiệm, có thiệt nghiệm, có đặng sống mà là sống thiệt thiệt sống với cái Lý Tinh Thần sự sống thiên nhiên mới biết:
Đạo Trời là quí, Người Trời là quí nhứt.
Người vốn là Thiêng Liêng tinh thần, Trời nơi Tâm vốn là Thiêng Liêng tinh thần, tự bản tự căn, tức là có Trời nơi lòng, có Gốc Bổn Nguyên Chơn Thể, một Thể Vô Vi, nên tại thế Người thiệt thiệt Người phải sống cùng với Sự Sống là sống cùng với Đạo. (Vivre la Vie ou l’Éternité).
Bản Đạo của Tam Kỳ Nguyên Nguyên Bản Bản có nêu
« Chơn Lý Tâm Nguyên »
nghĩa là có Chơn Lý mới dẩn Người về đến Cội Gốc Nguồn của Sự Sống.
Chơn Lý là cái Lý đầu bài là Thầy đó. Thầy Chúa Tể Kiền Khôn mà lại là Thiên Tánh ở nơi Người, một Điểm Linh Quang của Thượng Đế.
Cái thân vật chất này đâu phải thiệt nó là Người, nên Đạo gọi nó là Cái Người vì Người thiệt thiệt Người là Người vô tận, Đạo gọi là Con Người, nên cái vật là thân hữu kia là để cho Người làm thể hữu hình đặng tỏ bày Bổn Thể Thiên Nhiên của Ngôi Trời Độc Nhứt nơi Tâm rất chí thiện chí mỹ. Nó là cái vật bởi chất vật vô hình tạo thành cũng gọi là cái thân vật chất, cái thân chót hết của Con Người xuống thế.
Người Vốn bởi Gốc Lý Sanh Khí Hóa 1, nên Lý Khí là Hồn Xác tinh thần của Người, còn cái vật kia vốn sanh bởi khuôn Tứ Giả 2 vậy, Vốn cũng đồng một sự Sống như nhau, song khác bực tinh thần.
Thấu đặng cái Lý nầy thì biết theo Thánh Giáo của Đức Phù Hựu Lữ Thánh Đế Quân, Giám Đốc Giảng Đàn Chơn Lý của Đức Chí Tôn rằng : « Tạo Hóa sanh loài Người nào phải để làm tôi tớ cho vật chết bao giờ vì Trời Đất và loài Người vốn đồng một Thể và một chức vụ là để tuân theo Đạo mà làm sự Sống cho muôn vật mà thôi »
Ai không có chưng trong Đạo, trong Chơn Lý Tầm Nguyên vừa nghe qua mấy lời Thánh Giáo trên đây thì rất lấy làm lạ. vi cho rằng Người đây làm thêm sống cho mình còn chẳng đặng thay huống chi đã làm cho mình sống mà còn làm sự sống cho muôn vật. Người đây còn có ngày phải chết, tránh sao cho khỏi cái Luật sanh tử thì có tài gì đã làm sống thêm cho mình lại còn làm sự sống cho muôn vật, đều không thể tin đặng.
Thưa phải – Không thể tin đặng cho người ấy, cho người sống với sự sống chia rẻ mà thôi, chớ nào là không thiệt sống với Đạo.
Vậy, xin ai đó cho tôi trạng vẽ một « Bức Tranh Tinh Thần » về sự sống tinh thần của Người đang sống đây cho Người có thể thấy được, biết được và hiểu được câu đã nói: “Người để tuân theo Đạo mà làm sự Sống cho vạn vật mà thôi”.
Ai kia lại đáp: Sự Sống đã là vô hình, tinh thần sự sống lại càng rất vô hình mà nói trạng vẽ thì trạng vẽ thể nào ra cho đặng?
Thưa đặng chớ! Sự vật có ra hữu hình vì bởi vô hình mà có, nên thiệt thấy và thiệt biết một sự vật chi phải thấy đến cái Lý Tinh Thần của sự vật mới có thể phân chơn giả đặng, mới rằng thiệt thấy thiệt biết.
Đáp – Sự vậy lại còn khó hiều nữa, sự sống đã là khó thấy, lại còn thấy đến cái tinh thần của nó thì chỉ có bực Thánh Thần mới có thể thấy biết như vậy thôi.
Thưa phải – Chỉ có bực Thánh Thần, nhưng Thánh Thần cũng ở trong mình Người đây chớ không đâu xa. Thưa Thấy đặng vậy gọi là “Cách Vật”, Biết đặng vậy gọi là “Trí Tri”, nên chỉ có cách trí tinh thần thì đặng vậy.
Ví như xét một bài thi có giá trị của người làm ra tõ kính cẩn tâm sự mình, xét ra mà thấy đặng tinh thần sự sống tinh thần của Người ấy, chẳng phải là tả một bức tranh tinh thần của sự sống tinh thần hay sao?
Hiểu biết được như vậy nên chắc « Tánh Trời » có với mọi Người làm sự Sáng Biết cho Người, nó là cái Chơn Thân của Người thiệt thiệt Người, Chơn Thân Báu Trời. Nó cũng là cái sẵn Thông, sẵn Hiểu, sẵn Biết tự nhiên của Người. Ba cái Thông Hiểu Biết nầy vốn nó là một Giống Hơi vô hình mà Hơi nầy là Hơi Điển ở nơi Trung Tâm mà là Trung Tâm Điểm của Con Người Trời Sanh.
Bài thi « Bức Tranh Tinh Thần » nầy có phải là Sự Sống vô hình của tác giả mà nay có ra hình thể là chữ đây, hình nầy là chữ mà vốn nó là vô hình vì là tinh thần tác giả tạo thành ra có phải vậy chăng ? Tinh thần sanh sống tinh thần, có phải vậy không ?
Người mà sanh sống tinh thần có phải là chủ tinh thần hay không ? Mà Chủ của chủ tinh thần này là Chủ Nhơn Ông, tức là Chủ sự thở và sự sống khắp vạn vật, cả vạn vật nơi không gian, làm chủ cả Võ Trụ. Trời đó, Nguồn Lý Sanh Khí Hóa, Gốc hai luồn điển Âm và Dương mới lập nên Kiền Khôn Võ Trụ nầy. Tạo Hóa đó, Tạo Hóa Công nơi lòng cũng đó.
Người tỉnh ngộ đặng mình, Tự Biết Mình 3 rồi như trong bài thi có giải lý hai tiếng « Hùng Anh » thì biết :
« Người » thuộc về tinh thần thiêng liêng chớ chẳng phải Người thuộc về của vật mà cần phải ăn uống mới sống ; « vật » có tinh thần của vật là Tâm của vật ; Người có tinh thần của Người là Tâm của Người, vật thì vật đổi sao dời, Người là thiêng liêng, là thiên nhiên nên Người đâu có mất mà rằng khó thầy, khó hiểu, khó biết. Một điều nên biết là Người tại thế phải làm cho mình ra Người Thiên Nhiên 4. Là Người Thiên Nhiên mới thật sống, sống làm Một với Trời Đất. Sống đặng vậy mới gọi đặng là Người Trời, trương cữu bất tiêu bất diệt, nên biết cái thân xác nấy, cái hình hài vật chất nầy là vật Trời sấm cho Con Trời xuống thế.
Người Thiên Nhiên là Người gì ?
Người Thiên Nhiên là Người tự biết mình có Gốc Bổn Nguyên Chơn Thể, tự Bản tự Căn, tức là Người có Trời nơi lòng. Mà cũng chẳng lạ chi, Người Thiên Nhiên là « Người Ta » (l’Humain) có cái Đức Nhân 5 nơi mình nên sống theo Thể của Người chớ không còn sống theo thể của vật nên chuộng về mặt tinh thần, không còn sống đeo đuổi theo bề hình thức nửa.
Còn Trường Sanh là sao ?
Muốn đặng Trường Sanh thì phải theo về với Đạo. Phải tách khỏi cái thể hữu hình mà sống qua phần vô hình cho khỏi bề vật chất niếu trì, tuy cũng còn là vật chất song đã đổi hẳn không gian, bước qua khỏi cái cảnh Dục Sắc Vô của thế giái hữu hình, vượt qua khỏi cái không gian ô tạp nặng nề vật chất thì tinh thần đặng trong sạch nhẹ nhàn, càng mau càng lẹ càng gần được với Thầy, ấy là biết Sống cùng Sự Sống Thiên Nhiên vô hình, là Sự Sống của Đạo nên thường tồn thường tại.
Sống qua vô hình là các Mối Thần nó qua, các Mối Thần nơi Người chí chánh chí chơn nó qua là nó theo Lý Sanh chánh đại quang minh của nó là Mối Một của nó nên nó mới sáng mau lẹ, nó sống nhờ Hơi, Hơi nầy là Hơi Điển cũng là các Mối Thần Điển làm sự sáng sống tinh thần, nó qui hướng trúng đường theo cái chí hướng của Cha Trời thiêng liêng, mà trúng đường nghĩa là nhầm Đạo, là trở về Ngôi Chủ của nó là Chơn Tâm, như thế Người sống tại Tâm, là một với cái Tâm Thiên Lý, nên Thể Sống sáng này mới đồng thể vơi Trời thì Thiên Tánh đặng phục nguyên. Thể của Trời gốc Nguồn Hư Không Nguơn Khí rất điềm tỉnh nhờ sức Thần ẩn trong nó. Người hữu hạng ra Người vô tận thì tình dục hóa thành Đức Dục, sự sống nhỏ ra sự sống lớn đoàn thể chung của Võ Trụ Vạn Vật.
Cái Sáng Biết mau lẹ, càng mau càng lẹ nó liên tiếp nhau, Sáng là Biết, Biết là Sáng là Điển vậy. Cái Hơi đó không đứt đoạn như một cái vòng tròn không thấy mối manh đâu hết. Cái Điển nó Sáng nên mình Biết, chớ có chi Sáng Biết mau lẹ vậy, nên qua vô hình là các Mối Thần nó qua mà mình Biết liền, ấy là chỗ không nghe mà nghe, chỗ không thấy mà thấy.
Hiểu Biết như vậy là Thấy bên Vô Hình vì Vô Hình là Chủ Tể, Pháp Luật đều qui nơi đó.
Đạo là sự Thông Hiểu nên thấu Lý cái Nguyên Bản của mình như thế là Kiền Tánh, thông đạt Đạo Lý của Võ Trụ như thế là Minh Tâm, nên Kiến Tánh Minh Tâm là lập đặng lại cho mình cái Chơn Thân Chơn Thể trọn lành trọn tốt, là Con Đường Thông Hiểu duy nhứt, thì đó là cái Mình Điển Tiên Thiên cũng là Con Đường ngay của Trời ở lòng Người chí chánh chí chơn phải để bước lên. Vậy, sống qua vô hình là đi trên Con Đường duy nhứt, là mình sống thiệt thiệt sống với Con Đường Trời lập cho Con Trời đi cho vững bước trường sanh. Thể Vô Vi đến cùng Vô Vi Độc Nhứt làm Một Thể Độc Nhứt nơi Tâm, Nguyên Bản ra Bản Nguyên thì Thân Tâm tánh Mạng hiệp tròn như xưa.
Đường nơi Tâm Ngọc cầm khó sánh,
Khuyên các con chớ lánh nghe con!
Ở trời là Lịnh 6, ở Người là Mạng 7, nên có tiếng Mạng Lịnh là Trời có với Người, Người có với Trời làm Một. 8 Rõ thông Đại Đạo như thế, Thông Hiểu đặng như vậy, nên cái xác thân nầy, tấm thân sanh đây mới gọi đặng là cái Tiểu Kiền Khôn, đâu còn là cái xác thân của kẻ phàm phu tục tánh.
Nay Người tỉnh ngộ đặng mình rồi thì phải tiếp dưởng tài bồi làm cho nó ra cái Chơn Nhơn Thế Giái, một Ngôi Trời Đất nhỏ vô hình, làm một Sự Sống đầy đủ Chơn Ngươn.
Đạo Thầy huyền diệu nói sao cùng!
Người mà tấm thân sanh thấy biết rõ, thấu đặng cái Lý Sanh của nó là Đức Gia Tô, chỉ vậy cho dể thấy dể biết:
“Gia Tô Thượng Đế tại Tâm chẳng rời”
Đức Gia Tô có phán: “Nước Ta không phải tại chốn nầy” (Mon Royaume n’est pas ici bas). Người nói vậy, thấy biết vậy, sống vậy nên đương đời cùa Ngài mới nhìn nhận Ngài là Đức Chúa Gia Tô, con Một của Đức Chúa Trời, Ngôi Hai của Thượng Đế.
Trời ban Tánh Ngôi Hai Lý Một,
Trời ẩn trong Lý Một nơi Người;
Ngôi Hai Lý Một là Trời,
Ngôi Hai Lý Một, Một Trời ẩn trong.
Tứ Bữu của Thầy ngày nay cũng thế. Cái Mình Thiệt của Tứ Bữu là cái Mình của Thầy, cái Mình của Thầy là Thiên Tánh đó. Rõ ràng như vậy:
Người không tuổi, trương sanh muôn tuổi,
Người không tên, muôn tuổi không già.
Không tuồi tức là không sống trong thời gian mà sống trong cái Hiện Tại của Ngôi Trời Độc Nhứt nơi Tâm.
Không tên là không có trong không gian mà thiệt có trong cái Hiện Tại là Sự Sống Thiên Nhiên, tức là có trong cái Nguồn của Nguồn Nguơn Khí Hóa Sanh của Trời. Cái Nguồn của Nguồn Nguơn Khí Hóa Sanh nào khác cái Tâm của Trời, của Đạo.
Có mà không, không mà có là vậy đó mới thiệt rằng Không.
Trong “Bức Tranh Tinh Thần” có câu:
Sắc Sắc Kiền Khôn công Tạo Hóa,
Không Không thế giái phận nhơn sanh.
Ấy là Người phải đến cái Tâm Không sắc tướng của bề Hóa Công là cái Hư Tâm, mà phải có cái Hư Tâm mới dứt được cái nhơn dục vọng tình, cái tánh mê trần.
Sống qua vô hình là đi trên con đường Trời lập cho Con Trời đi cho vững bước Trường Sanh.
Ghi chú:
1 Lý Sanh Khí Hóa: l’Univers de la Vie (Đạo)
2 Khuôn Tứ Giả: l’Univers de la manifestation de la Vie (Thái Cực Đồ).
3 Người tự biết mình: Se comprendre soi-même en sa propre essence, c’est comprendre la Totalité où le « Je » a disparu.
4 Người thiên nhiên, Người Ta: Thiên Nhiên :état natirel d’un être humain, vraiment humain.
5 Đức Nhân: … giả là … nhơn giả, hiệp chi Ngôn Đạo giả.
6 Lịnh hay Luật: Loi Universelle
7 Mạng: existence individuelle
8 Le But de l’existence individuelle est de parvenir à la Totalité, au Tout.
Con Đường Trường Sanh
Đức Phù Hựu Lữ Thánh Đế Quân, Giám Đốc Giảng Đàn Chơn Lý của Đức Chí Tôn có nhắc lại có chỉ rõ về Con Đường Trường Sanh:
“Các trò vẫn biết Con Đường Trường Sanh của Thầy lập ra cho các trò nó vốn là vô hình rồi, sao các trò chẳng thể theo cái Thể sống Vô Hình của Thầy ban cho các trò mà Sống theo, tập theo cho trúng Mối Cảm Ứng hòa hiệp thiêng liêng ? Các trò Sống theo Thể Vô Hình Trường Sanh của Trời lập sẳn cho các trò, các trò có phải mình là Sống vô cùng vô tận không ? Các trò có phải là Vô Ngã không ?
Con Đường Trường Sanh, Thể Sống Vô Ưu Vô Lự Vốn là kiếp Sống Vô Hình của Con Người Trời muốn có làm Người Giống của Trời mà các trò đã đặng Thầy chấm Thầy chọn.”
Đức Phù Hựu nói tiếp:
“Các trò nghe qua lời Ta vừa nói cũng còn cho là lạ tai khó hiểu nữa, song ta cho lời ấy chẳng có chi là lạ. Chẳng lạ cho Ta vì Con Đường của Ta đi, còn lạ cho các trò là các trò chưa để bước đến mà thôi. Các trò mảng đi theo con đường Trí để tìm xét Sự Lý của sự vật của cái Người còn Ta là tuân theo Đạo Lý để tìm xét cái Lý Chơn Thật của Tự Nhiên. Hai con đường đi khác nhau rất xa.
Các trò đi con đường của các trò lập ra cho các trò băng tẻ qua nẻo luân xa xây chuyển lâu ngày chầy kiếp quá quen con đường mình lập cho mình đi nên quên lửng Con Đường Trời sấm cho con Trời đi cho vững bước mà về đến tận Thầy.
Các trò thử xét « Người » nào của các trò phải để bước lên, ai đi ai bước, Thể nào đi, Thể nào bước? Người Thiêng Liêng vô cùng vô tận phải chọn Con Đường nào?”
(21 Sep 1942)
Tiếng Người Thiêng Liêng đây ám chỉ là Thiên Tánh, là cái Lý thiên nhiên tinh thần. Thiên Tánh là cái sức sáng, sức sống vô cùng vô tận ở trong cái Chơn Tâm. Chơn Tâm mới có chứa đựng cái Chơn Tánh. Theo Đức Phù Hựu thì nó cũng là cái túi thuốc vệ sanh của Thầy ban cho để trừ khử cái hơi độc của thế gian, đi đâu Người mang nó theo đó.
Đường nơi Tâm, ngọc cầm khó sánh,
Khuyên các con chớ lành nghe con!
Khuyên con lòng sắc dạ son,
Ráng tìm trúng chỗ đặng tròn Mười Ơn.
Sống về mặt tinh thần như trên đã chỉ sơ qua, còn Thấy về mặt tinh thần thì tiện đây tôi nầy phân giải cho thiệt thấy thiệt biết, ấy là đem Thiên Nhãn Lực rọi miền u ám đó tức là phá cái vô minh vậy, là đánh tản cái Lý Trí mà đời cho là cao thượng.
Vô minh che án trẻ thơ,
Lạy Thầy cứu trẻ đến bờ giác mê.
Phải biết vật nào cũng đều có cái Tâm của nó. Cái thể hữu hình đây nó cũng là một vật trong vạn vật, nó cũng có cái tâm của nó thuộc về tinh thần của vật, trong tâm nầy chỉ biết thâu rút chứa đựng những vật đồng thể với nó mà thôi, nên nó sống trong cái ảo tưởng của cái vọng của nó không ngoài Cảnh Dục Sắc Vô thì tinh thần của nó không bao giờ vượt khỏi ba từng khí chất của thế giái hữu hình.
Người Chơn Lý là Người đã vượt khỏi cai thể hữu hình đặng sống với cái Thể tinh thần của Đạo, ấy là đã vượt qua khỏi sông mê đến bờ bỉ ngạn nên sống làm một với cái Tâm Thiên Lý.
Đây bờ Cực Lạc (Tâm thiệt của Người), nọ bờ phi phi (tâm của vật).
Người Vô Tâm mới đi được chiếc thuyền vô để, vô tâm là không còn cái tâm của vật mà thật đã có lại với mình cái Tâm của Trời. Tâm của Trời không có với vật mà có với Lý, Người Vô Tâm ấy là Người không còn với mình cái tên tuổi phàm đời, mới đi được chiếc thuyền Chơn Lý. Người Hữu Tâm ấy là Người cứ tưởng mình là người tên tuổi phàm đời, thì khó nỗi để chơn. Thuyền của Đạo để rước Người Vô Ngã, thuyền của Đạo làm sao chở nỗi Người hữu tâm hữu ngã.
Nên thiệt tự biết mình là “Người” thì phải sống theo thể của Người là Tâm của Người mà kỳ thật là Tâm của Trời của Đạo.
Sống
Bài thi “Bức Tranh Tinh Thần” mở đầu:
Sống tả Giống Giòng một vẽ tranh,
ấy là Thiên Tánh trạng ra bức tranh đó. Thiên Tánh ơ lòng Người chí chánh chí chơn nên chữ trong thi toàn là chữ tinh thần sanh sống tinh thần vì Người tác giả khác nào cái Hoa tươi tắng của Trời, đồng thể với Trời, biết sự cảm hóa như Trời, tiết ra mùi hương thơm tho, trái chính ngọt bùi, lá màu tốt đẹp trong một Hơi sanh sống tự nhiên.
Người nghe đọc rước được cái Hơi, cái tiếng đọc vào lòng cũng có thể thêm đặng sự sáng tinh thần cho mình, lại cũng nhờ đó mình là cho sống lại được những vật thuộc về tinh thần ở trong mình của mình, ấy là rước đặng cái Thông Hiểu Biết vào mình làm tài liệu cho mình mới có Thể Sống vui với Đạo.
“Sống” đây ám chỉ cái Thánh Trí Thánh Giác nó sống, nó giúp tác giả toàn vẹn vượt ra khỏi giái hạng thường, nguồn tình vô tận, mối thương vô cùng, khỏi vòng sống chết thường tình thế gian, đặng chung vui với cái Sống vô biên vô lượng vô thinh vô xú vô sắc của Kiền Khôn Võ Trụ. Một tiếng nói một hơi ca của sức sống nầy là ra được một bài ca một bản đờn thâm trầm mát mẽ chen lẩn hòa vào những bài ca dạ nhạc phiêu phiêu điếu điếu thảnh thót nơi không trung đặng làm cho cây cỏ sắt đá đất nước non sông nó cũng khỏe mắt nhướng mày mà ra tỏ tình hớn hở cho đến đổi phơi lá trương cành ứng màu mát mắt.
Vui vẽ thay cho cái Sức Thiêng Liêng của Nguồn Bác Ái!
Đẹp đẽ thay cho cái Sức Thiêng Liêng của Ngọn Suối Từ Bi
Thi ca Liên Hành Chơn Lý
Tiếng Con Thầy cỏ cây nở mặt,
Vọi Kiên Giang cao ngất Định Tường,
Khuôn linh gầy dựng Trung Ương,
Phơi gan sắt đá dọn đường gai chông,
Rọi gương Chơn Lý trùng Phùng,
Muốn sao cho trọn Đại Đồng đệ huynh.
Đệ huynh tuy thấy khác màu da,
Thầy đã tường phân vốn ruột rà;
Ví dẩu đờn nam mà nhiệp bắc,
Nhưng tuồng khéo sắp được bình hòa.
Tiếng Con Thầy có phải là tiếng của Chơn Tánh không? Tiếng của Đức Thiên Sư Hổn Nguơn Thiên Sư Chưởng Quảng Cao Thiên Đài Vô Kiệt
Thì “Sống tả Giống Giòng một vẽ tranh” tiếng đây nào khác một Hơi Sanh Hóa của Trời, Tiếng Con Trời vậy.
Đàn Giảng nầy có thể làm cho tinh thần của Người trong Đạo Chơn Lý Tầm Nguyên đặng sống sáng thêm lên về mặt tinh thần, rồi trong Đạo một lòng chí Kỉnh chí Thành mới có thể làm sống lại những vật thuộc về tinh thần ở trong mình mình, khắp cả châu thân, như thế mới không sai cái Đức Hiếu Sinh của Trời vậy.
“Người đây làm thêm sự sống cho mình và làm sống cho muôn vật” là thế.
Từ đây, trong Đạo thấy tạo vật, non sông đất nước, cỏ cây mây nước, một cái lá khô, một hột cát cũng đều có Trời ở trong vì Biết.
Thiên Tánh phục nguyên đó!
Phước thay!
Vui thay!
Cho Chơn Lý Tầm Nguyên.
Thật là: Thấu Lý huyền cơ vẹn chữ Thành.
Ấy là Đạo (Sự Sống) ở trong mình mình được Thành nên Người được trò quả vị.
Câu Kinh:
Lạy cầu Mối Cả gở trau,
Các em gặp đặng Lý Sâu nơi lòng.
Mối Cả là Mối Lý Sanh Khí Hóa được phân tường trong Giảng Đàn ngày nay.
Thiên Tánh phục nguyên thì trong Đạo Sống Biết như vậy đó, chớ cò đi theo con đường trí, hiểu biết theo thế sự tình đời, ấy là tách mình qua nẻo luân xa xâu chuyển thì làm sao thoát khỏi luân hồi là thoát khỏi cái lòng lo sợ ở đời, lo hoài, sợ hoài, lo mãi, sợ mãi mới có làm cho khỗ cực tấm thân sanh mà trong Đạo cũng còn cái Hơi Cầu Nguyện, mà phải Cầu Nguyện hằng ngày mới dứt nổi tánh phàm đó.
Lòng thành thấu đến Cao Xanh,
Ngửa xin Lượng Cả chứng minh lời cầu,
Vô ưu vô lự vô câu,
Tu Tâm dưởng Tánh trước sau cho tròn.
Lời cầu nguyện nay thật hiện ra trong Đàn Giảng nầy, Con Trời còn có sợ chi, có sợ là sợ không còn giữ trọn được cái Đức Tin Trời phú mà thôi.
Lạy Thầy Chúa Tể Kiền Khôn,
Mở lòng Bác Ái thương con vói cùng.
Nguyễn văn Kiên
Tây Sư Tinh Quân
Đốc Tràng Giảng Đàn Chơn Lý của Đức Chí Tôn
25 Dec 1956
Định Tâm
Định Tâm trúng Mối hay là không trúng Mối hòa hiệp thiêng liêng là tại chỗ “Biết” mà thôi. Trúng Mối tức là nhầm Lý, mới thật là Biết Định Tâm, Thiệt Định Tâm. Tâm bao giờ không Định mà phải Định Tâm. Tâm Định là Tâm sống, Người Định là Tâm chết.
Định Tâm trong thời kỳ Thầy chuyển qua Vô Vi thì sự Định Tâm phải Hiểu cao hơn trước. Có chuyển mình được qua Vô Vi thì Thầy mới có thể cứu sống các con cái của Thầy hoàn toàn. Hiểu theo “Học Định” là Hiểu thêm lên tức là Hiểu sâu nơi lòng.
Nay sự Học Định, sự Hành Định đã là mình rồi thì sự Định Tâm phải Hiểu thấu đến chỗ Lý sâu nguồn của nó là:
Thiệt Định Tâm có ba bài học.
Định là phẳng lặng phần thân hữu tức là Thần Định, là các Mối Thần sóng lại không lạc Mối Một.
Định Học, có xét mình rồi là Sống thiệt.
Định Huệ, có Sống thiệt thì có Sáng thiệt là Thể của Trời tức là Thiên Tánh vậy.
Biết trong Hơi sanh hóa vô hình là Nguồn Nguơn Khí, thì ra Thân nầy là một Hơi vô hình, nên sự thở sự sống của Thân nầy được yên lặng, thì chỗ yên lặng tự nhiên rất điềm tỉnh là Trung Tâm mà là Trung Tâm Điểm, sự sống tinh thần ở Trung Tâm Điểm tức là Thầy, Gốc cỉa sự sống tinh thần thiêng liêng.
Định Tâm trúng Mối là hoàn toàn sự Thông Hiểu.
Nên Định Tâm trúng Mối hay là không trúng Mối mà thôi. Trúng Mối là nhầm Lý nên Định Tâm là Sống về mặt tinh thần qua vô hình, là các Mối Thần nó qua, nó qui hướng qui nguyên là nhờ chỗ trong Đạo nhứt tâm thành kỉnh mình mà ra Chí Thành động Thiên. Chí đây là cái Khối Đức Tin nguyên vẹn mạnh mẽ trong sạch trong trống trong sáng làm căn bản cho sự sống của Người, của một đời sống của Người. Các Mối Thần nó qui hướng theo Mối Một của nó là Mối Vô Vi. Điển Trời sanh hóa có Một nên gọi là Vô Vi Độc Nhứt. Qui hướng theo Mối Một của nó là Mối Lý Sanh Khí Hóa nên trúng Đường, trúng Đường nghĩa là nhầm Đạo, nên những vật thuộc về tinh thần ở trong mình mình nó lặng trang không mòi gió giông. Chỗ lặng trang không mòi gió giông có phải là cái Trung Tâm 1 của Tâm Trời chăng, cái Hư Vô của Hư Vô Nguơn Khí.
Trong bài Định Tâm Thầy có dạy:
Phải lo kiến thức cho tròn,
Đừng lo xa kiếm Thế Tôn nơi nào.
Sự Thông, Hiểu, Biết là một giống Hơi tiên thiên vô hình ở trong Tâm Trời mà còn đi Định Tâm đặng đi kiếm Trời nào ở ngoài mà phải gặm quỹ bởi cái vọng tâm.
Nên “Tu” là giúp Trời hành Đạo, là giúp Trời ở trong mình hành Đạo Trời.
“Sự Tu” là các Mối Thần nó tỉnh lại mới gọi rằng Tu.
Nên “Tu” là giúp Trời hành Đạo 2, là sự Tu trúng Mối : giúp Trời ở trong mình sáng lại theo Thể Vô Vi, nên Mình Tu là công quả với Thầy đó. Sự Tu mà thấu Lý như vậy mới gọi đặng là Chơn Tu.
Thông Đại Đạo rồi, Đạo ở trong mình đặng thông suốt rồi thì phải biết:
Chưởng Quản Nhà Chung của Thầy là Mối Lý Sanh 3, chẳng phải ai có mặt tại nhà chung của Thầy đều được tái sanh hay sao, là đổi Người ra mới và sống qua vô hình.
Chưởng Quản Cao Thiên Đài Hữu Hình của Thầy là Mối Khí Hóa 4, chẳng phải là chỗ chứa Điển Trời đó sao? Ai đến đặng nơi đó là có Lịnh Trời mới đến đặng thì Người đến đặng nơi đó là Người vô hình rồi vậy, là Người sanh Người sống cũng bởi Điển mà ra.
“Hai Chưởng Quản Chí mau Hiệp Một”.
Hai Mối nầy nầy chung hiệp thì ra Mối Lý Sanh Khí Hóa là Mối Đạo Trời.
Hai Chưởng Quản Định Tâm trong Đàn là cái then chốt , cái yếu Lý của sự Tu Chơn.
Tu chơn là Tu về bên vô hình, nên Tu là Tu lấy Phần Hốn là Tu bên vô hình vậy. Phần Hồn là phần sáng sống thiêng liêng hượt bát.
Vì lý do đó nên trong Đạo Thầy không kể về bề hữu hình ăn uống mặn lạt khác với kẻ theo tôn giáo cứ ngó về bề hình thức cho hạp với Đời nên Đời ưa thích tôn giáo. Kẻ tu Đạo Phật, người theo Thiên Chúa Giáo, Đạo Hồi v.v. chớ không thấy ai tu theo Đạo Thánh là Đạo Sáng. Đạo Sống Sáng, sáng là Sống, Sống là sáng, chỉ có Đạo Trời mà thôi.
Nay chư vị ở trong Đạo Trời mà chưa hiểu Đạo Trời là Đạo Sống Sáng thì có thể nào được Sáng lòng. Bởi không được sáng lòng vì Đạo không thông, thì Đạo nào làm sự sống thiêng liêng thêm đặng cho Người, nên không quản gì lắm về sự Tu Chơn của Thầy dạy, nên không thể sửa mình chuyển mình cho kịp qua Vô Vi.
Vậy tuy ở đời, cái « Biết » thiệt Biết là Lương Năng Tánh Trời. Cái Biết đó ở nơi lòng Người chí chánh chí chơn là Người thiệt thiệt Người là Con Trời vậy.
Mối Cả gở trau mà trong Đạo cầu xin đó là đây. Cái Mối Lý Sanh Khí Hóa chỉ ra cho trong Đạo tỉnh mình nó sẵn có nơi lòng Người của Trời muốn có, Người Giống của Trời ở thế hạ.
Nay đến giờ qui nguyên Vô Vi Hiệp Nhứt là các Mối Vô Vi của Thầy hiệp nhứt với Vô Vi Độc Nhứt nên trong Đạo thường nhựt phải Định Tâm là tập mình sống qua vô hình vô vi về mặt tinh thần vì vô hình vô vi là Chủ Tể Sự Sống.
Sống thay !
Nên muốn Tu thì phải thật tu mới thành, tức la sửa chửa mình theo Điển Vô Vi của Thầy, sửa Điển ở trong mình mình vì toàn thân toàn thể Con Người là Điển, mà Điển nơi mình phần xác là Điển Hạ Thiên, nó rất nặng nề không được trong sạch, nhưng mà nó là cái Thông Hiểu Biết của Con Người sau khi có cái xác thân nầy rồi biết, nên cái biết vụng về thô sơ đó là cái Điển quang lạc mối chánh chơn, mà nó lại che án khuất cái Thiên Nguơn thanh tịnh không hiện ra được.
Tu cho quĩ phục thần kiên thì Người mình, Con Trời đó được phục hồi cựu vị nơi Vô Vi của Vô Vi cảnh giái, tức là Điển Hạ Thiên nối liền lại với Điển Trung Thiên, Cao Thiên, tới Cao Việt Thiên Đài, hóa thành một Hơi Thanh Khí sanh hóa của Nguồn Nguơn Khí Hóa Sanh từ Trời mà ra, như thế là Thầy thở đặng dài Hơi thì con đặng việc đặng lời nghe con !
Vui Thay !
Phước thay !
Lạy Thầy Chúa Tể Kiền Khôn,
Mở lòng Bác Ái thương con vói cùng.
Thưa chư vị !
Chư vị khi chưa nghe đặng bài giảng nầy là khi chư vị mới vào Đàn, nay cũng là chư vị đấy chớ không ai khác, chư vị nghe đặng, hiểu đặng, chư vị cũng tự biết mình không còn như trước, ấy là chư vị đã đổi hẳng không gian, đổi người ra mới rồi, chư vị giờ nầy trong thời gian nầy thật sống với cái không gian Nguơn Khí, không còn sống với cái không gian ô tạp nửa thì đó là chư vị đang sống qua vô hình. Chư vị mỗi lần hứa nguyện nhập Đàn Định Tâm thì thấy mỗi lần đều khác thời gian càng mau lẹ, khác không gian càng nhẹ nhàn trong sạch thì càng gần đặng với Thầy.
Thầy thường khuyên : « Sao các con chẳng mới lấy mình », thì chỉ có nhập Đàn Định Tâm mình mới biết đặng thôi, biết mình có mới lấy mình là được thấy nhẹ nhàng thân thể.
Đạo Sống, Đạo Sáng, Đạo Học, Đạo Hành đều ở trong mình của mình hết. Bốn món Báu Trời nầy chung hiệp là Khối Đức Tin Nguyên Vẹn, mạnh mẻ, trong trống, trong sáng, nay hiển hiện ở lòng Người vô hình làm Trung Tâm Điểm cho Người chí chánh chí chơn là Người thiệt thiệt Người.
Ở thế gian mắt phàm xác thịt có ai thấy đặng Người thiệt thiệt Người đâu, Chơn Nhơn đâu, có ai thấy Người Ta là Nhơn Loại đâu, thế gian chỉ thấy biết cái xác phàm của người phàm xứ nầy nước nọ đó thôi, duy có Chơn Lý mới Thấy Biết đặng thôi.
Đạo Thầy huyền diệu nói sao cùng!
Nguyển văn Kiên
(Tân An – 8 Jan 1957)
Bữu Tinh
Tây Sư Tinh Quân
Đốc Tràng Giảng Đàn Chơn Lý của Đức Chí Tôn
Lý sâu nơi lòng
Lý sanh: Mối Sanh Sanh mãi,
Khí Hóa: Mối Hóa Hóa mãi,
Sanh Hóa Hóa Sanh hai Mối phải hiệp rồi Sanh Sanh Hóa Hóa vô cùng mới có ra sự sống hữu hình là Đạo Dụng của Thầy tại thế gian.
Tạo Hóa dựng nên Tạo Vật nên trong Tâm của tạo vật có Tạo Hóa Công.
Tạo Vật của Thầy ngày nay là Hột Giống Chơn Lý của Thầy còn ương hoài ương mãi cho thành Hột Giống Tự Nhiên là Hột Giống của Trời muốn có Người Giống của Trời.
Hột Giống tốt cùng gieo rải rác,
Nhưng chỗ nầy chỗ khác không đồng;
Cũng vì tại ở nơi lòng,
Người ham Chơn Lý kẻ mong giành quyền.
Còn Lý sâu nơi lòng là sao?
Là: Âm Ngũ hành, Dương Ngũ Khí.
Đống Nai Vàm Cỏ khắp nơi,
Đường dài gánh nặng của Trời phú giao.
Đồng ám chỉ là Đất,
Vàm ám chỉ là Nước.
Đồng thì nai ăn lúa của Thầy,
Vàm thì cỏ ăn lúa của Thầy.
Người là Lúa của Trời mà!
Bữu Tinh nầy, Tinh Quân nầy phần trách nhậm, cái Thiên Mạng là đem ban bố Đạo Trời khắp tràng trên mặt trái Địa Cầu mà trái Địa Cầu đây mới thiệt là cái Tiểu Kiền Khôn, một Ngôi Trời Đất nhỏ của muôn ngàn Kiền Khôn mà Thầy là Chúa Tể.
Thiên Sư Chưởng Quản là mối chấp chưởng Mối Đạo Trời. Mà một Mối Đạo Trời nào ngay thời kỳ bây giờ chưa thành Hột Giống của Trời thì Thiên Sư Chưởng Quản chưa tròn trách nhậm của Trời phú giao.
Chừng nào Hột Giống gieo rãi rát đặng hoàn toàn sứ mạng thì Mối Đạo Thầy mới tràng khắp Ngũ Châu là Ngũ Hành Ngũ Khí. Chung trong Nhà Chung của Thầy sống sáng kiệp như ánh Thái Dương thì Đạo Thầy mới thông miền Ngũ Châu, lúc vậy là Âm Dương ngưng kiết hóa phân Tam Tài.
Chừng ấy Thiên Sư Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài lập xong danh phận Tam Tài nơi mình rồi thì Thiên Sư Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài mới phải mặt là Người thế nơi cỏi hữu hình cho Thiên Sư Chưởng Quản Cao Thiên Đài Vô Kiệt thì Đức Hổn Nguơn Thiên Sư Chưởng Quản của Thầy mới Chường Quản Thế Gian ni, trên thiệt mặt trái Địa Cầu nầy.
Đạo Trời ra Đạo Dụng giúp công ơn Thầy. thì Người là Trời, Trời là Người, Thầy là các con, các con là Thầy.
Người Chơn Lý ai cũng có « Âm Ứng Thân » còn mình là « Dương Ứng Thân », nên Người Thiệt Thiệt Người (l’Humain), Âm Dương Ngũ Hành là cái Thể sống hữu hình ở trần thế.
Phước thay !
Đạo Trời huyền diệu nói sao cùng!
Bữu Tinh – Tây Sư Tinh Quân
Đốc Tràng Giảng Đàn Chơn Lý của Đức Chí Tôn
27 jan 1957
Kính Lạy Ðức Bửu Tinh
Lạy cầu ân Ðức Bửu Tinh,
Giáng trần cạn tỏ Lý Sinh của Trời.
Ðồng nai vàm cỏ khắp nơi,
Ðường dài gánh nặng của Trời phú giao.
Lạy cầu Mối Cả gỡ trau,
Các em đặng gặp Lý Sâu nơi lòng.
Ngửa nhờ lượng cả dầy công,
Dắt dìu em dạy còn trông đến Thầy.
Các em ngu dại thơ ngây,
Mà lòng mộ Ðạo đêm ngày cần chuyên.
Xin Người mở lưới Nghiêu Thiên,
Cứu bầy em dại đặng yên tu hành;
Cùng nhau giõi bước tập tành,
Cùng nhau gặp đặng Tánh lành ban sơ.
Phong bình sẵn đúc sẵn chờ,
Chở che em dại sớm trưa thờ Trời.
Các em ngu dại khắp nơi,
Một lòng chí hướng chẳng rời Lý Sinh.
Lạy cầu ân Ðức Bửu Tinh,
Giáng trần cạn tỏ Lý Sinh của Trời.
Thi Ca
Tao Hóa Công nơi Lòng
Thiên Công im Tánh lại im Hơi,
Mà lóng tai nghe chẳng chút rời,
Đừng tưởng vườn hoang cây cỏ loán,
Ba giềng khắn khích vững ba Ngôi.
(Thánh Giáo)
Con Người tại Thế
Tánh Mạng vừa gieo tách dậm ngàn,
Ngươn Thần vận chuyển lướt trùng sang,
Thiên Chơn ung đúc Thân trong trắng,
Căn bản dồi trao Thể diệu hoàng.
Hiệp Nhứt Vô Vi Ngôi Thánh định,
Hòa xong Vạn Vật Mối Thần Linh,
Giống Người ung đúc nên Người Thiệt,
Trời Đất từ đây Một với mình
Nguyễn văn Kiên
Tân An, Nov 1946
Lý Tưởng Chơn Chánh
The True Vision – La Vraie Pensée
Một Sức Sống Vô Hình lưu thế hạ,
Đem Bút Thần ai khéo tả cho nên,
Của Trời ban, của ấy vốn không tên,
Người xuống thế vì đâu quên Cảnh Củ. 5
Mượn thân xác khép mình trong Vũ Trụ,
Đầu đội Trời đầy đủ Khí Anh Linh,
Đứng làm Người phải giử trọn Phần Tinh
Đừng đem nó đổi nhục vinh cặn bã.
Nó là Mối dẩn Người về Ngôi Cả,
Nó là phương thuốc lạ của tiên duyên,
Công dày Tu mới gặp nó mảng viên,
Giây quang tuyến nối Người tiên kẻ tục.
Nó là mạch tinh thần nguồn hạnh phúc,
Đỉnh trầm tư nghi ngúc thức ly tao,
Tấm Lòng Trong chí kỉnh đến Trời Cao,
Hoa dệt gấm chi hờn màu thanh bạch.
Người gặp nó Trời Trong đâu xa cách,
Dậm Kiền Khôn vuôn tất ấy là bao,
Nước trong xanh lòng Bóng Nguyệt như chào,
Khách Tâm Đạo bước vào Huyền Diệu Cảng
Thoại Quỳnh Sơn – Viên Giác (1951)
La Vraie Pensée. la Véritable Intelligence, c’est mouvement et c’est le mouvement de la Vie, donc, Action (Vô Vi), c’est à dire l’Éternité, le Devenir éternel. Par la bouche, cette action est la voix, par les yeu, la clairvoyance, par l’ouie, le bon sens, etc.
Chơn Lý Đạo – Sự Tu
- Mình « Tu » cho đế bực Chơn, được vậy rồi ;
- Bực Chơn nầy « Tu » cho đến bực Chơn Như.
- Chơn Như ở trong mình Người là các Mối Thần được Chơn Nhứt là sẵn có nơi Tâm của Trời của Đạo.
Như thế là Trời trong trong Người đã đến cùng Ngôi Trời Cao Thiên Đại Đế thì Người Trời ở thế mới hoàn toàn Sứ Mạng của Thầy phú giao.
Giúp Trời hành Đạo là giúp Trời trong Tâm mình Hành Đạo Trời Thiêng Liêng Vô Kiệt.
Người như thế là Con Trời ở Thế hạ, mới đáng mặt là Con Thầy.
Bữu Tinh
Tây Sư Tinh Quân
1 Trung Tâm Điểm tức là Thầy đây.
2 Le réveil de l’Intelligence du Réel
3 Mối Lý Sanh: l’Éternel Naissance
4 Mối Khí Hóa: le Renouveau de la Vie
5 Cảnh củ: Éternité – Cảnh Hư Vô của Vô Vi Cảnh Giái
Đức Tin Nguyên Vẹn
Giảng Đàng Chơn Lý của Đức Chí Tôn
Đức Tây Sư Tinh Quân
1955
Nguồn Chơn Lý là Nguồn Sống Thiệt
Nguồn Chơn Lý là Nguồn Chơn Thể,
Thể Người đây vốn Thể của Trời.
Đức Tin Nguyên Vẹn – La Vraie Foi
Thật có Đức Tin Nguyên vẹn mạnh mẽ trong sạch trong trắng trong sáng vững chắc nơi lòng là phải biết nơi mình “Sẳn Có” một cái sức mạnh vô hình thiêng liêng phi thường, vững trải tự thể nó rước nổi cái Điển của Trời làm thêm sức sáng sống tinh thần cho Người, nên bổn phận Người Tu Chơn theo Đạo Một của Thầy là phải đem mình đến tận cái mục đích Trời định cho Người là đến tận cái Thể chí thiện chí mymỹ mới có thể giúp công hóa hóa sanh sanh cho Trời là hóa sanh vạn vật làm cho ra một cái thế giái chơn nhơn vô hình nữa đó vậy.
Đức Giám Đốc Giảng Đàn Chơn Lý của Đức Chí Tôn có phân tường:
“Trời, Đất, Người, trong lòng vẫn chứa một Sự Thường mà thôi. 1 Thường ấy nghĩa là không thay đổi, không được không có, không được không không, không đủ, không thiếu, không dứt, không ngớt, không ngừng, không nghĩ, không mau, không chậm; Thường Thường hoài mà cũng Bình Thường hoài, muôn ngàn triệu ức kiếp như Một.
