Bài Đạo Đức Hổn Ngươn Thiên Sư

Đức Hổn Ngươn Thiên Sư đứng giủa.

Đức Tứ Bửu – 1935

Đạo Là Gì?

Bài dạy Đạo của Đức Hổn Ngươn Thiên Sư Chưởng Quản Hiệp Thiên Đái

Tòa Thánh Trung Ương – Mỹ Tho.

Lấy lý mà luận, thì trước lúc Trời Đất chưa có, ắc phải có một cái Ngươn Khí Tự Nhiên hư hư vô vô không thể nào mà thấy biết được. Cái Ngươn Khí này có thể thay đổi biến hóa được nên gọi là Khí Thái Diệc (nghĩa là cái hơi rất thay đổi), chừng cái Khí Thái Diệc ấy có hơi dường như hơi mới ngúng, rồi có thể phất phơ phơ phất được, thì gọi là Khí Thái Sơ (nghĩa là cái hơi rất mới sơ khởi ban đầu). Đến lúc Khí Thái Sơ nầy có hình bóng được (nghĩa là nên được một cái hình bóng rồi), thì kêu là Khí Thái Thỉ (nghĩa là cái hơi bóng rất mới có đầu tiên trước hết). Kịp lúc Khí Thái Thỉ nầy có thể có được khí chất và tánh chất rồi (nghĩa là có mùi và có bản tính rồi), thì gọi là Khí Thái Tố (nghĩa là caí hơi rất trắng). Cái Ngươn Khí Tự Nhiên hư hư vô vô ấy đã trải qua bốn lớp thay đổi là Thái Diệc, Thái Sơ, Thái Thỉ, Thái Tố, thì nó đã đủ có Khí, Hình, Chất rồi, song có mà mới tượng ra mà thôi, đến chừng hiệp được cả ba món mới tượng ra đó làm Một thì kêu là Khí Thái Nhứt (nghĩa là cái Một rất lớn).

Từ trong lúc Thái Diệc cho đến Thái Nhứt đây, trải qua biết bao nhiêu sức đổi thay mới nên, thì trong ấy phải có một vị Chủ Nhơn Ông đứng ra làm Chủ Tể mới xong, mà vị Chủ Tể nầy phải cho rành Đạo Lý thì mới lập thành, bằng không thì làm sao cho nên. Người ấy tức là Đức Chí  Tôn đó, nên trong Đạo cũng kêu là Thái Nhứt Thiên Tôn.

Trong thời kỳ này cũng gọi là: “Vô Cực Tiên Thiên Ngươn Khí” đó (nghĩa lcái Khí đầu bài lúc trước khi dùng làm trời mà không có chỗ cùng tột). Cái lớp Thái Tố ấy, cũng có thể cho chúng ta định rằng Bạch Ngọc Kinh là đó, vì nội các bộ phận trên Trời thì chỗ nầy là rất trong sạch, rất trắng trẻo, rất nhẹ nhàn và là chỗ sản xuất các tinh ba sanh ra vạn loại cho Võ Trụ ngày sau.

Cái Khí Thái Nhứt đến lúc tượng nên hình thể rồi, thì gọi là Khí Thái Cực. Trong Khí Thái Cực thì đã có đủ Trời Đất muôn vật rồi, song hãy còn lộn lạo chưa có thể chia ra cho phân biệt được, nên cũng kêu là Khí Hồng Mông, hoặc là Khí Hỗn Độn, hoặc kêu là Khí Hồn Lôn, đều nghĩa là một cái khí còn mờ mờ mịch mịch lộn xộn đó vậy. Tuy vậy, song Khí Thái Cực nhờ có sức Động và Tịnh nghĩa là cái sức chuyển động day trở và cái sức êm lặng đầm thấm, nên lâu ngày mà tạo thành ra Trời Đất muôn vật được. Cái sức Động đó, nhờ có hơi Âm Nóng và tánh Cang Kiện (cứng cõi mạnh mẽ) mà sanh ra, nên kêu là Dương, còn cái sức Tịnh đó, nhờ có hơi Mát Lạnh và tánh Ôn Thuận Nhu Hòa (mềm yếu thuận hòa) mà sanh ra, nên kêu là Âm; nên có câu nói rằng: Thái Cực động nhi sanh Dương, tịnh nhi sanh Âm, động cực nhi tịnh, tịnh cực nhi động. Âm trung hữu Dương, Dương trung hữu Âm, v.v. (nghĩa là Khí Thái Cực động mà sanh khí Dương, tịnh mà sanh khí Âm. Hết sức động rồi tịnh, hết sức tịnh rồi động. Trong khí Dương cũng có khí Âm, mà trong khí Âm cũng có khí Dương).

Nhờ có sức Âm Dương Động Tịnh đó, nên Khí Thái Cực lâu ngày mới lọc rút được ba cái Khí, Hình, Chất của Thái Sơ, Thái Thỉ, Thái Tố đặng chia ra cho phân biệt, thứ nào nhẹ nhàn thì bay ra phía trên gọi là Trời, còn thứ nào cứng đặc thì lóng lại phía dưới gọi là Đất. Tuy nói rằng trên dưới cho dễ nghe tùy theo con mắt chúng ta thấy Trời ở trên, Đất ở dưới nên phải nói vậy, chớ Khí Thái Cực vốn là cái bọc tròn, nên hễ cái hơi nào nhẹ nhàn thì bay ra đóng ở chung quanh phía ngoài, kêu là Trời, còn cái nào nặng nề bay ra không được thì phải lóng lại ờ chính giữa cái bọc đó mà thôi, thì gọi là Đất. Trời bao bọc chung quanh, trái Đất ở chính giữa là vậy đó. Cách từ mặt nặng nề trái Đất cho đến tột bực nhẹ nhàn của khí Trời, thì ở giữa lại còn không biết bao nhiêu là bụi bặm không nặng không nhẹ ở lương khương nơi khoản đó nữa, đợi đến chừng lọc lóng cho xong rồi sẽ sanh sanh hóa hóa ra, con mắt chúng ta không thể định biết được mà cũng chẳng ngoài cái phạm vi như đã nói trên.

Cái Khí Động Tịnh Âm Dương của Khí Thái Cực đây, cũng gọi rằng “Thái Cực Hậu Thiên Ngươn Khí” vậy. Nghĩa là đầu bài rất lớn mà có chỗ cùng chỗ tột lúc sau khi dùng đặng dựng nên Trời.