Đã gìn giữ Sự Thường ấy được, giữ trọn vẹn như vậy, mà còn phải có Đức Tin chắc thiệt không sai. Làm sự Thường, giữ sự Thường, làm sự Thiệt, giữ sự Thiệt, làm và giữ hoài cho Thường và cho Thiệt cho trọn sự Tin, ấy là Vật của trong lòng Trời Đất và Người chứa sẵn đó. Được Thường được Thiệt được Tin, ấy bởi nơi Lý rất chắc rất vững, có Một không Hai, lý ấy là Chơn Lý vậy. Biết được Lý rất chắc rất vững, Làm và Giữ cho Thường cho Thiệt cho Tin, là Đạo của Trời, Đất và Người vậy. Trong sự Biết và sự Làm cho được Thường được Thiệt được Tin, ấy là do nơi Sự Sống, trong Sự Sống ấy cũng do nơi Hơi được Thường, được Thiệt được Tin, Hơi ấy tức là Ngươn Khí hay là Sanh Khí vậy. Ngươn Khí ấy có Thường, có Thiệt, có Tin thì mới có Sống, nên gọi Đạo là Sự Sống.
Đạo, Chơn Lý, Ngươn Khí, mà phải cho Sống, nên gọi Một mà Ba, Ba mà Một vậy.
Một ấy là Chi? Là Sự Sống vậy.
Thử xét coi ba Vật kia có Vật nào dám bỏ, dám rời sự Sống hay không? Sự Sống ấy Ba Vật đồng hưởng chung với nhau, hay là mỗi Vật tự mình hưởng riêng lấy của mình? Mà có Vật nào tự mình có riêng và giữ riêng lấy cho mình hay không? Hay là phải nhờ nhau mới có? Nhờ nhau mới Sống?»
Đức Phù Hựu Lử Thánh Đế Quân
Có cái Đức Tin nguyên vẹn nơi Trời Trong trong Người là phải không xa không rời Trời Trong mới được, nghĩa là Người phải là « Trời », mà « Đó » là Trời Trong trong Người, tức là Tạo Hóa Công nơi dạ.
Kinh có câu :
Tuy rằng Người ở trong Trời,
Lời Trời đã dạy chớ rời Trời Trong.
Nên phải thiệt hành bổn phận Người Tu theo cái mục đích của Trời Định cho Người, cho ra Người thiệt thiệt Người theo cái chí hướng của Cha Trời thiêng liêng, mới có thể sống vui với Đạo đời đời bất diệt đời đời bất tiêu.
Đức Sư Phụ vừa nhắc vừa khuyên :
« Ngày nay các con cái của Thầy phải mạnh bước trên con đường Tu. Có học Đạo mới biết sự Tu không dể. Đạo Thầy dạy đến ngày nay mà các con chưa nên cái Đạo học, cái Đạo hành nơi mình các con thì làm sao kịp đem Bổn Thân chầu Đức Ngọc Đế ? »
Có học hỏi nơi mình, do theo Thánh Giáo, học cho mình, hỏi lấy mình, — trong mình không có sự sống hay sao, mà Đạo là sự Sống ; — mới có thể biết chắc chắng rằng cái thân xác nầy, cái hình hài vật chất đây là vật của Trời sấm cho con Trời xuống thế dụng nó làm thể hữu hình đặng tỏ bày Bổn Thể thiên nhiên của Ngôi Trời Độc Nhứt nơi Tâm rất chí thiện chí mĩ.
Cái thân xác nầy nó luôn luôn biến chuyển một thể tự nhiên thì nó mới sống theo Đại Đạo, là từ sơ sanh trong bụng mẹ đến sanh ra có hình thể tại thế gian, từ bé đến lớn chí già rồi rụi ; cái rụi, cái chết của nó theo Đại Đạo là thay hình đổi dạng hình chất ra thể chất mà thôi rồi cũng biến chuyển mãi, có như thế thì nó mới thiệt là vật sanh hóa của Trời. Rõ vậy thì nó đây là Vật Lý theo Người Tu Chơn biết, nào cò phải là vật chất nữa, nên nó có chết có mất thì « Người » là chủ của nó nào có chết mất theo đâu mà thế gian từ bao giờ đến bao giờ rất lầm to về chỗ này !!!
Vật nào của Trời sanh Trời sấm cho Người nó đều có cái Lý của nó hết.
Lý của nó là chi ở trong mình của mình ?
Lý của nó là cái Mối Đầu của nó, lại trăm Mối Thần làm sự sống vô hình cho Người đều do nơi Mối Một là Mối Vô Vi Điển nơi Trung Tâm mà là Trung Tâm Điểm của Con Người.
Mối Đạo Thầy là Mối Vô Vi.
Hai chữ Vô Vi Mối Đạo Thầy,
Bốn mùa thay đổi cứ vần xây,
Chim bay cá lội hoa đua nở,
Ai thấy thợ nào có để tay.
« Vô Vi » là « Vô sở bất vi » : Có làm mà chẳng thấy làm, chẳng thấy làm mà có làm ; chẳng thấy có mà thiệt có, mới thiệt là sự sống thiên nhiên như bốn mùa vần xây, vạn vật sanh yên.
Nay nhờ sự học Đạo và tùy theo bực Đạo học Đạo hành của mình với sự Tu Tỉnh mình mà Người nầy đặng biết cái thân vật chất đây nó là vật lý của Trời, thì tự nhiên, nó sống theo Lý Đạo nơi lòng, Người mới chẳng còn lo sợ về chỗ mất còn sanh tử tử sanh, mới rõ câu :
Thiên sanh hữu mạng,
Thiên mạng vi tôn.
Thì Người đây phải do theo lòng Trời mà sống vì sự sự vật vật thuộc về tinh thần ở trong châu thân Người đều sống theo Lý Tự Nhiên của nó không điều trở ngại nên Tâm Người được thanh tịnh, Người mới có thể an phận thủ thường bất kỳ trong hoàn cảnh nào tùy thì biến diệc.
Đức Sư Phụ có nói về cái thân xác :
« Sanh, Lão, Bịnh, Tử là an là thuận với Chơn Lý. Hể an thuận với Chơn Lý thì được hoàn toàn với Lý với Đạo mà hiệp nhứt với Vô Vi mà về với Thầy chớ nào có chi gọi Khổ đâu mà phải lo diệt »
Hỏi : Các Mối Thần nầy lạc mối chơn của nó là tại sao ?
Đáp : Là khi Người thế gian thâu các mối thần nầy lại cho mình riêng làm sự sáng biết riêng cho mình cho mình mà cũng không hay vậy là vậy, chỉ cho vậy là mình biết nhờ đầu óc mà thôi, thì, tự nhiên, nó phải lạc « Mối Chơn » của nó, Người mới ra Người tư riêng, sống riêng, tưởng riêng, biết riêng theo Cái Người tên tuổi phàm đời, đâu đâu cũng vậy, xứ nào người nấy, người nào xứ nấy, Cái Người cũng hiểu biết như thế mới không thoát vòng khôn dại thị phi. 2
Một khi đã lạc Mối Chơn rồi thì nó thâu rút chất vật vô hình của Trời Đất hữu hình đồng thể và đồng chất với nó làm thêm sức sáng sống riêng cho nó tức là cho Cái Người phần xác, nên Cái Người nầy mới lạc Tổ xiêu Tông chẳng còn biết căn cội thiêng liêng của mình ở đâu mà tìm mới đành sống theo hoài với cái vật hữu hình mà vướng vào vòng sanh tử tử sanh theo vòng Lý Trì sa mê ích kỷ tự kiêu. Lý trí chính nó là cái sáng biết của thời gian, tức là cái Điển lực của Hậu Thiên hữu hình. Đầu óc là một cái cơ sở dùng cho Hơi Điển chảy qua mà thôi, có Hơi thì có sáng, có sáng thì có biết nên người thế gian gọi nó là cái trí óc, cái lý trí : cái trí khôn riêng của mình.
Đầu óc mà trí tri nổi gì !
Nguồn Chơn Lý đâu pha lý trí,
Nguồn Lý Chơn muôn kỷ chẳng mòn.
Tiện đây tôi xin đem ra một đoạn Thánh Giáo của Đức Phù Hựu Lữ Thánh Đế Quan, Giám Đốc Giảng Đàn Chơn Lý của Đức Chí Tôn dạy về :
« Cách Vật Trí Tri »
Cho rõ chỗ sai lầm của nhửng ai trong Đời kình nhau mà dồi mài Lý Trí ; còn về hạng Người Tu Người học Đạo mà chưa thông về khoa nầy thì sự Tu của mình là Tu nổi gi ? Cái Đạo mình học là cái Đạo gì ? Đạo ấy có cứu sống đặng Người mình chăng ?
Thánh Giáo
« Bởi các trò thường dùng Cái Trí của Cái Người đặng Cách Cái Lý của Vật mà gọi rằng Cách-Vật Trí-Tri, làm thể ấy chính là dùng Lý Trí của Cái Người đặng Cách Sự Lý Vật Chất của Cái Vật, chớ nào phải là chụi Trí Lương Tri của Con Người đã sẳn có, đặng Cách cho đúng tột Tinh Thần Sự Lý của Vạn Vật Võ Trụ đâu? Nếu dùng theo Lý Trí của các trò đặng Cách Vật, thì Ta thấy các trò xét biết Lúa là một vật để nuôi sống cho Người, nếu Người muốn sống thì phải xay Lúa cho ra Gạo, phải chà phải giả Gạo ấy cho trắng, phải nấu cho chín thành Cơm mà ăn mới sống. Hoặc cũng có trò lại khảo cứu các tánh chất trong hột Lúa có những chi, đặng chế biến Gạo ấy cho thành Bột có thể dùng trong những món ăn khéo léo khác mà gọi là nuôi sự sống cho Người. Các trò làm như vậy gọi là Cách Vật, làm như vậy gọi là Trí Tri. Xét coi cái khoa học của trò Cách Trí như vậy, tìm tánh chất của các Vật thể ấy, nếu đem ra đặng biến hóa càng nhiều càng tinh xảo chừng nào, thì Ta thấy càng chế thêm ra nhiều thứ thuốc độc để hại sanh mạng của Người cho mau tiêu diệt thì có, chớ nào có ích lợi chi cho Sự Sống của Người đâu, mà sao Ta coi các trò lại ưa chuộng những khoa học hóa học ấy hoài?
Phải biết : Khoa Học Hóa Học là khoa vụ tìm cho ra sự Sanh Sanh Hóa Hóa của Võ Trụ, vụ giúp sự Trường Sanh cho Chơn Thân Chơn Thể Con Người kìa chớ! Muốn tìm cho ra khoa Hóa Học Trường Sanh, thi phải dùng khoa Cách Trí của Ta đã chỉ, là phải Trí Lương Tri đặng Cách Sự Vật cho Tinh Thần mà thôi. Muốn theo khoa Cách Trí Tinh Thần thì phải nhớ rằng:
Vạn Vật Võ Trụ với Người đây vốn đồng Một Sự Sống như nhau, vì đều bởi Một mà ra, bởi Một mà nên. Nếu ai không biết đến Một nầy, thì ắt phải tiêu diệt.
Đã là Một rồi, song Một ấy lại hóa ra Hai. Hai nầy là Hồn và Xác, tuy gọi Hai song vốn có Một. Vậy nên Vạn Vật Võ Trụ với Người không lạ chi, vẫn là Một, vì thảy đều có Hồn và Xác như nhau, và cũng đều do nơi Một kia mà có vậy, dầu cho cầm thú, cỏ cây cũng đều có Hồn và Xác như Người, song Người là một Vật Quí hơn các Vật trong Vạn Vật, vì Người trọn đủ phần Hồn hơn.
Hồn của Người như là như là Ngọc của Lúa vậy. Lúa kia còn phải có Ngọc mới được Sống thay, huống chi Người nầy lại không có nó sao? Vậy nên Con Người phải dùng Ngọc của Lúa đặng nuôi Sự Sống cho Ngọc của Người. Mà Ngọc của Người là chi? Ấy là phần Hồn đó. Sao chẳng nhớ rằng:
« Hồn con là Ngọc của Thầy ».
Gạo là gạo chớ nào phải là Ngọc. Gạo nuôi được Sự Sống cho Cái Người, chớ nào nuôi được Sự Sống cho Con Người bao giờ. Gạo tuy rằng nuôi Sự Sống cho Cái Người, mà có khi Cái Người còn phải bịnh phải chết vì gạo nữa! Gạo đã chẳng phải là vật nuôi cho trọn sống Cái Người, thì nào nó có làm chi cho sống Con Người được đâu? Vì vậy nên Ta đã nói rằng: « Con Người chẳng hề ăn cơm gạo » là vậy đó.
Vậy thì Con Người ăn những chi mà Sống?
Ta đã nói Giống Lúa biết tuân theo Đạo, nên chịu mở Hư Tâm ra hứng lấy Tiên Thiên Vô Hình vào mình đặng làm Ngọc cho nó, vậy thì đủ rõ biết rằng Tiên Thiên Vô Hình ấy là Chơn Lý của Đạo, một khi Lý ấy đã đựng vào Tâm của Lúa rồi, thì nó thành ra Hậu Thiên Hữu Hình; nó đã thành hình rồi, thì Đạo ấy Lý ấy kêu là Ngọc, vậy thì Con Người phải dùng Ngọc ấy mà nuôi sống, vì Ngọc ấy mới chánh là Đạo Lý của Vũ Trụ đựng vào trong thân của Lúa, chớ Gạo kia nuôi cho khắp cả mọi vật đều được, nào phải để riêng nuôi cho Cái Người của Con Người mà thôi đâu! Ngọc kia mới nuôi cho Con Người được. »
Người Học Đạo phải thể lấy lời nầy mà làm cho mình đặng Sống thêm lên.
Đứng sái chỗ lạc đường, lộn mình mới lộn Điển trong mình mình nên sự hiểu biết tư riêng nầy không thật là « Biết » vì không bởi nơi lòng chơn thật mà ra, nên lắm điều quỉ quyệt bởi sự sống chia rẻ của vật.
Sống làm một với Trời Trong mà thành mà nên Con Người Trời muốn có, « Người Giống » của Trời ở thế hạ, thì sự Thông, Hiểu, Biết về Đạo, nào phải là về Người phần xác thân nầy biết, nhưng Người đây phải là Người Đạo Lý mới đặng, nên sự Thông, Hiểu, Biết về Đạo là của phần Linh Hồn là Chơn Lý của Đạo, nào cần học hỏi đâu xa :
Tự Tâm tự Tánh mà!
Nên « Vô Vi » là sự Thông, Hiểu, Biết thuộc về Tiên Thiên vô hình là Chơn Lý của Đạo, có sự Thông, Hiểu, Biết của Hậu Thiên vô hình làm nền tảng – Thân Đạo Lý 4 – mà đặng sự Thông, Hiểu, Biết của Tiên Thiên hiệp một mới trọn đủ sự Thông, Hiểu, Biết của Con Người có xác thân tại thế.
Đứng trúng chỗ nhầm hướng theo một con đường ngay của lòng thì Biết :
Muôn sự chi chi cũng bởi Trời, mà Trời đây tức là Tất Hơi Sanh Hóa. Hơi nầy là Hơi Điển trong Nguồn Nguơn Khí Hóa Sanh của Trời mà thôi. Có câu :
Nếu con sai lạc Tất Hơi,
Luân hồi quả báo chạy Trời đặng sao ?
Nên Người phẩm giá thiêng liêng phải dồi trau Tâm Tánh, mà Tâm Tánh vốn là Hư Không, nên cần phải ung đúc tinh thần cho càng ngày càng phát triển, chánh đại quang minh, mới có thể giử gìn Điển Tuyến trong sạch trong trống trong sáng, được Thường, được Thiệt, được Tinh không chút dợn xao hay bi gián đoạn hoặc bị cắt đứt mà phải lụy mình hại đời. Ung đúc tinh thần nhờ có phép Định Tâm, Định Thần, Định Huệ pháp trong Tánh mình.
Về « Luật Thiên Điển », vật sống nào cũng đều có chứa sẳn nó hết. Nhưng vật Sống có sự Biết là « Người », — Người cũng là một vật, Đạo cũng là một vật, — Người có « Biết » thì phải có « Thông » mới được là xuôi theo cơ vận chuyển của Đạo như bốn mùa vần xây mới còn hoài, nghĩa là phài sống theo một nhịp với Trời, một chiều với Đạo vì cái mình thiệt của Người là cái Mình Điển nó cũng phải mới lấy nó hoài mới nên : nó mới một Thể Vô Vi. 5
Kinh có câu :
Con ôi ! Đạo chuyển lại xây,
Chuyển xây theo Đạo có ngày nên duyên.
Thánh Kinh mỗi mỗi có chỉ rõ đặng cho Người có thể sửa chửa các Mối Thần Hạ Thiên hữu hình cho nó qui huớng trúng đường trở lại Cội Nguồn Chơn Lý của nó.
Người Chơn Lý phải học Đạo, Định Tâm là mới được như vậy đó.
Đạo là sự Sống sáng tinh thần, học Đạo phải do khoa Cách Trí tinh thần. Biết đem sự Sống của Đạo làm thêm sự Sống cho mình mới rằng là Biết Đạo.
Kinh có câu:
Tua ung đúc tinh thần phát triển,
Khá giử gìn Điển Tuyến quang minh;
Mấy từng đồ sộ cao xanh.
Đương liền như lưới với Mình mình đây.
Nay Người đặng tròn tỉnh ngộ thì mới thiệt biết Sự Sống hữu hình vô hình trong Tạo Hóa đều do Nguồn Điển Âm và Dương của Trời vì Trời là Gốc của hai luồn Điển Âm và Dương đó tức là Nguồn Nguơn Khí Hóa Sanh mà sống mà sanh theo Đại Đạo.
Nhờ Chơn Lý mới có thể Tầm Nguyên đặng cái Nguyên Lý của Sự Sống mà sống theo cho ra Người của Trời muốn có “Người Giống” của Trời ở thế hạ.
Kinh có câu:
Vật Trong thấu Lý mới minh,
Vật Trong thấu đặng Lý Sinh mới tròn.
Vật Trong đây là cái Khối Đức Tin Nguyên Vẹn nhờ đó mới thiệt biết cái mục đích của cái đời sống của Người là phải đến đặng gặp đặng Người Nguyên Nhân vô thĩ, tức là Thầy cho biết “Người” mà về với “Người”.
Thánh Kinh có đoạn:
Nguơn Nguơn Hóa Hóa Sanh Sanh,
Bổn Lai sẵn có Nguơn Tinh Khí Thần,
Gọi là Tam Bữu chi thân,
Người tua trân trọng muôn phần chớ lơi.
Vậy, gạn hỏi lại : Đức Tin là vật gì trong sự sống của Người?
Ấy là khối Nguơn Tinh Khí Thần, Bổn Lai của nó sẵn có nơi mình lúc đầu tiên trước nhứt trong cõi vô hình, nếu không có nó nơi mình thì Người nhờ chi mà biết trở lại Căn Cội thiêng liêng của Người là Quê Xưa Cảnh Củ 6 nên Bổn Lai nầy cũng là cái Chí Hướng của Cha Trời đó vậy.
Đức Sư Phụ có nói :
« Cái Chí Hướng của Cha Trời của các con là muốn sao cho các con phải theo một đường ngay cho đúng Đạo Lý mà trở về hiệp nhứt với Người mà Hóa Sanh vạn vật làm thêm một cái thế giái chơn nhơn vô hình nữa nửa đó vậy ».
Cái thân xác nầy, rõ vậy, thì nó là cái thân chót của các kiếp tiền thân của Con Người xuống thế thì trong nó có nhiều thể chất khí chất vô hình lúc trải qua Tứ Đại không gian mượn chất vật vô hình làm thể chất cho nó.
Vì vậy, khi Người hữu duyên với Đạo có đặng cái thân xác nầy là cái thân chót của Con Người xuống thế, là có đặng cái vật tốt lành của Đạo mới có thể trải bước trên con đường tấn hóa thiên nhiên, nên trong khi nó còn với mình, — Một phân bóng ác vàng cầm mấy mươi, — thì tự nhiên mình phải lập lại đặng cho mình cái Thể Trường Sanh của Đạo, thì Người mình là cái Thể Trường Sanh đó, một cái Thể rất điềm tỉnh yên lặng mạnh mẻ trong sạch trong trắng trong sáng vững trải nhờ có Ngôi Thần ẩn trong nó.
Người tỉnh ngộ là Người thể nào ?
Người tỉnh ngộ là Người đả gặp lại Mình thiệt thiệt Mình của mình bởi Trời mà có nhờ Đạo mà nên thì Người đây đã có trọn nơi mình phần thiêng liêng vô hình mà ra Người trọn đủ Chơn Nguơn.
Cái Thông, Hiểu, Biết phân tõ ra đây về Đạo là sự Sống của Người đang sống sanh sanh sáng tức là Sống Thiệt, nó là cái Tri Giác vận động cho phần Thiên Lý nơi Lương Tâm. 7
Thánh Giáo của Đức Sư Phụ trong Dàn Lể Rước Xuân có nói :
« Ba cái Thông, Hiểu, Biết nầy nó ở nơi Tâm của các con. Chính nó là một thứ Hơi, mà là Hơi Điển vậy. Hơi Điển nầy thông truyền cùng khấp Ngũ Giác Thân nó làm cho bộ phận ấy cũng đặng thông truyền. Như vậy cái Tâm của các con đó là chỗ chứa đựng các Mối Điển ấy.
Cái thứ Hơi thông truyền sáng suốt ấy nó mới gọi đặng là Cái Bàn Điển hay Chơn Tâm »
Bởi Người thế gian không thấu nổi cái Lý nầy, nên một khi có cái xác thân vật chất đây thì tưởng nó là mình, hữu hình hữu ngã, nên sống theo nó mà ra sống với sự sống chia rẻ của vật làm cho thân mình phải mất Điển lực tự nhiên của nó đi, nên mất luôn phẩm giá thiêng liêng của Người mới gọi mình là Người thế gian cha sanh mẹ đẻ thuộc về xứ nầy nước nọ, lại khác da khác giống nên lạc Tổ xiêu Tông nào có hay có biết.
Thánh Kinh có câu :
Đạo Lý rành Chơn Lý mới mong,
Lý Chơn Tâm Tánh dồi xong,
Thiệt Hành một Lý vượt vòng phàm phu.
Người Đạo Lý nầy phải biết mình không còn là mình riêng nữa vì mình đã Một với Mình thiệt thiệt Mình là cái Chơn Thân, lại còn biết Chơn Thân nầy chí đến đến những vật thuộc về tinh thần của nó là của sự sống, đều sống theo Lý Tự Nhiên của nó , là sống theo cái Mối Đầu của nó Nguơn Thần hay Linh Căn của nó, mới chính thật là cái Công Dụng vô hình cho, nên cái xác thân này có phần Ngoại Dụng và phàn Nội Dụng thì nó mới gọi đặng là cái Thể của Đạo, vì có Hồn của Đạo ẩn trong.
Người mảng quên phần Công Dụng vô hình 8 của nó mới có làm sai lạc cái Lý chơn của nó thì Người mới ra Người tư riêng, ý riêng, tình riêng, trí riêng (lý trí đó) nên mất cái Bổn Nguyên Chơn Thể của Trời ban mà ra mê mụi tối tâm về Con Đường Phải, về việc Phải phải làm.
Nay Người đặng tròn tỉnh ngộ, thiệt chánh chơn giác, là đã tỉnh đặng các Mối Thần Hạ Thiên nay nó qui hướng trúng đường, sống theo một thể liên lạc chặt chẻ, khắn khích, khích khao với các Mối Điển Tiên Thiên cao diệu trắng trong, trong trắng trong sáng thì đó cũng là Mình Điển của Người, cái Mình Điển có các mối giao thông cũng là Điển thì Người ra Người Đạo Nhơn, là Người sống không rời Đạo, mà Đạo là Sự Sống, nên Sống cùng sự Sống là Thể đó. 9
Thầy có câu : « Đạo là gạo muối để dành độ thân » là vậy đó.
Người Đạo Nhơn là Người nay có lại với mình cái Thể Vô Vi của Đạo là cái Mối Một nơi Tâm nên mới hành tròn sứ mạng của Trời phú giao.
Có cái Thể Vô Vi trong mình là có trọn cái Đức Tin nơi Trời nên Trời Người chung một mà ra Vô Vi Hiêp Nhứt về Ngôi Thánh Tòa là chốn Ngọc Kinh tức là nơi Trung Tâm Điểm vậy.
Thầy có nói :
« Thể Người đây vốn Thể của Trời »
Nay thấu thấu đặng cái Lý của nó là vậy đó.
Làm làm sao cho có đặng chắc chắng cái Thể như Thể của Trời ?
Cái Thể của Trời là cái Thể Hư Không của Đạo, nên Tâm Người phải cho Hư Không mới được. « Hư » là Hư Vô Chi Khí, cái Khi Hư Vô của Trời : Không mà Có, Có mà Không, mới là căn bản sự sống cho vạn vật được. Nên « Hư Không » chẳng phải là Không Không vì nó có cái thiệt tướng làm căn bản cho nó rồi, ấy là cái Linh Thông, Linh Diệu sáng chói rực rở của Đấng Cha Trời ban phú cho Loài Người thuở ban sơ.
Chơn Tâm là « Đó ». Chơn Tâm cò chứa đựng cái Chơn Tánh là vậy đó.
Chơn Tâm thiệt có lại với Người là Người đủ có cái Đức Tin Nguyên Vẹn nơi Trời mà nay là cái Thể Trường Sanh của Đạo nơi Người, cái Thể Vô Vi sanh mải, sống mải, đời đời bất diệt, đời đời bất tiêu.
Do đâu mà biết, nhờ đâu mà chắc Chơn Tâm có lại với mình ?
Là khi Người biết hiệp với mình trước đã mới hiệp đặng với Võ Trụ vạn vật thì Chơn Tâm là Đó.
Tâm là Tâm, chỉ có một. Nó là cái Hư Vô Nguơn Khí khắp tràng Võ Trụ vạn vật.
Thần là cái Nguơn Khí hoạt bát lưu chuyển vô ngần thông cùng Trời Đất và vạn vật.
Hiệp mình với mình là xác hồn không chia rẻ vì phần Hồn là phần thiêng liêng vô hình sáng suốt của mình. Võ Trụ vạn vật đều có Hồn Xác như Người, nhưng Người mới có trọn đủ phần Hồn hơn.
Hồn của Người là chi ?
« Hồn con là Ngọc của Thầy »
Hồn là cái Hơi. Hơi nầy là Hơi Điển của Trời, là Điển Vô Vi. Điển Vô Vi sanh Nguồn Nguơn Khí, Nguồn Nguơn Khí có cái cái sức mạnh nầy mới vận chuyển thành Đạo vì Đạo là Nguồn Nguơn Khí Hóa Sanh. Hồn nầy là Hồn của Đạo.
Chơn Tâm, Tâm thiệt của Trời, Gốc Nguồn Hư Vô Nguơn Khí, có trọn đủ sanh lực và thần lực nên tự thể nó biết vận chuyển theo đúng một mực rất điềm tỉnh của Ngôi Thần ẩn trong nó, nhờ sức thần mà nó hoạt bát vô ngần ; Tâm thiệt của Trời luôn luôn lưu chuyển theo một sức điềm tỉnh nên Tâm mới sống mới sanh. Tâm dường ấy mới còn hoài là Tâm của Trời của Đạo. Tâm sống của Trời đã sống đã Định tự nhiên lấy nó vì đã trọn đủ sanh lực thần lực của Nguồn Nguơn Khí Hóa Sanh nên nó Định mà vẫn Động không biết ngần nào mà nói vì sự Động của nó rất vô hình.
Cái Tâm của Người thiệt thiệt Người tức là Người Giống của Trời mà gọi đặng là Chơn Tâm đó, nó là vạn vật võ trụ chớ chi.
Thánh Giáo có câu :
Tiêu Võ Trụ vào trong Ngôi Cả,
Thì có nào là gá thời gian.
Vậy, cái Chơn Tâm không phải là cái Tâm Không thì làm sao thâu võ trụ vạn vật vào đặng, võ trụ vạn vật không phải là cái Chơn Tâm hay sao ?
Người thâu đặng võ trụ vạn vật vào lòng, là thâu cái tinh thần của võ trụ.
Người Giống đây sống là nhờ rút cái tinh thần của võ trụ vạn vật. Tinh thần của võ trụ vạn vật không phải là cái Tâm Không hay Chơn Tâm của Người Giống Người Thiệt hay sao ?
Con Người chẳng hề ăn cơm gạo là vậy đó. Nên nay mà thấy biết mình sống đặng đến một cái không gian nhẹ nhàn bằng một Thể Vô Vi thì đừng còn lầm lộn Con Người với Cái Người nữa mà phải lộn Điển trong mình.
Rõ thông Đại Đạo như thế, hỏi Người có mó tay vào làm sự chuyển thiên động địa đó đặng chăng ?
Thật, chỉ có tay Thợ Trời làm đặng như thế mà thôi, mới cứu sống Người thế gian đã dư muôn kiếp đường trơn bước hoài, sống theo con dường lý trí mới có lạc Tổ xiêu Tông mà không hay không biết, cùng theo Tã Đạo Bàn Môn là Khoa Học đó.
Vậy, Tay thợ Trời đây là ai trong Người ?
Là Điển lực Vô Vi trong Chơn Tâm, cái Khối Đức Tin Nguyên Vẹn nó công quả cho Trời thiêng kiêng Vô Kiệt, nên Tay thợ Trời đây cũng là Thiên Tánh đó, cái Thông, Hiểu, Biết tự nhiên của Con Người sẵn có lúc thọ Nhứt Điểm Linh Quang nay là Lương Năng Tánh Trời trong Tâm Con Người vậy.
Thánh Kinh :
Đức Tin Công quả vẹn rồi,
Tự nhiên con được phản hồi Ngọc Kinh,
Ấy là con được Trường Sanh…
Kìa, cái Đức Tin Nguyên Vẹn nó công quả mảng viên với Trời thiêng liêng Vô Kiệt nên Người mới có thể theo cái Đức Tánh ấy, cai Chơn Như Tánh mà công quả với Thầy theo một chí hướng của Cha Trời Đừng sai.
Phước thay !
Tâm Trung báu lạ vô cùng !
« Tu hành là học làm Trời ».
Học làm Trời đặng là nhờ tay thợ Trời diều dắc mà nay mới đặng là Người Giống đây.
Tâm Người đặng Hư Không là Người đã sống đang sống tại Gốc sanh sống của Trời, sống làm một với Nguồn Thanh Điển trong Nguồn Nguơn Khí Hóa Sanh vì cái mình của mình vốn là Mình Điển. cái Mình Điển có các Mối Giao Thông cũng là Điển.
Mình đặng Một với Nguồn Nguơn Khí là Đạo Thông đó, tức là thở và sống bằng tinh thần vì tinh thần là Chủ sự thở và sự sống khắp vạn vật cả vạn vật nơi không gian, làm chủ cả Võ Trụ.
« Đạo Thông mới trở về Trời » là trở về Cội Nguồn Chơn Lý nên Người thiệt thiệt Người tức là Người Trời 10 là cái Hiện Tướng của Sự Sống thiên nhiên, cái Công Dụng của Đạo sẵn Lò Hóa Công.
Tổng Kết
Người bởi Trời mà Có,
Nhờ Đạo mà Sống mà Thành,
Sống sáng như Trời,
Sống sanh sanh sống như Đạo
Đời đời bất diệt, đời đời bất tiêu.
Trường Sanh là “Đó”.
Hòa Bình thế gian từ đây.
Lạy Thầy Chúa Tể Kiền Khôn,
Mở lòng bác ái thương con với cùng. 11
Tây Sư Tinh Quân
Viết xong ngày 24 tháng 3 Ất Mùi (1955) làm
Lể Kỹ Niệm Thầy day Cán Bút về Kiên Giang năm 1930
Lời Nhắc Nhở Người Trong Đạo
Có câu: “Con phải biết sự Tu chẳng dể », nay trong chư vị đã biết đặng « Người » là gì, « Người » ra sao rồi, vậy từ đây đứng chỗ Mình thiệt thiệt Mình mà học hỏi tập tành Chơn Nguơn tức là Tu Tâm Dưởng Tánh, nên cần phải Tu Tỉnh lấy mình cho ra Tri Hành Hiệp Nhứt mới Sống.
Đạo học đã thấp thỏi thì sự hành đâu nhầm lý đặng, đâu đồng giá cân!
Học là nhờ Tay thợ Trời dìu dắc. Học mà Thông thì mình mới gọi đặng là Tay thợ Trời. Hành cho đúng cái Đạo học của mình mới thiệt là Công Quả với Thầy trong thời kỳ Trời Khai Đạo.
Đức Đắc Nhứt Chơn Nhơn có nói :
« Thời kỳ học Đạo ngày nay của Tam Kỳ Nguyên Nguyên Bản Bản, Chơn Lý Tầm Nguyên Đại Đạo dạy về Khoa học Trường Sanh của Đạo. Khoa học nầy phải là ròng rã về tinh thần, về sự sáng suốt thiêng liêng, nên Người học Đạo là vụ thêm cho mình tinh thần đầy đủ đặng « tự cứu lấy mình » mà đem mình đến chỗ tận thiện tận mỹ của nó là Nguồn của Nguồn, Gốc của Gốc là Nguồn Nguơn Khí Hóa Sanh cho cùng với Đạo, Sống cùng với Đạo mà ra Người vô cùng vô tận. »
Đức Giám Đốc Giảng Đàn Chơn Lý có nói :
« Các trò có nhớ đâu, Đạo trong thời kỳ buổi nầy nhầm thời kỳ Ân Điển, lại trò sanh trò sống cũng bởi Điển mà ra vì cái mình của mình vốn là Mình Điển có các Mối Giao Thông cũng là Điển chớ nào có tai mắt trí tri chi đâu mà các trò phòng nói đáp tai nghe mắt thấy chi chi. »
Nên Người Đạo ngày nay phải dựng lại cho thấy chắc chắng cái Mình Điển phòng đem mình đến kịp chầu Đức Ngọc Đế.
Lời phụ giải do theo Thánh Giáo:
Có Mình Điển Bổn Thân nầy mới dựng cái Tòa Rước Điển Chung đặng. Tòa Rước Điển vô hình của Thầy ngày nay là thế cho Tam thập lục Thiên, Tam thiên thế giái.
Đức Sư Phụ có nói:
“Cái Tòa Rước Điển tiểu phần tử nó phải ở nơi mình thiệt thiệt mình của các con. Nó phải vững chắc mới có thể đem nó dựng cái Chung đặng.
Phải đem cái mình cho đồng Thể với nó, đồng một chất vật với nó. Vật nào có chất nấy, chất nào của vật ấy mới thâu hút với nhau đặng. Các con có biết đâu, các con phải dựng cái Tòa Rước Điển. Đã là cái Tòa Rước Điển thì cái mình các con đem đựng nó cũng phải đồng một thể chất là cái Mình Điển mới phải cho chớ. Cái Mình Điển không có vì các con đã cướp cái Tánh Chất của nó mà sáng tạo cái đồ vật chất.”
Nên, trong thời kỳ Ân Điển của Trời, ai thiếu cái Mình Điển thì còn kể chi!
Tây Sư Tinh Quân
Lời nhắc nhở Người thế gian
Ớ đồng bào thế gian
Ít lời cùng đồng bào thế gian, hễ gọi mình là Người trí thức, xin hảy ra công kiếm tìm cho thấu đáo mọi chỗ mọi nơi mọi sự mọi vật thuộc về tinh thần ở trong châu thân của mình. Những vật ấy đều có tánh chất thể chất riêng của nó mà cũng đều do nơi Mối Một vì bởi “Một” mà ra, bởi Một mà nên.
Nếu dòm vào thân mình mà không thấy chi hết, cũng da cũng thịt, cũng xương, cũng máu mủ gân cốt thì là tối mò, mới có ra tư tưởng tưởng tư theo vòng lý trí thì sống ở đời mà tự mình gọi mình là “khôn” thì là khôn với ai? Vật sống thuộc về tinh thần ở trong mình mình mà không hiểuhiểu nó sống thể nào, sống làm sao, mà nó “khiến” đặng mình phải theo ý muốn riêng của nó mà nào người có hay có biết chi chi!
Mà thiệt, thấy biết sao đặng vì nó mịch mịch mờ mờ không tối đen là khác.
Điển của Trời ở trong mình mình đâu có tối. Mờ ám lu lờ là Điển ma, Điển tà, Điển đã lạc Mối Chơn, Điển của nó làm cho Người ra mê mụi tối tâm về Con Đường Phải Lý Chơn.
Sáng là Tâm nó sáng, Thông là Tánh nó thông, Hơi Điển vô hình lưu thông khắp cùng thân thể.
Thánh Kinh có đoạn:
Vât chất Học khắp miền Âu Á,
Mẩn mê tìm vật lạ địa cầu,
Nghiên nghèo dồn dập bấy lâu,
Mảng lo giành giựt nhiệm mầu Hóa Công,
Sao không xét lại nơi lòng,
Bấy nhiêu mầu nhiệm Tâm Trung sẵn sàng.
Đức Giám Đốc Giảng Đàn Chơn Lý của Đức Chí Tôn có nói :
« Các trò có nhớ đâu, Đạo trong thời kỳ buổi nầy nhầm thời kỳ Ân Điển, lại trò sanh trò sống cũng bởi Điển mà ra vì cái mình của mình vốn là Mình Điển có các Mối Giao Thông cũng là Điển chớ nào có tai mắt trí tri chi đâu mà các trò phòng nói đáp tai nghe mắt thấy chi chi. »
Xin hỏi: Hiện thời trong nhơn loại có mặt tại thế gian, ai rõ cái mình thiệt của mình Vốn là cái Mình Điển, mà có xét cho biết bởi đâu mà gọi đặng nó vốn là Mình Điển? Biết đặng mà phải phân biện cho tường tận cho thấu Lý tinh thần của sự sự vật vật ở trong mình của mình.
Lại còn phải Sống; đừng lầm lộn Con Người với Cái Người là tấm thân sanh.
Con Người chẳng hề ăn cơm gạo mà! Cái Người của Con Người phải dùng cơm gạo mà nuôi sống cho, lại có khi Cái Người phải chết vì cơm gạo.
Lại, sống ở thế xác hồn chia rẻ, thì do đâu mà biết đặng Căn Cội thiêng liêng của Người, nên Người thế gian chưa đặng mấy ai thiệt biết “Người” là sao, bởi đâu mà có, nhờ chi mà sống.
Còn về Khoa Đạo Đức, ai cũng biết phải dùng Tâm Tánh mà nói song ít biết Tâm Tánh vốn là Hư Không nên mảng tranh nhau Tâm thiện Tâm ác, rốt cuộc Đạo Đức là sao cũng không mấy nơi hiểu cho rõ mới có thể lập Đức cho mình mà Sống an vui với Đạo.
Nếu biết đặng Mình thiệt thiệt mình rồi thì cấn phải Tu Tỉnh lấy mình cho khỏi bị Luật Thiên Điều báo ứng.
Vì chỗ Người mảng quên phần Thiêng Liêng của mình, hoặc biết có nó, nhưng biết mà chơi đó vậy thôi, rồi cũng cái sống mẩn mê theo phần xác thịt của đời vật chất, thì bao giờ tránh cho đặng sự tranh đua cao thấp, khôn dại thị phi, chống kình nhau mà có ra sự chiến tranh khốc hại bao giờ chấm dứt thì làm sao có đặng sự Hòa Bình chung cho nhơn loại.
Có Chơn Lý mới đem Người đến chỗ Hòa Bình thế gian.
Tây Sư Tinh Quân
27 June 1954
1 Một sự Thường: Le Permanent ou le Devenir éternel de la Vie. La Réalité éternellement vivante dans l’homme.
2 Le temps est mémoire, conscience de soi, donc, vie subhumaine, incomplète, et non la totalité de la Vie qui est Être Pur.
3 Tự Tâm tự Tánh : tức là Chơn Nguơn bởi hai tiếng Chơn Lý Nguơn Khí nói tắc là Chơn Nguơn hay Chánh Gốc đầu bài.
4 Người Đạo Lý tức là Thân Đạo Lý thì phải biết trong Người Thần Hồn đã nghe theo, xuôi theo Anh Hồn.
Noi Chanh Lý ngăn ngừa nẻo vạy,
Chính Anh Hồn phải quấy phân minh,
Người nào cốt cách đặng thanh,
Thần Hồn ít lúc cải canh Anh Hồn.
Thân mình là Mình Điển : Điển Hạ Thiên thuộc về Thần Hồn, Điển Trung Thiên thuộc về Anh Hồn.
5 Thể Vô Vi : L’homme et ses relations cosmiques dans le monde de l’Infini, qui est l’Univers de la Vie.Son Être croît dans le monde de l’Infini et qui, lui-même, est infini, alors que son corps terrestre dépend de l’univers de la manifestation de la Vie (Tứ Đại Giả).
6 Quê Xưa Cảnh Củ : Cảnh Hư Vô của Vô Vi Cảnh Giái (éternité).
7 L’Intuition est aussi la Vie Purese manifestant comme Connaissance, donc, la plénitude de la vie, en action. C’est aussi l’Intelligence véritable.
8 Ở trong mình là Sự Sống, phát ra ngoài là sự Sáng, mà là Hơi Điển chảy ngan đầu óc, chớ đầu óc là một cái cơ sở nào có biết chi. Sự Sáng Sống nầy là cái Công Dụng vô hình, tức là phần Nội Dung của Người đó.
9 L’homme, en son essence est la Vie, et sa vie est ce qu’il vit, donc, la plénitue de la Vie, en action.
Essence : Cái tinh hoa của Đạo làm sự sáng sống cho Người.
Chơn Lý Đạo Trời sáng rở như ban ngày, nào khuất lấp ai.
10 L’Humain est, fondamentalement, la Vie pure se manifestant comme Connaissance, donc, la plénitude de la Vie, en action.
Đứng về phương diện Tinh Thần, thì « Người » là cái Lý của Trời, Bóng của Ngọc Kinh (Image de Dieu)
Đứng về phương diện Sanh Hóa, thì « Người » là cái Lý Sanh của Trời. Người là cái Lý Sanh của Trời mới giúp công hóa hóa sanh sanh đặng bồi đấp công ơn của Trời cho Người có Sự Sống.
11 Nhứt Tâm Qui Hướng: Lòng Người có thường nhớ đến chỗ Sâu Nguồn huyền bí, chỗ ẫn sâu của Ngôi Trời Độc Nhứt thì mình mới Cảm Ứng thông đồng với Ngôi Trời thiêng liêng vô hình.
Như thế là Sống cùng với Sự Sống, mình nầy Sống theo Bực Điển của nó mà sống tận cỏi lòng trong thì chỉ có sức Điển Vô Vi của Trời vậy.
Cơ Bần là Chánh Gốc mỗi con
Đức Tây Sư Tinh Quân
Nhơn ngày Lễ Kỷ Niệm An Thiên Đại Hội
(Trích Đuốc Chơn Lý số 16 – Aug 1936)
Bài Giảng
Lạy Thầy Chúa Tể Kiền Khôn,
Mở lòng Bác Ái thương con với cùng.
Kính mừng chư chức sắc lưởng phái, kính chào anh chị em.
Tôi xin giải một câu Thánh Giáo, nhơn ngày Lễ Kỷ Niệm An Thiên Đại Hội lần thứ sáu năm nay.
Đừng vụng tưởng Cơ Bần là nhục,
Cơ bần là chánh gốc mỗi con;
Lúc sanh đỏ lói một hòn,
Lúc về nào kể vật chôn những gì.
Theo thế thường đời người ta cho rằng nghèo thì khó, mới có tiếng nghèo khó, lại nghèo khó thì rất khỗ cho cái thân mà cũng là nhục cho người, vì nếu mình ở vào hạng nghèo khó, tì ai coi mình ra gì, lại mình cũng hổ, vì mình cho mình không ra gì, mình đã khi mình như thế, bảo sao người ta không khi, nên người đời ai ai cũng bương chải làm sao cho được giàu sang, không thì cũng giàu có, nếu chẳng được vậy, cũng phải có chi chi cho khuây khõa với đời, vì đời đã cho phú quí là vinh, nên mới có tiếng « cơ bần là nhục ».
Mặc tình đời ai tưởng như vậy thì tưởng, ai theo cái tôn chỉ đó thì theo, gọi vậy là phải, thì tự người ấy sống trong cảnh đấy, xử trí theo hoàn cảng vậy, vui sương hay khỗ cực vậy thì vậy, có can chi tới ai mà phải bàn bàn, luận luận, tính tính, lo lo !