Đã biết Khí Thái Cực tuy nhờ có sức vận động của Âm Dương, song trong cái sức của Âm Dương đó cũng có Ngũ Hành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ nữa, vì Ngũ Hành này nó cũng đã có rồi trong lúc Vô Cực, nó ở nơi Khí Thái Thỉ, Thái Tố mà ra, vậy nên nói rằng Âm Dương Ngũ Hành.

Khi hai Khí Âm Dương đã tách được ra rồi, phần trong nhẹ ấm nóng thì bay bỏng ra vòng trên làm Trời, phần đục nặng mát lạnh thì đọng lại ở dưới làm Đất, thì phần Trời đó gọi là Càng, phần Đất đó gọi là Khôn nên mới có tiếng gọi Càng Khôn Thế Giới.

Trong lúc phân biệt Âm Dương lập thành Càng Khôn Thế Giới nầy, cũng phải có một vị nào đứng đợt ra đặng gầy dựng cho có lớp lang thứ tự, khỏi lộn xộn rối ren chớ chẳng lý không ? Cái vị ấy tưởng cũng chẳng có ai đâu lạ hơn cái vị đã gầy dựng ra cái Vô Cực Tiên Thiên Ngươn Khí khi trước đó, cũng là Đức Chí Tôn. Bởi Người sơ khởi lúc trước nên gọi Người là Chúa Tể Càng Khôn.

Bởi Người sắp đặt từ trên Trời cho tới dưới Đất, mỗi việc đều có trật tự không một mảy nào xâm phạm đụng chạm nhau, thật rất kỹ cang khéo léo, thật đáng làm một Tay Thợ dựng nên Trời Đất, nên cũng gọi Người là Tạo Hóa Công (nghĩa là người thợ tạo lập sự Sanh Hóa của Càng Khôn Võ Trụ).

Trong công cuộc của Người lập Càng Khôn Võ Trụ đây thì Người phải có một cái mục đích chi cho rất xứng đáng vững vàng kỹ cang chắc chắn cho lắm, Người tạo ra mới được chớ chẳng không ? Cái Mục Đích đó rất phẳng lặng, rất êm thấm, rất im liềm mà Độc Nhứt chẳng hề thay đỗi, vẫn cứ theo đó mà đi tới hoài chẳng hề khi nào mệt mỏi trễ nải chúc nào, nhờ đó nên làm cái khuôn cái mẫu mà lập ra thế giới này mới được. Cái mục đích đó từ thượng cổ nhẩn sau không ai biết được mà đặt tên nó là cái chi, duy có một mình Đức Lão Tử tìm được cái mục đích đó, mà cũng không biết tên gì, nên đặt tên nó là cái Đạo, mà vì nó lớn quá nên ráng thêm một tên nữa là Đại, hiệp lại cho có tên mà kêu cho tới ngày nay; kêu nó là Đại Đạo. Ấy là một cái tên của Đức Lão Tử đặt ra trước hết cho có tên mà kêu đặng dễ bề hiểu, mà ai ai cũng đều công nhận đặng tiện công việc phân giải những cái Lý nhiệm mầu của Đức Chí Tôn đã làm chúng ta phải học, đặng theo đó bắt chước mà làm cho đúng bực Người Ta, vì Người Ta đứng vào Ngôi Tam Tài.

Thánh Ngôn có câu:

“Tu hành là học làm Trời,

Phải nào kiếp kiếp làm Người thế gian“.

Bởi vậy nên chúng ta phải học cho kỹ cho rõ mà phân biệt chánh tà đặng tu cho nhằm Đạo của Thầy; vì Đạo nghĩa là Con Đường mà Đại Đạo là Con Đường Cái, hễ đi nhầm đường thì khỏi lạt khỏi mất ngày giờ, còn Tu nhằm Đạo thì mau về cựu vị đặng hiệp Một với Thầy. Ấy học làm Trời là vậy đó.

Đã gọi rằng Đức Chí Tôn dùng Đại Đạo làm mục đích đặng lập ra Võ Trụ Càng Khôn Thế Giới, vậy thì trong cái Đạo ấy nó phải có một cái Lý cho tuyệt đối chẳng hề thay đổi mới được, bởi vậy nên hễ nói tiếng Đạo thì liền có hiệp tiếng Lý vào, nên kêu là Đạo-Lý. Cái Lý ấy là chi ? Ấy là Chơn Lý đó.

Chơn Lý là chi ? Ấy là Chơn Thiệt Chi Đạo Lý vậy, nghĩa là cái Lý Đạo rất chắc chắn thiệt thọ không sai, không quấy, không giả, không dối vậy.

Trong sách nho cũng có câu: “Đạo giả Thiên Lý chi đương nhiên” nghĩa là Đạo là cái lẽ của Trời phải làm tự nhiên như vậy.

Lại cũng có câu: “Thiện dĩ Âm Dương Ngũ Hành hóa sanh vạn vật, khí dĩ thành hình, nhi Lý diệc phú diên”; nghĩa là Trời dùng khí Âm khí Dương và Năm Hành đặng hóa sanh muôn vật, dùng cái Khí đặng cho nên hình vóc, mà cũng có phú cho một cái Lý ở trong vậy.

Dùng đó mà xem, thì thấy rõ hễ có Đạo là có Lý vậy, lại hai vật nầy không rời rã nhau ra được. Đấng Tạo Hóa đã dùng Ngươn Khí đặng lập Càng Khôn Thế Giới, trong Ngươn Khí phải có Chơn Lý, mà Chơn Lý tức là Đại Đạo vậy. Đạo không đợi cãi đợi bàn chi nữa.

Mà dùng cái Lý cái Khí nào đặng lập ra được Càng Khôn Thế Giới?

Trong Kinh Dịch có câu:

Lập Thiên chi Đạo viết Âm dữ Dương,

Lập Đạo chi Đạo viết Cang dữ Nhu,

Lập Nhơn chi Đạo viết Nhân dữ Nghĩa.

Nghĩa là:

Dựng nên Đạo Trời, thì dùng Âm với Dương,

Dựng nên Đạo Đất, là dùng Cang với Nhu,

Dựng nên Đạo Người, là dùng Nhân với Nghĩa.

Tuy chia ba phần ra đặng thấy cái đại khái của mỗi món trong Tam Tài vậy mà thôi, chớ mỗi món trong Tam Tài cũng đều sẵn đủ luôn Sáu cái Sức lớn đó cả thảy. Trời cũng có đủ Âm Dương Cang Nhu Nhơn Nghĩa, Đất và Người đều phải có đủ không Tài nào mà thiếu sót; bởi vậy nên có câu: “Âm trung hữu Dương, Cang trung hữu Nhu, Nhơn trung hữu Nghĩa” (nghĩa là trong khí Âm có khí Dương, trong khí Dương có khí Âm; trong sức Cứng có sức Mềm, trong sức Mềm có sức Cứng; trong sự Nhân có sự Nghĩa, trong sự Nghĩa có sự Nhân).

Có người hỏi rằng: Người ta thì phải có Nhân có Nghĩa là phải, chớ còn Trời và Đất mà có Nhân có Nghĩa là ý chi? Tôi xin trả lời rằng: Trời Đất lại càng có Nhân có Nghĩa mà lại càng khắn khích Nhơn Nghĩa lắm lắm chẳng dám rời ra trong giây phút nữa. Muốn biết Nhân Nghĩa là gì, xin phải biết cái nghĩa hai chữ ấy cho rành mới được. Ông Châu Hy có giải rằng: Nhân chủ Ái, Nghĩa chủ Kỉnh, nghĩa là Nhân là chủ nơi sự Thương Yêu; còn Nghĩa là chủ nơi sự Cung Kỉnh. Hễ có sự Thương Yêu mới có lòng Bác Ái, có sự Cung Kỉnh mới có Trật Tự được. Lại cũng có chỗ: Nghĩa giả Nghi giả, tài chế sự vật các đắc kỳ nghi. Nghĩa là: Nghĩa ấy là sự Hạp sự Phải vậy; sửa sang mọi việc mọi vật chi chi cho đều được chỗ Hạp chỗ Phải của nó vậy. Lấy đó xét, thì nếu Đạo Trời mà không có Nhân Nghĩa thì làm sao mà gọi là Bác Ái, làm sao cho được Công Bình Trật Tự được. Trong Châu Dịch cũng có câu: Động Tịnh hữu Thường viết Nghĩa, nghĩa là: sự Động sự Tịnh cho có chừng có mực kêu rằng Nghĩa. Thấy vậy thì đủ chứng rằng Trời Đất càng phải có Nhân Nghĩa mới được, chẳng phải loài Người ta phải có mà thôi đâu.

Sách cũng có câu rằng: Thiên thất kỳ Thường, tắc nhựt nguyệt tinh thần điên đảo; Địa thất kỳ Thường, tắc hà hải sơn nhạc băng kiệt; Nhơn thất kỳ Thường, tắc Tam Cang Ngũ Thường vận loạn. Nghĩa là: Trời mà sái cái mực Thường của Trời thì mặt trăng mặt trời cùng các ngôi sao té ngã hết; nếu mà Đất sái cái mực Thường của Đất thì sông biển núi non đều lở khô ráo; còn Người mà sái cái mực Thường của Người thì Tam Cang Ngũ Thường đều rối rắm hết. Xét cho một chữ Nghĩa đó cho kỹ thì đủ rõ năm chữ kia, là Âm Dương Cang Nhu và Nhân, dầu cho Trời, Đất và Người đều phải cho có đủ mới được. Tuy đã biết rằng phải có sáu cái Ngươn Khí ấy mới dựng nên Càng Khôn Võ Trụ được, mà dùng nó ra cũng phải cho chánh đáng phải cho chân thật đừng giả dối mới được, như vậy mới gọi là Chơn Lý. Hễ Chơn Lý hiệp với Ngươn Khí, hoặc là Ngươn Khí hiệp với Chơn Lý, thì hai cái nầy tuy là hai tên chớ thật là Một Giống, vì trong Khí có Lý, trong Lý có Khí, Lý Khí phù hạp rồi tức là Đạo vậy.

Bởi vậy nên Đức Chí Tôn có dạy rằng:

Đạo là Chơn Lý mà Chơn Lý là Đạo vậy.

Người cũng có dạy rằng:

Ớ các trẻ ráng gìn Chơn Lý,

Chơn Lý là Đạo quí của Thầy.

Đức Tổ Sư Hổn Ngươn Thiên Sư Chưởng Quản

Tôn Chỉ Của Đạo

(Đuốc Chơn Lý số 22-23 năm 1936)

Đức Chí Tôn chẳng dạy chi khác hơn là dạy:

Đạo Trời.

Người dạy rằng: Trời đó tức là Người đây vậy. Đạo chẳng ở đâu xa. Đạo vốn ở trong Tâm của mỗi Người, vì trong Tâm của mỗi Người Trời có ban cho một Điểm Linh Quang rất sáng rất quí gọi là “Tánh”, bởi Người làm cho nó mất sự tự nhiên, sự Sáng tự nhiên của Tánh nên Người phải mê hoặc.

Vậy, phải trau sửa Tâm Tánh lại đừng để cho nó còn tối tâm mà phải bị sự cám dổ của hoàn cảnh làm cho nó phải mẩn mê hoài với cuộc hồng trần gió bụi, quên cả chức vụ thiêng liêng là phải tìm cho ra cho được Sự Sống của mỗi vật, cho gặp thật Sự Sống của nó đặng làm theo, phải do theo Lý Chơn Chánh tự nhiên Sanh Hóa của Trời Đất hóa sanh ấy đặng tiếp theo mà làm cho tấn hóa; phải tuân theo sự Nhứt Định của Tạo Hóa gầy dựng sự Sống cho muôn loài đặng giúp sức cho Hóa Công; đừng cho phá hoại, đừng cho trở ngại, đừng cho ngưng trệ sự tiến hành của máy vận động Trời Đất.