Nhưng Ta, tuy ta cũng ở trong đời như ai kia, như người. Người cũng ở trong đời như Người kia, song Ta Người vì đâu mà có lòng kỉnh Phật thờ Trời, thì lẻ đâu Ta Người không xét câu chuyện đó cho rõ lý nghĩa nó ra sao ? Vậy Ta Người nên Trí cái Lương Tri mà Cách sự Lý của nó, vì nếu Ta Người còn dùng Lý Trí, thì còn phải mượn cái trí khôn riêng của Cái Người của Ta với Người thì Ta Người đã có cái tư tâm rồi, nào có xét việc chi chánh đáng cho được tới tột lý đâu ! Tâm đã không chánh thì người sao gọi được là vô tư, mà Vô Tư là cái yếu lý của người tu theo Đạo Trời, mộ Chơn Lý, mà Trời thì Vô Tư, nên người phải Vô Ngã. Như đêm tối thì tối chung cho cã thế giái, ngày sáng thì sáng khắp kiền khôn, tối thì tối, sáng thì sáng, nào rằng tối sáng cho ai, cũng do Lý tự nhiên mà thôi.
Câu chuyện sang hiếp hèn, giàu hiếp nghèo, mạnh hiếp yếu, thì cần chi nói nhiều lời, hễ ngó ra đường đời thì đời nó là vậy rồi, nhưng người đời thấy vậy hay vậy, mấy ai rõ được cớ bởi đâu mà có ra những điều ấy, có vậy rồi thì người này đổ thừa cho người kia, người kia đổ thừa lại cho người nọ, mà mấy ai chịu nhìn nhận rằng các điều lổi ấy cũng là nơi mình sanh ra, nếu không phải tại nơi mỗi người mà có thì tại đâu mà có ra đây ? Có vậy rồi thì mọi người theo vậy, rồi than rồi thở. Điều chi thuận cho người kia thì nghịch với người nọ, mà một khi gió xây hướng kẻ đương khóc lại tươi cười, người đương vui lại sầu thảm, vui thảm chi cũng một thuở, cũng một thì, chung cuộc chỉ biết cùng nhau than rồi thở, giành nhau thở rồi than !
Nghĩ mà coi, ở đời tai nạn xảy ra phi thường, chẳng biết đâu mà tránh, chẳng lấy chi mà độ mà lường, người dầu có tiền muôn bạc vạn, dầu ở địa vị sang quí, đến gặp lúc tai nàn, nhầm cơn bịnh trầm trệ, thi chỉ biết ngước mặt lên Trời mà than, mới rõ ngoài cái thế lực của người có một cái thế lực tự nhiên, có Đấng Thiêng Liêng huyền bí không sao độ được, nên trong lòng cũng thầm vái cho Người cứu lấy tai nàn. Nhưng một khi sự dử đã qua, thì con người ta lại tự đắc, tự kiêu, biết có mình mà chẳng biết trên đầu có ai ! Người dường ấy, cảnh dương ấy … lạ gì !
Chúng ta theo Thầy mộ Đạo, trọn Đức Tin rằng Trời khai Đạo, thờ Thầy nên mộ Đạo của Trời khai, có Thánh Huấn, có Thánh Ngôn, khác nào trong đêm tâm tối được Thầy rọi đuốc chỉ đàng. Đuốc dẫn trước sáng đường, người theo sau vững bước.
Chịu sắc lịnh Thiên Phong, vui mặc Thiên Phục, ấy chịu cuối đầu dưới quyền Tạo Hóa, nhìn Cha Thiêng Liêng, mang sắc phục là nhận Tam Giáo đồng qui, chịu không rời cái Đạo, từ bực Thiên Ân chí hạng tín đồ Chơn Lý, đứng vào hạng nào cũng phải do Trời làm gốc, do Đạo làm nền, vậy mới là Người biết Gốc Nguồn của sự mình sống, bởi đâu mình có ra. Lý tự nhiên đã khiến lòng người như thế rồi thì đừng quên con đường ấy.
Chớ vong ân bội nghĩa mà không tuân Thánh Huấn, không nghe lời Thầy. Kỷ luật về Điều thứ 9 đã chép rành như vầy : Thánh Huấn của Đức Chí Tôn hay của chư Phật Tiên Thánh Thần ban hành ra, các chức sắc phải tuân y, chẳng được bàn bàn cải cải, nếu cải là tội ngổ nghịch, kiêu ngạo, khoe khoan cho mình rằng mình giỏi, được làm Thần làm Thánh, ấy là tội vô lễ mất nết khiêm cung. Nếu ngổ nghịch với Đại Từ Phụ thì Luật Thiên Điều ghi chép.
Hảy tuân những Luật dạy bài,
Tuân rồi mới rõ Luật Thầy thể nao.
Anh em, chị em,
Ai vừa tuân được thì thấy mình đã có khác hơn xưa, mới biết mình đã mới lấy mình được ít nhiều, trong mình có thấy sự yên ổn, mà ai kia tuân được trọn, làm được trọn, thì lại thấy « cõi Trời dành để vô cùng sự vui ». Vui đó mới là vui thật, ngảnh lại mới hay : « Bước hồng trần là nước quỉ ma ». Cõi Trời là chỗ tự nhiên của lòng đó, còn hồng trần là chỗ giải nắng dầm sương, phần gió bụi của xác thân. Vậy hãy bước qua tinh thần mà Sống mới rằng Người biết sự Sống mà Sống theo sự Sống. Sự Sống này là Đạo vậy. Nhược bằng trái lại thì sao ? Thì Lương Tâm hằng nhắc rằng : « Thiên điều đâu thứ tôi loàn mà mong », nếu chẳng phải vậy sao anh chị em lo Tu lắm vậy ? Ai có lòng lo Tu thì đã có cái Lương Tâm cắn rứt biểu bỏ con đường vạy mà theo con đường ngay, như vì không tự xét, nên không biết lòng người đã khiến người như thế mà trở lại với Thầy.
Vì sao không tuân Thánh Huấn mà phạm về tội vô lễ, lại là tôi kiêu căng, ngổ nghịch, khoe khoan ? Tội vô lễ thì đã đành, vì bội sư thì người dường ấy ở đời cũng không ai cho rằng phải, huống chi tránh sao cho khỏi mắt Thần như chớp lại như giăng. Kiêu căng là sao ? Là vì tưởng mình hay hơn Trời, nghĩ rằng tấm thân này của mình, mình điều khiển nó, chớ có ai vô đây mà thay thế cho mình đặng dìu dắc nó đâu. Tưởng vậy rất lầm, là quên có Trời nơi lòng, nếu chẳng vậy thì tánh linh của người đã mất rồi đó, thì bảo sao tránh khỏi «Hỏa khanh địa ngục đốt đời chẳng dung». Nếu không phải như lửa thiêng liêng đốt lòng, sao lại tâm huyết hao mòn, tinh thần bạc nhược, có cười cũng là cười gượng, có vui cũng bợ ngợ cái vui, đã nát ruột bầm gan mà bề ngoài lại làm tuồng tươi tỉnh. Kẻ được biết vậy cũng là có sự may, vì có thể ăn năn tự hối, thương hại thay cho người, lửa thiêng liêng tiêu diệt mà không hay, giây vô hình đã trói mà không biết, người dường thế đã mê còn lại mộng, chiêm bao hoài đó thôi !
Thánh huấn có câu : «Thầy chẳng nở lấy Quyền làm Đạo», câu Thánh huấn đã đành rành như vậy, mà sao kỹ luật dạy phải tuân y, chẳng phải dùng quyền hay sao ? Thật đã là Thánh ngôn đâu có sai, đâu có câu này trái với câu kia, tại mình không thông đó. Thầy dạy «Phải Tuân», vì Thánh huấn ấy là Luật, nếu không thông Thánh huấn là không thông Luật; mà đã không thông Luật, lại còn canh cải Luật, thì đâu có được, vì Luật tự nhiên cảm ứng hẳn hòi.
Luật Trời thuở giờ ai rõ, có tưởng biết thì cũng do nơi kinh sách, mà kinh sách đã trải qua nhiều tay, nhiều lớp, nhiều đời, thành tam sao thất bổn. Nay rõ ràng lời châu tiếng ngọc của Thầy và thật lời của Chư Thiên, Chư Phật Tiên Thánh Thần, đâu phải là tam sao, đâu gọi là thất bổn đâu ! « Quí hóa thay Đạo chánh của Thầy, Tam Kỳ mối Đạo phân minh, Thánh Thần Tiên Phật đinh ninh cạn lời ». Vì vậy nên tôi đây cũng phải đôi lời nhắc nhở chư hiền trước khi giảng câu Thánh huấn.
Việc chi muốn biết phải cho thật biết, sự chi muốn thấy phải cho thật thấy, việc chi muốn nghe phải cho thật nghe, nghe mà thấy, thấy mà biết, là điều rất chánh đáng, chớ nghe mà không thấy, thấy mà không biết, thì thân này rất là vất vã, đỏng đưa theo buổi chợ đông !
Tôi nhắc : « Lời Thầy dạy phải tin phải tưởng, Kinh Thầy ban chớ cượng chớ sai », ấy là muốn động tới cái Tâm của Con Người đặng nó tỉnh Người nó thôi. Có câu : « Sách chép chữ khôi khôi thiên vỏng, Đời ghi câu lộng lộng lưới giăng », lưới Trời thưa mà chẳng lọt. Ai ai cũng ở trong Tạo Hóa, mà rằng không kể tới Luật của Tạo Hóa thì Tạo Hóa nào dung. Đời có Luật đời, người có Luật người, thì Trời ắc có Luật Trời, ấy là Luật Thiên Điều vậy. Luật Trời sẵn có thì sự Thưởng Phạt ắc có, nhưng có không cũng tại nơi lòng mà ra.
Thánh huấn giảng giải chỗ Chơn
Do Thánh huấn tầm Chơn. Chiếu theo Thánh giáo, thì biết Con Người Trời sanh, nên gốc cũa loài Người bởi Trời mà ra. Chẳng phải cái xác thịt này mà được gọi rằng Con Người, Con Người tức là cái Chơn Ngươn xuống thế mượn xác thân hiệp tác giúp đời. Một điểm Linh Quan, dạy giáng phàm công quả, thì Con Người đã trải qua nhiều lớp có chứa bốn chất Địa, Thủy, Hỏa, Phong mới làm nên thân Người này được. Thân này gọi là Cái Người. Cái Người đối với Con Người như áo với thân. Chơn thân là cái Chơn Ngươn đủ Tiên Thiên Tam Bữu xuống thế, còn xác thân thì bởi duyên gì nên Tứ Đại Giả lập thành cho, mà phải nhờ khí huyết của cha mẹ, nên có học Đạo thì phải cho suốt thông Hiếu Để, chớ lầm thông thì hại lớn. Trời đã ban cho cái Đức rất sáng, nên loài người sở dỉ được khôn hơn muôn vật. Cái Đức rất sáng ấy gọi là Linh Tánh hay là Linh Hồn. Người có Linh Tánh nên mới biết cội rể của Con Người gốc ở nơi Trời mà ra, từ Trời mà có. Có mà chi? Là để giúp Trời hành Đạo đặng sanh thêm sự sống cho vạn vật. Nên Trời Người chẳng hề rời rả. Người nhờ có Linh Tánh ấy và phận sự như vậy mới có thể giao thông với Trời. Sự Giao Thông ấy gọi là Cảm Ứng. Nếu người không cảm ứng được với Trời là cũng do nơi cái Linh Căn của người đã mục, đã hư, khiến cho Linh Tánh không còn được linh thông, Linh Hồn phải bị mê muội mà ra đó. Trời sanh Người thì Người tự nhiên phải có cái phận sự tự nhiên của Người. Con Người là cái Khí Tiên Thiên, phải có cái Khí Hậu Thiên mới trọn đủ Chơn Ngươn. Khi ra đi, Thầy có dặn: “Nước non bồi bổ tinh thần, Chơn Ngươn ung đúc Bổn Căn trau dồi”. Muốn cho được vậy, thì trước phải mở mang khắp cả Hồng Hoan, rồi sau mới rõ phận sự là: Giúp thay Bàn Cổ Tam Hoàng lập công. Công quả của Người là chỗ này. Rõ ràng Người đây thay thế cho Trời đó, trước làm sự sống cho mình, rồi còn phải hiệp chung sự sống của mình với Trời Đất mà làm một sự Sống lớn, đặng làm cho võ trụ vạn vật đều có sự Sống lớn mà hiệp chung lại trọn với mình, được như vậy mới gọi là hoàn toàn. Muốn làm được sự Sống cho mình, phải mở mang cái Tâm Địa này là cái Hồng Hoan đó. Mở mang cái Tâm Địa cho nó trở nên cái Lương Điền. Lương Điền ấy là Lương Tâm vậy. Nếu chẳng mở mang nó, thì Nhơn Tâm còn là Nhơn Tâm, là vì một khi có xác thịt của Người thì thấy mình riêng với võ trụ vạn vật mà sanh lòng tư riêng, lòng tư riêng ấy gọi là Nhơn Tâm. Nhơn Tâm bị lục dục, khác nào cỏ mọc loán đám ruộng, cỏ mọc thì tranh sống với lúa, nên thất tình có từ đây, cỏ mạnh thì lúa khó bề đầy đủ bông trái. Một khi trừ cỏ được rồi thì cỏ này trở lại làm phân cho đất mà giúp lúa cho nên. Rõ vậy thì tuy Trời Đất Người này là Ba, song cũng là Một. Một ấy là sự Sống.
Đây chưa phải chỗ giải rõ về Hồng Hoan, về Tam tài, về phận sự Tam Tài, về chánh danh phận của Con Người xuống thế, mà là chỗ chỉ ra cho người đời biết rằng cái tiền tài là của đời sắm, đời trọng, nào phải là của Trời đâu. Nếu không phải là vật của Trời sanh, thì nào phải phận sự của Con Người phải lo.
Khi ra đi Đức Chí Tôn có dạy:
Công thành qui vị thưởng phong,
Đứng cho đến đổi bụi hồng vương mang.
Đức Chí Tôn ân cần khuyên nhủ con cái của Người rằng: Hãy mở mang khắp cả Hồng Hoan và lập xong danh phận Tam tài đặng hiệp nhứt với Người nơi Bạch Ngọc Kinh thì có, chớ nào có dạy mở mang khai khẫn ruộng đất hoan vu rừng rú nơi thế hạ này, đặng làm của riêng, lại còn góp thâu hoa lợi mà tiêu xài đâu. Đã không dạy như vậy mà cớ chi nay người lại cho “cơ bần là nhục”? Là không có tiền của, là nghèo, là khó, là xấu, là hổ ? Xấu hổ ai ? Ai xấu hổ ? Tiền của chi chi nó cũng là cái bợn đời, vậy tấm thân không dính bợn đời là xấu hay sao ? Hay là chác nhiều bợn đời mà quên phần thiêng liêng của mình là tốt ? Tốt với ai ? Tốt với cái trả vay vay trả đó mà !
Nhớ rằng : Chơn Ngươn nó trắng trong trong trắng thì nó rất sạch, nếu nó không sạch, sao nó có ra nơi chốn Ngọc Kinh ? Thầy có phân: « Hồn con là Ngọc của Thầy », Người không vướng bợn đời là Người trong sạch, nên nghèo về tiền tài của thế gian mà tấm thân lại còn được trong sạch, lòng không chút bợn nhơ của đời, thì cái trong sạch này là Chánh Gốc của mỗi người mà thật là Người đó, nên Thầy có nhắc trong Thánh Huấn :
Của trần phải sạch sanh sanh.
Chẳng những vậy mà thôi, lại có lời dạy thêm :
Sạch rồi chớ khá khoe danh với đời.
Vì sao vậy ? Vì là nếu còn khoe mình sạch trơn bợn đời, thì bợn đời đó nó báu lắm sao mà khoe, chẳng thấy vì nó mà thiên hạ chết với nó hay sao ? Còn khoe mình thì còn Tư Tâm, đâu là sạch bợn đời, Tâm cò đầy dẩy sự dơ, vì còn bị cái Vọng, tâm như thế đâu có Chơn. Có câu :
Ở đâu cho khỏi buị hồng,
Ở bùn mà chẳng nhuốm bùn mới hay.
Kìa hoa sen ở bùn mà ra, mà nào nó có nhuốm bùn hôi tanh chi đâu, tự nhiên của nó là vậy, vậy nó mới còn tự nhiên. Ai mà lại không ở trong Trần, nhưng có lòng nhiểm hay là không nhiểm bụi trần đó thôi. Hoa sen kia ví như cái Tâm không lộn với bùn đó, bùn này là cái hoàn cảnh của nó.
Chắc có nhiều người cho rằng có thế nào Con Người ta ai được trọn phải như vậy được. Nói như thế rất nhầm, vì Thánh Huấn có câu: «Mấy ai được một lần trọn phải». Ra đi tu như Phật Thích Ca còn phải đôi ba lần lầm. Phải vậy, nhằm vậy rồi, ai khỏi lầm, nhưng phải nhớ :
Biết lầm liền biết hồi tâm,
Hồi tâm mới được quỉ khâm thần nhường.
Trong một việc chi đã lầm mà liền biết Hồi Tâm – phải biết cách Hồi Tâm là trở lại cái Tánh lành nơi Tâm, chớ nào nói hồi tâm là ăn năn rồi bỏ qua được đâu – vì có Hồi Tâm thì Quả nó báo liền trong lúc ấy, nên người phải cho chắc dạ bền gan, ấy là bền lòng kiên nhẩn, chắc gan thử rèn. Mà cũng chớ gọi sự Ứng lại đó là khỗ, vì sự chi có định trước được, thì sự ấy có hại tới mình đâu, vì lúc vậy Tâm phải như Gương mà Hư Không, có rọi mà không chứa, có động mà không động, có nhiểm mà không nhiểm, bởi không chứa nên không có khỗ tâm, nhưng cái xác thân phải chịu đau, vì nó là cái cơ thể, khác nào vỏ lúa phải chịu sương nắng, không thể tránh được cái sự đau đớn cực nhọc bề ngoài, như thế mới biết « Sóng gió ấy là nguồn mạch nước, Gió êm sóng lặng nước như thường », thì thấy lý Đạo vậy.
Ví như đêm kia nhà mình biết có kẻ cướp trộm rình rập, song cả nhà thức canh phòng, tuy sự canh gát có cực nhọc mà sang ra nhà không bị tai hại, thế không vui hay sao ? Chính chắn mà giữ cái Tâm của mình là vậy đó, kẻ trộm là bọn: đông, ngôn, thị, thính, chớ có ai đâu lạ.
Như trước kia đã tưởng Cơ Bần là nhục, nay vì có xét mình mà thấy và biết được Cơ Bần không phải là nhục, biết vậy mà cũng còn đau về phần xác, nhưng một khi đã thực tỉnh rồi, mới rõ Cơ Bần là Chánh Gốc của nhơn sanh, thì cái sự vui và biết đó mới thật là vui, như đã tránh khỏi được kẻ trộm nó toan tính cướp lấy cái thiêng liêng của mình, khác nào trước kia tưởng Cơ Bần là nhục mà phải để lòng lo lắng cho bạc nhược tinh thần, hao mòn hạo khí, mà không hay không biết.
Theo Lý tự nhiên là vậy, đành vậy, mà trời kia không có cho người ở thế hạ này, nhơn sanh đây, hưởng phần công danh phú quí hay sao? Từ đời nào, chí đời nào, có vua có tôi, có quan quân, có dân giả, không phải vậy hay sao?
Xin đáp : Cái phú quí công hầu tiếng của đời cho, đời trọng đó, thì đời muốn trọng cách nào thì đời trọng, đời tôn, vì muốn sao thì chịu lấy :
Sao không suy trước nghiệm sau,
Tiền căn hậu quả bởi sao được vầy.
Ấy cũng là Nhơn Quả đó thôi, mà tại người phân ra chữ Vinh, chữ Nhục, thảy đều là đồ vay trả trả vay, nếu chẳng phải vậy, thì người làm quan không có gặp sự khổ hay sao, kẻ nghèo kia không có ự khoái lạc hay sao? Có vậy mới hay phú quí là cái giây ràng buộc thân mình. Phải chi ở địa vị nào cũng có chữ « có không, không có », thì có hại chi, cái Có nào buộc được ai, cái Không nào hại được ai, có chi hại được tinh thần của Người do lý mà ở đời được đâu, nó có hại được là hại Người do Trí mà thôi. Lý là của Trời, Trí là của Người riêng.
Chánh Lý Đạo về phần xác thân thì có Ba Giềng làm trọng là : Quân, Sư, Phụ. Mà phải cho rõ chơn lý của câu : «Nhơn sanh ư tam, sự chi như nhứt», nghĩa là nhơn sanh có Ba Giềng, ba Mối Chánh, mà thật chung cũng Một, vì Một đó phải đủ Ba mới trọn, là:
Làm vị Quân là Chủ, thì phải trọn bổn phận làm chủ, mà Người đã làm chủ cái xác thân này, thì đừng để cho cái xác thân nó khiến lại mình, thì mới là quân chủ tấm thân.
Làm vị Sư là Thầy, thì phải trọn sự giáo hóa cả thân thể, không bộ phận nào mà mình không dạy nó cho nó biết tảo trừ tà tâm trong chỗ Động, Ngôn, Thị, Thính. Bộ phận nào cũng có cái Tâm của nó, là sự sáng suốt của nó, đừng cho vật dục che án trong lúc đi đứng, ăn nói, nghe thấy.
Làm vị Phụ là Cha, tiếng Cha có hàm nghĩa chữ Sanh, ấy là thay Trời mà sanh hóa mỗi vật trong thân, chẳng vậy thì trong mình của Người có chi là huyền diệu đâu, như: Tình dục sanh ra Đức dục, Nhơn tâm ra Đạo Tâm, Tư tánh ra Thiên Tánh, tình thương ra Bác Ái, kiêu ngạo ra khiêm cung, tranh đua ra nhịn nhường, cả thảy là sanh lại cái Tâm tánh của Trời ban phú ngày xưa.
Người mà thiệt nên Người, thì Ba ngôi đó phải như Một, vì chẳng lúc nào mà mình không trị lấy mình, thì thật là lúc mình Quân chủ với mình đó; chẳng lúc nào mà mình không làm vị Sư với mình, ấy là lúc mình dạy lấy mình; đến khi lảnh phận sự là Cha, ấy là lúc Sanh thêm sự Sống cho mình, là bồi bổ chơn ngươn cho trọn đủ, cho tinh thần tiên thiên hậu thiên tráng kiện, đủ sức rước Tiên Thiên và Hậu Thiên Tam Bữu của võ trụ đặng làm sự Sống lại cho Con Người của mình, rồi lại còn phải làm sống lại cho vạn vật võ trụ cho ra cái Sự Sống lớn. Tam Cang về phần tinh thần của Người là như thế.
Thánh huấn có dạy: Bao giờ dân sanh biết trọng Tam Tôn như đã phân giải trên kia, thì khi ấy mới mong có quyền Độc Tôn, là Hiệp Nhứt với Thầy, làm Một với Trời. Đó:
Bòn vàng sông Lệ nên bòn,
Tìm châu tìm ngọc, non Côn đến tìm.
Muốn thành Tiên thành Phật là phải làm vậy đó, muốn nên Người thì phải làm như vậy đó, vì Phật Tiên Thánh Thần chi, trước cũng phải làm thân Con Người. Vậy còn mê mẩn chi cái bả lợi mồi danh của đới mà phải bị luân hồi vay trả! Sông Lệ mới có vàng ròng, non Côn mới có ngọc báu, chớ vàng xuy, ngọc tỳ mà làm trò gì. Của thế gian có quí vào đâu.
Chủ được cái thân của mình đây, dạy được cái thân của mình, sanh được thêm sự Sống cho mình, xong vậy rồi phải đem ra con đường Đời mà phổ hóa nhơn sanh. Thầy đã phân : « Hai chữ Vô Vi mối Đạo Thầy », Người được chữ « Vô » rồi, còn một chữ nữa là « Vi », vì hai chữ ấy là mối Đạo của lòng Trời vậy, thì lòng Người cũng phải thể lấy.
Khi Ta « Vô » mà « Vi » cho ta, thì nào thấy có ai để tay vào, tự ta sửa lấy ta, không bắt chước ai, không kể đến tiếng thị thị phi phi, ấy là lúc Ta dọn sửa mình ta theo về Lý của Chơn Đạo, nay đem ta ra con đường đời, ta lại phải « Vi », là phải hành cái Chánh Đạo của ta đã thọ chơn truyền đó, nhưng chẳng lúc nào mà ta quên cái « Vô », nghĩa là: Ta có làm mà như ta không làm, có Ta đó như không có Ta đó, khác nào Trời kia dựng lò Tạo Hóa, mà Tạo Hóa Công ai thấy, có ngụ ý mà biết được đó thôi. Vô Vi trong Tam Kỳ này là vậy, vì là thời kỳ «Đạo Dụng». Trời dụng cái Đạo của Trời có sẳn nơi cái Tướng của Người cho người thế gian tường tận, không che khuất lấp ai. Mới rõ câu : «Cao kiên hữu Tướng, hốt chiêm vô hình» trong bài Đạo Pháp. Người mộ Chơn Lý phải đến Vô Vi đó mới rõ Lý Chơn.
Nhơn sanh chưa mấy ai rõ Có mà Không, Không mà Có, nên cho Có là Có, bảo sao không mến vật hữu hình, không say mê về sắc tướng, mà phải đọa nơi trầm luân khổ hải, lại có người mê mẩn trong cái Vô lại gọi rằng đã đến bực tối thượng thừa là khác.
Người đã chọn Tam Tôn làm gốc, thì biết có cội gốc của loài người là ở nơi Trời, thì rõ nhơn loại có một, nào phải là vô số, nên rõ ai cũng là Một với mình, lại là ruột với mình, thì lo chi không hiệp nhứt với Cha Thiêng Liêng. Thấu Lý Đạo, phải hành Chánh Đạo mới gọi rằng thay thế cho Trời, công quả của Người là đó. Nhớ câu:
Mà ai công quả với Thầy,
Mảng kỳ trách nhiệm là ngày siêu thăng.
Biết cung mây mấy từng thì Người có mấy bực, sự công bình của Trời là dạy: Phải lo phổ độ chúng sanh, sao cho lớn nhỏ đề huề, anh trước em sau, thượng hành hạ hiệu, thượng hòa hạ lục, đó là Chánh cái riêng phần của từ Người ở thế hạ này tùy phận tùy duyên, tùy thời tùy cuộc mà ở ăn cư xử, thảy đồng lấy Tánh Trời mà theo con đường Tấn Hóa thiên nhiên.
Chớ công danh quyền quí tước hàm của người đời đặt tên cho chức, nó là một điều phân chia nhơn loại, sanh mãi cái Vọng cho người, lại nó là mây tan nước chảy ! Kìa ba vạn sáu ngàn ngày là mấy, cái xác thân này còn không ở đời thay, huống hồ danh giá của đời mà đâu còn hoài. Phải cho có ngôi thứ ở đời mới có thứ tự, có thứ tự mới có trật tự, có trật tự mới ra vẻ Đạo, rồi Một với nhau như cây kia có rể, có gốc, có nhánh, có lá là mấy cây? Một thôi. Đông có mầy, Tây có tao, ấy là lẽ cố nhiên, giữa sông bổng nổi nên cồn, nhờ nhiều hột cát đấp dồn mới nên. Quí hóa thay cho cái liên lạc hội hiệp chơn chánh của Con Người, thảy đều do một Lý, Lý này là Chơn Lý vậy.
Người nay lớn khôn rồi, nếu hỏi Người: «Có biết lúc sanh ra làm sao chăng» ? thì lúc đó mình có biết mình là ai đâu. Nếu hỏi người: «Lúc chết người có kể vật chôn những gài», đã tắc hơi nín thở thì còn biết chi là chi nữa. Ấy vậy: Ra không về cũng không, mà lại không rõ khúc đầu, không thông khúc đuôi, chớ người được biết trong lúc nào? Có biết được là lúc người có cái trí khôn riêng, chớ đến lúc mất cái khôn đó, ấy là chặn giữa của một đời sống mà thôi, nếu thật rằng người khôn hơn muôn vật mà người không biết đầu, không biết đuôi, thì sự khôn ấy là khôn làm sao ? Một lý xát cận nơi mình mà lại là của mình mà không rõ, thì còn đong Trời lường Đất nổi gì, lại khoe tài với ai? Mà ai ai cũng vẫy vùng trong một thời gian mau chậm, có người cho rằng đắc chí, kẻ thì thất chí, được thỏa thích hoặc mất hy vọng, mà chung cuộc thì chỉ một đống xương tàn. Mà rằng khôn, mà rằng dại ! Ai khôn? Khôn với ai? Ai dại? Dại với ai?
Có biết được thỉ chung cùng không, là Tâm với Tánh của người xuống thế mà thôi, chớ Trí khôn kia của Cái Người nọ, nó đã không thông suốt rồi đó, vậy Con Người ta «biết chăng sao chẳng hỏi chỗ cao sâu» ? Chỗ cao sâu là nơi lòng vậy. Kìa, thữ xem con trẻ còn nằm, biết nhìn cha mẹ chẳng lầm người dưng. Cái chi làm cho nó biết được như thế? Ấy là cái Tánh linh của nó, cái Tánh linh đó nào phải của người tạo ra, nó có sẳn với nó, thì Tánh ấy bởi Trời mà có ra, bởi Lý tự nhiên mà được vậy, Tánh linh ấy do nơi chỗ vô ưu vô lự của đứa trẻ. Trẻ ấy trông lên thì có biết mà sự biết đó lại vô câu là không cố chấp chi cả (unbiased). Cái sự biết như vậy thuộc về Linh Tánh của nó, Tánh ấy không phân biệt võ trụ vạn vật, không chia vật chia Trời, chia Đất, chia Người. Coi trẻ em nó chơi với vật nào nó cho tên vật nấy, chơi rồi nó cho tên khác nó chơi, chơi rồi nó phá, dẩu món đồ chơi ấy cha mẹ nó có mua giá mấy đi nữa, thì nó cũng không kể, hết muốn chơi thì bỏ, không kể đếm là vật gì. Sao vậy? Vì Tánh linh của nó chỉ cho nó rằng: vạn vật có ra trong võ trụ này là đồ giả cuộc, có bền chi đâu. Tan rồi hiệp, hiệp rồi tan, cuộc tuần hườn như thế. Trẻ bởi Tánh linh mà biết cơ tạo hóa, còn người đây, người đã thành nhơn đây, nhờ chi mà biết vậy? Nhờ cái trí khôn hay sao? Nào phải là nhờ cái trí khôn riêng! Nếu rằng nhờ trí khôn đó mà biết, sao lú trẻ chơi giở đập phá đồ chơi đã mắc tiền mua đó lại la rầy nó, muốn cho nó gìn giữ cho còn hoài, nên chỗ thấy và chỗ biết của đứa trẻ với người lớn đều khác nhau, mới hay người khôn lên thì cái Thiên Tánh lại mất đi, vì người lớn chỉ biết có mình mà quên rằng Trời có ở trong lòng. Đứa con nít còn nằm, đứa vừa lớn lên đó, lại nay là Người đây, là mấy người? Như con chim kia từ ở trong trứng nó ra, cho đền khi biết bay liệng trên trời là mấy con ? Có Một thôi. Có Một thôi, sao lại đổi tánh như vậy ? Vì ỷ mình đủ cánh đủ lông mà quên bởi đâu mà mình có ra, nên từ đây cái Thiên Tánh thành ra cái Tập Tánh, mới có sanh ra lý trí như vậy, lý trí ấy mới chia Trời, Đất và Người, có biết cũng chia Tam tài ra Ba Ngôi, biết đâu thảy đều do Vô Vi Độc Nhứt.
Trí phàm ấy cũng kể có mình mà không kể có ai, vì cho ai cũng là khác với mình, nên nếu dùng nó mà xét một sự lý vật chi, thì chỗ thấy biết đều không thiệt, cũng bởi cái Tâm nó lu lờ rồi đó. Thiên Tánh mê thì Tâm đâu còn sáng được. Người ta đã như vậy rồi, thì có còn kể chi! Người mình xuống thế, lại cho rằng sanh ra ở đời đặng lo làm, lo ăn, cho giàu, cho có, nào dè đâu Người xuống thế đặng tu dưởng cái Tánh đó nó ở nơi Tâm mà ra, đặng lập tành cái Tánh tự nhiên cho mình mà thay thế cho Trời ở thế hạ này, vì không Người thì Trời nào có ra mà làm chi, có Nguồi mà không Trời thì Người sống sao cho được, nên Người với Trời không hề rời rả: Người Trời một Thể một Ngôi, Thể ấy là sự Sống, Ngôi ấy là Chơn Lý. Không rõ Chơn Lý thì đâu biết Đạo là con đường Trời, không biết Đạo thì Sống sao trọn vẹn mà rằng Sống. Đạo là vật vô hình, song nó có Thể thì người mời biết, mà Thể nó bao giờ cũng Chơn, do Lý mà ra, nên gọi Đạo là Chơn Lý.
Người đã thành nhơn rồi, cũng còn để cho cái Linh Tánh đó chỉ dẩn hoài hay sao? Mỗi việc cũng cò để cho Trời chỉ bảo hoài cho sao? Sao người không lập thành cái Tánh ấy, vốn nó sẵn từ Trời mà có. Tánh của chim là bay, của cá là lội, Tánh của Người là Thông Hiểu do Lương Tri Lương Năng ở Tâm con người mà phát ra vậy.
Trẻ nhỏ nó có cái tánh đó, mà nó không biết rằng có, Người có má biết rằng có, lại biết dùng cái có đó, thì người có mới gọi thật là có đây theo hạng Trời định cho Người, bằng không vậy thì Người có ra mà làm chi. Có, mà thật Có là Đạo, vì Đạo bao giờ mà Không Có thật và thật Có, nên Người phải thường thật là Người mới là Người thật Có. Người thật Có là người xuống thế, chớ Cái Người kia, không rõ đầu, không biết đuôi, thì chưa phải người toàn vẹn, chưa gọi được là Người Trời đâu, dường ấy còn là Cái Người, biết có xác mà không biết có Hồn, biết có Hồn mà chẳng Anh Linh.
Phải ráng nhớ trong mình sẵn đủ,
Tánh Linh Thầy ban phú từ xưa;
Trăm điều vật dục phải chừa,
Đừng cho mình vấy tiếng nhơ theo người.
Tánh đó là cái Tánh rất lành rất tốt, vì không pha trộn tánh chât nào hết, khi trải qua mấy từng không gian cho đến cõi thần gian này.
Do Tâm tầm Lý.
Cái Tánh Linh đó (đừng lộn cái lành với dử, lành đây là tốt đẹp lành lẻ, chữ gọi là chí thiện chí mỹ), tự nhiên ở trong Tâm phát ra, khi Tâm đã lặng lẻ, như mặt nước trang bằng, nó mới khiến được lòng người như thế, ấy là lúc Nhơn Tâm đã ra Đạo Tâm, chữ Hóa Nhơn Thành Đạo là đây, nên so lại với lời dạy trong Thánh huấn đã được nghe được biết, thì nào có khác, mới rõ: Người người đều sẵn Tánh lành do Trời ban phú cho mình lúc ban sơ. Vậy mới hay Tánh Người với Tánh Trời là Một Tánh. Tánh ấy là Tánh Lý tự nhiên đó. Điều ấy không còn ngờ vực nữa, mà phải có đến tận cõi hạnh phúc, đến bực Chí Thiện mới rằng thiệt đến, thiệt biết.
Người mà trở lại được cái Tánh Bổn Nhiên đó thì không hề bắt chước ai, nói lùa theo ai, vì biết tự mình có cái Hay tự nhiên như trăm ngàn hoa kia, hoa nào có cái tự nhiên hay của nó. Coi như mấy tay Thiên tài trong nghề bút họa, họ có cái khéo tự nhiên của họ, khéo đó là chí mỹ, vì họ chí chơn đem trọn cả tinh thần vào trong chỗ họa, nào lúc vậy họ có tính đồng tiền hột gạo rẻ mắc chi chi, sau rồi tấm tượng ai trả cao thấp gì thì trả, vậy mới gọi là Tài lành, vậy mới bực Thiên Tài.
Tánh Lành của Con Người cũng thế. Ai có nó mới biết nó là quí, nếu không có nó thi biết nó là gì, nên mới có sanh ra sự bắt chước, sự so sánh, sự hơn thua, tranh quyền tranh thế, đua chen danh lợi, làm như vậy đã lâu đời rồi ra thành tục, nên gọi là Tục Tánh. Cái Tục Tánh này nó ẩn khuất phần thiêng liêng vinh diệu của người, hại chơn ngươn của người, như mây vần vũ che án trời xanh, chớ Trời có lúc nào không trong, mà Trời kia lúc bị mây giăng thì có sáng đâu cho được. Cái Tâm Con Người cũng thế, Tâm như Kiến, Tánh như Gương, Tâm thì bị lục dục che án nên mới lu lờ, chớ Tánh nào có lu lờ, như kiến kia đóng bụi mất sáng, chớ bụi nào phải là Kiến, người mà làm cho cái Tâm mất sáng thì chịu lấy. Người tu Tâm ấy là trau cho Kiến Tánh thành Gương, một khi thành Gương rồi, thì Tâm ấy có Tánh. Gương trong thì vật gì mà không thấu, thấu rồi thì thôi, nào có chứa những chi.
Người còn Tánh lành đó mới đem võ trụ vạn vật vào Tâm mình làm Một với mình cho Hiệp với Lý mà về với Thầy. Đạo Trời là vậy đó.
Thương thay cho Người có nghe thì nghe vậy, biết thì biết vậy, mà nào chịu xét biết, nên tuy những lời nói phải cũng có cảm lòng người, song không thấy chi ứng lại cho họ chút nào, cũng vì Tâm chưa được định nên thiếu Chơn, thì Thần đâu có tỉnh, bỡi lẻ ấy người không quyết đoán được, như vậy thì phần Trí nó lấn lướt phần Tâm mà lạc lối không hay, vì mối chơn truyền ở nơi người bị đứt mà không biết, nên Trời Người không cảm ứng mà phải sa lạc bàn môn. Thánh Huấn:
Này con Tâm Tánh bởi Trời,
Này con Tâm Tánh bởi người phá hư.
Tánh Tâm trong sạch là Người,
Tánh tâm xảo trá là Đời đó con.
Người có cái Tâm đầy đủ Tánh lành, thì có kể cái nghèo khó là gì, vì người dường ấy có thiếu vật chi, thiếu đủ chi cũng tại nơi lòng mà ra. Tâm này lấp cả Võ Trụ, Tánh này che phủ thế gian. Tâm ấy là Tâm Bác Ái, Tánh ấy là tánh Trung Hòa, một mực bình thường, lặng lẻ như bình nước trong. Ấy là giàu về phần thiêng liêng đó.
Kìa, cả và thế gian, mấy bực Thánh Nhơn, mấy trang Đại Hiền Triết, mấy đấng Thiên Tài, mấy nhà Chơn Đạo Đức, ai cũng làm tròn phận sự, có kể chi đồng tiền hột gạo, như chim trời kia có lo dự trử chi chi, mà Trời nào có bỏ đói bao giờ! Nhớ rằng: Phải làm tròn phận sự mới xong, bằng chẳng vậy thì ra kẻ chán đời, nào phải là bực chơn quân tử. Người đến bực chí chơn thì đã phân rành Đạo Đời hai cuộc.
Cái hình hài vật chất, biết nó có ra tại thế gian này nó phải tùng Luật Tạo Hóa, bốn mùa còn phải thay đổi, huống chi nó không thay đổi dạn hình từ phút từ phần, nó phải chịu gió bụi sương nắng, người đã rõ Đạo rồi phải thể lấy đó, nên có gì là than là trách cái duyên phận sao vầy sao khác. Trái lại, cái Tâm được định hoài thì hay. Tâm được Định thì Thần mới đầy đủ mà sanh hóa một cách vô vi điềm tỉnh, mới biết rằng nước non bồi bổ tinh thần, chớ Tâm động thì Thần bì, hạo khí của nó lại hao mòn, thì chẳng những không làm sống thêm cho chơn thân chơn thể, mà lại hại đến sanh mạng của người, thì có tội chi lớn bằng!
Vậy chi chi cũng do Tâm mới có gặp Lý, có câu “Thiên Lý nơi Tâm”, do đó đặng quan sát sự sữ vật vật. Do Tâm cũng là do con đường Bổn Lai của Người bởi đó mà Người có đây, chính là do nơi Gốc của người vậy. Hiện nay ta sống đây, nào phải đợi khi ta trả xác mới về Cựu Vị. Cựu Vị là chốn Ngọc Kinh. Ngọc Kinh đâu là Châu Thiên Đài đó. Đương sống tại thế mà không lìa Ngọc Kinh thì kiếp tiền trình của ta, Ngọc Kinh nào có phụ ta; nhớ câu “Cao Đài vốn ở lòng con đó”. Bằng chẳng vậy, thì Đạo có hai hay sao? Đạo có sống chết hay sao? Đạo không phân biệt gái trai, Đạo không phân biêt nhỉ ngã, Đạo không phân biệt chủng tộc, thì Đạo nào có phân biệt sống với chết! Bởi có Đạo, Người mới có đây, Người có đây, Đạo mới có sống. Gốc Đạo thì do Trời, mà Trời cũng do Đạo mới nên Ngọc Kinh của trái Địa Cầu, của phần xác. Là Châu Thiên Đài đó, người người hiệp đó mà chầu Ngọc Kinh cho ra con Một nhà Chung. Con đường Bổn Lai nào ở đâu xa, nó ở tại Tâm nên Người phải Hồi Tâm luôn luôn mỗi khi đã lạc bước. Hồi Tâm, chánh Lý là trở về cái Lòng Sơ Sanh, Bạch Ngọc Kinh là chốn ấy, mới hưởng được sự yên ổn muôn phần.
Lý đâu người ở đời không biết sự thỉ chung! Mà cũng vì không xét thỉ chung, mới ra bội thiên nghịch địa. Chớ rằng Lý Trí là hay, mới có ra sự tìm cõi vật báu của trái địa cầu, quên rằng Tâm Trung báu lạ vô cùng, Người theo Thiên Lý nơi Tâm mới là Người Đạo. Người Đạo nào có khác đời. Đạo là con đường thông suốt của lòng, dẩn người đến chỗ tận thiện tận mỹ, đến Ngọc Kinh mà Hiệp Nhứt với Thầy, với Trời, với Người dựng nên Trời Đất muôn vật và sanh loài người, là Đấng Chí Tôn.
Ngọc Kiên Tinh
Phụ Giảng
Cơ bần đâu phải là nhục :
Cái tiền tài là của đời sắm, đời trọng, nào phải là vật của Trời sanh đâu, nên nào phải phận sự cho Người lo. Trời nào có dạy mở mang khai khẫn ruộng đất rừng rú hoan vu, hay là chiếm đoạt các khoán chất tài nguyên thiên nhiên nơi thế hạ này, đặng làm của riêng cho người, lại còn góp thâu hoa lợi mà tiêu xài đâu. Đã không dạy như vậy mà cớ chi nay người đời lại cho “cơ bần là nhục”? Là không có tiền của, là nghèo, là khó, là xấu, là hổ ? Xấu hổ với ai ? Tiền của chi chi nó cũng là cát bụi của trần gian, vậy tấm thân không dính bụi trần là phải xấu hổ hay sao ? Hay là chác nhiều bụi đời mà quên phần thiêng liêng của mình là tốt ? Tốt với cái trả vay vay trả đó thôi !
Nay xét mình mà thấy và biết được Cơ Bần không phải là nhục, và một khi đã thực tỉnh rồi, mới rõ Cơ Bần là Chánh Gốc của nhơn sanh, thì cái sự vui và biết đó mới thật là vui, như đã tránh khỏi được kẻ trộm nó toan tính cướp lấy cái thiêng liêng của mình.
Hoa Sen :
Kìa hoa sen ở bùn mà nào nó có nhuốm bùn hôi tanh chi đâu, đó là do tự nhiên của nó, vậy nó mới còn tự nhiên. Ai mà lại không ở trong trần thế, nhưng có lòng nhiểm hay là không nhiểm bụi trần đó thôi. Hoa sen kia ví như cái Tâm không lộn với bùn đó, bùn này là cái hoàn cảnh của trần gian.
Hồi Tâm :
Ra đi tu như Đức Phật Thích Ca còn có đôi ba lần lầm, nhưng phải luôn nhớ :
Biết lầm liền biết hồi tâm,
Hồi tâm mới được quỉ khâm thần nhường.
Hồi Tâm là trở lại cái tánh lành nơi tâm, chớ nào nói hồi tâm là ăn năn xưng tội rồi bỏ qua đâu, vì có Hồi Tâm thì Quả nó báo ứng liền ngay lúc ấy, nên người phải cho chắc dạ bền gan trong việc sửa mình, ấy là bền lòng kiên nhẩn, chắc gan thử rèn. Lúc như vậy Tâm phải như tấm gương Hư Không, có rọi mà không chứa, bởi không chứa nên không có khổ, như thế mới biết : Sóng gió ấy là nguồn mạch nước, Gió êm sóng lặng nước như thường, thì mới vừa thấy lý Đạo vậy.