Ấy là Chơn Lý Đại Đạo mà Đức Chí Tôn đương lo dạy ngày nay cho bực trí tín đó. Bực nầy hiểu thấu đặng Bổn Phận của mình rôi, mới gọi rằng “Biết Đạo”. Muốn cho Hiểu Biết Đạo thì phải được sáng lòng làm trước…

Đức Tổ Sư Hổn Ngươn Thiên Sư Chưởng Quản

Vô Minh và Giác Ngộ

Bài giảng của

Đức Hổn Ngươn Thiên Sư Chưởng Quản

(Jan 1935)

Chữ GIÁC nghĩa là Hay, Biết; nó có hai nghĩa khác nhau:

Một là mình biết mình hay rằng nhà mình có ăn trộm rình, hoặc là sẻ có ăn trộm rình, nên mình lập phương mà đuổi nó đi cho khỏi nhà mình. Cái tên rình nhà mình đặng lấy đồ của mình đó thì mình kêu nó là ăn trộm, còn cái tên mà rình đứa trộm đó thì là mình đây, song nhờ cái xét mánh lới chi chi đó, nên mình mới hay mới biết được mà lập thế đặng đuổi nó đi. Ấy là cái ví dụ bề ngoài cho dể thấy dể hiểu đó, đặng chỉ vào cái sự Hay, Biết về phần Đạo trong nghĩa chữ Giác thứ nhứt. Trong mình người ta nó có cái Đạo là quí, nay bị những cái phiền não làm cho người phải nóng giận mà quên Đạo Đức, cũng như nhà bị kẻ trộm nó lấy đồ báu vậy, nhưng mà một khi ta đã có phiền não, hoặc sẻ có phiền não, thì ta sẻ biết rằng việc này đây nó sẻ làm cho ta có phiền não, hay là ta đã có phiền não rồi, thì ta phải lập thế chi mà xua đuổi cai phiền não ra hay là làm cho nó tiêu tang mất đi thì Đạo Đức mới khỏi bị che khuất. Ta mà lập thế đặng xua đuổi cai phiền nảo được đó, là nhờ ta có Hay có Biết được cái phiền não nó làm cho che khuất cái Đạo Dức của ta, nên ta mới lập thế mà xua đuổi nó được; thì cũng như nhờ ta có Hay Biết trước rằng ăn trộm nó đã rình nhà ta, hay là nó sẻ rình nhà ta, nên ta mới kiếm cách đặng ngăn ngừa xô đuổi được, bằng không thì nó cũng tận thâu đồ báu ta vậy. Cái sự Hay Biết kêu bằng Giác Sát, mà ta Hay ta Biết được đó là nhờ có Thánh Giác của ta.

Hai. Một nghĩa khác nữa là: người người đều có cái Trí sáng suốt đủ thông hiểu mọi vật, nhưng mà bị cái Vô Minh nó làm cho ta tối tâm đi, không biết làm sao mà phân biện cho được, nên thường phải sai lầm hoài, sự sai lầm nầy là tại cái tối tâm của ta đó mà ra, cái tối tâm đó kêu là Vô Minh. Cái Vô Minh cũng như cái phiền não ở trước, song cái phiền não nó hại cái Đạo Đức của ta, còn cái Vô Minh thì nó làm hại cái Trí Huệ của ta. Bởi cái Vô Minh nó làm hại cái Trí Huệ của ta, nên ta phải tối tâm mờ ám không biết phân biện sự phải quấy chánh tà, cũng như kẻ ngủ kẻ say vậy. Vì vậy nên ta phải đánh thức cái giấc ngủ mê của ta, ta phải giải rượu cho ta, thì ta mới tỉnh được.

Hỏi:Ta đương ngủ mê, ta làm sao ta đánh ta thức được? Ta đương say rượu, ta làm sao giải rượu cho ta được?

Đáp: Được chớ nào không. Ta còn có người cứu ta, là người không mê đó, người không say đó cứu ta. Người ấy chính là Trí Huệ ta đó, miển là ta phải nghe theo cái Trí Huệ của ta mà thôi. Nghe theo cái Trí Huệ chớ đừng nghe theo cái tia xảo, cái tài trí, nếu nghe theo nó thì lại càng hại thêm, vì chúng nó chẳng hề thức tỉnh ta được.

Cái thức nó ở trong cái ngủ, mà cái ngủ cũng ở trong cái thức; cái tỉnh nó ở trong cái say, mà cái say cũng ở trong cái tỉnh; cái dốt nó ở trong cái hay chữ , mà cái hay chữ nó cũng ở trong cái dốt; cái dại nó ở trong cái khôn, mà cái khôn nó cũng ở trong cái dại v.v… Miển là đứng mê hoài một phía, ta phài đánh thức ta hoài mới được. Hễ ta gọi rằng ta đã thức rồi, thì liền thấy ta phải ngủ lại đó, ta đã gọi ta đã hay chữ rồi, thì liền thấy ta dốt lại đó v.v… Cái ta mê hoài một phía đó là tại cái Vô Minh, nó phá hại cái Trí Huệ của ta; nó làm cho ta không kỳ quyết cái việc của ta muốn đạt đến mụch đích.

Ví dụ như một người ngủ hoài không cần gia ai đánh thức dậy, thì họ ngủ riết đả thèm rồi thì họ cũng thức dậy vậy, có hại gì đâu, ấy là tại họ không có cái mục đích gì mà họ muốn đạt đến. Một người dại chẳng lẻ trăm việc cũng dại hoài, cũng có một đôi việc họ khôn chớ, song họ không chịu đạt đến cái mục đích là làm người phải khôn đó. Nay cái người ngủ ấy, họ có cái mục đích rằng: đúng bốn giờ sáng thì phải thức dậy mà học cho kịp bài vở kẻo thua súc chúng bạn, thì dầu cho họ ngủ bực nào nữa, mỗi lần thì tảng sáng sáu giờ họ mới thức giấc, mà ngày nay họ có cái mụch đích phải bốn giờ thì thức, thì lần thứ nhứt, tuy mê cách nào chớ lối năm giờ họ cũng thức rồi, nếu họ biết rằng là trể, họ dạy họ lại, họ chuyên tâm rằng bốn giờ phải vụt thức dậy mà thôi, rồi lần lần họ chẳng cần gì phải vụt thức dậy mà cái thức dậy đó nó là cái thường của họ đó. Vậy thì cái vụt giựt mình thức dậy đó là cái gì? Ấy chính là cái Giác Ngộ đó. Mà cái Giác Ngộ này nhờ cái Thánh Huệ mà ra; nếu nhờ cái Thánh Huệ mà thức tỉnh mình cho được Giác Ngộ mà mình gọi mình đã Giác Ngộ rồi thì lần lần cũng trở lại Vô Minh như kẻ thức bốn giờ sáng kia mà không lo lần tới nữa thì lần lần cũng ngủ quên tới sáng lại.