Tam Cang của Đạo Nho:
Làm người phần xác có Ba Giềng (Tam Cang) làm trọng là : Quân, Sư, Phụ.
Làm vị Quân là Chủ, thì phải trọn bổn phận làm chủ, mà Người đã làm chủ cái xác thân này, thì đừng để cho cái xác thân nó khiến lại mình, thì mới là quân chủ tấm thân.
Làm vị Sư là Thầy, thì phải trọn sự giáo hóa cả thân thể, không bộ phận nào mà mình không dạy nó cho nó biết tảo trừ tà tâm trong chỗ động, ngôn, thị, thính. Bộ phận nào cũng có cái Tâm của nó, và sự sáng suốt của nó, đừng cho vật dục che án trong lúc đi đứng, ăn nói, nghe thấy.
Làm vị Phụ là Cha, tiếng Cha có hàm nghĩa chữ Sanh, ấy là thay Trời mà sanh hóa mỗi vật trong thân, chẳng vậy thì trong mình của Người có chi là huyền diệu đâu, như : Nhơn tâm ra Đạo Tâm, Tư tánh ra Thiên Tánh, hận thù ra Bác Ái, kiêu ngạo ra khiêm cung, tranh đua ra nhịn nhường, cả thảy là sanh lại cái Tâm tánh của Trời ban phú ngày xưa.
Người mà thiệt nên Người, thì Ba ngôi đó phải như Một, vì : chẳng lúc nào mà mình không trị lấy mình, thì thật là lúc mình Quân chủ với mình đó ; chẳng lúc nào mà mình không làm vị Sư với mình, ấy là lúc mình dạy lấy mình ; đến khi lảnh phận sự làm Cha, ấy là lúc Sanh thêm sự Sống cho mình, là bồi bổ chơn ngươn cho trọn dể đủ sức rước tiên thiên và hậu thiên Tam Bữu của võ trụ đặng làm sự Sống lại cho Con Người của mình, rồi lại còn phải làm sống lại cho vạn vật võ trụ cho ra cái Sự Sống lớn. Tam Cang về phần tinh thần của Người là như thế.
Muốn nên Người thì phải làm như vậy đó. Vậy còn mê mẩn chi cái bả lợi mồi danh của đới mà phải bị luân hồi vay trả ! Vàng xuy, ngọc tỳ của thế gian có quí vào đâu.
Chủ được cái thân của mình đây, dạy được cái thân của mình, sanh được thêm sự Sống cho mình, xong vậy rồi phải đem ra con đường Đời mà phổ hóa nhơn sanh.
Vô Vi theo Chơn Lý :
Hai chữ Vô Vi mối Đạo Trời, Người được « Vô » rồi, còn phải « Vi », vì hai chữ ấy là mối Đạo của Trời, thì lòng Người cũng phải thể lấy đó mà sống.
Khi ta « Vô » mà « Vi », thì nào thấy có ai để tay vào, tự ta sửa lấy ta, không bắt chước ai, không kể đến tiếng thị thị phi phi, ấy là lúc ta dọn sửa mình ta theo về Lý của chơn Đạo, nay đem ta ra con đường đời, ta lại phải « Vi », là phải hành cái chánh Đạo của ta đã thọ chơn truyền đó, nhưng chẳng lúc nào mà ta quên cái « Vô », nghĩa là : Ta có làm mà như ta không làm, có ta đó như không có ta đó, khác nào Trời kia dựng lò Tạo Hóa, mà Tạo Hóa Công ai thấy, có ngụ ý mà biết được đó thôi. Vô Vi là vậy. Trời dụng cái Đạo của Trời có sẳn nơi cái Tướng của Người cho người thế gian tường tận, không che khuất lấp ai.
Nhơn sanh chưa mấy ai rõ Có mà Không, Không mà Có, nên cho Có là Có, bảo sao không mến vật hữu hình, không say mê về sắc tướng, mà phải đọa nơi trầm luân khổ hải.
Người biết cội gốc của loài người là ở nơi Trời, thì rõ nhơn loại có Một, nào phải là vô số, nên rõ ai cũng là một với mình, lại là ruột với mình, thì lo chi không hiệp nhứt với Cha Trời thiêng liêng. Thấu Lý Đạo, phải hành chánh đạo mới gọi rằng thay thế cho Trời, công quả của Người là đó.
Biết cung mây mấy từng thì Người có mấy bực, sự công bình của Trời là dạy phải lo phổ độ chúng sanh, sao cho lớn nhỏ đề huề, anh trước em sau, thượng hành hạ hiệu, thượng hòa hạ lục, đó là chánh cái phận sự của từ Người ở thế hạ này tùy duyên, tùy thời, tùy cuộc mà ở ăn cư xử, thảy đồng lấy Tánh Trời mà theo con đường tấn hóa thiên nhiên.
Chớ công danh quyền quí tước hàm của người đời trọng đó, nó là một điều phân chia nhơn loại, sanh mãi cái vọng cho người, lại nó như mây tan nước chảy mà thôi. Kìa ba vạn sáu ngàn ngày là mấy, cái xác thân này còn không sống mãi thay, huống hồ danh vọng của đời đâu còn hoài dược. Phải sống làm một với nhau. Đông có mầy, thì Tây có tao, ấy là lẽ cố nhiên ; giữa sông bổng nổi nên cồn, nhờ nhiều hột cát đấp dồn mới nên. Quí hóa thay cho cái tình liên lạc hội hiệp chơn chánh của Con Người với nhau, thảy đều do một Lý, Lý này là Chơn Lý vậy.
Kết luận :
Cái hình hài vật chất, biết nó có ra tại thế gian này nó phải tùng Luật Tạo Hóa, bốn mùa còn phải thay đổi, huống chi nó không thay đổi dạn hình từ phút từ phần, nó phải chịu gió bụi sương nắng, người đã rõ Đạo rồi phải thể lấy đó, nên có gì là than là trách cái duyên phận sao vầy sao khác. Trái lại, Tâm được Định thì Thần mới đầy đủ mà sanh hóa một cách vô vi điềm tỉnh, mới biết rằng nước non bồi bổ tinh thần, chớ Tâm động thì Thần khí hao mòn, thì chẳng những không làm sống thêm cho chơn thân của mình, mà lại hại đến người, thì có tội chi lớn bằng!
Người có cái Tâm đầy đủ Tánh lành, thì có kể cái nghèo khó là gì, vì người dường ấy có thiếu vật chi, thiếu đủ chi cũng tại nơi lòng mà ra. Tâm này lấp cả võ trụ, Tánh này che phủ thế gian. Tâm ấy là tâm Bác Ái, Tánh ấy là tánh Trung Hòa, một mực bình thường, lặng lẻ như bình nước trong. Ấy là giàu về phần thiêng liêng đó.
Kìa mấy bực thánh nhơn, mấy trang đại hiền triết, mấy đấng thiên tài, mấy nhà chơn đạo đức, ai cũng làm tròn phận sự, có kể chi đồng tiền hột gạo, như chim trời kia có lo dự trử chi chi, mà Trời nào có bỏ đói bao giờ! Nhớ rằng: phải làm tròn phận sự của người xuống thế, bằng chẳng vậy thì ra kẻ chán đời, nào phải là bực chơn như.
Đèn Chơn Lý
Luận văn của Đức Tây Sư Tinh Quân
(1951)
Ngọn Đèn của Đạo
Đèn Chơn Lý 1 phá mù Sanh Chúng.
Sao các con chẳng dụng rọi đường;
Rọi trong phế phủ cang trường,
Rọi ngoài Luân Lý Cang Thường cho xong,
Rọi cho thức tỉnh Giống Giòng,
Rọi gần cho rõ đặng phòng rọi xa.
Ngọn đèn cháy tõ là nhờ dầu tốt trong sạch không pha trộn. Dầu tốt không pha trộn nên khi nó cháy, nó có nhiều Hơi. Nhiều hơi nên ngọn đèn mới tõ. Mà hơi càng nhiều bao nhiêu là ngọn đèn càng sáng bao nhiêu. Ngọn đèn lu mờ là tại ngọn đèn bị nghẹt hơi hay thiếu hơi.
Phải tìm cái Hơi mà là Hơi Sống, cái sáng nào là cái sáng sống, cái đèn sống là nó mới Sống.
Có Hơi Sống, có sáng sống, có hơi hoài, có sáng hoài, ngọn đèn mới còn hoài, vậy mới gọi là Sống. Vây mới gọi là Tìm Đạo, tìm Sự Sống, mới gọi Đạo là Sự Sống.
Cái đèn có Hơi Sống, có sự sáng sống, là một cái đèn không dùng dầu mà cháy, không lửa đốt mà vẫn có hơi hoài, cháy hoài, sáng hoài, ngọn đèn như vậy tìm đâu cho ra.
Dầu cho đến ngọn đèn người đời gọi là đèn Trời là sáng của mặt trăng kia cũng không đặng vậy.
Ngọn đèn có Hơi Sống, Sáng Sống là Ngọn Đèn Đạo, vậy Ngọn Đèn Đạo tìm đâu ở ngoài cho có?
Thánh Giáo:
Tìm Thiên Đạo cần ai phải chỉ,
Lòng Chí Thành suy nghĩ thì ra.
Sao không xét lại nơi lòng,
Bao nhiêu mầu nhiệm Tâm Trung sẳn sàng.
Cái Hơi Sống nầy, cái Sáng Sống nầy, nó ở nơi mình Người chớ đâu xa.
Ai là Người có cái thân hữu nầy, cũng đều nói rằng nhờ “Thở” mà sống, thở là nhờ Hơi, cái hơi nói đây, chỉ là cái công dụng về phần hữu hình mà thôi, có biết đâu nó cũng còn một cái Công Dụng về phần Vô Hình, vì Quên cái công dụng của vật tạo về phương diện vô hình nên mới có đoạn tuyệt cái Gốc Sanh Gốc Sống của nó Vốn là Vô Hình.
Cái hơi thở một khi vào mình rồi thì lưu thông khắp thân Người không có chỗ nào là không đến, mà hễ có hơi thì trong đó phải có chất lửa, có lửa thì có sáng, lửa nầy đi tới đâu thì sáng tới đó. Có Sáng thì có Biết. Nó là cái Sáng Biết về phần xác thân vậy.
Cái Hơi còn lưu chuyển trong mình nó là Sự Sống, một khi nó phát ra ngoài nó là Sự Sáng. Cái Hơi cái Sáng nói đây nó là cái Hơi cái Sáng Vô Hình thì nó là cái Công Dụng Vô Hình vậy. 2 (Thế gian người đời lại gọi nó là cái biết của đầu óc).3
Nói đây là tìm đặng trạng vẽ cho ra cái Lý Đạo mà thôi.
Rõ ra, cái biết trong thân hữu nầy là nhờ Hơi. Có Hơi mới có sáng, vậy lấy chỗ nào làm bằng cớ?
Nếu không thấy đặng, tìm không đặng thì đâu dám nói làm chi. Thật là cái trí biết nầy nhờ Hơi, có Hơi mới có sáng. Cái sáng Sống nầy là cái Sáng Biết của Tự Nhiên. Hơi trong mình đặng hượt bát, đặng đầy đủ tinh tấn mạnh mẻ bao nhiêu thì cái sáng biết cũng đi tới đó.
Có sáng bao nhiêu thì cái biết cũng đến bao nhiêu. Cái Hơi, cái Sáng nầy mới chạy ra đầu óc, dùng đầu óc mà phát biểu cái Sáng Biết của cái Hơi ra, chớ nào đầu óc có biết gì đâu. Vì vậy mà Thầy có nói:
Đua chen khôn dại thị phi,
Tắt Hơi nính thở còn chi đâu là!
Vì nói, ai ai cũng đầu óc như ai mới đua chen theo tuồng giả dối nhau.
Rõ ràng là khi có cái Hơi bao nhiêu thì cái sáng bao nhiêu. Các bực văn minh tài trí địa cầu, chỉ có thấy sống ở thế hạ nầy mà đã tìm biết phô trương cái sự học của họ ra đó, thử bảo họ lấy đầu óc ra đặng biết đi, đặng tìm đi! Có phải ăn ở cỏi này, sống ở cỏi này mà cái học ở trên mặt địa cầu không gian nầy họ đều biết hết không? Tuy thấy họ ăn ở thế hạ này mà họ sống với cái hơi trên không gian ấy nên họ mới sáng đến bực ấy được. Họ dùng đặng cái Hơi bao nhiêu, cái Hơi của họ sống đặng hượt bát linh động bao nhiêu thì họ sáng đặng bao nhiêu, rồi dùng cái đầu óc phát biểu ra sau. Vậy mới gọi cái thân nầy là toàn một bộ máy đặng.
Rõ ràng các bực văn minh nhờ Hơi mà Sáng Biết đó vậy.
Còn người thấp thỏi mà mỗi khi muốn tìm biết một sự gì mà chưa ra, có phải cái hơi của họ chưa đặng hượt đến bực ấy nên cái sáng chưa có chăng? Nếu cái hơi chưa đến bực mà Người muốn biết thì sáng đâu có. Thiếu hơi không sáng, làm sao đầu óc phát biểu ra đặng? Một khi trong mình Người bức rức, giận dử, là cái hơi mình bị nghẹt. Cái hơi bị nghẹt thì đâu có cái sáng. Hơi nghẹt, cái sáng phát ra không đặng theo ý muốn mới sanh ra sự xung đột bằng lời nói, bằng các cách tùy theo sức hơi bị nghẹt.
Đó là cái Hơi, cái Sáng về phần vô hình thân hữu. Nó ở về cái Không Gian ô tạp nặng nề. Cái không gian ví như dầu của cái đèn. 4 Dầu xấu ít hơi hay hơi yếu, đèn hay nghẹt, sự sáng bị giảm bớt lu lờ. Cái không gian đặng nhẹ nhàn như gặp dầu tốt, nguyên chất không pha trộn, nên hơi nhiều, cái sáng đặng lan rộng.
Cái hơi cái sáng nầy, tuy là cái Hơi Sống, cái sáng sống, nhưng nó còn về phần Vô Hình Thân Hữu, nó còn phải bị kẹt trong không gian ô tạp.
Cái hơi nầy không đặng nhẹ nhàn trong sạch nên mỗi khi “Động” thì nó sa ngã về vật hữu hình, thì hơi bị nghẹt, sáng bị lu lờ.
Muốn cho có cái hơi cái sáng đặng mạnh, đặng sáng thêm, Người phải tìm cho đặng cái hơi nhẹ nhàn trong sạch hơn một bực của cái hơi cái sáng về Vô Hình Thân Hữu.
Cái hơi cái sáng này là cái hơi cái sáng ở đâu mà có?
Thật không đâu xa. Thánh Giáo có câu:
Thân thể với hình hài vật chất,
Có Giác Hồn ba bực tùy thân.
Cái hơi cái sáng này nó sẻ phải tinh tấn tinh anh. Cái sáng cũng phải tùy theo cái hơi tinh tấn tinh anh. Nó Vốn là cái Hơi cái Sáng Vô Hình của phần Vô Hình Thân Hữu. 5
Cái hơi cái sáng của phần Vô Hình Thân Hữu mà đặng mạnh, đặng sáng là nhờ liên lạc thường thường hoài với cái Hơi này cái Sáng này.
Cái hơi đặng nhẹ nhàn hơn không phải là phần của Anh Hồn thì có còn đâu mà xét cho ra đặng, vì trong Anh Hồn có tiếng Anh và tiếng Hồn. Tiếng “Anh” là tinh anh, tinh tế, tinh tấn nhẹ nhàn trong sạch. Anh đây là tiếng Anh của Thần mà Thần là Hơi thì Anh đây có phải là Tinh Anh của Thần, là cái Hơi tinh anh, tinh tấn, tinh tế, tinh vi của Thần hay sao?
Đây là nói cái Hơi tinh tế, tinh, tinh tấn nhẹ nhàn trong sạch trong kiếp này. Có biết đâu nó Vốn là một cái Hơi của Người đây sanh thai đầu tiên – Kiếp Nhứt hơn hết -. Người đây 6 phải trở về đến chỗ Sanh thai Kiếp Nhứt hơn hết đặng tìm lại cho gặp. Cái Hơi ấy tức là Ngươn Thần của Người đây.
Có cái Hơi ấy làm Căn Bản mà cái hơi của kiếp này mới nương theo đặng trau dồi cho đặng nhẹ nhàn trong sạch mà trở về.
Cái Ngươn Thần của kiếp này nhờ nương đặng cái Ngươn Thần kiếp trước mà về đến Cội Nguồn không khác nào ngọn đèn nhờ hơi mà cháy, mà cái hơi của ngọn đèn có phải cũng do Một Gốc là Nguồn Ngươn Khí của Trời Đất Hữu Hình chăng?
Cái Hơi đầu tiên trước hết bởi đâu mà có?
Thiệt không đâu xa, Thánh Giáo có câu:
Linh Hồn vốn thiêng liêng hượt bát.
Cái Hơi đầu tiên nầy Gốc bởi Khí mà Khí do nơi Nguồn Ngươn Khí vậy. Nguồn Ngươn Khí là cái Hơi sẳn có nơi Người lúc đầu tiên hết, từ lúc thọ Nhứt Điểm Linh Quang.
Đến đây, cái hơi cái sáng về phần Vô Hình Thân Hữu đã Hiệp với cái Ngươn Thần, tức là cái Hơi làm Căn Bản cho Người đây thát thai lần đầu tiên Kiếp Nhứt hơn hết.
Cái Hơi làm Căn Bản nầy trở về Cội Nguồn của nó tức là Linh Hồn vậy.
Vậy, “Linh Hồn” là cái gì?
« Linh » là « Hư Linh », Linh Diệu, Linh Động, hượt bát ; Hư là Hư Vô Chi Khí. Cái Khí Hư Vô Linh Diệu, Linh Động, hượt bát sanh hóa vô cùng; còn « Hồn » là Sự Sáng mà cái sáng tùy theo cái Hơi của nó.
Đến cái Hơi, cái Sáng Hư Linh, Linh Diệu, Linh Động, hượt bát là trở về đến chỗ phát sanh Nguồn Ngươn Khí vậy.
Nếu chẳng phải « Linh Hồn » là cái Hơi cái Sáng Hư Vô thì Thầy đâu có nói :
« Đạo Bổn Thể Hư Linh bất mụi ».
Người Tu phải trau dồi cái Hơi cái Sáng từ bực thấp đền bực thanh cao, từ thanh cao đến vô cùng vô tận.
Từ cái Hơi cái Sáng tư riêng Hiệp về cái Hơi cái Sáng chung nhỏ, từ cái Hơi cái Sáng chung nhỏ đến cái Hơi cái Sáng chung lớn, từ cái Hơi cái Sáng chung lớn đến cái Hơi cái Sáng vô cùng vô tận, cái Hơi cái Sáng Toàn Thể.
Người Trời một Thể một Ngôi,
Con tua Thể lấy Tánh Trời đừng phai.
Cốt yếu là trau dồi cái Hơi cái Sáng nầy Hiệp với cái Hơi cái Sáng Toàn Thể của Thầy, chớ nào phải đem đem cái hình thể gì mà hiệp với Thầy đặng đâu !
Đến bực nầy mới giúp Công Hóa Hóa Sanh Sánh vậy.
Kinh có chỉ rõ :
Linh Hồn vốn thiêng liêng hượt bát,
Chính là Ngôi Bổn Giác Thầy ban ;
Giữ cho trong sạch hoàn toàn,
Thần dày Đạo Đức Linh càng phẩm cao.
Giữ trong sạch đừng hao Tinh Khí,
Ngươn Thần đừng để lụy trần ai,
Trong ngần chẳng chút lợt phai,
Có ngày chơn bước đến Đài Cao Xanh.
Có phải Thầy nói đây, ý Thầy nói về Ngươn Thần, Ngươn Khí chăng?
Thánh Giáo của Đức Phù Hựu có nói:
“Thần có Khí mới Sanh,
Khí nương Thần mới Hóa”.
Một sanh Hai là vậy, Hai về Một cũng là vậy đó.
Cái Giống Hơi gọi là “Thần” nầy ở đâu mà có?
Cái Hơi nầy có đặng là bởi sự Điềm Tỉnh, điều hòa, yên lặng thường thường hoài. Nó cũng do Một Lý của Thần của Trời Đất, vì “Thần của Trời Đất là một cái Lý mầu nhiệm vô cùng không đo lường được, rất kín đáo, rất thanh tịnh, rất êm lặng, rất sâu xa, rất cẩn mật, rất dè dặt, rất mật thiết, rất u vi, rất quan trọng, rất châu đáo, rất tinh tế, mà nó lại rất lưu chuyển, rất hoạt động, hoặc ẩn, hoặc hiện, rất hoạt bát, biến hóa vô cùng, không một vật nhỏ nào, chỗ kín nào mà nó chẳng suốt thông, không một vật lớn nào, chỗ trống nào mà nó không thấu hiểu. Nhỏ hết sức nhỏ như một cái chót lông, một cái tế toái vi trùng, Thần cũng có thể ngự nơi ấy được. Lớn hết sức lớn là cả Võ Trụ Kiền Khôn thế giái, Thần cũng thấu suốt qua thong thả.
Thần nhờ chi mà được như vậy?
Chỉ nhờ có một cái sức mạnh là rất Điềm Tĩnh mà thôi.
Trời Đất làm sao có được Thần?
Những cơn lặng lẽ êm đềm, những lúc yên tịnh, vắng vẻ, Trời không một chút gió khua, Đất không một tiếng trùng động, nước không một lượn sóng xao, bốn phía, trên dưới chẳng một vật chi lay chuyển, thanh vắng lặng trang như tờ giấy trải, như bình nước lóng, ấy là lúc Thần cuả Trời Đất đương điều hòa cả Võ Trụ Vạn Vật và gầy ra có được Sanh Khí đó.”
Theo chỗ xét:
Người Tu cần nhứt là phải cho lúc nào cũng yên tịnh lặng lẽ điều hòa, nhẹ nhàn đầm ấm trong mình của mình cho cái Thần nó đặng mạnh. Thần có Sanh mới có Sanh Khí. Có đặng cái Sanh Khí nầy thì cái Tinh Thần của Tinh Thần của Người mới trưởng dưởng mới Sanh. Cái Sanh Khí có trưởng dưởng, cái Tinh Thần của Tinh Thần của nó mới trở về hiệp sức với Nguồn Ngươn Khí. Có vậy mới còn hoài, mới trợ lực với Nguồn Ngươn Khí mà hóa sanh vạn vật.
Thần nuôi Đạo nư cơm nuôi vóc,
Đạo nuôi Thần như lộc nuôi thân;
Thần mà tinh khiết muôn phần,
Càng vui càng vẽ Đạo càng đặng khen.
Nói vậy Người chỉ thọ cái phần Khí của Trời nên lo trau giồi cho trong sạch nhẹ nhàn đặng đem về Hiệp với Trời, vậy cái phần thuộc về Chất kia không phải của Trời sao không thấy nói đến, không nghe nói đến?
Cái phần thuộc về Chất nầy cũng của Trời. Trời muốn có nên Trời mượn ở Kho Không Không kia đặng làm ra cái xác thân nầy.
Trời mượn cái chi ở kho Không Không?
Thánh Giáo Thầy có câu:
“Tứ Đại Giả hiệp làm Nhứt Thể”.
Lời của các Đầng Hiền Triết về Nho về Phật về Lão cũng đều nói một thế.
Trời mượn ở kho Không Không Bốn món Địa, Thủy, Hỏa, Phong vậy.
Các bực Hiền Triết Giáo Chủ ban sơ đều nói:
“Khi úp, khi mở, phải đến Lý mới rõ đặng”.
Cái xác thân này là Trời muốn phải có cho con Trời dùng đặng sấp đặt cỏi hồng hoan hay là quản trị cả thế gian thì Trời phải mượn nơi kho Không Không kia nhữ món Âm Dương Ngũ Hành, song không phải sắm một lần nầy mà có ra cho đặng đâu, cũng phải sắm nhiều lần mới trọn đủ. Vốn nó là cái Chất Vật Vô Hình ở cỏi Vô Hình nên mới gọi là Chất Vật. Vì nó là một vật làm ra bởi các Tánh Chất của các Chất Vật nên cũng gọi là cái thân cặn bã của các chất vật của các từng không gian. 7
Khi Trời sắm Trời cho mượn thì chất nào cũng đều trong sạch vì nó còn là Vô Hình. Nay Cái Người nầy làm sai lạc cái sanh Khí của nó nên nó cũng bị sai lạc.
Ngày nay Người rõ đặng Đạo Lý Chơn Chánh của Trời rồi thì Người không bỏ nó đặng, vì nó là một vật mượn đặng dùng. Người phải đem nó về trả lại nơi kho Không Không cho Thầy.
Ban sơ dùng các chất vật đặng lập thành cái thân vật chất.
Ngày nay Người có cái thân vật chất là trong nó sẳn có cái chất vô hình của vật. Người phải dùng cái chất nầy mà lóng nó, lóng hoài cho nó ra cái chất của vật, lóng hoài cho nó ra cái chất trong trắng trong ngần cũng như lóng nước vậy.
Đến đây mới đến cái Nguyên Chất của Đất, Nước, Gió, Lửa.
Đất, Nước, Gió, Lửa đây không phải như vật mà người ta thấy trước mắt đó, Vốn nó là Địa, Thủy, Hỏa, Phong, gọi là Tứ Đại Thiệt.
Vật này pha trộn rồi lúc nó còn nơi vô hình thì gọi là Tứ Đại Giả, là Bốn Món Lớn mượn hay Bốn Món Lớn giả. 8
Dưới đây là một cách giải của Đức Hổn Ngươn Thiên Sư khi Người cò thân hữu, giải thích như vậy, dầu sao cũng hiểu đặng.
- Những vật chi có tánh chất vững vàng chắc chắng thì gọi là Địa. Vật nào có tánh chất này mới đủ sức chống chỏi giữ gìn chịu đựng muôn vật thế gian.
- Những vật chi có tánh chất ẩm thấp, ướt át, thì gọi là Thũy, vì vật nào có tánh chất này mới có sức thâu rút các vật khác.
- Những vật chi có tánh chất ấm áp thì gọi là Hỏa, vì vật có tánh chất nầy mới có đủ sức điều hòa muôn vật làm cho vừa sức hơi phải nóng.
- Những vật chi có tánh chất rung động thì gọi là Phong, vì cái tánh chất này làm cho mát mẻ nhẹ nhà, thơ thới muôn vật đều nhờ có nó mà sống mà lớn.
Bốn món lớn nầy lúc nó còn ở riêng nơi chỗ của nó kêu là Bốn Món Lớn Thiệt – Tứ Đại Thiệt hay Thiệt Tứ Đại.
Đến khi nhiều ít hiệp lại thì gọi là Tứ Đại Giả.
Thánh Kinh của Thiên Chúa Giáo có lời: Đức Chúa Trời lất đất nắng hình Người rồi hà Hơi thì Người mới có sự Sống. Ấy cũng đồng một Lý.
Xét đủ các triết học của Bốn Giáo Chủ thì cái xác thân phàm nầy là Trời muốn phải cho có nó cho Trời dùng đặng sấp đặt cõi hồng hoan hay là quản trị cả thế gian thì Trời phải mượn nơi cái kho Không Không kia những món Âm Dương Ngũ Hành.
Cái xác thân nầy quả là của Trời sấm, song chẳng phài sấm một lần cho được mà có ra, cũng phải sấm nhiều lần mới trọn đủ. Vốn là cái Chất Vô Hình ở Cỏi Vô Hình nên cũng gọi là “Chất Vật”.
Mỗi khi cái chất vật ở cỏi vô hình xuống một từng không gian thì nó mượn cái chất vật ở từng không gian ấy làm cái Thân Vô Hình. Lần xuống từng không gian nào thì mượn cái chất vật ấy mà làm Thân Vô Hình. Càng xuống bao nhiêu càng hiều cái thân như vậy bấy nhiêu. Xuống cho đến nơi đến chốn rồi mới có cái thân hữu này là cái Thân Chót của các cỏi Chất Vật nên cũng gọi nó là một cái Thân Vật Chất.
Vì nó là một vật làm ra bởi các tánh chất của các chất vật. Cũng còn kêu là cái thân cặn bã của các chất vật của các từng không gian.
Khi Trời sấm Trời cho mượn thì chất nào vật nào cũng đều trong sạch vì nó còn là Vô Hình. Đến khi có cái Thân Hữu Hình này, vì Người làm sai lạc cái Sanh Khí nên nó cũng bị sai lạc.
Tất Hơi Sanh Hóa
Thánh Giáo (1936)
“ Đừng tưởng Trời Đất không Thở mà lầm, cũng chớ gọi Người nhờ Thở mới Sống mà hại. Sự Sống nhờ Hơi mà được, nhưng Hơi phải thay đổi mới Sống. Hơi thay đổi được nên gọi nó là “sự Thở”. Nhưng sự Thở phải êm lặng, nhẹ nhàng, không xao, không động, thì nuôi Hơi mới được. Sự Thở, tuy có vô có ra, lên xuống, song nó đều quan hệ với nhau, phải cho liên tiếp một cách liên lạc, mà chẫm rãi rất khéo léo, đừng cho nó đứt khúc một tý nào, thi nó mới bao bọc gom gói và luân chuyển lấy Hơi, khiến cho Hơi đi một vòng tròn, không thấy được mối mang chỗ nào, nên sự vào ra lên xuống của nó không ai hay biết được. Sự Thở như vậy mới có Sanh Hóa. Nếu sự Thở không được điều hòa như vậy, thoạt mau thoạt chậm. thoạt mạnh thoạt yếu, hoặc lớn hoặc nhỏ, hoặc dài hoặc vắn, hoặc đứt khúc một lúc ở giửa, thì sự Thở ấy không được Thường, không được Thiệt, và không được Tin.
Nếu nó như vậy thì nó nào có làm Sự Sống cho Vật chi được!
Xét vầy thì biết: những lúc đứng Trời, hoặc giông gió bảo tố, hoặc đất động, hoặc lửa núi tưới phung, hoặc nưóc biển tràn đầy, ấy là do nơi sự Thở của Trời Đất không được Thường, Thiệt và Tin đó. Những lúc như vậy muôn Vật ra thể nào?
Ngươn Khí của Trời Đất lúc đã dưỡng được Ngươn Thần rồi, thì nó bay ra một giống Hơi đầm ấm, mát mẻ, không nóng không lạnh. Nhứt là lúc giửa ban đêm cho đến lúc bình minh, ấy là lúc Trung Tâm của Trời Đất đương Định đó. Các trò hãy dùng Chơn Thân hứng lấy Thanh Khí nơi không trung và dùng Chơn Lý mà khảo cứu cho kỹ được, thì các trò thấy rõ ràng rằng: cái Giống Hơi nầy nếu dùng con mắt mà xem thì không thấy nó được, hay là lóng tai mà nghe, thì cũng không biết nó ở đâu, tuy có dùng Lý nơi Chơn Thân Chơn Thể mà hứng thì thấy và biết được cái Mầm Giống của Sức Sanh Hóa của Trời ngụ ở trong cái Giống Hơi mát mẻ ấm áp lúc Trời thanh tịnh vắng vẻ êm lặng khỏe khoắn ấy mà thôi.
Ta đã gọi Hơi ấy Vô Hình, các trò chớ gọi lúc ấy là lúc có sương, vạn vật nhờ hứng lấy sương đặng Sống mà lầm, vì sương là một giống khác, nó hữu hình; bởi nó hữu hình nên hể mặt nhựt mọc lên thì nó tan, bằng nó chẳng tan mà nó đọng vào một chỗ nào, thì chỗ ấy phải hóa ra một thứ sâu bọ phá hại.
Còn Ngươn Khí kia thì chẳng vậy, nó trở lại điều hòa với Dương Khí đặng làm sự ấm áp cho kiền khôn thế giái mà trưởng dưởng vạn vật. Nếu ban ngày mà Ngươn Khí đứng lại thì Trời Đất phải Ngột. Nếu Trời Đất Ngột thì muôn vật thế gian đâu còn! Vì vậy nên Ngươn Khí chẳng hề Đứng mà chẳng hề Ngột bao giờ, vì nó là Sanh Khí lưu chuyển rất Thần.
Người học Đạo phải Thế lấy lời Ta giải đây mà tự mình gầy ra sức Điều Hòa Trời Đất trong Thân Người, cho được Thần Khí trong sạch và yên lặng chớ vọng tưởng tin càng mà sanh sự khổ cho nhau. »
Đức Phù Hựu Lữ Thánh Đế Quân
Phải cho biết:
Ngọn đèn có Hơi Sống, Sáng Sống, là Ngọn Đèn Đạo, Ngọn Đèn Chơn Lý, vậy Ngọn Đèn Đạo tìm đâu ở ngoài cho có.
Tìm Thiên Đạo cần ai phải chỉ,
Lòng chí thành suy nghĩ thì ra…
Bao nhiêu mầu nhiệm Tâm Trung sẳn sàng.
Cái Hơi Sống nầy, cái Sáng Sống nầy nó ở trong Mình Người chớ có ở đâu xa!
Ai là Người có cái thân hữu này cũng đều nói nhờ Thở mà sống.
Cái Hơi nói đây chỉ có cái công dụng về phần hữu hình mà thôi. Có biết đâu nó cũng còn một cái Công Dụng về Phần Vô Hình, vì quên cái Công Dụng của Vật Tạo về phương diện Vô Hình nên mới có đoạn tuyệt cái Gốc Sanh Gốc Sống của nó Vốn là Vô Hình. 9
Ớ đồng bào thế gian!
Ớ Người nhờ thở mà sống!
Ớ Người nhờ Hơi mà Sống mà Sáng!
Ớ Người nhờ cái Gốc Sanh Sống Vô Hình!
Đã nghe đặng, thấy và hiểu đặng lời Thánh Huấn trên đây chỉ rõ về Tất Hơi Sanh Hóa, vậy hảy ngó lại trong mình mình coi có Thể rõ đặng lời Thầy đã nói lại hỏi:
Ai nuôi ai dạy trưởng thành,
Lớn khôn lại muốn tung hoành ngổ ngan?
Nay cũng xin hỏi: Nhờ đâu mà Người Sanh, Người Sống, Người có đặng Sự Sống đây? Sự Sống Sáng Biết đây?
Thử xét: Con trẻ còn nằm trong nôi tự nhiên biết cử động, “biết nhìn cha mẹ chẳng lầm người dưng”, khi ngủ biết trừng, biết nháy mắt, biết nhích miệng cười, biết khóc tức tưởi, rối lại yên lặng tự nhiên, thì hỏi lúc như vậy, Ai trong nó, Vật gì ở trong mình nó dạy nó biết làm những sự huyền vi tự nhiên ấy?
Nay trẻ đây đặng lớn khôn rồi, những sự huyền vi kia, – phần Vô Vi đó -, sao Người lại Quên đi, rồi lại gọi mình là “Tôi nầy, Tôi nọ”, còn lúc sơ sanh “Tôi” thì là “Tôi” nào?
“Tôi huyền vi ẩn vi” nầy có phải là một sức Mạnh, sức Sống, sức Biết Vô Ngã Vô Nhơn chăng? Thì, Vô Ngã Vô Nhơn mà Sáng mà Biết có phải do nơi Chơn Ngươn 10 sẳn có với Sự Sống của Vật Tạo hay không?
Lớn lên biết đi đứng, ăn nói, suy gẩm, vậy ai tập những sự ấy buổi đầu? Nay biết có mình Quên nghỉ đến Ngọc Kinh nơi mình là chỗ qúi nhứt trọng nhứt của vật sống hữu hình.
Quên Phần Vô Hình thì Ngọc Kinh đâu có kể!
Sống Biết ấy là nhờ Tất Hơi Sanh Hóa. Hơi nầy là Hơi Điển Tiên Thiên, cái Hơi Sanh Hóa của Trời tức là cái Nguồn Ngươn Khí.
Cái Người này:
Sống ở thế xác hồn chia rẻ,
Cứ lộn lầm dâu bể luân hồi;
Đua chen đây lở kia bồi,
Khôn khôn dại dại mê đời khá thương.
Hồn nói đây là phần Hơi, phần Khí đó. Hơi nầy chạy khắp trong châu thân thì cái mình nầy Vôn là Mình Điển. Cái Mình Điển có các Mối Giao Thông cũng là Điển.
Thế gian ai biết cái Mình Thiệt của mình là cái Mình Điển?
Thì cái Mình Điển này mới thiệt là cái Chơn Thân của Người, thì Sự Sống Sáng của nó là cái Chơn Thể từ Trời mà có ra, nên Cái Vật Tạo nầy Vốn là của Tạo Hóa Công đó mà.
Tạo Hóa Công nơi dạ các con,
Thì Người Thiệt Thiệt Người là Người có Trời nơi lòng vậy.
Nên Người Thiệt Thiệt Người tức là Nhơn Loại đó. Người mà nhơn loài thì Người ấy mới thiệt là Người Ta, tức là Người Giống của Trời (l’Homme Véritable – l’Humain).
Đặng là “Người Ta” thì Người nầy mới là Vô Ngã Vô Nhơn, mà Vô Ngã Vô Nhơn là Lý của Trời.
Lý của Trời đây là cái Tinh ba của Sự Sống, là Toàn Thể của Sự Sống Chung lớn (la Plénitude de la Vie).
Đến đây, Người Trời một Thể một Ngôi vậy, thì Người đây ra Người Vô Cùng Vô Tận. (L’homme en son essence est la Vie. Le Christ et le Bouddha sont la Vie, et chacun en est la potentialité).
Vậy, được Sống được Sáng, – Sáng Một với Sự Sáng Sống Toàn Thể Chung – thì biết cái Nguồn Ngươn Khí nó đi ở trong châu thân Người không sót một chỗ nào dầu cho một chót tóc, một chưng long nó cũng không sót.
Nhưng Người thế gian nào có biết đặng như thế mà chỉ còn có « cái biết sai biệt » vì đã làm sai lạc Tất Hơi.
Nếu con sai lạc Tất Hơi,
Luân hồi quả báo chạy Trời được sao?
Nhờ cái Nguồn Ngươn Khí lập Chơn thân Chơn Thể cho Người, nên Người mới có Thể sống bằng Trời Đất (la Nature), trường cữu vĩnh viển.
Đây, nói « Người » không nói « Cái Người » nên Thiệt Người nào có biết sanh tử nó là vật gì !
Rõ Lý như vậy, nên về Người Thiệt Thiệt Người thì trăm việc do Trời thì Điển Quang không lạc Mối. 11
Thì, muôn việc nơi mình đều phải do nơi Lương Tri, Lương Tri là vật thuộc về tinh thần sẳn có nơi lòng tạo vật của Tạo Hóa Công. Nó là cái Sáng Biết Thiêng Liêng Tinh Thần, cái Sáng Sống nầy mới là cái Sáng Biết Tự Nhiên của Người mình tự nhiên, tức là cái Sáng Biết của Lý Tự Nhiên, chớ cái trí óc chẳng khác tấm kiến treo giửa chợ đông.
Nó Sáng nhờ Hơi, Hơi nầy là Hơi Điển, Điển nầy Vốn là Điển lực của Điển Vô Vi.
Hơi Điển này do đâu mà phát sanh ?
Do nơi cái Chơn Tâm tức là Tâm Thiệt của Trời có lại với Người Vô Ngã Vô Nhơn. Chơn Tâm mới có chứa đựng cái Chơn Điển, Vốn Nguồn Thanh Điển trong Nguồn Ngươn Khí Hóa Sanh của Trời.
Tâm này có hiển nhiên với Người Thiệt Thiệt Người là Người Giống của Trời, như thế Tâm nầy có chứa sức Sống sức Sáng, sức Sanh sức Hóa tự nhiên Vô Hình, nên gọi là Lương Năng, thì Lương Năng là Chơn Thể của Người không còn ngờ vực gì nửa, thì cái Dụng của nó là Tri Giác (Hay và Biết) vận động cho phần Thiên Lý nơi Lương Tâm là đó.
Thì ra Lương Năng là Tánh Trời do Nguồn Thanh Điển trong Nguồn Ngươn Khí Hóa Sanh, là Nguồn thiêng liêng sáng suốt vô tận.
Giống Hơi nầy Vốn thiệt là cái Nguồn Ngươn Khí thông truyền cùng ngũ giác thân, nó làm cho các bộ phận cũng đặng thông truyền, thỉ lúc vậy nó đổi qua một danh từ khác là Thông, Hiểu, Biết. Nên các Mối Điển tùy theo danh từ như :
Thông, Hiểu, Biết, Nghe, Thấy.
Mà giúp cho Người đặng nên « Người » là Người khôn hơn muôn vật, chớ thiệt nào phải tai nghe, mắt thấy, miệng nói chi chi đâu ! Ở Ngoài cũng vào ngay nơi Đó. Lời nói ấy, hành vi ấy tức là Lời của Thầy (Le Réel). Nơi nào có đặng Lời Thầy nói ra, thì nơi ấy đặng là cái Tâm của Trời của Đạo! Như thế Trời Người đã Một rồi.
Như vậy, thế gian còn hỏi Thầy Trời ở đâu ?
« Thầy là Chơn Lý tràn đầy thế gian ».
Trời là Toàn Thể vô tư của Sự Sống Vô Hình nơi vật sống hữu hình.
Hảy thật hành Lời nói của mình biết nói cho ra « Tri Hành Hiệp Nhứt » thì Thầy đó, Thầy Trời là đó.
Báu Trời đâu để dồi vinh phong trần !
Bài thi nầy có giá trị. Nghe Đó thì Biết
Đó làm cho đây vô chung vô thĩ,
Chẳng qua là làm vậy mà thôi ;
Đây là cái chén sanh bôi,
Vơi rồi trút cạng, cạng rồi châm vơi.
Đây quyền sậy mặt tài Đó dụng,
Lắm lúc manh lên trũng xuống đèo ;
Thổi vào cái giọng trong veo,
Diệu dàn cái điệu âm điều thường tân.
Đông tay Đó lòng mừng khắp khởi,
Vượt thoát ra khỏi giới hạng thường;
Rồi tuông bao xiết độ lường,
Nguồn tình vô tận, mối thương vô cùng.
Của Đó ban vô chung vô hạng,
Ta chỉ hềm lóng cạng tay ta;
Kìa đời Người thẩm thoát ra,
Mà còn thấy Đó chang hòa ơn mưa.
Nhưng còn mãi mãi chỗ thừa.
Ấy, tiếp xúc cùng Chơn Tánh, Ta vượt khỏi hạng định. Ta là Đạo vì Lý ấy là Ta. Nên :
Đường ngay có Một không hai,
Đường ngay từ thuở Thiên Khai đến giờ.
Ấy là Con Đường Chơn Lý Ngươn Khí của Trời lập cho Con Trời đi cho vững bước Trường Sanh.
Chơn Thân của Người là Đó.
Kìa: Con chim biết hát,
Con dế biết ngâm,
Con ve biết ca,
Thì “Người” biết “nói”, sự biết nầy thuộc về của Loại, nào phái Cái Người riêng, Cái Người nào đâu.
Nên, có học Nói mà làm chi, sao không Nói cái Tiếng của Mình Biết Nói là cái Tiếng của Đạo, của Sự Sống toàn thể vô tư, cái Tiếng êm hòa ấm áp, đẹp đẻ tốt tươi của Trời phú Tánh, Tiếng nơi Thanh Tâm phát ra mà ra giọng ra lời. Nghe đặng là Tiếng, phát ra là Hơi mà là Hơi Điển.
Lại học nói chi theo cái tiếng của Cái Người tập tánh nói theo sự sống chia rẽ, cho có ra sự tranh đua cao thấp mà ra việc chống kình nhau, thì khác nào tinh tinh anh võ, lại thường tổn Đức là khác.
Thiệt lời nói của Người biết nói là cái hiện tướng của phần Lý Tưởng Chơn Chánh do Chơn Tâm phát sanh, Vốn là Thanh Điển, cái Sức Sáng Sống của Lý Thiên Nhiên (Intiution – la voix de l’Intuition). 12
Mà cũng vì Người thế gian quen nhau trong chỗ học nói theo thế sự tình đời nên quên lửng Con Đường Ngay của lòng.
Đường ngay chẳng thạo đã đành,
Tâm sanh chưởng chưởng ma sanh khó gì!
Như thế mới sai lạc Tất Hơi!
Hơi nầy là Hơi sanh hóa của Điển lực Tự Nhiên, thì bảo sao tránh khỏi cho đặng cái Luân Hồi quả báo, chạy Trời đặng sao? 13
Đường Chơn Lý chúng sanh chưa thạo,
Cứ quẩn quanh quả báo luân hồi;
Cho nên tả đạo dối đời,
Hư hư thiệt thiệt mê đời khá thương.