Chữ NGỘ nghĩa nó cũng như chữ Giác vậy, cũng là Hay Biết vậy, song nghĩa nó có hơi đầm thấm hơn chữ Giác. Ví dụ như làm một bài toán mắc mỏ quá, làm hoài tính hoài mà không ra, mình cứ gia công tìm kiếm mãi, rồi thình lình nó vụt hiểu vụt biết, liền cầm viết viết ra ngay được, ấy là Giác; còn mình cứ rầm ngâm mài miệt mải, lần mò riết rồi được trúng, ấy là Ngộ. Hai cách ấy cũng là Hay Biết hết thảy, nó là tiếng đôi; chớ không phải Ngộ là Gặp, thì là tưởng lầm vậy.

Chữ Ngộ nó có ba chữ khác nhau mà trùng tiếng. Một chữ Ngộ là Biết, một chữ Ngộ là Lầm, và một chữ Ngộ là Gặp, ba chữ viết khác nhau. Giác Ngộ nghỉa là Giác mà lại Ngộ nữa.

Đức Phật Thích Ca ban đầu Ngài lầm tưởng sự gải thoát ở đâu ở ngoài thân mình, nên Ngài mới tìm kiếm ở bế ngoài, nghe lời người mà hủy cái xác, làm trăm bề khỗ hạnh đặng tìm phương giải thoát mà không được, đến chừng cái Thánh Giác của Ngài nó làm cho Ngài Giác Sát được, nên Ngài mới duổi cái phiền nảo đi, rồi nhờ cái Thánh Huệ nó kêu Ngài thức tỉnh mà Giác Ngộ được; nếu như Ngài Giác Ngộ rồi, mà Ngài không đi dạy Đạo, có lẻ cái Vô Minh nó sẻ trở lại, nhờ Ngài đi dạy Đạo, nên Ngài càng ngày càng Giác Ngộ thêm hoài, nên mới gọi Ngài là Đại Giác, Toàn Giác. Đến đó cái Vô Minh nó mới thiệt là dứt cội dứt rể, không còn trổ nhánh nức chồi nữa được đó.

Đức Tổ Sư Hổn Ngươn Thiên Sư Chưởng Quản

(Jan 1935)

Giảng Kinh Tam Thập Tam Thiên

Kinh Tam Thập Tam Thiên

Bài giảng vé 1-2-3

của Đức Hổn Ngươn Thiên Sư Chưởng Quản

(1936)

Vé số 1:

     Trời mở Đạo dạy người thoát tục,

          Trời nào cho đóng ngục nhốt người;

Trời cho người tỉnh biết Trời,

Trời cho người biết đặng người tìm phăng.

   Từ khi có Trời đất có loài người đến nay, Đạo của Trời dạy đã khắp nơi rồi chẳng phải là ít, chẳng phải là không có, đâu đâu cũng đều dạy một cách, là dạy làm người phải “thương” nhau, sách vở Thánh Hiền Tiên Thánh để lại biết bao nhiêu. Kinh kệ của các vị Phật các vị Tổ cũng truyền bá khắp nơi, nào còn thiếu thốn chi nửa,mà đến đỗi Trời này còn phải bổn thân giáng phàm đặng khai Đạo Kỳ Ba này, nơi cõi hồng lạc này, là cõi nhỏ nhen thấp hèn hơn cả mọi nơi vậy? Vậy chớ Trời khai Đạo như vậy có ích chi cho Trời hay không? Có ích lợi chi cho Người hay không, mà đến đổi Trời phải nhọc công như thế? Chúng ta là người học Đạo, cần nhứt là phải tìm kiếm cho ra cái “Mục-Đích của Trời mở Đạo” đây cho thấy rõ, thì mới có thể biết Đạo là chi, rồi mới thương Thầy mến Thầy, quí Đạo trọng Đạo, bằng chẳng tìm xét cho ra Lý, thì là tu giởn tu chơi vậy thôi chớ nào phải là người chơn tu đâu.

   Muốn tìm kiếm cho ra lòng Trời thế nào thì chẳng cần phải kiếm đâu cho xa lạ, hảy do nơi Thánh huấn của Thầy thì thấy rõ. Vì Thánh huấn chẳng có một việc chi mà Thầy hay là chư Tiên chư Thánh giấu giếm chúng ta. Thánh huấn của Thầy và của chư Tiên Thánh, chúng ta gọi rằng cao xa khó hiểu nên hay bỏ qua hoài, hoặc là đọc cho có chừng, hoặc là vì Lịnh Trên dạy, phải làm luận văn đặng trau đổi ý kiến, nên chúng ta phải làm cho có chừng mà nạp cho khỏi bị trách cứ, hoặc là đổ thừa thế này thế kia đặng tránh trốn, chớ còn Thánh huấn của Ngôi Chị là dễ hiểu dễ tìm hơn hết, sao chúng ta đành nỡ bỏ qua mà chẳng xét cho ra cho thấy, đặng tìm coi Mục Đích của Trời mở Đạo đặng làm chi? Nếu có công tìm thì thấy rõ ràng, kìa Ngôi Chị đã nói rõ ràng như vậy:

   Trời mở Đạo dạy người thoát tục,

   Trời nào cho đống ngục nhốt người;

          Trời cho người tỉnh biết Trời,

Trời cho người biết đặng người tìm phăn.

   Ngôi Chị đã nói rõ ràng câu ấy nơi bài Kinh Tam Thập Tam Thiên rồi, tại chúng ta mảng vọng tâm vọng cầu nơi chỗ cao xa mà quên do nơi nấc than dưới mà bước trước cho vững vàng, cứ vội ngón vội ngó nơi chót vót từng lầu cao mà hụt chơn sái bước hoài.