Chúng sanh ở nơi mình là các Mối Điển Hạ Thiên của Hậu Thiên Hữu Hình do tinh thần của Tứ Giả lập thành, nên Con Đường Chơn Lý từ Tiên Thiên Vô Hình đến Hậu Thiên Vô Hình thì chúng sanh chưa thạo vì nó chỉ biết cái gốc sanh sống của nó là Điển lực của Hậu Thiên, nên “Chúng Sanh” là sự sống thấp hèn. Đó là cái lòng lo sợ, cái sự ham muốn riêng tư, dục vọng, tự đắc tự kiêu, sự sống ngắn ngũng, thấy đó mất đó, có đó không đó.
Người Chơn Lý là Người đã nối lại được nơi mình cái Giây tương sanh tương khí là cái Quang Điển trong Hiệp Quang nên đặng tròn tỉnh ngộ. Ấy là Người đã có lại với mình trọn phần thiêng liêng nghĩa là đã Hiệp Nhứt với Vô Vi làm Một nên Mối Điển Tiên Thiên đã nối liền với các Mối Điển Hạ Thiên thì Chúng Sanh đâu còn là Chúng Sanh nữa, nó đổi lại một danh từ khác là Linh Điển, Thần Điển vậy. các Mối Điển Tiên Thiên với Hạ Thiên đặng Một thì đó là Con Đường Chơn Lý Ngươn Khí, Con Đường ngay của lòng thì “Thiệt Mình” là đó, Vốn là cái Mình Điển của Người Rước Điển: Bổn Thân là đó.
Cũng bởi tại Người Quen Dùng các Mối Điển Hạ Thiên làm sự sáng sống cho mình, bảo sao không sa ngã hoài về Vật, về mặt hữu hình, hoặc sa ngã về tả đạo bàn môn thì Tâm của Người là Tâm của Vật chớ chẳng chi khác!
Đặng trọn mối Linh Điển, Thần Điển thì đó là Lục Thông, Đạo Thông vậy.
“Quí Nhơn quí Vật giữ gìn chớ sai”
Rõ ra thì “Người” đây là một vật Khôn hơn muôn vật tức là Vật Trong trong Người:
Vật Trong thiệt Vật trong Người sanh ra
(Nhớ: Cái xác thân nầy cũng là một vật trong vạn vật).
Thì có lẻ nào lại chết mất đi không nhờ cái Nguồn Ngươn Khí lập thành Chơn Thân Chơn Thể, cái Mình Thiệt của Mình, đặng sống vĩnh viển, sống là Một với Kiền Khôn Tạo Hóa.
Xét biết đặng cái Nguyên Lý Nguyên Khí ấy rồi thì Ta là cái Lý đó, cái Lý đó là Ta, Ta biết ngần nào túc ý mãng nguyện, xiết bao hớn hở!
Vinh hạnh thay cho Người hấp thụ đặng cái Nguồn Ngươn Khí Chơn Chánh nên mới được sánh với Trời Đất lưu chuyển với Chơn Lý tự cổ chí kim trường sanh bất tử.
Tõ rạng thay cho cái Chơn Lý, cái Chơn Nguyên của Đạo tạo nên Kiền Khôn Võ Trụ này.
Cái Chơn Tâm này đã hiểu thấu cái Chơn Lý ấy rồi thì mặc tình Ta vui mà theo một nhiệp với Trời, theo một chiều với Đạo
Tổng Kết Luận
Người thế gian, rõ Đạo Lý Chơn Chánh của Trời rối, đều phải “Tu”, mà Tu là Sửa Mình chớ chẳng chi khác. Nên Thiệt Tu thì chỉ có một Con Đường là Tu Chơn, lại phải Chơn Tu mới thành. Tu theo Tam Kỳ Nguyên Nguyên Bản Bản, Chơn Lý Tầm Nguyên Đại Đạo mới có thể “Biết Mình”, tức nhiên là biết “Người”, vì ai ai cũng là Người nhưng phần đông lại là phần rất đông chưa mấy ai biết đặng mình, lại cái Mình Thiệt của Mình nó ra sao, cũng chưa có mấy ai thấu cho tột Lý.
Bởi thế ít ai “Biết Sống”. Sống Thiệt Thiệt Sống tức là Sống Vui đầy dẩy Hạnh Phúc theo Lý Thiên Nhiên.
Tây Sư Tinh Quân
Đốc tràng Giảng Đàn Chơn Lý của Đức Chí Tôn
(1951)
Thánh Giáo:
Sẳn Lương Tri làm Căn làm Cội,
Bỏ Lương Tri học hỏi đâu xa;
Lương Tri vốn thiệt Thầy nha,
Lương Tri báu lạ của Cha sẵn truyền.
Cạn lời Thầy độ hữu duyên,
Chuyển Mê Khải Ngộ khỏi phiền lòng Cha.
Hỏi: Sự Sống của Người là vật gì?
Là trăm Mối Thần đó, mà giềng mối là Ngươn Thần.
Nên Ngươn Thần mới là Người Thiệt mà là Mình đó, Ngươn Thần đây của kiếp Sống này. Nên phải về Căn Cội của nó là thiệt Người Trời vậy, thì Người mới trọn đủ Chơn Ngươn.
Notes:
Sự Sống không chia rẽ, mà tự nó đâu có chia rẽ, thì là vô thĩ vô chung.
Chơn Lý là đó, cái Tâm đó, các Mối Thần đó, Điển đó, Tạo Hóa đó, Thầy đó.
Các con Chơn Lý rán phăng rán tìm.
“Tu theo Lý Trực Giác (Intuition) mới có thể bồi bổ Chơn Ngươn, tức là Sống và Thở bằng Tinh Thần một cách cao siêu và huyền diệu hơn hết.
Sống và Thở bằng Tinh Thần theo Lý Trực Giác tức là đi trên Con Đường Trường sanh, Con Đường của Trời lập cho Con Trời đi cho vững bước Trường Sanh, vì Người Vốn là Thiêng Liêng, Trời nơi tâm Vốn là Thiêng Liêng.
Về bên tả đạo bàn môn, phái ấy luyện về Tinh, Khi, Thần của Hậu Thiên, về cái Thể vật chất và tinh thần của người riêng là tinh thần của vật.
Còn theo Chánh Đạo thì luyện về Thần Khí Tinh của Tiên Thiên là cái Thể Vô Hình của Trời Trong, tức là dụng Điển lực của Vô Vi tức là Lý Trực Giác.” (Viên Giác – 1950)
1 Ô, Homme!
“Tant que vous n’approchez pas réellement toute votre vie avec votre “Intelligence”, aucun système au monde ne sauvera l’homme de son incessant labeur pour son pain”. (Krisnhamurti)
Ici, c’est l’Intelligence Divine – Lý Trực Giác – Lương Tri đó.
2 Cái Công Dụng Vô Hình: Thần, Khí, Tinh Tiên Thiên làm Gốc
3 Cái óc Trí là một bộ máy hữu hình để cho Hơi tự nhiên dùng mà phát sự Sáng Biết ra ngoài đó vậy thôi, chớ nào đầu óc biết chi mà rằng hay giỏi ? Đầu óc là một cái cơ sở của bộ máy thiên nhiên mà !
4 Vật ở ngoài tên gì, đem đặt để vào mình cho phải chỗ thì nó đổi lại là tên gì, vì trong mình Người có Trời Đất đủ. Ví như ở ngoài võ trụ gọi là Không Gian thì đem vào mình nó là « Khí » ; Không Gian chẳng phải là cái Không Khí đó vậy sao ? Khí trong mình chẳng phải là như dầu của cái đèn hay sao ?
5 Không học Đạo, thì thế gian đâu có biết rằng trong thân Người lại có phần Vô Hình của Vô Hình Thân Hữu. Bởi không biết vậy thì có thể nào biết đặng « Thiệt Người, Thiệt Mình » là chi ?
6 Người dây vốn là tinh thần, nên tinh thần nầy, Thể sống nầy…
7 Người thế gian dầu có tin hay không tin như thế, dầu có bàn cải cách nào, trở xuôi tính ngược đi nữa thì cái xác thân này nó đã là như vậy. Cái Người đây không thể nào cải Luật Tự Nhiên sanh hóa đặng, ví nó là cái vật tạo của Tạo Hóa Công, cái Vật Sống vì nó có sự sống tự nhiên của nó.
8 Fusion des facultés humaines.
9 Học Đạo là vụ tìm sự sống của Đạo mà học đặng làm thêm Sự Sống cho mình đặng mình Sống thêm lên.
10 Chơn Ngươn: la Réalité éternellement vivante de l’Homme.
11 Tenez l’Éternel en votre Coeur et le Présent devient comme le parfum d’une fleur.
Se comprendre dans sa propre essence, c’est Comprendre la Vie, la «Totalité» où le «Je» a disparu.
Jusqu’ici, comprendre une idée, c’est la rattacher à des idées que l’on avait déjà. Ici (Sống cho sâu nguồn, làm Một với Ngôi Bổn Giác), il ne s’agit point d’idées, mais d’un nouvel état humain, vraiment humain, d’un état qui est différent de tout ce à quoi on a l’habitude de penser.
Ici, Comprendre (Thông Đại Đạo) c’est pénétrer dans cet état. Cet état existe, et c’est l’état naturel d’un être humain, vraiment humain. Dans cet état, la seule Autorité qui nous guide, c’est l’Éternel en nous, la Vérité en nous, la Lumière en nous.
Donc, (phải sống qua phần Vô Hình) déplacez le centre de votre être, soyez au Saint Centre de votre être, et voyez toutes choses au point de vue de l’éternel.
Donc, abordons la Vie en tant que Totalité, et voyez toutes choses au poit de vue de l’Éternel. En cela est une grande béatitude.
L’individualité est l’imperfection, – ce n’est qu’une partie du Tout. Pour devenir le Tout, vous devez avoir le contact vivifiant de la Vie qui enrichit l’individualité et dans cetenrichissement même l’individu est disparu. Alors, vous ne vous considérez plus comme un individu, mais comme le Tout.
Đức Chí Tôn có nói : « Cần phải Tu Tỉnh đặng tỏ bày vẻ đẹp thiên hiên với Đấng Hóa Công là giúp công Hóa Hóa Sanh Sanh của Trời ».
12 Il faut donc réaliser la Réalité en Soi, qui est « Être Pur », qui est en toutes choses, et, en la réalisant, remplir le but de la conscience individuelle séparée. (Krishnamurti)
L’Intuition – Lý Trực Giác -, c’est aussi l’Être Pur, car l’Intuition n’est que l’expression de la Vie, non de la vie matérielle, mais de la Vie de toutes choses. C’est aussi la Totalité de l’Être dont toutes les qualités personelles sont détachées. C’est la Réalisation la plus haute, l’existence la plus haute, la Vie elle même, la Vérité, le Bonheur.
La Vie (Đạo), l’Action Pure (Chơn Lý), la Vie Pure (Ngươn Khí), la Totalité, la somme de toute Vie, n’a pas de but : Elle Est. Cette Vie n’est pas du tempérament ou d’une espèce particulière, ell est le Soi (Chơn Ngươn) de toutes choses. L’Homme. Libéré de la conscience de soi, a rejoint la Vie Universelle. Il est cette Vie en Acte, il est l’accomplissement de la Totalité de la Vie et la consommation du temps. (Krishnamurti)
13 Điển lực của Người Tự Nhiên là Hơi Điển Vô Vi. Người Tự Nhiên : la Vie sans forme.
Luật Đạo – Luật Thiên Điển
Giảng Đàn Chơn Lý của Đức Chí Tôn
Tây Sư Tinh Quân
(01 Dec 1952)
Thưa chư vị,
Giảng Đàn ngày hôm nay chỉ về Luật Đạo, Luật Thiên Điển ở trong châu thân Con Người. Chư vị nghe đặng rồi, hiểu đặng rồi, thì “tự mình Tu tỉnh lấy mình” cho khỏi Luật Thiên Điều Báo Ứng, cho găp đặng Trời Trong trong Người thì mới có thể Sống vui theo Đạo..
Tiếng “Trời” đây đã có phân tường trong kỳ Đàn vừa qua. Chư vị nên xem lại, học cho kỷ mới có Thể Sống vui theo Đạo.
Đầu đề nay là:
Sự Sống của Người và trong Người.
Vấn đề thế gian chưa có nơi nào giải thấu cho đến Lý Chơn Thật của nó, mà đây là nơi Giảng Đàn Chơn Lý Vô Hình của Đức Chí Tôn.
Hiểu rồi, thấy đặng rồi, biết đặng rồi, mới biết:
Đạo Trời là quí,
Người Trời là quí nhứt,
Mới có thể dứt đặng cái tánh mê trần. Một kiếp này ”Sống”, gặp Trời găp Đạo, mà biết “Tu tỉnh lấy mình” là Phước nhà đó.
Trước hết phải biết Sự Sống của Người là:
- Cái xác thân hửu hình này, Đạo gọi là “Cái Người của Tứ Giả” thuộc về vật chất hửu hình. Trong Cái Người của Tứ Giả này, phải có Hồn của nó:
- Là cái “Vô Hình Thân Hửu”. Sự Sống của Vô Hình Thân Hửu phát ra bằng nhửng cảm giác như vui, buồn, lo, sợ, hờn, tủi… Trong cái Vô Hình Thân Hửu còn có cái “Vô Hình Tinh Thần”:
- “Hồn” là nhửng ý tưởng, cảm tưởng, trí tưởng vân vân về nhửng sự vật hửu hình là cái “Tinh Thần của Vô Hình Thân Hửu”. Trong cái Tinh Thần của Vô Hình Thân Hửu còn có:
- Cái tinh thần của tinh thần hơn là: Lý tưởng về Đạo Đức Vô Hình, Vô Vi… gọi là cái “Tinh Thần của Tinh Thần Vô Hình Thân Hửu” thuộc về Tinh Khí Thần của Tiên Thiên vậy. Còn cái tinh thần của vô hình thân hữu thuộc về Tinh Khí Thần của Hậu Thiên. Trong cái Thể Người này còn có cái “Thể tinh anh thuần túy hơn” là:
- Cái “Tinh Thần Đoàn Thể, Đoàn Kết” phát ra trong nhửng sự làm vô tư, tình thương vô tư, biết thương người và biết hy sinh.
Note:
Hiệp Chí đồng lo Đạo nước nhà,
Hiệp vầy Đoàn Thể ớ con ta…
ấy là về tinh thần Đoàn Kết Vô Vi Đạo Đức Vô Hình.
Loài Thảo Mộc Hoa Cỏ cũng đều có cái Thể tinh anh thuần túy này, nếu nó chẳng có thì nhờ đâu, cũng trong vật, mà tiết ra đặng mùi hương thơm tho, màu sắc tốt tươi.
Người chẳng phải là cái Hoa tươi tắng của Trời hay sao?
Trong Thảo Mộc Hoa Cỏ, vật tối linh ấy gọi là cái Xuân của nó, một sức mạnh, sức sanh, sức hóa, sức sáng vô hình. Có tinh thần Đoàn Thể Đoàn Kết này, loài Thảo Mộc Hoa Cỏ mới có thể hòa với nhau, tuy mỗi cây mỗi thứ đưng riêng cùng một chỗ. Nó tiết mùi thơm, khoe sắc đẹp giúp sự Sanh Hóa của Trời, bồi đấp công sanh thành của tạo Hóa cho nó có sự sống.
Vạn vật võ trụ với Người đồng một Sự Sống như nhau chẳng lạ chi vì bởi Một mà ra, bởi Một mà nên vậy.
Hòa nhã thiêng liêng là vậy đó.
Sự Sống Tự Nhiên, Trời Đất Người đồng hưởng chung nhau,
có vật nào dành riêng cho mình mà mà đặng gọi là Sự Sống đâu!
Người phải đến cái “Bực Đạo” này mới Đồng Thể với Trời, chỗ quí của Người là đó! – End of note.
Sự Sống sát cận mật thiết của Người từ mặt hửu hình đến vô hình, từ lớp vật chất nặng nề đến cái Tinh ba thuần túy gồm có bấy nhiêu thể chất và tánh chất đó.
Nhưng cái thể chất và tánh chất đều Sống trong vòng của Tiên Hậu Thiên luân chuyển tấn hóa và sanh hóa mãi mãi như cái xác thân này thì phần thể hửu hình của nó thay đổi hoài mới có ra Sanh Lão Bịnh Tử vân vân… Còn từ sự sống vô hình của thân hửu đế Sự Sống Tinh Thần của Lý Tưởng Đoàn Kết cũng đều ở trong Luật Biến Chuyển Tấn Hóa, từ những cảm tưởng, tư tưởng, lý tưởng của Người đều còn chịu sự thay đổi trong công cuộc liên tiếp của hoàn cảnh khác nhau mãi mãi vì Con Đường Tấn Hóa của Người là gì nếu chẳng phải Con Đường Sanh Sống và Sanh Hóa, biện phân và biên biệt v.v…?
Do cái “Tinh Thần Biến Chuyển” đó, thì lẻ tức nhiên, trong Người phải còn có một cái Thể Sống Vô Hình Vô Vi Vô Thỉ Vô Chung, thường thường hoài, không thay đổi, do “Đó” mà Người mới thông đặng chỗ sống luôn luôn biến chuyển kia. 1
Đạo dạy kỷ, Một, Hai, Ba, Bốn,
Đến Năm rồi định chốn Trung Ương.
Trung Ương là giửa Trung Tâm đó!
“Sanh, Lảo, Bịnh, Tử của Đại Đạo.
Đức Sư Phụ có phân, mà nay mới thấu lý lời chỉ dạy đây:
“Sanh, Lảo, Bịnh, Tử của Đại Đạo là an là thuận với Chơn Lý, hễ an thuận với Chơn Lý thì được hoàn toàn với Lý với Đạo mà Hiệp Nhứt với Vô Vi đặng về với Thầy chớ nào có Khổ chi đâu mà phải lo diệt.
Có Xuân, Hạ, Thu, Đông, mới có đủ oai lịnh mà thi hành sự Sanh, Trưởng, Thâu, Tàng.
Bởi các con tự mình sanh cái Khỗ rồi trưởng cái Khỗ đã lâu đời rồi, cứ sanh trưởng, sanh trưởng hoài đó mà không biết làm sao đặng thâu đặng tàn nó cho xong, nên hóa ra phải chụi luân hồi không biết đời nào cho mảng, vì vậy nên Thầy phải hạ mình xuống dạy các con cái cách đặng thâu cái Khỗ và tàn cái Khỗ đặng đem các con về mau mau với Thầy cho đặng tránh cái kiếp Ngủ Lôi.”
Cái Thể Sống tinh thần vô thỉ vô chung không hề thay đổi đả chứng kiến biết bao cuộc đổi thay kia là chi trong Người nếu chẳng phải cái Thể Vô Vi Hiện Tại của Trời Độc Nhứt nơi Tâm Con Người, một Mối Vô Vi liên lạc với Người làm căn bản Sự Sống Tinh Thần cho Người do “Đó” mà Người biết biện phân, so sánh nghiệm tường Lẽ Chánh đó chăng?
“Mối Vô Vi Âu Mỹ đang tìm” là đây.
Note: Gặp Trời, gặp Thầy là vậy đó mới thông suốt mọi lẽ. Sống trong cái Hiện Tại của Trời là đó. Sống vô ưu vô lự là Sống thanh thong cao diệu, thế gian không bực sống nào hơn. Còn sống lăng lốc theo thế tình đời là cái sống chết đó vậy thôi
Trời Trong, cảnh Thiệt trong Người đó,
Sống thể Tự Nhiên, Sống vẹn tuyền.
“Con Nhà Tròi” đây, chư vị đó, có hiểu do đâu mà những Bực Đắc Đạo Toàn Giác muốn biết điều quá khứ vị lai của một ai chỉ Định Thần dòm Điển Lực Vô Vi mà cảm ứng với cái Thể Sống Vô Vi ấy khiến đó giao thông với Trời Độc Nhứt nơi Tâm Con Người mà trả lời lại đó vậy. Cái Thể tinh thần ấy làm sao trả lời đặng nếu “Đó” chẳng phải là cái Thể Vô Vi Vô Thỉ Vô Chung đã chứng kiến biết bao cuộc sống luân hồi của Người đó vậy.
“Đó” là Mối Vô Vi của Trời Thiêng Liêng Vô Hình đặt để liên lạc trong Người, ai ai cũng có, song Người chẳng rõ đó thôi.
Vậy Người muốn đến với Trời Độc Nhứt nơi Tâm thì phải thể theo Tánh Trời này làm Thể Sống Vô Vi cho mình Sống hằng giờ hằng phút thì lo gì Tâm chẳng Định, Thần chẳng An, lo chi không vẹt nỗi cái màng vô minh che án mà Cảm Ứng với Trời Trong trong Người, như vậy mới thấu câu:
Bạch phân Lý chánh gắng công tìm,
Thắng đặng phàm tâm thấu Bạch Âm,
Chơn Lý phăng cầm noi Mối Một,
Nhơn nhơn tự tỉnh giấc muôn năm.
Cảnh Trời Trong này khác hẳng với cảnh Trời tôn giáo xa lắm. Cảnh Trời này là Cảnh Trời Vô Vi tuyệt đối của Thiêng Liêng đặt để nơi lòng Người.
Đường luân hồi qua rồi, Ba cỏi lướt khỏi, không phải dọi lại nữa, cảm ứng với Ngôi Trời Thiêng Liêng Vô Kiệt, thì đây mới là Thiệt Sống theo Thầy.
Ngôi Hai Lý Một là Thầy,
Ngôi Hai Lý Một, Một Trời ẩn trong.
“Có Thầy đi trước là Trời nơi Tâm”.
Thưa chư vị,
Nên đặng “Con Trời” ở thế hạ này là không phải dể.
Người thiệt Người là “Người của Trời” ở thế hạ, Con Người Trời sanh đó, nay hiện hửu tại thế gian đây.
Thì Người này phải có lại với mình cái “Thể Vô Vi” của Trời ở thế hạ, vì có câu:
“Thể Người đây Vốn Thể của Trời”
“Người của Trời” là còn trong ranh hạng (thuộc về Tinh Khí Thần của Tiên Hậu Thiên).
“Thể của Trời” là đến cỏi Vô Vi: làm mà chẳng thấy làm, chẳng thấy làm mà có làm, có mà chẳng thấy có, chẳng thấy có, mà “Thiệt Có”.
Ta Người Hiệp Một thì “Thể Vô Vi” là đó. 2
Vậy Người Tu hành, Người học Đạo, Người theo Chơn Lý, phải đứng về mặt Tinh Thần của Thiêng Liêng mà thấy, mà nghe, mà Sống theo Thể Vô Vi.
Đứng về mặt tinh thần của Thiêng Liêng mà nghe, mà hiểu đặng tức là “Sống Tại”, Sống theo Thể Vô Vi của Trời rồi đó. Thể này Có mà Không, Không mà Có, là Có hiện hửu với với Người Vô Ngã Vô Nhơn: cái “Thể Trường Sanh của Đạo:
vậy.
Con Người Trời Sanh,
Thể Sống Vô Ưu Vô Lự,
Vốn là kiếp Sống vô hình,
Của Con Người Trời muốn có,
Người Giống của Trời,
Mà Thầy chấm Thầy chọn đó.
Sống theo Thể vô hình trường sanh của Trời lập cho Con Trời có phải mình là Sống vô cùng vô tận không, Mình này có phải là Vô Ngã không? Mình này là Mình Điển trọn đủ Hồn đó.
Thứa chư vị.
Chư vị vui nghe giảng giải về Lý Chánh Chơn của Đạo, vui Sống thuận theo Chơn Lý thì chư vị có lại đặng với mình cái Thể Trường Sanh của Đạo rồi đó.
Nghe Thi:
Con nhớ Trời Cao xanh lộng lộng,
Nhờ Hư Tâm dọi Bóng Ngọc Kinh;
Trời, Người, dầu cách muôn trùng,
Gần nhau trong Đức Thỉ Chung chẳng rời!
Ấy là Đức Tin Trời vô lượng,
Nguồn thâm Tâm chẳng vướng lòng trần;
Tin Trời vô ngã vô nhơn,
Tưởng Trời thì đặng Chơn Thân hầu kề.
Con nghĩ đến Đường vể Ngôi Cả,
Bước Vô Vi nào gá thời gian;
Luật Trời: Sanh, Trưởng, Thâu Tàng,
Hiểu rồi thì đặng muôn ngàn Thiên Ân.
Đó là một vị trong chư vị của Chơn Lý Đại Đạo đã gặp Trới Trong trong Người mà tỏ đường đi nước bước:
“Bước Vô Vi nào gá thời gian”.
Mong sao chư vị cũng thế.
Lạy Thầy Vô Kiệt Cao Thiên,
Hóa sanh vạn vật Mối Giềng Người Ta.
Tây Sư Tinh Quân
(Ngày rằm tháng 10 Nhâm Thìn – 01 Dec 1952)
1 Vật trong lòng Trời, Đất và Người chứa sẳn đó.
2 Có Thể Vô Vi thì phải dùng đuôc Điển Vô Vi.
Định Thần
Giảng Đàn Chơn Lý của Đức Chí Tôn
Tây Sư Tinh Quân
(06 Dec 1952)
Dùng Điển Lực Vô Vi thấy tận Cõi Vô Hình
Thưa chư vị,
Chư vị hảy định tâm mà nghe tôi này nói. (Nghỉa là đứng về mặt tinh thần mà nghe. Định Tâm có nghĩa là: đứng về phương diện “tinh Thần” mà nghe, không phải là nghe bằng lổ tai, mà nghe bằng chỗ Thông Hiểu Biết của mình vậy).
Chư vị ngày nay mừng vì biết mình có thể sống đặng, sống thiệt đặng, lại cũng có thể Sống đến vô cùng vô tận, — Sống Hiện Tại – đó, vì có Thể làm Người vô tận là có cái Thể Trường Sanh của Đạo rồi đó.
Nhưng đó là thấy hiểu trong Lý Tưởng mà thôi, nay, nơi đây, Tôi này khai khiếu huyền cho ai có trọn Đức Tin về Đạo, trọn Đức Tin nơi Trời Trong, là Trời Trong trong Người, những ai mà thường niệm câu:
Lạy Thầy Vô Kiệt Cao Thiên,
Hóa Sanh vạn vật Mối Giềng Người Ta.
Tôi này cũng vui cùng chư vị trong chỗ thấy và biết đó. Nhưng không khỏi cho tôi này nhắc nhở lại cho chư vị thiệt thấy và thiệt mừng.
Đạo cao phải học mới tường,
Minh mong biển rộng khó lường không đong.
Sống qua vô hình, đi trên Con Đường Trường Sanh của Đạo thì tức nhiên “Người với Ta đã Hiệp” rồi đó.
Người với Ta đã Hiệp mới gọi đặng là Sống qua phần Vô Hình vì “Thiêng Liêng Vô Hình” là Cảnh Sống của Ta, Thể Sống của Người” vậy.
Thì, từ đây Người Sống nhờ Ta, Ta Sống nhờ Người đã giao trọn quyền Sống của Người cho Ta nắm giữ, là giao các Mối Điển Hạ Thiên cho Ta nắm giữ vì các Mối Thần đã thiệt qui hướng trúng Đường.
Ta nhờ Người là Ta còn hoài với Trời đặng ban sự Sống của Trời nơi Ta cho Người Sống theo Ta.
Nếu chư vị rõ đặng trong mình như thế thì từ đây “Thể của Người” là “Thể của Trời”.
Thì sự mừng này là sự mừng của Đạo. Cái vui tự toại này là cái vui của Đạo, cái hạnh phúc của Người thế gian đắc Đạo tại thế.
Chư vị hiểu chưa?
Nếu thiệt hiểu rồi thì từ đây đừng để cho mất tình hòa nhã thiêng liêng thì còn biết nương cậy vào đâu!
Vì qua vô hình đặng là tự nhiên biết “dâng mình” cho Điển Trung Thiên nối liền nắm giử mà đem mình đến chỗ chí thiện chí mĩ của nó là nguốn của nguồn, gốc của gốc là Mối Vô Vi Điển nơi Trung Tâm của Tâm Trời. (L’Éternité – Trời Trong trong Người).
Thì sự Sống Biết không còn lu lờ mờ tối nữa, theo điển của vật, theo vật chất bề hình thức, mà nay là một nguồn sáng suốt thiêng liêng tinh thần rọi thấu trong ngoài trên dưới.
Mối Điển cao diệu tuyệt đối này thì Mình còn, là còn trong Mối Điển cao diệu ấy ở nơi Trung Tâm Điểm, còn có lạ chi.
Người đây Ngôi Vị ở Trời nghe con!
Nhưng còn cái sự mừng ấy Sống trong lý tưởng mà thôi, nên nay, nơi đây, tôi này khai mở Khiếu Huyền cho những ai còn Đức Tin về Trời về Đạo, ai hằng niệm “Tam Qui” và Khấu đầu:
Lạy Thầy Vô Kiệt Cao Thiên,
Hóa Sanh vạn vật Mối Giềng Người Ta.
Mối Giềng Người với Ta đã chỉ rõ ra trên đây, chư vị thấy chưa?
Cái lý tưởng này phải Sống, là phải hiện ra bằng một sức Sống sức Sáng thiêng liêng tinh thần khắp châu thân Người mới đặng, ấy là làm mà chẳng thấy làm mà có làm, chẳng thấy có mà Thiệt Có, tức là noi lằng dấu Lý Sanh Khí Hóa đó.
Trong Giảng Đàn kỳ trước, tôi này có vạch tỏ nghỉa lý về “Luật Đạo” là “Luật Thiên Điển” mà ngày nay chư vị ở vào “Không gian Ngươn Khí” 1 chẳng phải chư vị là Người đã có lại với mình cái Chơn Thân là cái Mình Điển Bổn Thân đó sao?
Chư vị gặp “Thiệt Mình” là “Người Thiệt” rối, lý đâu lại còn miệt mài với cái giả thân mà sống theo “không gian ô tạp” của nó, thì thiệt sống nỗi gì!
Chư vị phải không còn Sống mãi với cái xác thân vật chất mới thuận theo Lý Đạo chớ!
Tôi này cũng đả có phân tường:
“Ở Đời mà Sống về Đạo mới ngoan”
Tôi này thường nhắc nhở rằng:
“Phải thường nhớ đến Phần Thiêng Liêng của Mình và đừng làm cho mất tình hòa nhã thiêng liêng”.
Chắc chư vị có người chưa thấy rỏ trong mình mình chỗ này.
Chư vị tưởng đâu niếu trì phần Thiêng Liêng xuống theo mình phần xác hoài là phải rồi, dè đâu phần Thiêng Liêng thuộc về “Vô Hình của Vô Hình Thân Hữu”, tinh thần của nó thuộc về Cao Thiên thì nào có chịu cho Cái Người Tứ Giả lôi cuống xuống trần thế được đâu. Có câu:
Nguơn Thần đừng đến lụy trần ai,
Trong ngần chẳng chút lợt phai,
Có ngày chơn bước đến Đài Cao Xanh.
Theo Lý Chánh Chơn thì phần xác phải nương theo phần Thiêng Liêng mà Sống theo phần Thiêng Liêng mới phải Đạo chớ, là Sống theo Không Gian Đạo Đức tinh thần vô hình là Không Gian Nguơn Khí vậy.
Mà nay đặng biết rõ phần xác này cũng gọi là “Thần”, mà “Thần” là “Điển”, cái Hơi Điển tức là các Mối Thần Hạ Thiên. Cái Người Tứ Giả vốn là Điển, bởi Điển mà ra. (Xác Hồn không chia rẻ, vốn là Một).
Điển này phải nương Điển cao diệu hơn mới còn, là còn trong Điển cao diệu đó vậy, thì “Thần” này mới đặng tinh khiết trong sạch, phải vậy chăng? 2
Luật Đạo, Luật Thiên Điển là Luật về Sự Sống tự nhiên, có trật tự lắm, nên
“Quên bề trật tự khó trèo cao” là vậy đó.
Muốn Sống theo Đạo mà bỏ Luật sao đặng!
“Trời đây là Luật con ôi phải nhìn”
Nên, Sống qua phần Vô Hình Thiêng Liêng mà còn ở vào không gian ô tạp theo phần xác thịt thì làm sao gọi đặng là “quĩ phục thần kiên”! 3
“Tu cho quĩ phục thần kiên” mà!
Nếu còn như thế mải thì sống ở thế mà xác hồn đã chia rẻ rồi đó.
“Tu” là tu lấy phần Hồn phải chăng?
Lại trong Kinh có câu:
Sống ở thế xác hồn chia rẻ,
Cứ lộn lầm dâu bể luân hồi;
Đua chen đây lở kia bồi,
Khôn khôn, dại dại, đời đời trả vay.
Đời nào khác cái thân hữu này. 4 “Đời” nào phải ngoài cái xác thân bao giờ với Người Đạo, Người Chơn Lý đâu!
Note: Biết đặng do Thiên Tánh tức là Hơi Điển Tiên Thiên của Thầy: Mối Vô Vi Điển. Cái Mình Điển, có các Mối Giao Thông cũng là Điển chớ có nào tai mắt trí tri chi đâu mà rằng mắt thấy tai nghe miệng nói chi chi. Nên cái xác thân này, đứng chỗ sâu nguồn thì biết nó cũng là các Mối Thần.
Xác Hồn không chia rẻ nhau thì biết:
Cái xác thân hữu hình đây, Đạo gọi là “Cái Người Tứ Giả” thuộc về vật chất hữu hình, trong Cái Người Tứ Giả này có phần Hồn của nó , chính là “Thần Hồn” đó.
“Hồn” là “Sáng”, mà “Thần” là “Hơi” thì phần Hồn là phần Sáng nhờ Hơi, mà Hơi này là Hơi Điển ở trong mình mình.
Vậy “Đời” của Người Tứ Giả là các Mối Thần, mà Thần là cái Hơi Sáng ở trong mình mình.
Vậy, xác hồn mà chia rẻ thì nhờ đâu mà Cái Người này biết? Người mà Hồn, tức là xác mà Hồn, mới biết đặng mà thôi, chớ nào ai vô đó mà biết.
Cái Hơi Sáng này đã lu lờ mờ mịch vì tranh hơn tranh thua, tranh khôn tranh dại, giành giựt lẩn nhau. Nó cũng gọi là “cái Thông, Hiểu, Biết của Người sao khi có xác thân rồi biết”.
Nó cũng gọi là “Điển”, phải gọi là “Điển” vì nó không thuộc cho một ai nào cả. Nếu Người muốn sáng, muốn thông, muốn hiểu, muốn biết đến đâu thì đem nó ra mà dùng mà soi sáng đến đó thôi. Nhưng nó cũng còn là Điển của Vât, nó không được trong sạch.
Note:
Thử ngó vào mình mà coi đặng suy gẩm: Cái biết mà gọi là “cái biết của mình” đó, nó ở đâu trong mình minh? Nó ở đâu cũng không biết nó ở đâu, mà “muốn biết” thì đem nó ra mà soi sáng đến đó, như thế nó không phải là “Điển” chớ là vật gì? Mà Điển thì nó nào là của một ai.
Biết nó là Điển nơi đây thì mới thấy Sự Sống Vô Hình của cái mình này chắc chắng hiển nhiên như thế thì “Thiệt Người” là “Sự Sống” rồi đó, Thiệt Mình là cái Mình Điển.
Điển ấy ở nơi mình nó đổi qua một danh từ khác là: cái Thông, Hiểu, Biết sau khi Con Người có cái xác thân rồi biết.
Vậy, lúc Người bình tỉnh thì cái “Điển” đó, sự Thông, Hiểu, Biết đó, nó cư ngụ ở đâu? Nó ở chỗ nào trong mình mình? Nó có ở chỗ nào đâu vì vốn nó là Điển, mà Thời Gian là Điển của Không Gian — Không Gian nào thì Thời Gian nấy, Thời Gian nào là Điển Lực nấy, — nên “Thời Gian”cũng là Điển, là Sự Sống ngắn ngủng chuyển vần mải mải mới còn.
Thì cái “Nhớ” thuộc về Thời Gian, mà là Thời Gian, nên cũng là Điển. (Le temps est mémoire, conscience de soi). Điển đây thuộc về thời gian đó. Điển này là Điển của Vật, sự sống sáng của Vật, Điển Hạ Thiên vậy.
Như thế, “Mình” là cái “Mình Điển”, mà Điển là Sự Sống, nên “Người là Sự Sống” ở trong Sự Sống toàn thể chung là Trời, vì Trời là Toàn Thể Sự Sống. Cái Một ở trong cái Một. Một ấy là Lý Thiên Nhiên, nên Vốn Người là Gốc Lý Sanh Khí Hóa.
Có tìm Lý tinh thần của sự vật mới biết “Mình” này vốn là Mình Điển, lại cái xác thân này cũng là Điển hạ thiên.
Thời gian là Điển thì Không gian là Bực Đạo của mình, Bực Sống của mình. Nên “Không gian Ngươn Khí” mới chánh là cái Mình Điển của thiệt Người, Người thiệt của Trời muốn có, Người Giống của Trời, mà chư vị là Người theo Đạo Trời đây vậy. (End of note).
Mà “Tinh thần vô hình thân hũu” lại còn có cái “Tinh thần vô hình tinh thần thân hữu”. Tinh thần này là phần Sáng Sống vô hình của vô hình bởi Thiêng Liêng mà có. Nó Vốn là Tinh thần của Lý Thiên Nhiên, tức là:
“Điển của Trời, cái Gốc Lý Sanh Khí Hóa”.
Còn “Điển của Vật” vốn sanh trong khuôn Tứ Giả nên pha trộn. Phần nào pha trộn thì thuộc về Thần Hồn. Điển này, Điển của Vật đây, nó chỉ giúp sáng về vật, về bề hình thức mà thôi, thì nó giúp sự thâu thập chất chứa của đời vật chất.
Cái Điển quang của vật ở trong mình mình không được “Chư Thiên” nhìn nhận. Một khi gặp cái Điển cao hơn là nó phải bị tan rà, nhưng các bực Tu hành phải dùng nó làm cầu hoặc cái thang đặng bước lên bực cao.
Đặng như vậy là “tự dâng mình” cho Mối Điển trên. Nó Sống, nó mạnh, nó cao diệu trong Mối Điển trên. Mối Điển trên còn, nó hãy còn. Các Mối Điển trên cũng gọi là:
“Không Gian Ngươn Khí”
Note: Vậy cái nhớ là thuộc về thời gian, mà cũng là thời gian (le temps est memoire).
Tìm Lý tinh thần của sự vật là vậy đó, như Đức Sư Phụ đã có nói: “Ta tuân theo Đạo đặng tìm cái Lý Tinh Thần của sự vật mà thôi; còn các trò mảng theo Lý Trí đặng tìm Lý của sự vật của Cái Người”
Điển của Thời Gian vào trong đầu óc người gọi là “Trí nhớ” (la mémoire), nên đầu óc là cái máy của vật để cho người dùng, một cơ sở cho Điển dùng ra vào đó vậy thôi, chớ “bộ máy” tự nó mà khôn nỗi gì!
Cho nên cái xác thân này là một cái bộ máy cực kỳ mầu nhiệm cho Người dùng, nó nào phải là “Người” đâu, nên Đạo gọi nó là “Cái Người” cho dể phân biện.
Đầu óc là một cơ sở của bộ máy đó vậy, nên “Trí” là của người riêng, tức là của Cái Người đó, Lý mới là của Trời.
Sống với không gian nhẹ nhàn, thời gian mau lẹ, là sống bằng tinh thần của Lý thiên nhiên vậy, tức là Điển Lực Vô Vi. Thở bằng tinh thần vì tinh thần nó có sự thở tự nhiên, ấy là sự thay đổi biến chuyển của cái Hơi Điển vậy. Có biến chuyển mới có Sống. (Le Devenir éternel donc le movement de la Vie).
Nên “Con Thiệt của Trời” vốn là cái Điểm Linh Quan, một Mối Điển Vô Vi mà Trời Thiêng Liêng Vô Hình đặt để nơi lòng Tạo vật của Tạo Hóa Công.
Con Thầy rồi mới là thiệt Con Trời là một sự sống đầy đủ Chơn Ngươn.
Chư vị hiểu chưa?
Đạo Trời chính là Đạo Thầy đó: Đạo Sống Sáng vậy.
Đức Chí Tôn ở nơi mình là “Thầy nhà”.
Thầy có phán:
Xét coi nội quả Kiền Khôn,
Có ai qua đặng Chí Tôn là Thầy.
Vậy, Điển Vô Vi nơi Mình Người là Tay Thợ Trời đó. Tạo Hóa Công nơi dạ vậy.
Còn Điển của Vật, vốn sanh trong khuôn tư giả, thì nó chỉ giúp sáng về vật, về bề hình thức mà thôi, thì nó giúp sự thâu thập chất chứa về vật chất theo bề hữu hình. Điển của Vật thuộc về Tinh Khí Thần của Hạ Thiên, nó còn giúp sáng cho Cái Người tứ giả thấy biết được thay, huốn chi là Điển Vô Vi của Thầy nên Người chỉ có Định Thần mới dùng Điển Vô Vi đặng thôi. (End of Note)
Điển càng cao diệu trắng trong thì Chơn Thân này càng nhẹ nhàn trong sạch.
Đến đây, Người sống theo “Không Gian Ngươn Khí” mới thiệt thầy biết rằng Mình Thiệt của mình là cái Mình Điển có các Mối Giao Thông với Ngũ Giác Thân cũng là Điển, là các Mối Thần.
Cái Mình Điển, — Chơn Thân đấy, — nay là các Mối Điển trên cao diệu chớ còn biết gọi sao nữa!
Chơn Thân mừng đặng nhẹ nhàn,
Bước đường tấn hóa ngày càng cao siêu.
Chơn Thân đây không phải có một bực đâu, nhẹ nhàn thanh cao thì cái bực Đạo nơi mình mới cao thượng về tinh thần Đạo Đức vô hình vô vi.
Đến bực Điển Vô Vi rồi thì Mình Điển này mới thiệt là “Bổn Thân” của Người.
Có “Bổn Thân” mới chầu Thượng Đế.
Thưa chư vị,
Chư vị mong mỏi Sống cho đặng về mặt tinh thần của Thiêng Liêng thì trước phải cho “Kiến Tánh”, có Kiến Tánh mới gặp Thần như chỗ đã phân giải trên kia.
Thấy bên Vô Hình là Kiến Tánh.
“Kiến Tánh” chỉ có dụng Điển Lực Vô Vi sẳn có nơi lòng Thanh Tịnh Hư Vô. Nên Điển của Trời là cái Thiên Tánh của Người đó vậy, Sức Sáng Sống tinh thần thiêng liêng vô hình.
Kiến Tánh rồi mới biết “Tự dâng Mình” là cái dạ Khiêm Cung của Người Tu Chơn phải có. Mà chư vị đây cũng thế, cũng phải thế mới rằng là Con Thiệt của Thầy.
Note: “Tự dâng Mình” của Người Chơn Lý là “Nhứt Tâm Qui Hướng” đó, phải vậy chăng?
Kinh có câu:
“Chí Kỉnh chí Thành là hơn”,
Chí Kỉnh chí Thành ấy là cái Đức Khiêm Cung của Người Tu Chơn vậy.
Thầy đâu có dạ tự tôn,
Sông Ngôi Chí Bửu, Chí Tôn là Thầy.
Nên có : “Chí Kỉnh chí Thành” mới có đến chỗ “Đức Tin Thường Thiệt” thì Tâm Trung mới sáng tõ:
Tâm Trung báu lạ vô cùng,
Bấy nhiêu mầu nhiệm Tâm Trung sẳn sàng.
Thật có Kỉnh tức là “Tự dâng Mình”, tự dâng mình cho Tay Thợ Trời. Tới Tay Thợ Trời là đến chỗ “Chí Kỉnh” đó, tới Mối Điển rất cao diệu là Mối Điển Vô Vi của Thầy.
Dâng mình lên hoài cho các Mối Điển trên nắm giử: Điển từ bực Hạ Thiên đến Trung Thiên lên Cao Thiên qua Vô Vi thì Thể này nay là Thể Vô Vi: Thể Vô Vi ở thế hạ. Một Mối Vô Vi của Trời Thiêng Liêng đặt để nơi Tâm Người làm Căn Bản cho Sự Sống Tinh Thần của Người. Đến đây mới thấu Lý câu: “Dưởng Tánh Tồn Tâm”.
“Đức Tin thường thiệt vén màng vô minh”.
Đức Tin đây chính là phần Thiêng Liêng sáng suốt tinh thần, phần Sáng Sống này mới làm sống sáng các Mối Điển dưới ở các cảnh Dục Sắc Vô của thế giái hữu hình vì đã được gội nhuần Ân Điển của Thầy, như thế “Công quả của Điển này mới vẹn tròn”.