   Sao chúng ta chẳng xét lại coi cho kỹ lưỡng, coi cái mà chúng ta tự bấy lâu này gọi là Đạo đó, chẳng luận là Đạo Trời, Đạo Phật, Đạo Tiên hay là Đạo Thánh chi chi, những Đạo ấy, dạy chúng ta những chi? Có phải là mỗi phe, mỗi Đạo, nỗi tôn giáo, mỗi chi, mỗi phái nào, họ cũng mượn tên Trời Phật Thánh Thần đặng rùng ép chúng ta, đặng ngăn đón chúng ta rằng phải tùng theo giáo lý của họ thì được về Thiên Đường, thì được về tịnh thổ, thì được về Tây Phương, thì được thành Tiên thành Thánh hay không? Họ chỉ biết dùng cách dối gạt rằng hễ muốn tùng theo giáo lý của họ thì phải cứ một lòng tin tưởng nơi họ, họ có đủ sức cầu Trời khẩn Phật giùm cho, đặng cho thoát khỏi những tội lổi chi chi của chúng ta, chẳng cần chi phải lao công nhọc sức làm gì, cứ việc làm ăn như thường, miểng là cho có bạc tiền đem dưng cúng cho họ là đủ rồi, bằng chẳng vậy, bằng chẳng chịu tín ngưỡng theo tôn chỉ của họ dạy, thì phải bị sa đọa vào 18 từng địa ngục, 72 cửa ngục sửa phạt khốn khổ vô cùng. Họ lại còn bày hình ghê gớm đặng cho chúng ta thấy mà dùng mình rởn óc nữa. Chúng ta nào có biết chi đâu, hễ ai nói đến Trời Phật thì chúng ta tin, chúng ta lạy, là vì lòng chúng ta đã tín ngưỡng Trời Phật đã lâu rồi, từ đời nào chí bây giờ chớ chẳng phải là một kiếp này mà thôi, vì vậy nên này thấy ai là người bề ngoài có vẽ từ bi thì chúng ta tôn kính chúng ta sùng bái, gọi mấy vị ấy là cao tăng, đại đức tu hành, còn chúng ta tự hạ mình chúng ta xuống mà tự gọi là chúng ta phàm phu tục tử, nên mới phải làm cho hết lòng đặng tỏ dấu kỉnh Phật thì phải trọng tăng chớ nào có biết chi nửa mà nói mà xét, có ai dạy ai chỉ Đạo là chi đâu mà biết.

   Chúng ta mấy đời mấy kiếp mắc mưu bị kế quá rồi, vì vậy nên động lòng Trời, mà cũng vì sự tin tưởng không chánh đáng ấy nên phải sa vào tả đạo bàn môn, nên không hiểu căn cội của mình là từ Trời mà xuống, Trời là Cha Chung cho cả thế gian, Cha khắp cả nhơn sanh, ai biểu mình quên Cha Thật của mình đó chi, nên mới phải bị bọn giả dối lường gạt được, mà vẩn tin tưởng bọn kia là thần thánh còn mình là phàm là tục nên nó mới rù quến được đó. Trời vì động mối thương tâm, nên Trời mới mở Đạo Kỳ Ba này, nơi cõi Hồng Lạc đây, là chỗ ngu muội mê hoặc hơn hết, đặng Trời dạy cho chúng ta cổi cái lốt gọi là lốt phàm lốt tục đó đi, đặng nhìn đặng nhớ lại rằng mình là con ruột của Trời đó, đừng để cho ai phỉnh phờ gạt gẫm nửa được mà quên nơi quê cảnh xinh đẹp của mình đi.

   Bởi Trời thấy tự bấy này, bọn tả đạo bàn môn kia, bọn dối Trời dối Phật kia, cứ đem những việc luân hồi quả báo mà gạt gẫm chúng ta một cách trái Đạo Lý, không chỉ cho chúng ta biết Chơn Lý chánh đáng là thể nào, cứ vẫn dạy chúng ta cúng tiền bạc gọi là cúng chùa lạy tăng goị là trọng Phật vậy là đủ, nếu chúng ta chẳng làm vậy thì bị luân hồi, phải bi trầm luân sa vào địa ngục không ai cứu cho. Cũng vì sợ sa vào địa ngục không ai cứu, mà cũng vì ham mê thiên đường nên mới dầm sương dầm nắng, cực khổ chẳng kể, hoặc là làm nhiều việc trái ngược Đạo Lý mà cũng không cần, miểng là cho có tiền có bạc đặng đem hối lộ cho mấy người gọi là thay mặt Trời Phật ấy, là cho họ độ rỗi linh hồn của mình cho khỏi bị giam cầm nơi 72 cửa rạt, trong vòng 18 từng địa ngục đó thôi, vì ỷ y họ có quyền phép và có nhiều vị Thần Thánh tùng quyền của họ sai khiến nên họ cứu mình nỗi. Chớ nào chúng ta có hay biết chi rằng chúng ta đều là Người của Trời sai đế mở mang khắp cõi hồng hoang giúp tay Bàn Cổ Tam Hoàng lập công đâu. Bởi chúng ta đã chẳng làm tròn phận sự mà ngày này cũng còn mê sa ma quỉ lả lơi, bỏ điều minh thệ với Trời mà không biết hồi đầu qui hướng đặng ăn năng tội lổi với Trời, lại còn đem lòng tin cậy nơi đâu, bảo sao không đời đời kiếp kiếp ở hoài nơi trên mặt đất này hoài mà vùi mà vấp cái xác thân mê muội này hoài; mảng tưởng 72 cửa rạt kia, 18 từng địa ngục nọ là ở đâu đâu dưới cái đất nẻ, có quỉ sứ nhăn nanh lố vút, có vạc dầu sôi thiệt, có kiếm thọ đao sơn (chổ hòn núi có cấm gươm chôm chởm đặng quăn thây người vào đó cho gươm giáo đâm lủng tim lủng phổi mà trị tội) , có nhiều nữa, nhiều nữa, 72 chỗ độc ác vô cùng, vỉ tưởng vậy mà quên rằng cửa ngục ấy đều ở tại dương gian đây, ai không làm xong phận sự giúp Trời thì phải bị đời đời ở hoài nơi hồng trần mà phơi nắng dầm mưa, cái mưa nắng nó cháy da phỏng tráng chúng ta đó, cùng là những sự thật, chỉ vợ yếu con thơ, nợ nần đau ốm nó cắn rứt chúng ta đó bằng biết bao nhiêu lần đau thương hơn là đao sơn kiếm thọ, hơn là vặc dầu sôi. Tại mình quên Trời thì mình phải chịu lao đao lận đận trăm điều cắn rứt như banh da bách thịt, đứt ruột đứt gan mà không hay, lại đổ thừa nơi đâu xa lạ. Cũng vì bọn tả đạo không cho chúng ta biết Chơn Lý đặng chúng ta hồi hướng, lại đổ thừa rằng vì không theo giáo lý của chúng nó nên phải bị kiếp kiếp ở hoài nơi cõi diêm phù đề này, cõi Nam Thiệm bộ châu này, nên phải bi luân hồi khổ não hoài, chớ chi theo giáo lý của họ thì đã được về Tây Phương lạc quốc rồi, sao chúng ta không tự xét lấy mình, những cái ngục mà nhốt chúng ta đó, là tự chúng ta tạo nó ra, hễ chúng ta tạo ra rồi, thì chúng ta theo mà coi chừng coi đổi, phải theo mà giữ mà gìn, chớ để cho ai coi cho bây giờ. Vậy thì những cảnh đoạn trường đó, những cái ngục nhốt chúng ta đó, đều do nơi chúng ta tin xàm tưởng vơ mà gây dựng nên biết bao nhiêu kiếp rồi, càng lâu ngày chừng nào thì những nền, những móng, những lầu đài kia càng to càng tác nó nhốt ta thâm thẫm không còn thấy mặt trời mặt trăng chi nữa, chớ còn trông gì mà về với Trời đặng, chớ có ai mà cứu vớt chúng ta được đâu. Ngục ấy là ngục tự mình làm rồi tự mình đóng cửa mà nhốt lấy mình đó thôi, chớ Trời có cho ai đóng nhốt mình đâu.