Các Mối Điển ấy có sáng lại nó mới thấu Lý của nó thì nó là Đạo Lý của Vũ Trụ chớ nào phải không cội nguồn đâu mà hại Đời đến thế, như Điển của vật mà Cái Người này không rõ gốc sanh sống của nó. Tìm đặng rồi thì nó là Vật Lý chớ nào phải là Vật Chất nữa.
Nên Người Tu Chơn thì cái “Trí” dùng để làm cái cầu hay cái thang đặng bước lên Điển trên cao diệu. (K: Le véritable rôle de l’intellect est d’être le pont entre ce monde transitoire et le monde de la Réalité, le monde de la Vérité, de la Vie, du Bonheur).
Kinh có câu:
Đức Tin công quả vẹn rồi,
Tự nhiên con đặng phản hồi Ngọc Kinh,
Ấy là con được Trường Sinh
Tiếng “Con” đây là “Con của Đạo” thì là một Mối Điển của Thầy, vậy cũng đồng một Mối Lý Sanh Khí Hóa.
Rõ như vậy thì:”Đức Tin công quả” là sự làm của Vô Vi: Làm mà chẳng thấy làm mà có làm, có làm mà chẳng thấy có, chẳng thấy có mà “Thiệt Có”.
Chẳng thiệt có sao đặng vì Người nay đã ra “Người Tự Nhiên”, thật có đó.
Vậy Đức Tin công quả là phần sáng suốt Thiêng Liêng này nó công quả với Thầy đó. Do “Đó” mà biện phân phân biện đây, thì nơi Người nó là Thể Vô Vi chớ gì.
(K: Dans le discernement et la pureté de l’action, surgit la Réalité de la Vie qui est un éternel devenir). (End of note)
Nếu không tuân “Luật Thiên Điển”, Luật về Sự Sống Vô Hình, Luật của Tạo Hóa thì làm sao Bực Điển của mình đến tới Bực Điển Vô Vi của Thầy, là Mối Điển Vô Vi.
“Mối Vô Vi Âu Mỹ đương tìm” là đây.
Cái “Thể Vô Ưu Vô Lự” là cái sức Sống tự nhiên vô hình đó mà mình biết đặng thì “Vô Ưu Vô Lự” vốn là cái sức mạnh rất điềm tỉnh, không thay đổi của Ngôi Thần ẩn trong Nguồn Ngươn Khí Hóa Sanh của Trời, chính nó là Thần lực của Điển lực Vô Vi.
Thần nhờ chi mà đặng vậy?
Chỉ nhờ có một cái sức mạnh, là rất điềm tỉnh mà thôi.
Còn Sống mà lo lự, lo hoài, có lòng lo sợ hoài là cái Thể Sống yếu hèn, thấp thỏi, ngắn ngủn của cái đời vật chất nặng nề.
Vô ưu, vô lự, thong dong,
Bất tham bất dục Pháp trong Tánh mình.
Cái “Tinh thần của tinh thần Vô Hình Thân Hữu” thuộc về Tinh Khí Thần của Tiên Thiên còn “Điển của Vật” thuộc về Tinh Khí Thần của Hậu Thiên.
Điển của vật nó còn giúp sáng cho Cái Người của Tứ Giả được thấy, đặng sống theo vật, theo bề hình thức, huống chi là Điển Vô Vi của Thầy không giúp soi sáng sống tinh thần cho Chơn Thân Chơn Thể Con Người đặng sao? Nên Người chỉ có Định Thần mới dùng đặng Điển Vô Vi.
Mà Điển Vô Vi này lại ở nơi Chơn Thân Con Người, Điển này mới thấu tận Cõi Vô Hình nhờ sức mạnh rất điềm tỉnh tự nhiên của nó mà thông suốt trong ngoài trên dưới.
Khi phóng xuất mãng thiên Võ Trụ,
Lúc bế tàn thối ngụ nơi Tâm.
Nên thấy rõ bên vô hình là Điển Trời thấy.
Điển này sẳn có với Người Vô Ngã Vô Nhơn; nó lại lập Thể Vô Vi cho Con Người nên “Vô Vi” là sự Thông, Hiểu, Biết thuộc về Tiên Thiên Vô Hình là Chơn Lý của Đạo.
Nó chính là cái Thể vô ưu vô lự thong dong tự tại vốn là kiếp sống vô hình của Con Người Trời muốn có làm “Người Giống” của Trời. 5
Nên sự lo sợ về chỗ mất còn là cái Thể sống của chúng sanh thuộc về Điển của Vật, cái thấy biết ngằn ngũng, thấy đó mất đó, có đó không đó.
Vậy, Thiêng Liêng tinh thần là cái sẳn thông sẳn biết bên vô hình mà Người thiệt thiệt Người sống đó.
Hảy nhớ lời Đức Giám Đốc Giảng Đàn Chơn Lý đã phân:
“Thời kỳ này là “Thời Kỳ Ân Điển” lại trò sanh trò sống cũng bởi Điển mà ra vì cái mình của các trò vốn là Mình Điển. Cái Mình Điển có các Mối Giao Thông củng là Điển”
Rút lại mấy lời trong câu thi:
Điềm tỉnh nối sớm trưa một dạ,
Sức mạnh này Điển lạ phi thường,
Nhẹ nhàn dứt cả vấn vương,
Êm đềm lướt cả đau thương của đời.
(Thoại Quỳnh Sơn – Viên Giác)
Này chư vị!
Cái xác thân này, nếu không thấy, không rõ cái Nguyên Lý của nó, cái Căn Nguyên Bản Bản của nó, thì cái xác thân vật chất này nó nặng như chì, mà thấy biết hiểu nó đặng rồi thì nó nhẹ dường lông. Thấy nó bằng Điển Trời đó.
Thiệt Mình là cái Mình Điển mà thấy biết bằng con mắt thịt, phần nhục nhản, thì đâu là thiệt thấy thiệt biết, nên còn sống trong cái mộng ảo vậy thôi!
Mình Điển thì sự Thấy Biết của nó phải là do tinh thần của tinh thần vô hình thân hữu. Tinh thần này lại do tinh thần của Ngôi Độc Nhứt nơi Tâm, Điển Vô Vi đó. Có câu:
Thân nào Thể nấy vuôn tròn,
Thân nào Thể nấy mới còn gọi con.
Cái xác thân này với phần Hồn của nó tuy hai song vốn một. Một này là Điển đó: Sự Sống của Hồn và Xác. 6
Chơn Thân mới có Chơn Điển, Chơn Điển phải là Thanh Điển kìa, mới là trắng trong, trong ngần, mới là Điển Vô Vi. Điển Vô Vi sanh Nguồn Ngươn Khí, Nguồn Ngươn Khí có cái sức mạnh này mới vận chuyển thành Đạo vì Đạo là Nguồn Ngươn Khí Hóa Sanh.
Thầy đem các con cái của Thầy từ bực Hạ Thiên đến Trung Thiên qua Cao Thiên đến Vô Vi. Ấy là mấy bực Điển đó. Bực nào hiểu theo bực nấy.
Các con cái của Thầy ngày nay là chi, nếu chẳng phải là các Mối Điển ấy sao? Các Mối Thần vậy.
Đạo Thầy là Đạo Sống Sáng mà! Nên phải “Tri Hành Hiệp Nhứt”. Tri hành hiệp nhứt là Sanh Sống vậy.
Các bực Điển từ Hạ Thiên lên Quang, mà bực thấp không được hưởng bực cao. Nếu bực ấy “biết hạ mình” theo sau bực trên không cho rằng mình đứng ngoài bìa ngoài chéo, thì bực này sẻ được hưởng bực Chánh Thức của Mình, bằng trái lại phải bị mất luôn. Đó là “Luật Thiên Điển”. Luật Thiên Điển là vậy.
Nên Tu Hành theo Đạo Thầy là trọn dâng mình cho Tay Thợ Trời dìu dắc mà ngày nay, trong Thời Kỳ này, các con cái của Thầy ai giữ đặng “Nhứt Tâm” thì nên đó.
Đạo Thầy phải Tri Hành Hiệp Nhứt, nên Nhứt Tâm thiện niệm là dâng trọn mình cho Trời.
Note: Trích lời truyền trao của Đức Hổn Ngươn Thiên Sư (29 Aug 1944):
“Đã biết rằng về đến Ngọc Hư Cung phải cho đủ Chơn Thân, Chơn Thể, Chơn Hồn, mà Thân, Thể, Hồn này phải là Thân của Điển, Thể của Điển, Hồn của Điển mới vào đặng.
Có đặng cái “Mình Điển” mới nghe đặng Kinh Điển của Thầy. .. Vậy cái mình của ai còn trên thế hạ này mà thiếu cái Mình Điển là thân chết vậy.”
Thật rõ bấy nhiêu thì cũng đủ Sống Vui trong đời sống của mình, nên có tranh danh đạt lợi của Đời mà chi lại phải vùi thân trong nước lửa rồi cũng chạy trời không khỏi Luật Thiên Điển báo ứng! Mà hiện nay thế gian mấy ai biết “Mình” này là các Mối Thần” (End of note)
Các nhà tu hành, các nhà triết học, cũng vì phân biệt chỗ này trong mình không rành, đi đến đây đều bị sa ngã.
Vì sao bị sa ngã?
Các bực nói đây bị sa ngã vì các bực ấy dùng sái cái Điển quang của mình. Họ rút cái Điển quang ấy đặng bồi bổ cái Điển quang của Vật, càng thực hành được bao nhiêu, càng được người đời ca tụng bấy nhiêu. Nếu may mà rút cái Điển quang cao diệu kia đặng chế tạo cái vật hữu dụng cho đời thì cũng còn đở tội, trái lại, bày ra sự vật giết người hại đời thì tội lớn càng chất chứa, có khi bị Ngủ Lôi hóa kiếp là khác.
Note: Rút Điển cao diệu là sái, nương theo Điển trên thì trúng, trúng đường vì nhầm Lý. Nhà tu “quên bề trật tự khó trèo cao”.
Từ xưa đến nay các Bực Thiên Tài, các Chế Tạo gia, có kẻ nào mà chẳng phải “trong nhà”, mà không gian nào lại có thời gian nấy, không gian thấp thì nặng nề, thời gian chậm chạp, không gian cao thì thời gian mau lẹ nhẹ nhàn.
Nếu không phải là Điển thì các nhà chế tạo nương nơi đâu đặng tìm ra cái sức mạnh đó để điều khiển máy móc.
Tu theo Tôn Giáo, chẳng biết biện phân, hay sống theo Tôn Giáo, đời nay, sao cũng phải có chỗ sai:
Tuông sóng gió dầu qua đến bến,
Đến bến rồi nghểu nghếu dật dờ;
Ai nhìn ai gọi mà mơ,
Đường đi luốn cuốn cậy nhờ vào đâu!
Note: Người của Thầy mà qui vị, có “Chư Thiên” đón rướt, nên Sống mà Sáng thì cảnh nào mình cũng có hết. Có là có nơi Chư Thiên đó.
Bởi không rõ mà phân biện biện biện cho tường tận ở trong mình mình nên sống bằng trí tưởng mà thôi, hay là không chịu nhìn nhận rằng “tự mình dâng mình” cho Điển Trên cao diệu nắm giử, rằng nhờ kinh sách mà sáng lòng thôi, nên “Cái Ta” còn là “Cái Ta”, thì Chư Thiên không nhìn nhận mà sa ngã đó.
“Chư Thiên” đây là các Mối Điển Cao Diệu của Trời.
Bực Sáng nào, bực Đạo nào lại không phải “Trong Nhà” Đạo ư!
Biết nơi mình có “chúng sanh” (Mối Điển thấp hèn) thì phải biết có “Chư Thiên” là các Mối Điển cao siêu của Trời chớ!
Vậy, Trời không muốn cho Người đời tấn hóa sao? 7
Đặng tấn hóa luôn luôn, nhưng đừng làm sai cái “Đức Hiếu Sanh của Trời”.
Nên, không một ai ở thế hạ này mà qua Trời cho đặng. Không một ai không biết có Trời — Có Trời thì Mình mới thật có — mà thiệt sống đặng đâu. Không Trời là Người sống trong ảo cảnh vậy. (Vivre dans l’illusion)
Xét coi nội quả Kiền Khôn,
Có ai qua đặng Chí Tôn là Thầy.
Lại Kinh có câu:
Trên đầu có Thánh có Thần,
Có Trời có Phật cầm cân chẳng lầm.
Tiếng “Vô Minh” 8 mà trong Đạo thường nghe, thường nói đó, vốn là Hơi Điển của chất vật bao trùm trong ngoài thân hũu, nên nó không đặng sáng về Đạo, về Sự Sống Thiêng Liêng, làm cho thế gian khó nhìn Trời nhìn Đạo.
Trời là Đạo,
Đạo là Sự Sống,
Người là Sự Sống
Cái Một ở trong Cái Một,
Một ấy là Lý Thiên Nhiên.
Nên Thông Đại Đạo rồi thì:
Noi lần dấu Lý Sanh Khí Hóa,
Nguồn Vô Vi báu lạ Tâm Trong;
Điển Thanh ánh chiếu ngàn trùng,
Rọi đường cho Cõi Vô Cùng Vô Biên.
(Thoại Quỳnh Sơn – Viên Giác)
Note: “Lý” là cái Sứ Sáng Sống tinh thần điều hòa Trời Đất trong thân Người, mà tự nó cũng gây ra sự điều hòa Trời Đất trong Người cho được Thần Khí trong sạch và yên lặng. Như thế thì Tâm mới yên, Thần mới vững, Điển quang trong mình mới sung túc.
Sống theo đặng như thế trong lúc xác thân còn tại thế, Sống theo cái thể Sống Hiện Tại của Ngôi Trời Độc Nhứt nơi Tâm, nhờ chỗ quáng thông Đạo Lý, thì Sống là Nguồn Hạnh Phúc đó, chớ có công dư đâu mà miệt mài theo cái “Vô Minh” quá tin theo cái Điển của Vật rằng sống nhờ cơm gạo, danh lợi trường đời, thì tánh mê trần khó gở, chạy Trời được sao?
Tánh mê trần là bức màng vô minh đó.
Thiệt Biết Mình rồi, bực Đạo nào cũng Sống tùy theo hoàn cảnh, ấy là tùy thì biến diệc đó, đừng sái cái Đức Hiếu Sanh thì thôi.
Mong thay!
Quí quá thay Nguồn Điển Tiên Thiên!
Phước thay!
Đạo Trời là Quí Nhứt.
Người Trời vô thỉ vô chung,
Thể Trời Ngôi Cả cả loài thế gian.
Lạy Thầy Vô Kiệt Cao Thiên,
Hóa Sanh vạn vật Mối Giềng Người Ta.
Tây Sư Tinh Quân
6 Dec 1952
Thánh Giáo:
Thể Người đây vốn Thể của Trời,
Thể Trời sáng suốt muôn đời,
Thể Trời có Một, từ Trời có ra.
Note: Trích lời truyền trao của Đức Hổn Ngươn Thiên Sư (1938):
“Người nào trong mình thật thông hiểu Đạo thì đã đứng vào bực “Tận Tận Thông” rồi.
Trong mình đã sáng suốt quán thong như một bình thủy tinh trong trắng trong ngần, đựng ròng nước cho thật trong thì con mắt người trông ra khó phân biện có cái cái bình đó bao giờ, vì con mắt ngó bên nây qua bên kia đã không thấy cái bình thủy tinh đó, mà cũng không thấy có nước đựng trong.
Người nào học Đạo đến bực như Bạch Ngọc vầy thì mặt trời kia cũng không có có sức mạnh nào mà làm cho dọi cái bóng vật chất này nơi thế gian vì sự xảo trá giả dối thế gian, người này hiểu hết.”
Lời Đức Tây Sư Tinh Quân về Điển:
Điển Vô Vi nơi Trung Tâm rọi thấu trong ngoài của vật nên thấy cái thân này trong ngoài là Điển, cái sáng ở trong rọi thấu ra ngoài.
Nên cái thân này cũng là “Điển”, phải gọi nó là Điển…
Con mắt thịt không thầy nó là Điển các Mối Thần Hạ Thiên, mà con mắt tinh thần của tinh thần thiêng liêng, tức là Thần Lực của Điển Lực Vô Vi thì thấu rõ như vầy.
Nghe Thi:
Hóa Nhơn thành Đạo
Người với Đạo, hai hòa lại Một,
Đặng Một rồi, cởi lốt Nhơn Sanh;
Sạch sành sanh, Thể Tinh Anh,
Hiệp cùng Ngươn Khí âm thanh chuyển vần.
Gìn Đạo Một, lâng lâng lòng trúc,
Giử mực Thường chẳng chút dợn xao;
Tánh Trời tự bản năng chào,
Tỏ bày Bổn Thể ra vào Ngôi Xưa.
Điềm tỉnh nối sớm trưa một dạ,
Sức mạnh này Điển lạ phi thường,
Nhẹ nhàn dứt cả vấn vương,
Êm đềm lướt cả đau thương của đời.
Thần nhập Định hòa hơi Thanh Khí,
Người thoát trần Thể ví non cao.
Vô Vi Điển ánh Động Đào
Rạng ngời cảnh thật một màu tự do.
Thuận máy chèo đưa thuận chuyến đò
Đưa Người đến bến rõ nguyên do
Gặp Trời gặp Bạn Tri Âm đó,
Cảnh cũ đường xưa tất dể dò.
Thoai Quỳnh Sơn – Viên Giác
27 Nov 1952
Notes:
1 Ngươn Khí có ra trước Trời Đất hữu hình có, mới làm căn bản sự sống cho vật hữu hình.
2 Bổn Thân là cái Mình Điển Cao Thiên mới chầu Thượng Đế, chớ nào phải tên mít tên xoài nào đâu
3 Sống qua phần vô hình là Sống Thiệt với phần thiêng liêng thì “Tinh Thần” là Chủ, Người đây ra Vô Ngã Vô Nhơn, nên Người đây là “Lý” của Trời.
4 Ấy là sống theo Thần Hồn đó:
Thần Hồn khôn dại không chừng,
Theo màu thuốc nhuộm theo lằn sóng đưa.
5 Vô ưu vô lự là cái Sức Sống tự nhiên vô hình đó mà mình biết đặng, thì “vô ưu vô lự” vốn là cái Sức Mạnh rất điềm tỉnh không thay đổi. Có “lo hoài” có phải là cái sức yếu hèn hay không? Sự sống thấp thỏi của cái Đời vật chất mà!
6 Sống qua Phần Vô Hình mà thấy bằng nhục nhản thì đâu có nhầm Lý?
Không nhầm Lý là sái Con Đường Ngay của lòng.
Xác Hồn này, tuy là Thần Hồn, mà nó Sống song song nhau, còn người thế gian lại không biết mà chia Hồn với Xác. Xác với Hồn vốn ruột thịt nhau. Thương thay!.
7 Nhớ và phải Biết: “Tấn Hóa” là Điển Quang nơi mình nó tấn hóa, phải nào tên nào đứa nào đâu mà lầm!
“Đạo Đời hai cuộc phân rành”
“Đạo” thuộc Nguồn Thanh Điển của Trời, trong Nguồn Ngươn Khí Hóa Sanh.
“Đời” thuộc về Điển của Vật dựng nên trong khuôn Tứ Giả.
8 “Vô Minh” che án trẻ thơ,
Lạy Thầy cứu trẻ đến bờ Giác Mê.
Thanh Tịnh là trúng Đạo. Yên Tịnh là sái vậy, vì là cái sức yếu hèn đó vậy thôi. Yên tịnh là cái biến lười của sự sống, cái điển lu lờ.
Người Trời
Giảng Đàng Chơn Lý của Đức Chí Tôn
Đức Tây Sư Tinh Quân
1955
Chơn Lý Đạo Trời
Có kinh nghiệm, có thiệt nghiệm, có đặng Sống, Sống thiệt thiệt sống bằng tinh thần sự Sống thiên nhiên tức là Sống với cái Khí Hạo Nhiên Tiên Thiên làm gốc, do theo cái Lý diệu huyền của Đạo nơi Tâm làm sự Thông, Hiểu, Biết cho mình thì mới biết :
Chơn Lý Đạo Trời là quí,
Người Trời là quí nhứt,
Chớ cái vật có sanh có tử, cái vật phải chịu dưới Luật Sanh Trưởng Thâu Tàn kia là cái hình hài vật chất này, cái xác thân đây, đâu phải thiệt nó là « người » nên Đạo gọi nó là « Cái Người », vì Người Thiệt Thiệt Người, là người vô tận, Đạo gọi là Con Người Trời Sanh, « Người Trời » vậy.
Cái vật là thân hữu kia là để cho Người dùng làm thể hữu hình cho có chỗ mà đứng đặng tỏ bày Bổn Tánh thiên nhiên của Ngôi Trời Độc Nhứt nơi Tâm rất chí thiện chí mĩ. Nó là cái động cơ bởi chất vật vô hình tạo thành nên cũng gọi nó là cái thân vật chất, cái thân chót của Con Người xuống thế.
Thầy mở lớp hoc đường sơ giảng,
Giảng cho con một đoạn Đạo Trời ;
Đạo Trời có một không đôi,
Đạo là sự Sống cứu người thế gian.
Đạo không đợi cải đợi bàn,
Đạo lo giải cứu cái màng Người Ta.
Trời có Một thì Ta có Một,
Có Ta rồi nên cột có Người ;
Người nên Ta đặng thảnh thơi,
Ta Người chung hiệp một Trời nào ba.
Ta Người nếu rẻ nhau ra,
Ta Người chia rẻ quỉ ma chen vào.
Bỏ cái Ta thì nào có quỉ,
Còn cái người cũng bị cái ma,
Quỉ ma cũng tại người ta,
Ta Người chung hiệp quỉ ma tàn hình.
Đây cần phải sơ giải cho biết cái Cơ Mầu Nhiệm của Tạo Hóa, của cái Máy Thiên Cơ lúc còn nơi cỏi vô hình Tiên Thiên Khí Hóa.
Bổn Thân Người (cái Mình Điển Bổn Thân) sống với cái Khí Tiên Thiên vô hình. Tuy là nói vô hình chớ cũng là phải có hình, song hình ấy là « Hư Vô Chi Khí ». Có nó mới hòa hiệp lại làm Hậu Thiên hửu hình vạn vật võ trụ.
Hổn hiệp những khí chất thiêng liêng lại, rồi Đánh nó cho nó dậy lên như người thợ làm bánh đánh bột vậy, cho đến khi nào những khí chất ấy phát ra cho đặng một màu.
Ai hổn hiệp khí chất thiêng liêng lại?
Ngươn Thân Ta chớ ai!
Ngươn Thân Ta đã có Người định cho Ta thắng sức thắng thế, nên Ta mới hổn hiệp khí chất kia cho nó phát ra một màu, rồi Ngươn Thân Ta thừa sức thắng của Ta đặng hòa hiệp lại làm một với cái màu Một kia. Ngươn Thân Ta đã có đủ sức mà thắng đặng hòa hiệp với Một kia làm Một vì Ngươn Thân Ta có Thần, Thần này là Thần của Trời, vì có Lịnh Trời định muốn sanh Người của Trời muốn có, nên Thần Trời đả giúp sức cho Ngươn Thân hòa hiệp Khí kia lại cho phát ra màu Tinh Anh cho thành Ta Người hiệp một mà sanh hóa ra Người Trời định muốn có.
Câu này đây có ngụ ý chữ Sư và chữ Đệ. Sư Đệ nghĩa là Thầy Trò. Người Trời muốn có ở thế hạ này là Trời muốn có Người giúp Trời. Tuy cũng đều là Người của Trời, song có Người trước Người sau, ai trước là Thầy, ai sau là trò. Người bực Thầy đã thắng đặng sức thiêng liêng lúc vô hình và lại cũng thắng đặng khí chất hồng trần nơi hạ giới rồi gặp nhịp cầu thiêng liêng tự nhiên bước qua khỏi mà về nơi Ngọc Kinh đặng hòa hiệp lại với Trời, thì Người đi sau cũng phải học làm Đạo như Người bực Thầy mình kia.
Lương Tri vốn thiệt Thầy nhà, mà TU, trau mình sửa lỗi đặng có mau bước qua cho khỏi bực cầu thiêng liêng kia mà hòa hiệp với Thượng Đế.
Người Trời đây, Bổn Thân này, vốn là gốc Lý Sinh Khí Hóa của Trời, Trời thiêng liêng vô hình là Toàn Thể sự Sống của Điển Vô Vi, gốc của hai luồng Điển Âm và Dương.
Vậy, Bổn Thân của Người Vốn là Mình Điển, cái mình điển có các mối giao thông cũng là Điển.
Do Thánh Giáo của Đức Hổn Ngươn Thiên Sư Chưởng Quản có phân tường:
« Tạo Hóa có ra bởi Gốc hai luồng Điện Âm và Dương. Cũng do nơi Điển lực của hai luồng Điện ấy mà Người lập nên Càn Khôn Võ Trụ vạn vật. Người là một vật của Đấng Tạo Hóa Công; Người là sự Sống của Điển lực ấy; Người cũng làm sự Sống cho Điển lực ấy; Điển lực ấy tức là Điển Vô Vi của Thầy ban cho những ai ngày nay còn Nhứt Tâm theo cơ Chơn Lý Đạo Trời đang vận chuyển ».
Rõ ra thì Người vốn cũng bởi Gốc Lý Sanh Khí Hóa, nên Lý Khí là Hồn Xác tinh thần của Người vậy.1
Thấu đặng cái Lý này thì biết như lời của Đức Phù Hựu Lữ Thánh Đế Quân, Giám Đốc Giảng Đàn Chơn Lý của Đức Chí Tôn đã nói :
« Tạo Hóa sanh loài Người nào phải để dành làm tôi tớ cho vật chết bao giờ, vì Trời, Đất và Người vốn đồng một Thể và một chức vụ là để tuân theo Đạo đặng làm sự sống cho muôn vật mà thôi ».
Đây, xin thích Lý về thân thể con Người do theo Lý Đạo chơn truyền nơi Tâm.
Kìa, trong châu thân Người toàn là những vật thuộc về tinh thần, phải trãi cho đủ mấy bực tinh thần, tinh thần nào thì có Điển lực nấy, Điển lực nào thì có không gian nấy mới có thể biết trọn đặng « Người », tức là « Biết Mình » bởi đâu mà có, nhờ chi mà sống, mà sanh.
Phải chi biết đặng toàn thân toàn thể của Người có phần vật chất, phần vô hình chất vật, vô hình của vô hình tức là Ngươn Thân, thì đó là đến phần Vô Vi, mới qua Vô Kiệt làm Trung Tâm mà là Trung Tâm Điểm thì mối manh sao không thấy không biết.
Hiện nay Mối Vô Vi Âu Mỹ đương tìm mà nơi đây Thầy dạy con Thầy tất tiêm vậy.
Cái Thân hữu này, cái hình hài vật chất này, cái xác thân đây nó có tinh thần của nó vì nó có sự sống của nó là sự sống chia rẻ của vật mà vốn nó lại là tinh thần của Tứ Giả, nên cái xác thân này là đồ cặn bả của Tứ Giả.
Người có tinh thần của Người, tinh thần của Người là tinh thần của tinh thần, vì Người có sự sống của Người là sự Sống của Đạo. mới có tiếng gọi « Đạo là Sự Sống », nên Người đây mới đặng gọi là Con Người Trời Sanh, « Người Trời » vậy.
Tinh thần là tinh thần; nó vô hình, không phải là của ai, nên cũng gọi là phần thiêng liêng tinh thần.
Nếu rằng là « Biết Mình » mà không biết đến phần vô hình Thiêng Liêng cùa mình thì không thiệt biết đặng mình vậy. kẻ nào chỉ biết có mình mà không biết nhìn nhận hay là không biết đặng mà nhìn nhận phần Thiêng Liêng vô hình của mình, thì tức nhiên kẻ ấy đã lạc mất cái Gốc Bổn Nguyên Chơn Thể, mới tưởng mình là người thế gian cha sanh mẹ đẻ nên cho tâm của vật là Tâm của mình, thì kẻ ấy sống với một sự sống chia rẻ của vật mà không hay không biết. Có câu:
Suốt thông Hiếu Để mới ngoan,
Lầm thông Hiếu Để lại càng xiết bao.
Nhưng sự sống của vật với sự Sống của Người vẩn là Một, song khác bực tinh thần.
Một này là chi ? Là sự Sống, mà là cái Nguồn của sự Sống, là Nguồn Ngươn Khí Hóa Sanh của Trời.
Tinh Thần thì thuộc về vô hình, bởi có vô hình mới sanh ra hữu hình đặng. Nhưng cái hữu hình có bao giờ chịu nhìn nhận cái vô hình, thử xem người đời thì biết.
Tinh Thần của vật là tâm của vật, tinh thần của Người là tâm của Người, Người nhờ có nó trọn đủ mới đặng sống, đặng sáng, đặng biết, lại nhờ phần tinh anh thuần túy của nó mà quản trị đặng tấm thân sanh, vì « Người » là chủ của vật, lại thinh thần chánh gốc đầu bài là chủ sự thở và sự sống khắp vạn vật nơi không gian làm chủ cả võ trụ.
Phần Tinh của Tinh của Tinh Thần này nay có nơi trung tâm mà là Trung Tâm Điểm của Người đây nên Người đây mới chắc mình rằng có Gốc Bổn Nguyên Chơn Thể nơi lòng. Gốc này ở nơi Người gọi là « Chơn Ngươn » chánh Gốc Đầu Bài, lại Chơn Ngươn cũng bởi hai tiếng Chơn Lý Ngươn Khí nói tắt ra.2
Về Người, về sự sống của Người có cái xác thân hữu hình này, mối nhân luân cấu tạo nên hình rất là huyền vi nên cũng gọi nó là cái máy thiên cơ, nếu mối này phân biện cho mình không rành, lại không ra cái Đầu Mối của nó:
Sự gì cũng có Mối Giềng,
Nắm cho trúng Mối tháo chiền mới ra.
Thì thấy trong mình lắm điều mâu thuẩn nên thường thấy sống mà cái vật kia làm chủ cái người này, còn cái người này trở lại làm tớ cho cái vật kia sai khiến đời đời kiếp kiếp.
Đừng tưởng Tâm có hai mà lầm, thử xét « Tâm Địa » với « Tâm Điền » là mấy cái. Tâm không vật, tâm lấy gì mà dùng ; vật không tâm, vật lấy chi mà biết. Không vật thì Tâm đâu có, không tâm thì vật có ích gì, có Tâm có vật mà không tinh thần thì tâm vật kia là một bộ máy vô chủ chớ có chi lạ!
Nên « Người Tu » (Tu là sửa lỗi) phải chuyển «tình dục» cho thành «đức dục».
Tình dục đâu là Nhơn Tâm đó.
Đức dục đâu là Chơn Tâm đó.
Ai chuyển đặng Tình dục cho thành Đức dục ? Ngươn thân Ta chớ ai !
Ngươn thân Ta đã có Lịnh Trời ở nơi Ta cho Ta thắng thế nên Ta mới hổn hiệp Khí chất kia đặng vì Ngươn thân Ta có «Thần». Thần này là Thần của Trời.
Mà Thần của Trời ở trong thân Con Người là chi ?
Nó vốn là cái sức Sanh, sức Sống, sức Hóa, sức Sáng vô hình. Nó ở nơi Trung Tâm mà là Trung Tâm Điểm nên gọi là Lương Năng. Mỗi khi Người tuân theo Lịnh một của Trời Độc Nhứt đặng thi hành phận sự, nó liền đổi qua một danh từ khác là Thông, Hiễu, Biết.
Ba cái Thông, Hiễu, Biết này ở nơi Tâm, chính nó là một thứ Hơi, mà là Hơi Điển. Hơi Điển này truyền cùng Ngũ Giác Thân, nó làm cho các bộ phận cũng đặng thông truyền.
Tình dục là sự sống mà là sự sống của các mối thần nay tỉnh ngộ nhờ chỗ Thông, Hiểu, Biết của nó nên nó qui hướng trúng đường. Trúng Đường là nhầm Đạo vì Đạo là con Đường Trời lập cho Con Trời đi cho vững bước Trường Sanh. Nhầm Đạo thì Tình dục trở thành Đức dục. Đức dục là sự sống cao diệu của các Mối Thần Điển, càng thanh cao lại càng nhẹ nhàng mau lẹ trống trong, trong trống trong sáng trong Ngôi Chủ của nó là cái Chơn Tâm, cái Tâm thiệt của Trời có Một không hai:
Đường ngay có một không hai,
Đường ngay từ thuở thiên khai đến giờ.
Chơn Tâm mới có chứa đựng cái Chơn Tánh, lại Tâm Tánh loài Người ban sơ Vốn Hư Không, nên Người cần phải « Định Tâm » cho đặng Hư Không mới có trọn đủ lại nơi mình phần Thiêng Liêng vô hình làm Chơn Thân là mình thiệt thiệt mình của mình, cái Mình Điển đồng một Thể và đồng chất vật với Điển Vô Vi mới thiệt là « Người Ta » để làm « Giống Người » của Trời muốn có.
« Người Giống » của Trời ở thế hạ là « Nhơn Loại », nên nhơn loại có Một, phải nào là vô số.
Đừng tưởng tinh thần không có thể chất riêng của nó mà lầm.
Vậy, Người mà thiệt « Biết Mình » là đã hòa với Tâm hiệp với Tánh mà ra Người Thiệt thiệt Người tức là « Người Ta » là Nhơn Loại mới có thể chủ trị đặng tấm thân sanh, thì tự nhiên, biết thương đồng chủng vì Đồng Chủng với Mình Vốn Một, lại Đồng Chủng cũng là mình. 3
Tuy khác tiếng khác da khác giống,
Nhưng cũng đồng sự sống như nhau ;
Dưới chơn cho tới trên đầu,
Tay chơn máu thịt chỗ nào khác đâu.
Chơn Lý Đạo Trời là Biết vậy đó.
Người nay biết mình là Người Thiệt của Trời nào phải là cái người nước này xứ nọ sao lại chẳng mừng chẳng vui, mới có thể xét mình mà đem mình đến chỗ chí thiện chí mĩ của nó là đến bực tinh vi tinh tế tinh thần, mới gặp đặng Mối tinh thần tuyệt đối là Mối Vô Vi ở trong Trung Tâm mà là Trung Tâm Điểm là cái Thể của Ngôi Trời Độc Nhứt , nên Tâm mà Tứ Đại Thánh Nhơn ngày xưa đã đến rồi « Sống Tại », Một với « Đó » mà ra Người vô tận.
Ví như Tứ Đại Thánh Nhơn – Đức Lão Tữ, Đức Phật Thích Ca Như Lai, Đức Khổng Tữ, Đức Chúa Gia Tô đều đặng « Ngôi Người » làm một với « Đó » mà ra Người phẩm giá thiêng liêng tinh thần vô cùng sáng suốt.
Vì để nên Người thiệt thiệt Người, đặng tròn tỉnh ngộ, thông đạt Đạo Lý của Võ Trụ, rồi mới không còn sống theo thể của vật là Tâm của Vật mà Sống tự nhiên với cái Thiên Tư Trời phú Tanh theo cái Chơn Thể của Người, là cái Chơn Tâm vì mình thiệt thiệt mình vốn là Mình Điển, cái Mình Điển có các mối giao thông cũng là Điển, chớ nào có tai mắt trí tri chi đâu ! Nên nghe bằng chỗ không nghe mà nghe, thấy bằng chỗ không thấy mà thấy, tức là Nghe, Thấy, Thông, Hiểu, Biết bằng Điển đó.
Đạo Trời quí là vậy đó !
Đạo Trời Sống sáng là vậy đó !
Chơn Lý Đao Trời là phải vậy đó !
Tinh thần là tinh thần thì nó là cái sức sanh sức sống, sức hóa, sức sáng tự nhiên vô hình, mà mối chành Gốc của nó là Mối Vô Vi vốn nơi Nguồn Thanh Điển trong Nguồn Ngươn Khí Hóa Sanh của Trời. Mà cái Nguồn của Nguồn Ngươn Khí làm sao không phải là Điển Vô Vi. Người có trọn Mối Điển Vô Vi nơi Tâm thì mới có thể hưởng ứng đặng phần sáng suốt thiêng liêng tinh thần, thì Người đây là « Đó » khác nào.
Vậy nên đặng thiệt là « Người » là đã lập lại đặng cho mình cái « Thân Danh » cho Đạo, mới đặng trường sanh là Trường Sanh của Đạo khi xác thân còn tại thế.
Thân Danh cho Đạo có thì cái « Có » này là chi của Đạo, lại nó Có để làm gì ?
Cái « Có » này đây là cái « Chơn Ngươn » của Đạo, cái Vật trong trong Người, nó để Công Dụng cho Trời là giúp Công Hóa Hóa Sanh Sanh, thay Trời Hành Đạo, Mối Lý Sanh Khí Hóa nơi lòng, một sự Thường vậy. 4
Cái gì là « Có » với Tâm không,
Hơi Điển Tiên Thiên sức Hóa Công,
Nuôi sống tinh thần yên vật chất,
Nưng cao quan niệm mở đường thông.
Mới hay võ trụ Mình đâu khác,
Thì rõ Chơn Thân Lý cũng đồng.
Ở tục mà lòng không nhiểm tục,
Hư linh bất muội vững Ngôi Trong.
Đức Giám Đốc Giảng Đàn Chơn Lý của Đức Chí Tôn có nói:
« Trong lòng Trời Đất và Người đều chứa một Sự Thường mà thôi. Thường ấy nghĩa là không thay đổi, không được không có, không được không không, không đủ, không thiếu, không dứt, không ngớt, không ngừng, không nghĩ, không mau, không chậm; Thường Thường hoài mà cũng Bình Thường hoài, muôn ngàn triệu ức kiếp như Một. »
Kinh có câu :
Người chia vật không minh Vật Lý,
Vật ở Người đồng Lý Lý Sinh ;
Vật trong thấu Lý mới minh,
Vật trong thấu đặng Lý Sinh mới tròn.
Rõ ra Con Người quí tại Tâm.
Tâm Trung báu lạ vô cùng.
Tâm này mới chánh là Tâm Thần mà kỳ thật là Tâm của Trời có lại với Tâm của Người mà ra cái Chơn Tâm.
Tâm Điền là Gốc cội Người Ta,
Bìm sắn đừng cho loán phủ nhà,
Nổi ngọn Truyền Đăng tan hắc ám,
Mặc tình thong thả cõi ta bà.
Văn Minh của thế gian
Ngày nay thế gian đã đến đặng môt bực tinh thần khá cao văn minh tấn bộ. Sự tấn bộ này thuộc về vật chất chớ nào gọi đặng là văn minh tấn bộ về tinh thần, nên sự mâu thuẩn ở lòng người chưa biết sao phân đặng nên đời còn phân vân tâm tánh, phải chịu hoài hoài mải mải cái cảnh tang thương không biết bao giờ chấm dứt !
Thương thay !
Thầy có dạy về Đạo Pháp:
Đạo càng học càng ngày càng mới,
Ngày mới rồi ngày mới một ngày ;
Mới rồi dạy kẻ mới hay,
Hoàn toàn Đạo Dụng mỗi ngày mới thêm.
Thánh Giáo của Đức Hổn Ngươn Thiên Sư có phân tường:
« Người phương Tây đặng văn minh tấn bộ do nơi công dụng đặng cái Điển lực của hai luồn điện Âm và Dương của Tạo Hóa, mà người phương ấy chỉ tầm kiếm hiểu biết để rút hết cái Điển lực ấy đem ra công dụng bên ngoài làm cho bộ máy Sống Điển Vô Vi của Thầy phải tan phải rả, phải hư bại. Càng tầm kiếm đặng cái tinh hoa, cái tinh tế, cái tế nhị của điển lực bao nhiêu, càng đem ra công dụng để đấu tranh cho cái tinh xảo bên ngoài hết bấy nhiêu. Càng tinh xảo, càng làm cho Điển lực Vô Vi nơi Người phải lần lần mất và dứt hẳn đi vậy.
Trái lại với Người phương Đông, Người phương Đông lại tầm kiếm hiểu biết về bên trong như bên Y Gia. Y Gia cũng do nơi tầm kiếm hiểu biết cái điển lực vô vi ấy có sẵn nơi người mà lặp đủ phương dược để sửa trị cái máy sống ấy, chớ chẳng chịu tầm xét hiểu biết để tấn hóa thêm như người phương Tây. Người chỉ tầm hiểu khoa học trong người để giúp đở bồi bổ cái vật chất không mà thôi, chớ chẳng tầm kiếm hiểu biết để bồi bổ cho Điển Lực Vô Vi ấy.
Một phương thì dùng Điển lực Vô Vi ấy để đem ra làm công dụng hết cho bên ngoài ; một phương thì chỉ tìm bên trong mà chỉ tim để bồi bổ cho cái vật chất. Một phương thì đi sai về bên ngoài, sai cho quá mức ; một bên thì thiên về bên trong, nhưng chỉ có ích cho cái vật, không chịu phát triển để trưởng dưởng cho đến tuyệt đối về tinh thần. Rồi rốt cuộc cả hai phương, không phương nào đi trúng theo Thiên ý của Trời.
Ngày nay Trời khai Đạo đến thời kỳ Thầy đem Điển Vô Vi ra dạy các con cái của Thầy. Thầy đem Điển Vô Vi để ban bố cho các con trong Đạo. Con nào còn biết đến Thầy, còn nghe theo Thầy, còn biết làm theo lời Thầy dạy ắc sẻ đặng trở về với Thầy.
Đức Thiên Sư Chưởng Quản nói tiếp:
Phóng Điển Vô Vi cho các con cái của Thầy là phóng con Đường dẩn bước đường về Điển Vô Vi cho các con đủ nghị lực, đủ tài, trí lương tri đặng noi theo tầm xét hiểu biết và làm đúng đặng mau trở về với Thầy vậy chớ không chi lạ.
Điển Vô Vi của Thầy rất quí, con nào biết tuân theo làm theo thì ắc đặng trở về cựu vị, bằng trái lại, dùng làm của mình thì chịu lấy.
Quí quá thay Đạo Chánh của Thầy,
Dẩu cho cầm thú cỏ cây,
Có lòng mộ Đạo có ngày nên duyên.
Giảng Đàn này may ra động đến lòng Trời của Nhơn loại, Nhơn loại mới tỉnh mình qui hướng theo Thầy cho tròn bổn phận Con Người xuống thế, sống vui với Đạo.
Tây Sư Tinh Quân
Đốc Tràng Giảng Đàn Chơn Lý của Đức Chí Tôn
Tạo Hóa Công nơi lòng
Thiên Công im Tánh lại im Hơi,
Mà lắng tai nghe chẳng chút rời,
Đừng tưởng vườn hoan cây cỏ loán,
Ba Giềng khắn khích vững Ba Ngôi.
Con Người tại Thế
Tánh Mạng vừa gieo tách dậm ngàn,
Ngươn Thần vận chuyển lướt trùng sang,
Thiên Chơn ung đúc Thân trong trắng,
Căn bản dồi trao Thể diệu hoàng.
Hiệp Nhứt Vô Vi Ngôi Thánh định,
Hòa xong Vạn Vật Mối Thần Linh,
Giống Người ung đúc nên Người Thiệt,
Trời Đất từ đây Một với mình.
Nguyễn văn Kiên
Tân An, Nov 1946
Người là gì?
Kinh có câu :
Loài Người ai tạo ra đây,
Thế gian ai sắm ai bày thuở nao.
Đức Chí Tôn có gọi chung:
Ớ con khắp cả hoàn cầu,
Trước đều một rún một nhau một nhà.
Thánh Kinh:
Này con Tâm Tánh bởi Trời,
Này con Tâm Tánh bởi Người phá hư.
Dưới đây nói về một nhà Đại Đức, Đại Hiền Triết đương đời dày công tìm kiếm cho biết “Người là gì?”
Ông Docteur Alexis Carrel, Biologiste, một đấng nhơn tài đương đời lại một nhà đạo đức, ông chí dốc tìm cho ra mối manh Cội Gốc Con Người hầu cho biết rõ chắc đặng: “Người là sao”?
https://en.wikipedia.org/wiki/Man,_The_Unknown
Ông không luận xét theo một tôn giáo nào, ông đứng vào phương diện người đi tìm Lẻ Thật, ông có khảo cứu đủ về Tứ Đại Thánh Nhơn, sách vở kinh thánh lưu truyền. Ông dày công kiếm tìm về mỗi vật có sự sống, các cơ sở trong thân người không còn để sót một cơ quan nào mà ông không mó tay vào đặng nghiệm xét. Ông lại trước có giao thiệp rộng với đủ các hạng người, từ bực thông minh trí tuệ đến bực phú hộ kim tiền chí đến bực thợ thầy tay bùn chơn lấm, các bực Đại Đức Đại Hiền Triết, ông cũng từng hỏi han, khoa sách nào ông cũng rõ tận, nào là khoa hóa học, triết lý học, thông thần học, vật lý học, vật chất học v.v. Rốt cuộc “Người là gì”?, Người là sao, ông cũng nhìn nhận rằng ông chưa đặng rõ cho thấu lý.