   Vì vậy nên Trời mới mở Đạo Kỳ Ba này đặng dạy cho mình tự mình giải thoát lấy, cổi cho hết những món phàm tục đặng ra khỏi ngục thất kia đó thôi. Mà muốn cho thoát thì phải tỉnh mà nghe lời mới được. Trời rất thương chúng ta, vì chúng ta là con của Trời, nên Trời thấy chúng ta đã lâu đời vì mê tín nên phải bị luân hồi khổ hãi mà mắc vào lưới Trời rồi không về với Trời được.

   Bởi bọn tả đạo bàn môn thấy chúng ta dốt nát quê mùa không thông Chơn Lý nên không về với Trời được, rồi chúng nó đặt điều ngục này ngục kia đặng dọa nạt chúng ta phải sùng phụng nó, vì vậy Trời thương xót chúng ta đã quá nỗi mê muội rồi, nên Trời phải mở Đạo mà chỉ cho chúng ta biết Chơn Lý Đại Đạo mà tự mình cứu lấy mình mà thôi, chớ Trời nào có cho ai lập ngục thất mà nhốt lấy ai mà phạt đâu. Hãy tự tỉnh nghe mà hiểu đặng tìm phăng cho thấy. 

   Trời mở Đạo dạy người thoát tục,

   Trời nào cho đống ngục nhốt người;

          Trời cho người tỉnh biết Trời,

Trời cho người biết đặng người tìm phăn.

   Tôi đã giải cho trước rằng vì tại nơi các người bán Trời bán Phật kia gạt gẫm anh em chị em đã dư mấy kiếp rồi, rằng là hễ tuân theo giáo lý của họ thì được về thiên đường, bằng cãi họ thì sẽ bị sa địa ngục. Sao chúng ta quá khờ lắm vậy, sao chúng ta chẳng xét coi họ cũng là người như mình vậy, họ cũng là cha mẹ sanh đẻ như mình vậy, mà sao họ có tài gì mà cứu chuộc tội lổi cho mình được? Sao họ lại có được nhiều vị Thần Thánh cho họ sai khiến đặng họ cậy phải đem nhiều lời họ xin mà trao lại cho Trời Phật đặng tha tội lổi cho mình và cứu mình cho khỏi sa địa ngục? Mà những vị Thần Thánh của họ sai khiến đó là ai đâu mình có thấy không? Hay là cũng là đồ hình nộm, đồ hình gỗ, giấy vẽ của thợ mã bông; cũng là đồ in trong giấy tiền người thế kia mà họ đem ra đặng gạt chúng ta đó mà họ đặt tên rằng ông này ông kia? Còn Trời Phật nào đâu không biết, mà hình nộm này người thế kia, lại đem giấy tờ của họ đi mà chuộc tội lổi của mình đây? Có phải là họ bán Trời bán Phật ở đâu mà mình đây chịu gạt hay không? Có phải họ là một bọn đặt mối thầy kiện, mà thầy kiện ở đâu không biết thông ngôn, thầy kiện ở đâu không hay, mà mảng mình nghe tên ông thầy kiện đó hay giỏi rồi mình trao bạc không cho tên đem mối mà mình không hay không biết coi mặt mày ông thầy kiện có ừ hử gì hay không?

   Người thế gian vì sao mà phải mướn thầy kiện? Là vì sợ có tội nên phải mướn người bào chữa cho mình. Nếu có tội thì là ai xử? Quan tòa xử. Biết sợ có quan tòa xử, nên phải mướn thầy kiện cãi lẽ, mà sao không đến tận mặt thầy kiện để bàn tính, lại nghe lời bợm đào mối nọ hâm dọa rằng phải bị án này, luật kia, rồi trao tiền cậy cho nó mướn thầy kiện giùm cho? Mà thầy kiện kia là ai? Là người thuộc luật đó. Luật của ai làm?

   Luật của phép nước làm ra để trao cho quan tòa coi lấy đó mà xử những người nào có phạm vào đó thì phạt, còn ai không phạm thì thôi. Vậy thì Tòa xử là xử ai có phạm luật kìa chớ, còn nếu người không phạm luật thì Tòa nào có xử phạt chi đâu. Bằng người vô tội mà có kẻ nào xưng mình là thông ngôn trạng sư, hay là thông ngôn Tòa đến nói mình rằng là có tội, bảo phải chạy tiền chạy bạc đem nạp cho họ đặng họ mướn trạng sư cãi hộ cho khỏi tội, vậy thì mình có nghe lời họ hay không? Nếu nghe lời họ là mình là đứa ngu. Phải bắt quách nó đem nạp cho Tòa trị tội nó mới phải, chớ có đâu lại còn làm đầu đảng đem mối giùm cho nó mà có bà con mình cũng phải nạp tiền cho nó nữa? Mà trạng sư đâu không thấy, quan toà đâu cũng không hay, hỏi ở đời có ai ngu si mê muội đến bực đó hay không? Huống chi Nhơn Loại là con cái của Trời, Luật Trời là chí công vô tư, Trời sai chúng ta xuống phàm gian trao giồi Tâm Tánh giúp Trời hành Đạo, giúp tay Bàn Cỗ Tam Hoàng lập công đặng lập xong danh phận Tam Tài, vậy thì nếu chúng ta làm xong trách nhiệm thì trở về hớn hở nơi Ngọc Kinh, bằng làm chưa tròn trách nhậm, thì phải đời đời kiếp kiếp ở phàm trần hoài, ấy là bị Luật Trời phạt đó. Luật Trời đã phạt ai là người chẳng tuân Luật Trời, thì nó nào có cần phải đem mối mướn trạng sư, Thần Phật nào cãi lẽ được không? Nếu Trời cho Thần Phật nào cãi lẽ tâu rỗi giùm cho mình, thì chẳng là Trời ham hối lộ hay sao?