Trong năm 1936, ông cho ra một quyển sách dày có mấy trăm trương, tựa đề:
“L’Homme, cet inconnu”.
Pho sách này phổ thông ra làm cho sôi nổi dư luận những bực tài trí trí tài, bực đạo đức trong cả hoàn cầu.
Dưới đây, tôi trích lục vài dư luận để xem coi các bực cao kiến nói sao?
« Le moment est venu de commencer l’œuvre de notre rénnovation. Mais nous n’en établirions pas le programme, car un programme étoufferait la Vivante Réalité dans une armature rigide. Il empêcherait le jaillissement de l’imprévisible et fixerait l’avenir dans les limites de notre esprit.
Il faut nous lever et nous mettre en marche, nous libérer de la technologie aveugle, réaliser dans leur complexité et leur richesse toutes nos virtuosités.
Les sciences de la vie nous ont montré quelle est notre fin et ont mis à notre disposition les moyens de l’atteindre.
Mais nous sommes plongés encore dans le monde que les sciences de la matière inerte ont construit sans respect pour les lois de notre nature. Dans un monde qui n’est pas fait pour nous, parce qu’il est né d’une erreur de notre raison, et de l’ignorance de nous-mêmes. À ce monde, il nous est impossible de nous adapter.
Dans les conclusions de son livre, le docteur Carrel a dit :
Non seulement la matérialité brutale de notre civilisation s’oppose à l’essor de l’intelligence, mais écrase les affectifs, les doux, les faibles, les isolés, ceux qui aiment la beauté, qui cherchent dans la vie autre chose que l’argent dont le raffinement supporte mal la vulgarité de l’existence moderne.
L’homme est à la fois un objet matériel, un être vivant, un foyer d’activité mentale.
Il s’étend au-delà de l’espace et du temps, dans un autre monde. Et de ce monde, qui est lui-même, il peut, s’il aura la volonté, parcourir les cycles infinis. Le cycle de la beauté que contemplent les savants, les artistes, les prêtres. Le cycle de l’amour, inspirateur du sacrifice, de l’héroisme, du renoncement. Le cycle de la Grâce, suprême récompense de ceux qui ont cherché avec passion le Principe de toutes choses. »
Relevé de quelques commentaires :
Dr. Alexis Carrel, homme de sciences, dans la préface de son livre, a dit entre autres :
Dans ce livre, il s’est efforcé de distinguer clairement le connu du plausible, et de reconnaître l’existence de l’inconnu et de l’inconnaissable. Il a considéré l’être humain comme la somme des observations, et des expériences de tous les temps et de tous les pays.
Il a pu observer presque toutes les formes de l’activité humaine. Il a connu les petits et les grands, les sains et les malades, les savants et les ignorants, les faibles d’esprit, les fous, les habiles, les criminels. Il a fréquenté des paysans, des prolétaires, des employ’es, des hommes d’affaire, des boutiquiers, des maîtres d’écoles, des prêtres, des aristocrates, des bourgeois.
Le hasard l’a placé sur la route des philosophes, d’artistes, des poètes, des savants, et parfois aussi de génies, de héros. En même temps il a vu jouer les mécanismes secrets qui, au fond des tissues, dans la vertigineuse immensité du cerveau, sont les substances de tous les phénomèmes organiques et mentaux.
Ce sont les modes de l’existence moderne qui lui ont permis d’assister à ce gigantesque spectacle…
La matière est étudiée à tous les degrés de l’organisation dans des laboratoires, de son essor vers la réalité de l’être humain…
Avant de commencer ce travail, son auteur connaissaut la difficulté, la quasi-impossibilité. Il l’a entrepris simplement parce quelqu’un devait l’entreprendre, parce que l’homme est aujourd’hui incapable de suivre la civilisation dans la voie où elle s’est engagée.
Fasciné par la beauté des sciences de la matière inerte, il n’a pas compris que son corps et sa conscience suivent des lois plus obscures, mais aussi inexorables, que celles du monde sidéral. Il est donc impératif qu’il prenne connaissance des relations nécessaires qui l’unissent au monde cosmique et à ses semblables.
Aussi, des relations de ses tissus et de son esprit.
À la vérité, l’homme prime tout. Avec sa dégénérescence, la beauté de notre civilisation et même la grandeur de l’univers s’évanouiraient.
Nous commençons à sentir la faiblesse de notre civilisation. Beaucoup aujourd’hui désirent échapper à l’esclavage des dogmes de la société moderne.
C’est pour ceux que ce livre a été ‘ecrit, et également pour les audacieux qui envisagent la nécessité, non seulement de changements politiques et sociaux, mais du renversement de la civilisation industrielle, de l’avénement d’une autre conception du progrès humain, aussi aux gens qui simplemement réfléchissent au mystère de notre corps, de notre conscience et de l’univers…
Le père Jean Rimaud, le grand écrivain catholique souligne de prime abord que l’ouvrage du célèbre biologiste était axé sur cette idée fixe : L’Homme est insuffisament connu de l’homme.
Le fait capital des sciences de la vie depuis la Renaissance est qu’elles sont en retard sur les sciences de la matière inanimée. Les sciences constituent une puissance formidable, mais fute de connaissance de l’Homme, la société n’est pas actuellement construite pour l’Homme.
Pour le savant ecclésiastique, la Vérité centrale de la constatation de celui-ci demeurait : La civilisation moderne est inhumaine parce qu’elle ignore l’Homme.
Il faut courageusement en tenir compte, se mette à l’œuvre, construire enfin cette science de l’homme qui nous manques.
Thánh trí thay ông Alexis Carrel!
Đạo đức thay một đấng nhơn tài!
Thương thay! Thương thay!
Vì: Văn Minh gốc chuộng tại Tinh Thần.
Đạo thuộc về tinh thần, không phải là đồ vật chất!
Nhưng than ôi cho cái đời sống hiện tại của phần đông lại là phần rất đông sống theo Thể của vật là tinh thần của vật mà không hay không biết, chuộng về mặt hình thức nên:
Sống không biết Sống!
Người không biết Người!
Mình không biết Mình!
Thì làm sao Biết cho rõ Cội Gốc Nguồn sự Sống của Loài Người là Trời mà sống theo.
Thánh Giáo của Đức Sư Phụ Chưởng Giáo Thiên Tôn có nói:
“Có Đấng Tạo Hóa tạo các con ra rồi thì chỉ có một mình Người biết máy Thiên Cơ nơi mình các con, lại chỉ có một mình Người biết nơi mình các con mà chỉ cho các con biết rằng: các con là tạo vật của Tạo Hóa Công. Tạo Hóa Công mới biết đặng những tạo vật chi mình tạo ra”.
Thì chỉ có Trời dạy cho mới biết đặng cái Mình Thiệt của Người mà thôi, biết đặng mình rồi mới biết đặng Người!
Nên, lẻ tự nhiên, phải tìm cho thấy cho biết cái Mình Thiệt của mình là cái mình nào, bởi đâu mà có, nhờ chi mà sống mà sanh. Cái xác thân vật chất này, ai lập thành cho mà có: cái mẩu khuôn của nó bởi đâu mà ra?
Vật chất học khắp miền Âu Á,
Mãn mê tìm vật lạ địa cầu;
Nghiêng nghèo dồn dập bấy lâu,
Mãn lo giành giựt nhiệm mầu Hóa Công.
Sao không xét lại nơi lòng,
Bấy nhiêu mầu nhiệm Tâm Trung sẵn sàng.
Đức Chí Tôn có nói:
“Các con muốn thấu huyền vi của Đạo, hãy gần Thầy, Thầy sẻ lần lần dìu dắt cho, chớ các con xa Thầy hoài làm sao mà hiểu rõ Đạo đặng.
Đạo Thầy dầu cho đã đứng đặng vào bực Thánh, Thần, Tiên, Phật rồi đi nữa là cũng chưa hiểu phủng thấu đặng, bực nào hiểu lấy bực nấy mà thôi, còn cái huyền diệu bí yếu then chốt của Đạo thì là nơi Tay Thầy. Song le, kỳ Phổ Độ Tam Kỳ, Thầy cũng chẳng giấu người nào muốn thiệt tâm giúp Thầy.
Cái sách vở con đọc ấy, cũng nên đọc mà cũng nên không đọc, kẻ nào ở bực nào thì làm sách vở theo bực nấy, dầu cho có biên tên vị nào giáng phàm dạy đi nữa là bực nào dạy theo bực nấy, chớ đem cái máy này mà ráp với cái máy kia thì có ăn thua vào đâu. Đứa nào nói Trời tròn xây phía trái nghe cũng xong; đứa nào nói Trời tròn xây phia mặt nghe cũng đặng; rồi đây có đứa nói Trời vuông hay bát giác, lăn lộp cộp gẩm cũng có thú vị mà cũng xong cho, chớ nào có đứa nào ở thế gian cõi Hạ Thiên này mà biết Đạo Thầy có chắc.
Các con ôi! Càng theo khoa học chừng nào các con càng mờ ám, mê muội chừng nấy. Thầy khuyên hãy theo Thầy đặng về Cựu Vị là nới Biết rõ, mà lại là thông thả Linh Hồn hơn. Muốn cho đặng an ổn tinh thần, so không nghe Thầy mà cứ làm con mọt đục ba cuốn sách vô căn vô cứ ấy đặng thử sức khoa học?
Nếu muốn thử sức khoa học chừng nào thì lại càng giết lẩn nhau chừng nấy ; các con muốn giết chết lẩn nhau hay là muốn rộng lòng Từ Bi Bác Ái mà cứu vớt nhau. Hai ấy, Thầy khuyên con chọn một. »
Đức Sư Phụ có lời dạy trong Thánh Giáo năm 1943:
« Này Tứ Vị Thiên Sư,
Luôn dịp đây, Bổn Sư tưởng cũng cần chỉ cho các con đi cho vững vàng trên Con Đường Hành Đạo.
Này các Con !
Các con cũng đã biết rằng : ngoài các con đi, ai là con cái của Đức Chí Tôn đến ngày nay chưa chịu nhìn nhận Đạo Thầy, đều cũng cho Đạo Thầy là Đạo Cơ Bút, vì do Cơ Bút mà Thầy lập thành Đại Đạo cho các con ngày nay.
Cơ Bút là gì?
Cơ là Tinh vi huyền diệu của máy Thiên Cơ, mà máy Thiên Cơ này lại ở nơi mình của các con; Ngọn Bút tinh vi huyền diệu thì chỉ có Ngọn Bút của Trời, vì Trời là Đấng Tạo Hóa sanh thành các con cùng các vạn vật.
Có Đấng Tạo Hóa tạo các con ra rồi thì chỉ có một mình Người biết máy Thiên Cơ nơi mình các con, lại chỉ có một mình Người biết nơi mình các con mà chỉ cho các con biết rằng:
Các con là Tạo Vật của Tạo Hóa Công,
Tạo Hóa Công mới biết đặng những chi của Tạo Vật mình tạo ra.
Trải Đệ Nhứt Tam Tiểu Thời Kỳ sang đến Đệ Nhị Tam Tiểu Thời Kỳ, Tam Kỳ Phổ Độ thì Đức Chí Tôn tùy cơ, tùy thời, tùy cuộc mà Phóng Điển xuống cỏi trần gian đặng dạy dổ các con. Chư Thiên Tôn, chư Thần, ai là Người muốn lập công lấy thì phải do theo Nguồn Điển Phát Sanh của Thầy mà đi lập công phổ độ chúng sanh.
Đến khi Thầy lập xong Đệ Nhứt Tam Tiểu Thời Kỳ, Tam Kỳ Phổ Độ, Thầy muốn đem Lý Đạo ra đặng giáo hóa cho các con nên bọn sa tăng muốn lừa gạt các con. Lũ sa tăng biết trước rằng sao sao Thầy cũng gom các Mối Điển của Thầy phóng ra cho chư Thiên Tôn, chư Thần, chư Thánh đi phổ độ các con lại làm Một, nên chúng nó tìm đủ phương thế phá hoại Đạo Thầy.
Đến khi Đức Chí Tôn day Cán Bút về Kiên Gian, lũ sa tăng càng thêm lộng lẩy. Thấy vậy, Thầy mới kêu Phùng ra gánh vát đặng cho Thầy lập Tòa Thánh Trung Ương. Thầy kêu Phùng ra gánh vát là Thầy giao cho Phùng một “Tòa Rước Điển Vô Hình” nơi mình Phùng.
Lũ sa tăng thấy vậy càng thêm gom góp sức của chúng nó đặng phá cho đặng Tòa Rước Điển Vô Hình của Thầy thì sau mới mong diều dẩn các con cái của Thầy đặng. Song chúng nó chẵng biết rằng đó là cái Tòa Rước Điển Vô Hình, cái Tòa Rước Điển Vô Hình thì không thể nào phá cho lay chuyển đặng.
Trải qua Thời Kỳ của Phùng gánh vát cái Tòa Rước Điển Vô Hình của Đức Chí Tôn thì Phùng đã chịu không biết bao nhiêu là nổi đắng cay, điều khỗ nảo, song than ôi! ai có biết đến nỗi nầy cho Phùng, càng ngày càng thêm tìm vây cánh đặng phá cho nổi Phùng.
Một Người đã trải ba kiếp xuống trần lảnh Chưởng Quản Thiên Sư thì có một ai phá đặng bao giờ.
Đến ngày nay Phùng đã bỏ thân hữu thì cái Tòa Rước Điển Vô Hình của Phùng, Bổn Sư phải gìn giử cho các con, lại Thời Kỳ Đệ Nhị Cao Thiên là “Thời Kỳ Ân Điển” mà cái Tòa Rước Điển ấy vẫn Vô Hình thì không sao các con hưởng đặng Ân Điển của Thầy đã ban cho.
Cái Tòa Rước Điển Vô Hình ngày nay Đức Chí Tôn đã ban cho Người Rước Điển, mà Người Rước Điển đến ngày nay chẳng phải có phận sự rước điển không thôi lại cũng có phận sự giữ gìn Tòa Rước Điển, nhưng không phải gánh vật ấy một mình, các con phải gìn giữ luôn.
Vậy thì cái Tòa Rước Điển cần phải cho có hiển nhiên đặng các con gìn giữ chung cho nhau, cho đủ các cuộc Thầy chuyển Đạo.
Cái Tòa Rước Điển Vô Hình nơi cõi Vô Hình vẫn cũng đồng một nghĩa là Tam Thập Lục Thiên Tam Thiên Thế Giới, số 36 của Thầy trước kia lủ sa tăng đã tiếm đoạt, nên Thầy chẳng dùng đến nữa. Ngày nay Thầy chỉ dùng cái Tòa Rước Điển Vô Hình có 9 Bực Thế Giái, mỗi Bực phân ra làm 3 cõi Khí Chất và 1 cõi Chất Vật. Về Thế Giái ấy các con có biết đâu, dầu cho các con có đủ tinh thần Đạo Đức cho đến bực nào đi nữa, thì các con chỉ có phá đặng mấy cõi Khí Chất mà thôi chớ các con không có tài nào phá nỗi cõi Chất Vật nơi cãnh ấy đặng.
Ngày nay Đức Chí Tôn đã phá hết các cõi chất vật theo các bực Thế Giái Vô Hình đặng mà Phóng Điển đến các con và cho Điển các con có phương thế thông đồng lên các cõi Tiên Thiên chất vật. Đến bực này Thầy mới có phương thế cứu vớt các con cho vẹn toàn.
Có cái Tòa Rước Điển Vô Hình mà thiếu cái Tòa Rước Điển hữu hình thì không sao các con đến đặng hưởng Hồng Ân của Thầy cho đặng.
Có Tòa Rước Điển Vô Hình nơi cõi hữu hình là ý Thầy muốn cho các con cái của Thầy đều thấy đặng, hiểu đặng đến mấy cõi Vô Hình Thiêng Liêng vì Thầy đã phá hết các cõi chất vật nơi các cõi của Tòa Rước Điển. »
Nay xin hỏi : Vậy mà cái Tòa Rước Điển Hữu Hình, Người trong Phái « Chơn Lý Tầm Nguyên » đã lập thành xong chưa ?
Thưa : Đã lập thành xong rồi.
Hỏi : Lập ở nơi nào, chỉ ra coi ?
Thưa : Xin gạn hỏi lại tấm lòng chí kỉnh chí thành thì « Biết ».
Cũng xin hỏi lại : Vậy mà Người đáp lời đây tự mình được biết, được thấy cái Mình Thiệt của mình nó ra sao chưa ?
Ngày nay Ơn Trên đang dạy về phần Vô Vi – Sống Sanh Sanh Sống ở trong thân mình, hãy suy kỷ học sâu thì mới có thể ngụ ý đặng, mới có thể sống trọn thiệt đặng mà ra Người Giống của Trời ở thế hạ.
Ớ Người hãy mau tự tỉnh đặng cứu lấy mình.
Thánh Kinh :
Nguồn Chơn Lý đâu pha Lý Trí,
Nguồn Lý Chơn muôn kỷ chẳng mòn ;
Lý Sanh vạn vật thể non,
Mà khuôn Chơn Lý vuông tròn có không.
Thi Thần :
Bạch phân Lý Chánh gắng công tầm,
Thắng đặng phàm tâm thấu Bạch Âm,
Chơn Lý phăng cầm noi mối Một,
Nhơn nhơn tự tỉnh gấc muôn năm.
Tu Chơn là chánh danh phận trước nhứt của « Người thế gian », Con Người xuống thế. Có học Đạo mới biết TU mà Đạo là sự sống cứu Người thế gian.
Tây Sư Tinh Quân
Đốc Tràng Giảng Đàn Chơn Lý của Đức Chí Tôn
Đây Tôi này kết luận trong một bài thi ca về một sự sống đầy đủ Chơn Ngươn, cùng với Đạo, mà ra Người Vô Tận.
Lý Tưởng Chơn Chánh
The True Vision
Một Sức Sống Vô Hình lưu thế hạ,
Đem Bút Thần ai khéo tả cho nên,
Của Trời ban, của ấy vốn không tên,
Người xuống thế vì đâu quên Cảnh Củ.
Mượn thân xác khép mình trong Vũ Trụ,
Đầu đội Trời đầy đủ Khí Anh Linh,
Đứng làm Người phải giử trọn phần Tinh
Đừng đem Nó đổi nhục vinh cặn bã.
Nó là Mối dẩn Người về Ngôi Cả,
Nó là phương thuốc lạ của tiên duyên,
Công dày Tu mới gặp Nó mảng viên,
Giây quang tuyến nối Người tiên kẻ tục.
Nó là mạch tinh thần nguồn hạnh phúc,
Đỉnh trầm tư nghi ngúc thức ly tao,
Tận Lòng trong chí kỉnh đến Trời Cao,
Hoa dệt gấm chi hờn màu thanh bạch.
Người gặp Nó Trời Trong đâu xa cách,
Dậm Kiền Khôn vuôn tất ấy là bao,
Nước trong xanh lòng bóng Nguyệt như chào,
Khách Tâm Đạo bước vào Huyền Diệu Cảnh.
Do Lý Đạo mà xét thì Luật Thiên Nhiên sanh Hóa đã là như vậy rồi, Luật Định vậy, nên Người muốn đặng sống, sống thiệt thiệt sống cho ra Người Vô Tận, thì trước phải lo Tự Tỉnh lấy mình mới có thể tự cứu lấy mình và lập lại cho mình cái Chơn Thân Chơn Thể Trọn lành Trọn Tốt mà hưởng Phước Trời, mới có ra sự Tu Chơn mà phải Chơn Tu mới thành.
Ai tránh sự Tu Chơn thì tự mình đành bỏ Mình vậy.
Tây Sư Tinh Quân
Lời nhắc nhở Người thế gian
Ớ đồng bào thế gian!
Đứng về phương diện Tinh Thần, Sống chỗ Sâu Nguồn mà nghe đặng, thấy đặng, hiểu đặng mấy lời giảng giải về Lý Thiên Nhiên thì đừng còn lầm lộn Cái Người với Con Người nữa mà phải lộn mình theo hoài với phần vật chất mà quên lo nuôi phần Linh Hồn là phần sáng suốt thiêng liêng của Người thì phải bị sa đọa nơi bể khỗ trầm luân đời đời kiếp kiếp.
Vì “lộn mình” tức là “lộn Điển” nơi mình mà hại đến Chơn Thân Chơn Thể của mình mà không hay.
Vậy, hãy tự cứu lấy mình!
Về lịch sử hiện tại:
Tài thì dực nước cứu nguy,
Đức ra phổ hóa cho đời hưởng chung.
Tài là cái Đức để quản trị thế gian,
Đức là cái Tài để hóa Nhơn thành Đạo.
Mong thay!
Biết Đời, Biết Đạo, Biết Thân,
Biết nuôi mọi chỗ, Biết gìn khuyết Trung.5
Phước thay!
Sống trong cảnh sắc tiêu dao,
Nhẹ phần vật chất, dồi dào phần Tinh.
“Nhẹ phần vật chất” tức là trọn đặng tự do hiển nhiên bên ngoài về vật.
“Dồi dào phần Tinh” tức là đặng tự do bên trong về Tinh Thần.
Hòa Bình thay!
Tinh Thần lẩn vật chất.
Tự do thay!
Tự mình làm chủ lấy Minh.6
Vui thay!
Lạy Thầy Chúa Tể Kiền Khôn,
Mở lòng Bác Ái thương con với cùng.
Tây Sư Tinh Quân
1 L’homme, en son essence, est la Vie, et sa vie est ce qu’il vit, donc, la plénitude de la Vie, en action.
Người là sự Sống của Điển lực ấy; Người cũng làm sự Sống cho Điển lực ấy.
Trong Thánh Kinh Thiên Chúa có câu: Ce qui est né d’Eau et d’Esprit verra Dieu; ce qui est né de chair est chair.
2 Chơ Ngươn: le Soi Divin en l’homme. Il ne faut pas perdre le sens de la divinité en l’homme, et c’est çà l’Intelligence qui aide l’homme à s’épanouir et à vivre heureux, sans souffrance.
3 La plénitude est l’harmonie de l’esprit et du cœur, donc l’Humain. L’être qui porte en soi son propre origine : « Người Ta ». Son être est sa vie. L’Humain est l’être qui n’a pas d’égo (conscience de soi).
Cái « Hòa » đó tức là cái vật sống của sự sống trở lại Tánh tự nhiên của nó, một với võ trụ vạn vật vì đồng thể. Trong châu thần Người toàn là những sự vật thuộc về tinh thần. Châu thân Người cũng là cái Tâm của Người chớ chẳng chi khác. Đừng tưởng tinh thần không có thể chất riêng của nó mà lầm.
4 Cái “Có” này là: le Réel ou la Réalité éternellement vivante en l’homme.
Mối Lý Sanh Khí Hóa là: le mouvement éternel de la Vie ou le Devenir éternel.
Một sự Thường : le Permanent ou la Vie en plénitude.
5 Trung Dung gốc bởi Chí Thành,
Đạo Thầy gốc bởi Hòa Bình thế gian.
Trung là cái Hòa của Tâm với Tánh. C’est l’Harmonie de l’Esprit et du Cœur.
6 L’Homme est Maître de sa Destinée, c’est-à-dire de son existence individuelle : c’est Dieu, c’est Tout.
Sống cùng Sự Sống thiên nhiên
Người Vô Hình trên Con Đường Trường Sanh của Đạo
Vivre la Vie
L’Homme libéré sur le chemin de l’Éternel
Tây Sư Tinh Quân
Đốc Tràng Giảng Đàn Chơn Lý của Đức Chí Tôn
July 1952
Thưa chư vị,
Hảy theo dấu bước Tinh Quân này hiện giờ mà về tận Thầy rồi hảy nhớ, nhớ lấy cho sâu nguồn Đường đi nước bước, đi đến đâu tôi này chỉ cho thấy và biết đến đó. Đường ngay có một không hai, ai muốn tới Đạo, sống thiệt thiệt sống thì cũng đi một con Đường Thiêng Liêng tinh thần ấy.
Đường ngay có Một không hai,
Đường ngay từ thuở Thiên Khai đến giờ..
Người đã qua khỏi sông mê rồi lại đến bờ bỉ ngạn, ấy là bắt đầu đi trên Con Đường Trường Sanh của Đạo, là Con Đường Vô Hình của Người Vô Hình Trời muốn Có, Người Giống của Trời ở nơi thế hạ này.
Dứt tánh mê trần thì Người sống với Chơn Thân Chơn Thể của Người chớ có chi lạ.
Phải biết:
Người Chơn Lý là Người đi tìm cái Lẽ thật đặng Sống theo Lẽ thật của Tự Nhiên. Mà Tự Nhiên là Trời, là Đạo, là Chơn Lý. Nay sáng được là nhờ có Thầy.
Nên Học Đạo là tìm Sự Sống của Đạo mà học. Biết đem Sự Sống của Đạo làm thêm Sự Sống cho mình mới rằng là “Biết Đạo”.
Người Vô Hình đây tức là Người không tên không tuổi, Vô Ngã Vô Nhơn, người giải thoát được lấy mình mới có lại với mình cái Chơn Thân Chơn Thể trọn lành trọn tốt.
Đường nơi Tâm, ngọc cầm khó sánh,
Khuyên các con chớ lánh nghe con!
Người Vô Hình ấy là Người thể nào? Con Đường vô hình ấy ở đâu? Đi bước phải nương theo Thể nào? Thề nào phải đi, phải bước?
Việc ấy về sau sẻ thấy rõ hiểu rõ. Hiện giờ hảy tiếp bước đường của Người đã vượt qua khỏi sông mê đứng chắc chắn trên bờ vô hình.
Người mới Định Thần nhìn chung quanh mình thì nghe bốn bề yên tĩnh lặng trang như tờ mà Hơi Thở điều hòa bay ra tứ bề, lại Giống Hơi nầy dường như từ Trung Tâm của mình phát ra mình mới có Sống trên Con Đường Sống tự nhiên.
Note: Thần đây tức là Mình thiệt thiệt Mình thuộc về tinh thần, vậy Định Thần là tỉnh mình lại. Tu là Tu lấy phần Hồn.
Đoái lại dòng sông mê thì thấy lình đình một cái xác không hồn. Người nhìn kỷ lại thì là “tên tuổi của mình” đã cởi bỏ lại đó vậy.
Note: Xác không Hồn tức là cái vật không có thiệt, cái ảo mộng sanh ra bởi cái vọng mà thôi (illusion du moi), cái ý không chơn chánh.
Người thấy biết nơi Tâm mình yên vững lắm, người công nhận mình ngày nay là Người vô hình không tên không tuổi.
Người không tuổi trường sanh muôn tuổi,
Người không tên muôn tuổi không già.
Đặng là Người Vô Hình không tên không tuổi rồi, lòng hết mê hoặc, thì Người mới rõ rằng muốn cho Tâm đặng Định thì phải cho an tỉnh phần thân hữu. Mà muốn cho tỉnh an phần thân hữu thì phải biết cái Công Dụng vô hình của nó là sao. Nó Công Dụng cho ai? Công Dụng đặng làm việc gì? Ai làm Chủ nó?
Đời cho rằng Thân này là tên Mít tên Xoài của cha sanh mẹ đẻ, hiểu vậy rất sai lầm!
Suốt thông Hiếu Để mới ngoan,
Lầm thông Hiếu Để hại càng xiết bao!
Thân này lọt khỏi lòng mẹ rồi thì cha mẹ mới có đặt tên kể tuổi cho, thì cái tên này là một thứ số hiệu cho dể kêu dể gọi đó thôi, chớ “Tên” này nào phải là “Chủ” của cái xác thân kia bao giờ mà Người đời ai ai cũng tôn trọng cái tên kia hơn Thân mình, không tôn sao lại chịu hạ mình lòn cúi mưu cầu cái danh vọng?
Dẹp cái Tên đó đi thì Thân này là của ai? Tự nhiên là của Trời. Của Trời thì phải làm tôi cho Trời, Công Dụng cho Trời.
Dẹp cái thứ biết hay giỏi của Người đi, thì riêng phần cái Thân này nó nào biết tên tuổi là gì, nó chỉ biết sống theo tự nhiên nó cho đến hết thời kỳ của nó mà thôi. Nó thở tự nhiên; đói tự nhiên; đói thì tự nhiên nó đi kiếm ăn; có món ăn thì nó ăn tự nhiên; tự nhiên nó tiêu hóa; tự nhiên nó đi đứng cũng như tự nhiên nó nầm ngồi nói năng.
Người có dạy nó thở, dạy nó đói, dạy nó ăn không? Nếu nói nhờ cha mẹ tập nên đứa trẻ mới biết đi đứng, hỏi vậy chớ chân nó không biết đi đứng, miệng không có thể nói năng, thì cha mẹ có tập cho nó biết đặng không? Cha mẹ có dạy nó nghe, nó thấy không?
Trong cái thời gian của thời kỳ của nó, sự sống hữu hình này vẫn một một niềm tuân theo Luật Tự Nhiên sai khiến, Sức Mạnh hữu hình này nó sẳn chứa cái sức sáng của nó là cái tinh thần vô hình thân hữu.
Cho hay:
Vật nào Trời mượn cho Người dùng thì nó đều có chứa cái sẳn thông sẳn biết, nhưng cái sẳn thông sẳn biết là theo bực tinh thần của cái không gian đã sanh ra nó mà thôi.
Nó là cái Thể hửu hình chịu nổi gió bụi của cỏi trần gian nên Trời mới dùng nó làm nơi cho Con Trời có chỗ mà đứng để tõ bày Bổn Tánh Thiên Nhiên.
Cũng vì Con Trời khi mang kiếp hữu hình rồi thì lại sanh cái muốn riêng, lấy cái sáng sẳn tánh thông minh ra điều khiển mở mang bờ cỏi hữu hình ra một thế giái cho Người thế gian: đặt tên kể tuổi cho thân hửu rồi lại đặt tên kể tuổi cho đất, nước, non, sông, khai hóa sửa sang chia ranh bờ cỏi, lập nên một cảnh tương quang cho người tư riêng vậy. Người mới tách mình với võ trụ từ đây nên chẳng còn thấy cái Thiệt Tướng của nó.
Nên Thánh Giáo có câu:
Nối Nhơn Hoàng đổi thay Thánh Ý,
Mến hồng trần quên nghĩ Ngọc Kinh;
Tánh phàm chen lộn vào mình,
Thất tình lục dục biến thành quỷ vương.
Cửa nhà nấu nướng điểm trang,
Trau dồi xác thịt quên đàng Thiêng Liêng.
Ngày nay bước vào khoa Cách Trí Tinh Thần là Khoa Học Trường Sanh Trường Tồn của Đạo, Người phải phăn tầm đến cái Lý Chơn Thật của Tự Nhiên đặng biết chỗ Công Dụng của thân hữu này rồi do đó mà đến chỗ Công Dụng của Tâm Tánh của cái Thể Vô Hình đặng có Hiệp Một Xác Hồn lại, Hòa Tâm Tánh này lại cho trọn Kiếp Người Tu là Kiếp Sống Vô Hình của Con Người Trời Muốn Có.
Thánh Giáo có câu:
“Muốn tới Đạo phải vứt bỏ vật chất”
Cái vật chất trước nhứt xát cận Người là cái thân hữu này đây, xác thân là của Trời mượn cho Người dùng mà bảo vứt bỏ là nghỉa làm sao?
Phải “vứt bỏ vật chất” vì từ bao giờ đến bao giờ Người cứ bo bo nắm giử vật chất này làm của mình, LO săn sóc sửa sang nó mà không lo phận sự Thiêng Liêng tối trọng của mình.
Vật chất có sự sống thì nó cũng có sự sáng sự biết của nó mà Người giành quyền của Tự Nhiên, Người làm cho thân hữu mất tánh tự nhiên của nó mới có tham muốn vật tốt, đồ ngon, mới có chê khen mặng lạt, phê bình tốt xấu.
Bởi Người giành nó là của mình riêng nên người lo lắng cho nó trường thọ, mà trường thọ làm sao đặng vì “vật mượn” nó có thời gian của nó.
Cho nên “Muốn tới Đạo phải vứt bỏ vật chất” là giao trả nó về cái Công Dụng Vô Hình của nó là để nó tự nhiên hành sự.
Ánh Chơn Lý rọi sáng nơi Người rồi thì quỷ vương, phật tổ chi chi đều tan rã hườn lại Nguyên Thể của nó là Sức Vật hữu hình làm tay chơn cho Con Người Trời sanh, làm chỗ trọ cho Con Trời Muốn Có.
Một khi thân hữu này nó hườn có lại cái Thể Tướng Dụng tự nhiên của nó thì Người dứt đặng cái Lo vật chất, Người mới “an phận thủ thường”, Người lập đặng cho mình cái Thể Vô Ưu Vô Lự, Người không gọi thân hữu nầy là “người”, là “của người” thì Người nầy là Vô Nhơn.
Vô Nhơn là không còn Cái Người là mình riêng nữa. Người chỉ biết Có Trời là “Có”, thì Người dẹp bỏ Cái Ta mà ra Người Vô Ngã, là không có mình riêng.
Vô Nhơn Vô Ngã thiệt là không không.
Vô Ưu Vô Lự thong dong,
Bất tham bất dục Pháp trong Tánh mình.
Một khi Người biết thân hữu này là “Vật Mượn” thì Người lìa khỏi cái Thể Hữu Hình qua cái Thể Vô Hình đặng tìm Thân Thiệt của Người mà là Người Trời Muốn Có.
Mà muốn tách khỏi cái Thể hữu hình để bước lên Từng Không Gian của Tinh Thần thì Người phải tuyệt dứt giây ma niếu quỉ trì là cái mê trần đi mới đặng, phải nhứt định lấy mình, nhứt quyết thoát kiếp hửu hình lúc xác thân còn tại thế.
Mà sự nhứt định này phải thực hành bằng phép Định Tâm cho có ứng chứng chắc chắn vững vàng mới đặng, mới thuận theo chỗ Qui Hướng của Người.
Nhứt Tâm Qui Hướng Vô Vi Chưởng Giáo Sư Phụ Đại Thiên Tôn.
Nhứt Tâm Qui Hướng Vô Hình Chủ Tể Pháp Luật Qui Điều.
Nhứt Tâm Qui Hướng Vô Kiệt Chí Tôn Cao Thiên Đại Đế.
Note: Phải Sống theo chỗ “Nhứt Tâm” đây. Qui hướng mà không sống theo thì nào là biết sống thiệt theo Người Thiệt theo cái chí nguyện của mình.
Dám cùng không dám, nhứt định cùng không nhứt định, nhứt tâm cùng không nhứt tâm, thì mới thấy rõ trong sự Định Tâm, vì “Định Tâm” là cái “Thực Hành” của sự “Học Đạo” của mình.
“Học Đạo” là tìm Sự Sống của Đạo,
“Hành Đạo” là ăn Sự Sống, tức là làm thêm Sự Sống Tinh Thần cho mình đó vậy, mà có ăn mới có sống, là Sống với toàn thể tinh thần sự sống tinh thần.
Học là Hỏi, Hành là Làm, là Đi. Có hỏi cho biết Đường mà đi tới Thầy rồi phải đi trên Con Đường ấy mới gặp Thầy đặng, rồi từ đây có Thầy đi trước là Trời nơi Tâm, thì sự Hành vi từ đây là Hành vi của Thầy. Thể Vô Vi là đó.
Đức Sư Phụ có lời rằng:
“Các con đã qua Vô Hình phải ráng Học ráng Hành thì Bổn Sư cam kết dìu dẩng các con đến tận Thầy trong thời kỳ vậy”.
Một khi Người đã dứt giây ma níu quỷ trì, tách khỏi cái Thể hữu hình mà qua Kiếp Sống Vô Hình là cái Thể Sống Vô Nhơn Vô Ngã Vô Ưu Vô Lự thì Người thấy Tâm mình là một cái Thể Hư Vô trong trống, mà nơi ấy bay ra một Hơi Thở đầm ấm điều hòa.
Hơi ấy là một Giống Hơi vô hình mà chỉ có Người Vô Hình, Người Vô Ưu Vô Lự mới hình dung đặng mà thôi. Sự Thở ấy rất thanh tịnh êm lặng vô hình, chỉ có Người Vô Hình cảm biết mà thôi.
Đây là Hơi Điển vậy, từ Trời mà có ra.
Nhưng Người giữ chừng lấy mình đừng rớ vào Sự Sống Tự Nhiên của vật vô hình ấy mà làm sái Mực Chơn của nó.
Tại sao không rớ vào?
Thân nầy không phải là thân thiệt của Người sao? Người phải gìn giữ làm Chủ lấy nó vì Tâm là Vật Trời ban cho Người mà!
Người mảng quen tánh phàm hoài, ưa săn sóc giành thân kia làm của mình, nên Con Đường Trường Sanh vốn chẳng vô cùng vô tận với hạng Người Trời đã chọn làm Người Giống, mà lại khó để bước cho cùng bước đường mình đi.
Thôi, nếu chẳng tin thì Người hảy ở đó mà Lo cho cái Tâm Trời ban đó thở cho trọn sự thường và giữ gìn nó cho luôn luôn đặng trong trống!
Chẳng bao lâu thì Người sẻ công nhận rằng đó không phải là phần việc Trời sai, vì Tâm có sự Thở tự nhiên mà còn Lo cho nó thở nổi gì! Tâm nó vô tư tự nhiên thì còn Lo cho nó chứa sự gì? Mà Người mắc Lo Thở hoài cho đều hơi thì Người còn làm sự gì nữa được, mà Con Người nào phải là vật Lo sự sống cho mình vậy đâu.
Vật biết lo làm sự sống cho nó là vật chứa đủ sẳn thông sẳn hiểu, Trời mượn làm Chỗ trú ngụ cho Con Trời mà thôi chớ.
Không tin thì Người thử Định Tâm xem; Người không rớ tay vào thì vật ấy có còn Sống theo Thể Vô Vi của nó không?
Nếu Người để tay vào thì Sự Sống của Vật vô hình nó còn được tự nhiên không?
Tâm Định là Tâm Sống, Người Định là Tâm chết, Thánh Giáo cũng đã có chỉ cho biết.
Note: Người Định Tâm đặng Tâm trở lại Thể Hư Không của nó
Tự nhiên làm sao đặng vì hể Người để lòng Lo lắng gìn giữ thì Người sẻ thấy Hơi Thở vô hình ấy thoạt mau thoạt chậm không được điều hòa mà cái Tâm kia chứa sự Lo của Người thì nó đâu là Trong Trống, là Thanh Tịnh Hư Vô!
Một khi giật mình tỉnh ngộ rồi thì Người không nhúng tay vào Lo nữa, Người để tự nhiên cho Tâm đặng thông suốt điều hòa thì Người trở lại cái Thể Vô Ưu Vô Lự ra Người Vô Tâm. Vô Tâm thì là Vô Ngã.
Vô Tâm vi thiện mới ngoan,
Hữu Tâm vi thiện ai màng mà mơ!
Tới đây Người mới lấy làm lạ, không biết mình là Thể nào mà mình có đây, có đây nên mới đứng ngoài lấy làm lạ đây.
Người thấy bước đường mình đi từ Cõi Hữu Hình đến Cõi Vô Hình chỗ nào cũng có cái Thể Trời lập sẳn cho để làm chỗ trú ngụ ngơi nghỉ, có sẳn kẻ lo liệu cho mọi thứ cần dùng.
Người mới thấy rỏ ràng mình nay là Con của Trời. Con của Trời vậy mà Trời cho Con Trời ra đi khác nào một cuộc du lịch cho mở mang Sự Sáng Biết, cho trở nên Người rắng rỏi, Người từng trải, Người ở bùn mà chẳng nhuốm bùn, Người như vậy mới xứng đáng làm Con của Trời, Người như vậy mới hoàn toàn trọn đủ Chơn Ngươn.
Người nay thấy rõ sự Thương vô cùng của Trời, Người quyết đi cho cùng Bước Đường của mình để trở về Hiệp mặt với Ngôi Cha.
Người liền tìm coi mình là Thể nào mà mình đã Vô Nhơn Vô Ngã mà nay lại Vô Tâm.
Vô Nhơn, Vô Ngã, mà Vô Tâm thì cái “Có” của Người đây là vật gì?
Nay như thế là Một với Ta rồi, vậy Người hảy lẳng lặng mà nghe Ta nói với Người này, đáp lại cho Người thì Ta hiệp Người đó, từ đây Ta Sống nhờ Người. Người Sống nhờ Ta làm trung gian cho Người Cảm Ứng và ban Sự Sống của Ngôi Trời Thiêng Liêng Vô Kiệt mà ra Ta Người Thiêng Liêng khi xác thân còn tại thế.
Note: Sống đến bực tinh thần này, Thầy mới có cứu các con cái của Thầy đặng.
Ta Biết vì Ta đã có khi Trời muốn có ra Người. Ta là Ngôi Bổn Giác thọ Lịnh Trời theo gìn giữ Sứ Mạng đây.
Người Vốn là sự Muốn Có trọn Lành trọn Tốt của Trời, là đi đến chỗ trọn Lành trọn Tốt thì cái trọn Lành trọn Tốt ấy mới làm Thể cho Người. Người có đặng Thể ấy thì Người mới thiệt là Con Trời đủ Chơn Ngươn, Người mới Đồng Thể với Trời. Có Đồng Thể với Trời thì Người mới Thiệt là Con Trời, mới có thay thế cho Trời mà lập một Cỏi Thế Giới Vô Hình mới nữa vậy cho xứng Ngôi Tam Tài.
Ngôi Tam tài nơi Người là Ngôi nào?
Chính là Ngôi Ta Thiệt Thiệt Ta đó.
Người muốn đến đặng Ngôi ấy cho trọn bước Đường của Người thì Người phải làm sao?
Đức Giám Đốc Giảng Đàn Chơn Lý có lời rằng:
“Các trò biết đặng Con Đường Trường Sanh Thầy lập cho các trò nó đã là vô hình rồi, sao các trò chẳng thể theo cái Thể vô hình của Thầy ban cho các trò mà Sống theo, tập theo cho trúng Mối Cảm Ứng Hòa Hiệp Thiêng Liêng.”
Người do theo cái Tâm Hư Vô trong trống Người xét lại nơi mình là Người Vô Ngã, Vô Nhơn, thì Người thấy rõ ngày nay Con Đường từ thể hữu hình đến thể vô hình được thẳng một Con Đường Ngay bằng phẳng thông suốt từ cõi hữu hình đến cõi vô hình không còn mây mù che án.
Người thấy cái Thể Vô Ưu Vô Lự, Vô Ngã Vô Nhơn của Người là cái Lòng trong trống của Con Đường duy nhứt, nhờ cái lòng trong trống thẳng răng ấy mà Con Đường ấy mới được Ngay.
Tại sao cái lòng trong trống ấy nó thông suốt đứng vững đặng?
Bởi nó có cái Đức Tin làm Cốt, làm Thể Vô Vi, làm Sức Mạnh cho nó.
Đức Tin nầy Gốc ở nơi đâu? Gốc ở sự Muốn Có trọn Lành trọn Tốt của Trời đó vậy.
Người từ Trời ra đi thì Người ấy Chí Nguyện Hành sự Muốn trọn Lành trọn Tốt của Trời. Người buổi ấy là Người Vô Ngã Vô Nhơn, lòng Người vốn trắng trong trong trắng nên Trời mới Tin ở Người mới giao cho Người cái Sứ Mạng đến cõi trần gian mở mang các cõi Hồng Hoan đặng lập nên thành một Cõi Chơn Nhơn Thế Giái thông đồng với các Cõi Vô Hình.
Lời đây nào khác lời của Đức Sư Phụ có chỉ rõ: “Cái Chí hướng của Cha Trời của các con là muốn sao cho các con phải theo Một Con Đường cho trúng Đạo Lý mà trở về Hiệp Nhứt với Người phòng có thay thế cho Người Hóa Sanh vạn vật làm thêm một Thế Giái Chơn Nhơn Vô Hình nữa đó vậy.”
Trời đã tin nơi Người, tin ở Sức Người nên Trời giao cho Người cái Sứ Mạng Thiêng Liêng.
Mà Trời lấy đâu làm ứng chứng cho sự Tin ấy?
Trời đã ban cho Người một tia Chơn Lý của Trời làm Thiên Tánh cho Người đó.
Người nay phải Tin Thiệt, Tin Chắc theo bước Đường của mình đó, đem sự Muốn của Mình làm theo sự Muốn của Trời, tức chuyển Tình Dục thành Đức Dục, phải Thường Thiệt Tin lấy mình là cái Thể Vô Vi mà lập Thân Danh cho Đạo mới hòan toàn trách nhiệm.
Vậy, Người lúc bé thơ phải trải qua con đường kinh nghiệm và thực nghiệm để rèn đúc cái Chí Khí làm Con Trời.
Mục đích người đi là “Chí”
Nghị lực người tới là “Khí”
“Tu cho mụch đích đành rành”
Mục đích ấy là cái Chí thiện Chí mỹ, cái Lý rất trọn chơn trọn chánh, nên cũng do theo Lý này mà đi cùng bước Đường mình thì Người mới là hoàn toàn trọn đủ Chơn Ngươn. Đạo là Chơn Ngươn khắp tràng Võ Trụ.
Lý này, Chí này, Khí này, ở tận cõi lòng trong thì đổi qua danh từ là:
Lý tưởng chí chơn chí chánh đó, có một không hai.
Ẩn sâu là Lý,
Hiển hiện là Chí Khí.
Chí có ra rồi thì Lý Khí phải Hiệp.
Ly Khí phải Hiệp
tức là
Tánh Tâm hòa trọn kiếp Người Tu.
Lý Khí trong Người
tức là
Lý Tưởng Chơn Chánh
Nơi Người Chí Chơn Chí Chánh
Một Sức Sống vô hình lưu thế hạ,
Đem bút thần ai khéo tả cho nên,
Của Trời ban của ấy vốn không tên,
Người xuống thế vì đâu quên Cảnh Củ.
Mượn thân xác khép mình trong Vũ Trụ,
Đầu đội Trời đầy đủ Khí Anh Linh,
Đứng làm Người phải giử trọn Phần Tinh
Đừng đem nó đổi nhục vinh cặn bã.
Nó là Mối dẩn Người về Ngôi Cả,
Nó là phương thuốc lạ của tiên duyên,
Công dày Tu mới gặp nó mảng viên,
Giây quang tuyến nối Người tiên kẻ tục.
Nó là mạch tinh thần nguồn hạnh phúc,
Đỉnh trầm tư nghi ngúc thức ly tao,
Tấm Lòng Trong chí kỉnh đến Trời Cao,
Hoa dệt gấm chi hờn màu thanh bạch.
Người gặp nó Trời Trong đâu xa cách,
Dậm Kiền Khôn vuôn tất ấy là bao,
Nước trong xanh lòng Bóng Nguyệt như chào,
Khách Tâm Đạo bước vào Huyền Diệu Cảnh.
Thoại Quỳnh Sơn – Viên Giác (1951)
Note: Thở và Sống bằng Tinh Thần tức là cái Lý Sanh của Trời.
Tinh
“Cả Tam Tài đều chú trọng đến một điều Tinh nầy. Có Tinh mới có Nhứt, có Nhứt mới có Tinh được. Nếu Tinh không Nhứt, Tinh kia cũng hỏng, nếu Nhứt không Tinh, Nhứt ấy phải tan. Vì Tinh gốc bởi Thần và Khí đã được Chơn Nhứt mà sanh ra, nên gọi Một mà Ba, Ba mà Một. Một mà Ba là phân ra Đạo có Ba Thể (Thần, Khí, Tinh) đồng một vật mà khác tên đặng cho biết mà xét, còn Ba mà Một là tóm lại cho biết Đạo có Ba Thể mà sự Dụng vẫn có Một, đều là nơi Vô Vi mà có. Có Vô Vi mới sanh ra Thể Tướng Dụng và dựng nên ngàn hình muôn trạng trong võ trụ, hình trạng ấy là những chỗ cho Đạo có Thể mà đứng đặng tỏ bày Bổn Tánh của Ngôi Trời Độc Nhứt Vốn rất trong sạch, rất tốt đẹp, chí thiện chí mỹ, nhờ có Tinh mới đặng vậy.
Tinh là một vật sáng sủa, rất trong sạch, rất tốt đẹp, quí nhứt, báu nhứt, mà lại là Bản Tánh và Bản Thể của Ngươn Thần và Ngươn Khí.” (Đức Phù Hựu Lữ Thánh Đế Quân)
Người xa Trời ở giửa cảnh vật chất rộ rạp, biến đổi, chẳng khác sợi tơ mành tung ra trước gió mà Trời Cha Chung vẫn cho Người ra đi cho Người đặng trở về là cho nên Người Giống của Trời, thà chẳng có, có cho đúng “Có”.
Ấy là Trời tin ở sự Muốn Có trọn Lành trọn Tốt của Trời đã chuyển sang làm Chí Khí Thiên Nhiên cho Con Người Trời Sanh.
Người nay đặng tròn tỉnh ngộ rồi há để cho bụi trần vùi lấp cái Thiên Ngươn, cái Chí Nguyện trọn Chơn trọn Chánh là lập cho mình Sự Sống Trường Sanh thì Người bé thơ ra Người Trưởng Thành trong thời kỳ Đạo Dụng.
Sống với Thiên Tánh, Chí Khí Trời Cao, là Sống bằng Hơi Điển: Sức Sống, Sức Sanh, Sức Hóa, Sức Sáng tự nhiên vô hình ấy là Sống Tại (l’Éternel Présent), Trường Sanh, Thường Tồn, Thường Tại tức là Thở và Sống bằng Tinh Thần trong lúc xác thân còn tại thế, vì Tinh Thần là chủ sự thở và sự sống khắp cả vạn vật nơi không gian, làm chủ cả võ trụ.
Con Người Vốn là Thiêng Liêng và Trời nơi Tâm Vốn là Thiêng Liêng.
Vậy, từ đây, đặng thông Đại Đạo, quán Thông Đạo Lý rồi, thì hảy Đứng về mặt Tinh Thần Thiêng Liêng mà xem mà thấy mà biết mà đối đãi với đời và Sống ở đời, ấy là Sống theo Lý Thiên Nhiên đó.
Sống cùng Sự Sống, ngày nào chẳng phải là Ngày Xuân của Đạo, Ngày Xuân của Đạo cũng là “Tuổi của Đạo” về kiếp Tu của mình.
Nay hỏi lại Cái Tuổi Đạo của mình là bao? Tự mình phải gạn đục lóng trong nơi long mới thấy rõ, thấy rõ rồi hảy Sống theo Tuổi Đạo.
Hiện nay chư vị đã “Đổi Người ra mới” rồi, tự mình mới biết Tuổi Đạo của mình. Đức Mẹ có nói:
“Chín mười cho đúng Tuổi Vàng Mẹ trao”.
Xuận của Đời, một năm một tuổi cho đời, Xuân của Đạo, Tuổi của Đạo là Tuổi Vàng của Kiếp Người Tu đó vậy.
Ví như bể đời lượng sống cao thấp bể trầm luân mà con thuyền phải đi tới mãi, mặc đầu theo lượng sống khi hụp xuống khi trồi lên. Trồi lên là mấy kiếp Tu của mình, hụp xuống là quên bờ bến Thiêng Liêng vậy.
Tâm Người nay tỏ rạng dường bao?
Mặt trời lên lần lần, lần lần sáng tỏ, Tuổi Đạo cũng thế , mới có thể mừng cái bước Trường Sanh của Con Đường Trường Sanh của Thầy lập cho Con Trời vậy.
Biết đặng, rỏ đặng, cởi bỏ đặng bao lớp vô minh mờ ám nơi mình là nhờ cái Giảng Đàn Thầy lập cho con Thầy, nó vô hình, nên Tự Tâm xét lại mà tụng Công Đức Giảng Đàn độ dẩn Con Trời ở thế hạ vì Con Trời nay “Có” tại thế.
Thi:
Cái “Có” của Đạo.
Có gì là “Có” với Tâm Không,
Hơi Điển Tiên Thiên Sức Hóa Công,
Nuôi sáng tinh thần, an vật chất,
Nưng cao quan niệm, mở Đường Thông.
Mới hay võ trụ mình đâu “khác”,
Thì rỏ Chơn Thân, Lý cũng đồng.
Ở tục mà lòng không nhiểm tục,
Hư Linh bất mụi vững Ngôi Trong.
Người ra Người Thiêng Liêng
Cung tụng Công Đức Giảng Đàn Chơn Lý
Xuân của Đạo, Xuân Trời, Xuân bao tuối?
Tuổi đời theo năm tháng, chuổi ngày qua,
Người không tên muôn tuổi mải không già,
Từ vô thỉ chẳng hề sa bến tục.
Trải bao kiếp trần ai đem “lòng trúc”,
Kết “bè từ” để vượt khúc sông mê,
Ngày Xuân quang ngày ấy đã hầu kề,
Thầy cho trẻ được về chầu Bạch Ngọc.
Hết những lúc tiếng cười pha tiếng khóc,
Xong những hồi lăn lóc cảnh lấm than,
Luật Trời đi sanh trưởng đến thâu tàn,
Tròn bổn phận tuổi vàng trao lại Mẹ.
Ơn Tứ Giả giúp tay ra nét vẻ,
Công Thợ Trời dạy trẻ rẻ đường son,
Tiểu Hóa Nhi gầy dựng Tiểu Kiền Khôn,
Tâm Điền ấy chính Non Côn của Đạo.
Ngày Xuân Đạo dâng tất lòng con thảo,
Mượn đề Xuân tần tảo để thay con,
Giảng Đàn Xuân hôm sớm Thể vuôn tròn,
Phong bình sẳn đúc như Hòn Thái Sơn.
Lạy Thầy Vô Kiệt Cao Thiên,
Hóa sanh vạn vật mối giềng Người Ta
Tây Sư Tinh Quân
July 1952
Phụ Giải về bài thi trên đây:
Người Thiêng Liêng cũng là Người tại thế mà Sống theo Tuổi Đạo, là sống biết từ Vô Thỉ.
Đem lòng trúc kết bè từ: ám chỉ Người Tu Chơn.
Ngày Xuân quang là ngày ngày Tâm đã đặng thiệt Sáng, Tánh đã được Thông.
Ngày Xuân Đạo là Ngày Sống Thiệt.
“Tuổi Vàng trao lại Mẹ”
Tiếng “Mẹ” đây ám chỉ là Tạo Hóa.
Sao vậy? Ấy là Tứ Đại hườn về Tứ Đại. Tứ Đại trả về phận mảng viên. Thì Người còn chi? Còn lại Thiêng Liêng: Lý Khí là Hồn Xác thiêng liêng vô hình của Con Trời thuở ra đi. Tuổi Vàng là Tứ Đại Thiệt đó.
Đức Thiên Long Đồng Tử có phân tường:
“Điều trò nên biết mà phải Thiệt Biết rằng Mình không cò là mình nữa, mình không thiệt có với phần thân hữu.
Điều trò nên nhớ là phải nhớ cho sâu nguồn rằng trò Thiệt Có, Thường Có với phần Thiêng Liêng Vô Hình. Có cho thiệt với Trời mới gọi rằng mình thiệt Có, còn nếu cho mình có với phần thân hữu là phần hữu hình hữu ngã, là mình chẳng thiệt có với Đạo.
Trò Có thiệt với Trời là trò nào? Còn trò chẳng thiệt có với Đao là ai của trò?
Trò thiệt Có của trò Vốn là Người Thiệt của trò có ra bởi Trời là từ Vô Thỉ mà lại còn hoài cho đến vô cùng vô tận.
Trái lại, trò mà gọi là trò có đó là Cái Người củ kỷ của trò đó thôi. Nó đã có ra trong mấy kiếp luân hồi rồi, từ khi Trời Đất hữu hình có thì Cái Người nầy mới có ra, nó có ra vì bởi kiếp luân hồi của nó mà có vậy.
Trò nhìn lại trò cho kỹ, cho chắc đặng thiệt biết trò nào là Mình Thiệt của trò, rồi khi ấy trò mới đặng gọi Trò có thiệt với Trời với Đạo. Trò có thiệt với Trời như vậy là trò đã có cái Thể Vô Hình của Đạo, Sống theo Thể ấy, trò mới gọi Mình đặng thoát kiếp luân hồi, vì trò đả Thiệt Có, đã Thường Tại với Đạo.”
Thánh Giáo:
Đừng ai tưởng Hóa nhi bé bé,
Cầm Hóa nhi dường thể trò chơi;
Thử xem nội quả Kiền Khôn,
Có ai qua được Chí Tôn lả Thầy.
Mình Điển Bổn Thân
Nhớ nhớ đâu là cảnh Sắc Không,
Vô Vi Thanh Điển, Điển Trời Trong,
Bao luồng Quang Tuyến đương liền “Đó”,
Thân Thể Người đây khỏi Đại Đồng.
Đại Đồng qua khỏi mộng trần quên,
Dứt sạch bợn đời cặn tuổi tên,
Phơn phớt cánh hồng thanh thoát nhẹ,
Một vầng Ngươn bẩm Khí thênh thênh.
Thênh thênh vô tướng lại vô nhân.
Tợ Ngọc Đài Gương giá trắng ngần,
Thông suốt dưới trên Đường Cảm Ứng,
Điển Linh Thầy rọi quí muôn phần.
Muôn phần trong sáng Ngọc Non Côn,
Mình Điển ngày nay trọn đủ Hồn,
Hiệp Nhứt Vô Vi Ngôi Thánh Định,
Trời Trong Chúa Tể Tiểu Kiền Khôn.
Trọn bài Giảng đây là “Tiếng của Đạo”. Hơi Điển trong Thanh Tâm phát ra mà ra giọng ra lời. Thở và Sống bằng tinh thần mà hình dung đặng là vậy đó.
Tây Sư Tinh Quân
Kỷ niệm ngày Lể Vô Vi Hiệp Nhứt
Ngáy 9 tháng 6 âm lịch – Nhâm Thìn – July 1952
Nguồn Sống Thật
(Le Réel ou La Vie)
Luận Đề :
« Sống qua Phần Vô Hình của Đạo »
5 Mars 1954
Tây Sư Tinh Quân
Tam Kỳ Nguyên Nguyên Bản Bản
Chơn Lý Tầm Nguyên Đại Đạo
Nhứt Tâm Qui Hướng
Vô Vi Chưởng Giáo Sư Phụ Đại Thiên Tôn
Nhứt Tâm Qui Hướng
Vô Hình Chủ Tể Pháp Luật Qui Điều
Nhứt Tâm Qui Hướng
Vô Kiệt Chí Tôn Cao Thiên Đại Đế
Lạy Thầy Vô Kiệt Cao Thiên,
Hóa Sanh vạn vật mối giềng Người Ta.
Tiếng “Vô Hình” của Đạo
Tiếng “Vô Hình” đây để nhấn mạnh rằng cái “Nhà Chung của Chung Vô Hình cho Thể Vô Hình, Thể Hốn của Đạo” phải luôn luôn thiệt Có, thường Có trong thân hữu nầy theo trật tự của nó, hóa ra Một Sự Sống đầy đủ Chơn Nguơn trong Người, thì cái thân hữu của Con Người là Chơn Thân của Con Người, cái Sáng Sống thiệt của nó là Chơn Thể của nó.
Chơn Thân, Chơn Thể sánh đôi,
Thế gian hòa hiệp Ta, Người một Ngôi.
Thì Thể này là Thể Hồn của Đạo.
Người thiệt thiệt Người ở thế gian là “Đó”, Người Giống của Trời vậy.
Người nay mới biết mình là vật quý của Trời sanh bởi Vốn Người là Gốc Lý Sanh Khí Hóa nên không còn lạc Tổ xiêu Tông.
Tiếng “Vô Hình” đây là cái Vô Hình của Đạo, ám chỉ là các Mối Thần trong châu thân nầy đã qui hướng, do theo Lý Đạo. tùy theo phận sự làm thêm Sự Sống lớn chung cho muôn vật , là chất vật đổi Hào Quang do theo cái Đức Hiếu Sanh của Thầy.
Sự Sống lớn chung này của các bộ phận, các cơ sở, là phần trong sạch, trong trắng trong ngần, tức là cái Linh Căn của nó hay là Nguơn Thần của nó. Linh Căn còn thì Linh Hồn được Sáng mau.
Thầy là cái Đức Hiếu Sanh.
Thưa chư vị!
Xét đặng thấu lý tinh thần của sự vật như vậy 1, thì Người đây, tuy cái xác thân còn tại thế mà đã sống, đang sống qua phần Vô Hình rồi đó, nghĩa là đã Sống Thật trong Cảnh Thật Thiên Nhiên của Trời Đất, là Sống theo Chơn Lý của Đạo, là Nguồn Tiên Thiên Khí Hóa, tức là cỏi Hư Vô của Vô Vi Cảnh Giái.
Luật Thiên Điển
Sống qua Phần Vô Hình của Đạo
Cái xác thân còn tại thế, Người đây cũng còn mang cái xác thân hiển nhiên tại thế mà rằng “Sống qua Phần Vô Hình của Đạo” là Sống cách nào, bằng Thể nào mới trúng Đạo Lý của Võ Trụ, mới trúng Đạo là nhầm Đường?
Đường nơi Tâm Ngọc Cầm khó sánh,
Khuyên các con chớ lánh nghe con!
Có phải Thầy bảo Sống Thiệt là Sống bên Vô Hình chăng?
Sống qua Phần Vô Hình tức là các Mối Thần Hạ Thiên nó Sống Thiệt lại, mà Người đây chủ trương tức là chưởng quản nó 2, như thế thì Người đây là Người thiệt thiệt Người, là Chơn Nguơn của Đạo.
Chơn Nguơn là Chánh Gốc đầu bài của Sự Sống, mà cũng là Chơn Lý, Nguơn Khí, nói tắc là Chơn Nguơn.
Vậy Người đây phải Sống với Thể nào mới Chưởng Quản đặng các Mối Thần chớ!
Các Mối Thần nó Sống lại 3 là Sống không rời Ngôi Chủ của nó, là Ngôi Trời Độc Nhứt nơi Tâm là Trung Tâm Điểm của nó. Như thế thì Thân mới thiệt là cái Bổn Thân của Người, cái Mình Điển trọn đủ Hồn, nên Sức Sống, Sức Sanh, Sức Hóa, Sức Sáng là Ngươn Thân của nó, là Bổn Thể của nó, nên chắc:
“Thể Người đây Vốn Thể của Trời”.
Người thì còn trong ranh hạng, mà Thể của Trời đến cỏi Vô Vi, nên Có mà Không, Không mà Có, là Có hiện hữu với Người Vô Ngã Vô Nhơn.
Người không còn là Người nửa mà là Lý của Trời.
Muốn Có, Có cho, Không cũng được.
Có Không hỏi thữ chỗ cao sâu.
Các Mối Thần Hạ Thiên nó qui hướng, sống lại là nó không còn lạc cái Chơn của nó. Nếu nó đã lạc Mối Chơn của nó rồi thì người không thể “Biết” đặng, cũng còn tưởng cái xác thân này là mình lại gọi nó là mình, nó sống là mình sống, tức là người tên tuổi sống mà thôi, vì cái “Biết” đó không thiệt Biết, nó chính là cái “Biết” sau khi Con Người có xác thân rồi biết. Cái thứ Biết vọng động đó thuộc về Thời Gian, là cái Điển lực của Hậu Thiên Hữu Hình.
Thiệt “Biết” là:
Biết thân nhờ Gốc chở che,
Biết bờ, Biết bến, Biết quê, Biết nhà.
Mới thiệt là “Biết” cho ! Cái Biết nầy là cái Biết của Lương Tri. 4
Kinh có câu :
Phải lo kiến thức cho tròn,
Đừng lo xa kiếm Thế Tôn nơi nào.
Xác thân làm chủ Người là « Tình Dục ».
Người Thiệt làm chủ nó là « Đức Dục ».
Tình Dục đâu là « Nhơn Tâm » đó.
Đức Dục đâu là « Chơn Tâm » đó.
Các Mối Thần không lạc cái Chơn của nó là vì Cái Người tên tuổi phàm đời này không còn thâu nó về cho mình làm sự sáng sống cho mình.
Một khi Người tên tuổi phàm đời thâu rút nó về cho mình, làm sự sáng sống cho mình, là một lần nó lạc Mối Chơn Điển, thì nó chỉ biết thâu rút Điển quang của Trời Đất hữu hình làm thêm sứ sáng sống cho nó, từ đây, nếu sống như thế mãi thì là tự mình đốn hủy cái Thiên Nguơn của mình mà không hay, trái lại còn tự xưng mình thắng phần Thiên Lý, mới coi Trời như không, Người này xiêu lạc Tổ Tông rồi đó, mới cho mình là « Người Đất », sống chết ở đây mà thôi.
Cái Biết của Thiên Tánh là cái Biết Tự Nhiên của Con Người, nên gọi là Lương Tri.
Biết chắc phần Hữu Vi, phần Vô Vi như thế, thì tuy Người đây còn thân hữu tại thế, mà Người đây có chứa Sự Sống Thiêng Liêng rồi (la Vie Pure), Thần, Khí, Tinh, Tiên Thiên Tam Bửu cũng là Người đây, mà Người đây có Thể « Cảm Hóa » nhơn sanh mà cũng Thông với các Nguồn Điển nơi Vô Vi Cảnh Giái, Thông đồng cùng Trời Đất cũng bởi Điển Minh, tức là Tánh Linh nầy, không còn « Cảm Xúc » theo Tình Dục nửa, tức là cảm với các Mối Điển Hạ Thiên của thế giái hữu hình, vì « Tình Dục » đã hóa thành « Đức Dục ». Ấy là « sự Sống đục », cái vô minh đó, hóa ra « sự Sống trong », càng trong càng sáng,càng trắng càng ngần, trắng trong trong ngần, tức là Nguơn Chơn, mà cái Sáng của Thầy là Nguồn Nguơn Khí.
Người nay ra Người của Trời, là Lý của Đạo, Người Chơn Lý mới thiệt là Người Đạo, là một Sức Sống, Sức Mạnh, Sức Sáng, Sức Sanh, Sức Hóa Thiêng Liêng Vô Hình tại thế, Sống, Sanh, Hóa ở trong thân hữu nầy. Sống là nhờ Hơi, Hơi nầy là Hơi Điển Tiên Thiên, một Hơi Sanh Hóa vô cùng. Hơi nầy vào mình 5 là Âm Ngủ Hành thì nó hóa ra Dương Ngũ Khí, nên có năm (5).
« Hóa Nhơn Thành Đạo » là vậy đó.
Đạo là Chơn Lý, Chơn Lý là Đạo. Có Chơn Lý mới thành Đạo đặng.
Ấy là một Tia Chơn Lý của Thầy, một Điểm Linh Quang của Thầy, một sự Sống đầy đủ Chơn Nguơn, cũng là Tinh Thần của Võ Trụ chiếu diện trên Con Đường sanh hóa tự nhiên nơi lòng. Thiệt là :
Thân, Tâm, Tánh, Mạng hiệp tròn như xưa.
Tinh Thần nầy là chủ sự thở và sự sống khắp vạn vật, cả vạn vật nơi không gian, làm chủ cả Võ Trụ. 6
Người thiệt thiệt Người đây, Người Giống của Trời đó, không phải là Người sống nhờ cơm gạo, mà Sống là nhờ Hơi, Sống rút Tinh Thần của Võ Trụ vào Tâm nên Tâm mới Sống theo Lý Thiên Nhiên, thì không còn lầm lộn Con Người với Cái Người, vì Thể Người đây là cái Thể Vô Hình của Đạo, Thể Vô Ưu Vô Lự, Vốn là kiếp sống vô hình của Con Người Trời muốn có là Người Giống của Trời mà Thầy chấm Thầy chọn.
Biết rõ vậy, Sống thật vậy trong Cảnh Thiên Nhiên là Ta Người đã hiệp mà ra Vô Vi Hiệp Nhứt, thì Tâm Hồn là Một.
Người nay với Tâm là Một, đó là Thể Hồn Hiệp Nhứt mà ra Thể Hồn của Đạo.
Kinh có câu :
« Đạo vốn Sắc Không muôn đời ».
Thể nầy mới chánh là Chơn Thể, Chơn Thể mới có Linh Hồn tường trụ, nên Người đây là Đạo Dụng trong thời kỳ Trời Khai Đạo, thì phải giúp Trời hành Đạo.
Vậy, Thấy, Biết, Sống bên Vô Hình là Sống Thiệt bên Vô Hình, nên Nghe, Thấy, Biết bằng Điển.
Thông đặng vậy là nhờ chỗ Sáng lòng, Sáng lòng là « Minh Tâm ». Có Minh Tâm mới « Kiến Tánh ». Kiến Tánh là Gặp lại đặng Mối Điển Tiên Thiên của Thầy, cái Tánh Lành, cái Linh Thông, linh diệu sáng chói rực rở của Đấng Cha Trời ban phú cho Loài Người thuở ban sơ.
Thì Người đây là Người Vô Tận. Người Vô Tận là Người Sống Tại. « Sống Tại » là Sống trong cái Hiện Tại của Ngôi Trời Độc Nhứt nơi Tâm (Vivre dans l’Éternel Présent).
Nến « Thế Thiên Hành Hóa » là phận sự thiêng liêng của Thầy phú trao cho Người, nay Người đây mới biết mà làm trong kiếp sống tại thế gian nầy ; rõ vậy, thì « Người » đây đã trải bước trên Con Đường tấn hóa thiên nhiên từ vô thĩ.
Thay thế cho Thầy mà hành Đạo là tuân theo Đạo làm thêm sự sống cứu Người thế gian.
Đạo Thông như vậy, nào phải là nhờ « Giác Thân » 7 mà chính là nhờ « Giác Hồn » 8, phần thâm thúy của nó.
Tu là Tu lấy « Phần Hồn » cũng là vậy đó.
Cửa của Đạo
Thế gian ngày nay gọi tiếng “Nhập Môn”, Nhập Môn cầu Đạo là vào cửa của một tôn giáo nào, hoặc cha Đạo nào con theo Đạo nấy rồi lại gọi Đạo giòng. Nhập môn là theo chi phái nào của một tôn giáo, còn đời là theo một nhóm nào, đảng phái nào có tổ chức, có thể lọ của đảng, của nhóm ấy.
Đạo Trời Khai có Qui Điều Kỷ Luật, song vô hình, thì cái “Cửa Đạo” phải Vô Hình.
Rõ ràng trong “Chơn Lý Tầm Nguyên Đại Đạo” thì sự chi có ra trong mình Người, Người phải có, nghỉa là đã có bên vô hình là phần Sanh Hóa Tự Nhiên của Đạo.
Nay, Thầy Trời Khai Đạo, ai tin có Trời, có Thầy thì xin nhập môn nơi chỗ Thầy qui Mối Giềng.
Vậy cái Cửa của “Tam Kỳ Nguyên Nguyên Bản Bản” là cái Cửa nào? Nó ở đâu? Nó phải có bên Vô Hình mới biết mà vào trong “Nhà Đạo” của Thầy.
Người nhập môn ở nơi đây phải rõ cái Lý nầy thì con đường Tu của mình mới sáng tõ cho Người giỏi theo con Đường tấn hóa thiên nhiên.
Rõ chắc Lý của nó mới chắc có Thể đứng vững ở chỗ mình đứng, mình đi, mình Sống, thì đâu có sái Đường, đâu có lạc vào bàn môn Tả Đạo.
Ai tu theo thời thế thì có xét lẻ nầy mà làm chi. Đời gọi “Tu” thì ai sao mình vậy!
Người trong Đạo Thầy phải là Người “Tu Chơn”. Tu Chơn mới có Chơn Tu, thì có Kinh Tu Chơn Thiệp Khuyết, Chánh Tà Yếu Lý tõ bày biện phân.
Tu Chơn Thiệp Khuyết chỉ tường,
Chánh Tà Yếu Lý mọi đường biện phân.
Cửa của Đạo nó Vô Hình mà nó không xa cái Tâm của Người.
Chính nó là cái “Hư Tâm”.
Hư Tâm thì thiệt Người ai cũng có, nên Người thiệt ai cũng phài Tu. Ai cũng có nó, không có nó sao có Sự Sống nơi Người. Cái Hư Tâm tự nó mở ra khép vào. Hột Lúa còn có cái Hư Tâm thay huốn chi Người lại không có nó hay sao? Hư Tâm nầy tự thể nó có một cái sức mạnh rước nổi cái Hư Tâm của Trời về Trung Tâm Điểm của nó thì Tâm nầy đổi ra là Tâm Sống của Trời rồi đó. Tâm của Trời mới có Trời ngự nơi Trung Tâm Điểm.
Rõ vậy thì biết Đạo Trời dạy về Vô Hình mà thôi.
Song cũng cần có cái Hữu Hình đặng chỉ cái trạng thái bên Vô Hình. Cái Hữu Hình của Đạo có chi khác hơn là cái Thân Hữu của Người đây.
Ai hiểu vậy mới có thể đứng vững đặng trong Đạo Thầy, trái lại là mượn danh Đạo, tạo danh đời chớ chẳng chi khác, thì chạy chẳng khỏi lạc vào bàn môn đạo ngoài.
Cửa Đạo nó vô hình song nó không xa cái Tâm của Người.
Hiểu vậy thì từ đây mới biết quý Kinh của Thầy. Ai đọc Kinh của Thầy mà biết là Kinh Điển thì Người ấy nên, bằng chẳng vậy thì Kinh ra Kinh, Người cũng còn Người, không mới lấy mình chút nào.
Đọc Kinh gẩm đặng mùi hay,
Dẩu cho sắt đá cỏ cây cũng thành.
Tây Sư Tinh Quân
3 Mars 1954
Nguồn Sống
L’homme en sa propre essence est la Vie
(1949 – Tân An)
Đặng gặp một vị giám đốc tạp chí Nguồn Sống là ông Nguyễn văn Giai (Mỹ Tho), có ông Minh Hiển, chủ bút tặng cho một tập số 1 và có đặng hầu chuyện với hai ông.
Lúc nhàn lấy ra xem lại, đặng thấy một bài dịch văn tựa đề: “Tinh thần tự do” của Thánh Rabindramath Tagore. Cũng thấy bài “Lẽ Sinh Tồn của Dân Tộc”.
Mấy tiếng: “Nguồn Sống”, “Tinh thần tự do”, “Lẽ sinh tồn của dân tộc”, phúc động lòng nên phải để ít lời làm nghĩa cho cái thừa hứng.
Hễ là “Nguồn Sống” thì ắc sẻ đặng thấy cái Nguồn của sự Sống, nếu thấy và hiểu đặng rồi, lại biết Mình có đặng sống tận chỗ Sâu Nguồn, thì cái đời sống này được mãng nguyện, còn chi là điều ước vọng nữa, còn chi là sống trong mộng ảo của cái giai đoạn của thời gian.
Tinh thần Tự Do
Tinh Thần Tự Do! Tự Do tinh thần!
Mừng mà để vào phần này một vài ý kiến bên trong đến chỗ thâm thúy của nó, may ra có thể trong giai đoạn “lịch sử khó khăn hiện tại của tổ quốc”, giúp sống được cho cái đời sống của Người muốn sống về mặt tinh thần, cùng biết sống thiệt với cái đời sống của mình mà khỏi quá lo quá nhọc.
Nếu hiểu lầm về hai phương diện lý tưởng tinh thần đây thì tức nhiên cái Người này đã “lộn mình”, thì còn mong chi về chỗ Tự Do, trái lại, cái chỗ hại của sự lầm ấy không vừa như Thánh Tagore đã có từng thí nghiệm ở Âu Tây, các dân tộc nơi đây đã sống lại đương sống với một tinh thần đàn áp ép buộc lẩn nhau rồi lại đổ thưa cho nhau.
“Tinh Thần Tự Do” là khác, còn “Tự Do tinh thần” lại càng khác xa, cái lý tưởng chơn chánh trước là quí nhứt, cái vọng tưởng sai lầm sau lại sâu độc nhứt, mà thế gian hiện thời bị kết, bị kẹt, xâu niếu, đàn áp, lùa ép vào vòng Tự Do đó mà không hay, không biết cái thủ đoạn cùng thế lực của nó vốn ở nơi nào lại đến đâu là cùng!
Đây là chỉ sơ lược nhưng cũng có thể giúp được chút ít cho nước nhà, cho dân tộc nước nhà khỏi lâm vào đó nữa mà rồi khó gở tay ra vì thường nghe dân tộc ta cũng mong mõi về hai tiếng “Tự Do”.
Một khi nước nhà được giải phóng, ấy là dân tộc ta được giải thóat ra khỏi cái ách nô lệ bên ngoài, thì, hay hơn dân tộc ta cũng đừng còn làm nô lệ đời đời cho vật chất, là cho cái xác thân của mình, ấy là mình được giải thoát cái ách nô lệ bên trong của Người vậy.
Đây là chỗ ông Nguyễn Du đã đạt lý:
Gẫm hay muôn sự tại Trời,
Trời kia đã bắt làm Người có thân.
Bắt phong trần phải phong trần,
Cho thanh cao mới đặng phần thanh cao.
Ông Lữ Tấu nói:
Tri hữu thân chi vi hoạn,
Tri ngô hữu thân chi đại hoạn giã.
Biết có thân là khó,
Biết ta có cái thân là đại hoạn vậy.
Văn Trung Tử:
Tự tri giã “Anh”; tự tri cố năn tri nhơn;
Tự thắng giã “Hùng”; tự thắng cố năn thắng nhơn.
Kẻ biết mình gọi là “Anh”, biết mình rồi mới biết đặng người;
Kẻ tự thắng gọi là “Hùng”, tự thắng rồi mới thắng đặng người.
Kìa, trong châu thân người toàn là những vật thuộc về tinh thần, phải trải qua cho đủ mấy bực tinh thần, tinh thần nào thì có Điển Lực nấy, mới có thể biết đặng “Người” tức là “Mình”, vì Mình là Người theo tiếng đời gọi nhau.
Cái thân hữu này, cái xác thân này, cái hình hài vật chất này, nó có tinh thần của nó vì là nó có sự sống của nó, thì tinh thần của nó thuộc về tinh thần của vật.
Người có tinh thần của Người, tinh thần của Người là tinh thần của tinh thần, vì Người có sự sống của người.
Sự Sống của vật với sự Sống của Người Vốn Một vì cũng bời “Một” mà ra, mà có vậy, song khác bực tinh thần.
“Một” nầy là chi?
Là Sự Sống vậy.
Tinh thần thì thuộc về vô hình.
Tinh thần của Vật là Tâm của Vật; Tinh thần của Người là Tâm của Người. Người nhờ có nó mà đặng Sống, đặng Sáng, đặng Biết, lại nhờ cái Sống Sáng Biết này mà quảng trị tấm thân sanh, vì Người là Chủ của vật; lại “Tinh Thần” là Chủ vạn vật khắp cả vạn vật nơi không gian, làm Chủ cả Võ trụ.
Về Người, về sự Sống của Người có cái thân sống này, cái Mối Nhân luân cấu tạo nên hình, chỗ này mà phân biện cho mình không rành, lại không thấy rõ cái Đầu Mối của nó, thì Người này, thì cái Người này mới trở lại làm tôi tớ của vái vật kia.
Đừng tưởng Tâm có hai mà lầm, thử xét “Tâm Địa” với “Tâm Điền” là mấy cái.
Vậy, Người mà biết “Mình” mới là Người thiệt thiệt Người, là Người chủ trị được tấm thân sanh của mình. Người chủ trị được tấm thân sanh mới là “Người Ta”, là Nhơn loại. Được là Người rồi thì Người thế ấy mới biết đem mình đến bực tinh vi, tinh tế, tinh thần, mới gặp đặng cái “Tinh Thần Tự Do”, tức là cái tinh thần sanh sống tinh thần, là cái Nguồn của nó vậy, mà Thánh Tagore đã đến, rồi Sống “Tại” với nó mà ra Người Vô Ngã, Vô Nhơn vô cùng vô tận.
Đến đặng cái Ngôi vị cao quí này rồi, một với “Đó”, mới có thể xử sự tiếp vật một cách chánh chánh đường đường vì không tư kỉ, không vị kỉ.
Tinh thần là Tinh thần, là cái Sức Sáng, Sứ Sống thiêng liêng vô hình nên Mối Chánh Gốc của nó ở nơi chơn thân Người, là Mối Vô Vi, mà là Vô Vi Điển. Vô Vi Điển này Vốn Nguồn Thanh Điển trong Nguồn Ngươn Khí Hóa Sanh của Trời. Người có đặng trọn Mối ấy nơi Tâm, mà là Chơn Tâm, thì mới có hưởng đặng phần sáng suốt thiêng liêng của nó, thì Người đây là “Đó” khác gì.
Trái lại, “Tự Do tinh thần” là một Mối Điển Hạ Thiên pha trộn thuộc về tinh thần của Vật, vốn nó là tinh thần của Tứ Giả thuộc về Hậu Thiên Hữu Hình, còn cái xác thân này là vật cặn bã của Tứ Giả.
Thấu cái lý nó là như vậy, thử xét coi cái vật đó là của ai? Ai sấm nó cho mà nó có đó? Cũng nên biết:
Duyên Tứ Giả lắm bề dối trá,
Cuộc tuần hườn vay trả trả vay.
Nên phải có duyên với Tiên Duyên kìa mới đáng là một Nhơn vật đứng trong vòng Trời Đất, thì Người mới có Điển của Tiên Thiên Khí Hóa làm Chơn Thân cho mình.
Nơi đây dùng tiếng “Tự Do tinh thần” là ý chỉ cho thấy cái Điển khác nhau tại Đầu Mối, chớ tinh thần của Vật cả thãy vốn là Tinh thần của Tứ Giả.
Vì lẽ đó mà mở đầu Nhà Đại Đức văn hào Tagore mới có nói:
“Khi mà sự Tự Do không còn phải là một tin tưởng mảnh liệt và tha thiết của Tâm Linh, làm tăng cường sức hoạt động và làm cho rộng lớn những sáng tạo của chúng ta, khi nó chỉ là một vấn đề lệ thuộc cho những trường hợp của ngoại cảnh thì nó tựa một khoãnh đất rộng rải khoản khoát đối với một người bịt mất hai mắt.
Sự Tự Do chơn chánh là sự tự do của Linh Hồn và nó không bao giờ có thể do ngoại cảnh đem đến được.”
Rõ ràng nó Cảm Hóa mà chẳng hề Cảm Xúc theo tình dục.
Ấy chỗ tôi chỉ vạch cái đầu mối sanh ra Vọng Niệm đó làm cho nhơn loại ngày nay sống trái Đạo ngược Đời, khác nào đi đầu dưới đất, cẳn trở lên trời, khác nào thả thuyền trôi theo giòng nước ròng mà rằng muốn đi đến ngọn suối là chốn hạnh phúc của lòng mong mong mõi, khác nào cứ chú mãi vào cái thân vật chất, lại lo mãi cho sự ấm no của phần vật chất mà quên lửng cái Thân tinh thần là phần thiêng liêng của mình mà để cho nó đói nó lạnh thì ngôi vị của nó đâu còn, thì Người đâu còn phẩm giá của Người đó nữa! Nên:
“Cho Thanh Cao mới đặng phần Thanh Cao”,
Mà muốn đặng phần Thanh Cao thì phải hiểu:
“Biết ta có cái thân là đại hoạn” vậy.
Sao vậy? Ai sống ở đời lại không có cái thân?
Lầm thay! Lầm thay! Lầm thay!
Người thế gian hiện nay phần đông, lại là phần rất đông, sống theo cái “giả thân” mà tưởng nó là cái thân thiệt của người. “Biết ta có cái thân” chính là người còn “hữu ngã” vậy, lại gọi người “vô ngã” là thế nào như vậy được.
Người “hữu ngã” mới là người “không biết mình”.
Thiệt người “vô ngã” mới là thiệt người “Biết Mình”, thì cái “Tâm Địa” kia trở thành cái “Tâm Điền” vậy. Lại nhờ có cái Chơn Tâm cho nên Người Vô Ngã mới Biết Mình, cái mình thiệt thiệt mình, là cái Chơn Thân. Cái Chơn Thân Vốn là cái Mình Điển, cái Mình Điển có các mối giao thông cũng là Điển chớ nào có tai mắt trí tri chi đâu!
Mình sung Điển như cây sung tược,
Tược tốt tươi nhờ nước mát yêm;
Bông hoa ngày nảy nở thêm,
Lá sum sê phủ nhành diềm dà đơm.
Cái Mình Điển là cái Chơn Thân của Người thiệt thiệt Người, là “Người Ta”, nên Sống theo cái Chơn Thần của mình, không chú vào cho lắm về phần vật chất là cái xác thân hữu hình chóng chày phải rã tan. Sống theo cái xác thân là sống với cái vô minh vậy. Cái Chơn Tâm mà Người có lại với Người, Người mới biết những lời đây là chơn chánh chơn thật, sự Có, không lầm không sai.
Vậy Người thế gian sao mãi mãi cứ nghe theo phần xác thịt vật chất này hoài mà phân chia nhơn loại, đồng bào, chủng tộc của mình!!!
Văn Trung Tử là Người « Biết Mình”.
Thữ xét: người mà chưa thiệt người, mình mà chưa thiệt mình, lại cũng chưa biết cho rõ cái mình thiệt của mình nó ra sao, lại cái Mối loạn ở trong mình mà chưa biết cách thế trị nó cho an, thì làm sao trị thiên hạ cho đặng, vì vậy mà thế gian, đến ngày nay, cái Mối loạn sanh ra mãi thì biết bao giờ nhơn loại mới có đặng thấy sự Hòa Bình!!!
Nay, Dân tộc ta lại còn mong mỏi sự tự do, thì tự do về mặt hình thức, tự do làm sao có đặng theo chỗ muốn của người, thì làm sao tránh sao khỏi cái quỉ kế mạ đời của cái lòng tham vọng mà Thánh Tagore đã vạch ra đó.
Nói như thế thì bao giờ Dân tộc ta, người đây,người mình đây có được sự Tự Do?
Thì, ai đó, Dân tộc của đó, đừng để cho “lộn mình” mà phải bị lộn Điển nơi mình, đừng gọi Tâm của Vât là Tâm của Mình nữa, thì nào còn sống vô minh nữa, đừng nghe người mà quên “Mình”.
Người thiệt thiệt người bao giờ tự toại mà!
Nơi đây cần phải cạn lời chăng?
Một lời gắn chí nhắn nhủ thiết tha với Đồng Bào, cả Đồng Bào hãy “Tự Biết Mình” 9, thì nước ta, nước nhà sẻ trở nên đặng là một nước Dân tộc tấn bộ về Văn Minh Tinh Thần, còn Hiện Tại, thì “hòa bình” trước mắt.
Nguồn Sống
“Nguồn Sống” nay hiện ra, mà phải ra cho thiệt đặng là một Nguồn Sống đoàn thể chung của một Dân tộc thì dầu dở hay, Dân tộc cũng phải biết Một với nhau, không lòng chia rẻ, phải cho thiệt Một với nhau là biết thương nhau như con một nhà chung, thì ngoại ban đâu lại chẳng nể chẳng vì, thì mới có đặng Nhà an Nước trị.
“Nguồn Sống” nay hiện ra, mà phải ra cho đặng là một Nguồn Sống sáng tinh thần thiêng liêng, tức là cái Nguồn của sự Sống, thì dầu dở hay, nó cũng là một cái quan niệm hay, lại chân chánh mà các cường quốc trong thế gian chưa đặng thấy có mấy nơi đem ra thi thố một thể thanh thiên bạch nhựt cho Dân tộc mình cùng sống chung trong một bầu không khí Hòa Bình tinh thần lẩn vật chất.
Vậy, về lịch sử của Dân tộc ta trong Hiện tại thì:
Tài thì vực nước cứu nguy,
Đức ra phổ hóa cho đời hưởng chung.
Tài là cái Đức để quản trị thế gian,
Đức là cái Tài để hóa Nhơn thành Đạo.
Phước thay1
Sinh Tồn
Về “Sinh Tồn”, về con đường Sinh Tồn thì phải biết mà tăng cái phẩm giá nó lên đến chỗ thiện mĩ của nó mới thiệt là hiểu cái nghĩa của Sinh Tồn cho.
Mong thay!
Biết Đời, Biết Đạo, Biết Thân,
Biết nuôi mọi chỗ, biết gìn khuyết trung.
Hay thay!
Sống trong cảnh sắc tiêu dao,
Nhẹ phần vật chất, dồi dào phần Linh.
Quí thay!
Nhẹ phần vật chất tức là trọn đặng Tự Do hiển nhiên về vật, bên phần hữu hình, xét lý thì rõ.
Nguyễn văn Kiên
Ngày 25 tháng 7, năm Kỹ Sửu (1949)
Chú thích:
1 Tức là « Cách Vật Trí Tri ».
2 Nên Nhà Chung mà không có « Chưởng Quản » thì ai gìn giử trật tự nơi ấy.
3 Tức là thâu cái phóng tâm.
4 Càng Tu càng thấy Cao Thâm,
Càng Tu càng thấy sự lầm lạc xưa.
5 Thân hình thuộc Thổ.
6 Vivre la Vie.
7 “Giác Thân”: Vật là tinh thần của Tứ Giả.
8 “Giác Hồn”: bởi Linh Điển Thầy ban, thuộc về Tiên Thiên Khí Hóa, là Chơn Lý của Đạo.
9 L’homme, en son propre essence, est la Vie. Se comprendre soi même en son propre essence, c’est comprendre la Totalité où le «Je» a disparu.