   Thần Phật kia cũng ham hối lộ cho nhiều, nên sấm bọn tả đạo bàn môn làm thông ngôn đem mối hay sao? Có lý nào vậy hay không? Ở dưới Trời này có ai qua Trời được hay không? Có Thần Tiên Phật Thánh nào qua Trời hay không? Huống chi Thần Tiên Phật Thánh cũng là chúng ta đây. Mà ma quỉ tinh yêu cũng là chúng ta đây, vậy thì chúng ta còn cần phải nghe lời bọn dắt mối nào nửa, mà đi lo lót với ai cho được.

   Bởi chúng ta đã lâu đời xa Trời quá rồi, nên bị bọn tả đạo kia giả dối gạt gẫm, rồi nó lại tự xưng rằng tổ của nó lại còn lớn hơn Trời nữa, nên hễ có đem hối lộ cho nó đặng cho nó nộp, nó thế cho tổ nó, thì khỏi tội, bằng không thì bị hạ ngục trầm luân, mà chúng ta cũng tin càng đi vậy, vì vậy mà Cha chúng ta là Trời đó mới mở Đạo Kỳ Ba này mà giải thoát cho chúng ta, nói rằng: Trời không có cho phép ai đống một cái ngục nào mà nhốt con cái của Trời hết, đừng nói chi tới 72 cửa, 18 từng. Trời để cho có một cõi Hồng Quan kia đặng lập công đó thôi; hễ ai lập xong công quả rồi thì về với Trời, bằng lập chưa xong thì phải bị ở đó hoài, ở nơi chỗ lửa nóng, nước sôi đó hoài, thì chịu lấy, chớ Trời không có cho ai đóng ngục nào nữa hết thảy. Trời bảo phải cho thoát kiếp mà về với Trời mà thôi. 

   Đã biết rằng Trời là chí công vô tư, còn bọn tả đạo thì lại dối gạt, dọa hẩm chúng ta hoài, vì vậy nên Trời Phải mở Đạo đặng thức tỉnh chúng ta, làm cho chúng ta thức tỉnh lại, cho tỉnh cái giấc mê dư muôn kiếp này, mê mang hoài mà quên Trời là Cha rất yêu dấu của chúng ta đó. Đạo Trời mở Kỳ Ba này có bao nhiêu đó mà thôi.

   Đạo mở ra đặng kêu tỉnh chúng ta dậy đừng mê mẫn, mê hoặc, mê mang, mê mụi nữa, phải thức dậy mà nhìn mà coi, coi cái chỗ hồng trần này có phải là quê xưa cảnh cũ hay không, mà sao chúng ta cứ ngả ngớn vui chơi nơi đây hoài, đành quên cả sự nghiệp chức vụ lớn lao nơi Ngọc Kinh đi, đành nhìn nhận bọn bán Trời kia là lớn hơn Cha ruột của mình, đành đem Thân ngọc ngà châu báo này là Thân của Trời sấm cho, mà làm nô lệ cho kẻ phá danh Trời mà vui mà vẻ mà gọi rằng là Đạo Đức. Hãy thức tỉnh dậy mà nhìn lại Trời cho biết, hãy thức tỉnh dậy cho tỉnh táo mà nhìn lại Trời là Cha, là Cha rất yêu quí mà về với Cha. Có thức tỉnh mới có nhìn mà biết được, bằng mê mang sợ sệt lừ đừ hoài thì làm sao mà nhìn mà biết được. Song le Trời muốn cho mình tỉnh thì Trời nào có kêu gọi rằng mình là người quá mê muội rồi được đâu, nên Trời phải ban thánh huấn ra đặng kêu gọi cho có người thức tỉnh trước đặng thức tỉnh mình lại, vì Linh-Hồn là Con Một, song có kẻ bị Thần Hồn quá mê mà làm cho tối tâm, có kẻ Linh Quang còn sáng suốt nên đặng Trời thức tỉnh cho mau, cho sớm hơn, đặng Trời dạy trước, vì là con của thầy tuy có đứa cuồng ngông mê muội dạy dột mặc dầu, chớ cũng vẫn có đứa thông minh sáng láng dễ ăn dễ dạy, chớ có lẽ nào không đâu. Linh Hồn vốn có một đứa tỉnh được rồi thì các đứa kia dễ bề tỉnh hơn, như anh em đồng ngủ với nhau một chỗ, hễ có một đứa tỉnh trước được rồi thì kêu gọi thức giấc nhau dễ hơn là ông chủ kêu. Mà Trời kêu tỉnh ta đây đặng làm việc gì? Có chi lạ đâu, Trời kêu tỉnh ta đây đặng dạy chúng ta cho biết Chơn Lý đó thôi, vì Chơn Lý có Một, Đạo cũng có Một, Trời cũng có Một, chúng ta là Con cái của Trời cũng có Một mà thôi, có cần phải mướn trạng sư kẻ đem mối nào ở đâu xa mà giả dối xưng là Thánh Thần Tiên Phật nào nữa đặng gạt gẫm con cái của Trời đặn đâu. Chúng ta đây là Con của Trời, là Một với Trời, là Thánh Thần Tiên Phật hiện tại ở thế-gian đây, sao tự mình quá mê muội mà quên Trời đi? Cứ nhớ Đất hoài? Cứ nhớ quỉ hoài? Vì vậy nên ma quỉ mới gạt được đó. Trời thức tỉnh ta đậy dặng dạy cái Một đó. Cái Một đó là Một Căn, Một Cội, Một Nguồn với Trời đó, là Chơn-Lý đó. Hãy nhìn cho biết Trời, hãy tỉnh mà nhớ Trời, thì về với Trời được, đừng cậy ai, mướn ai, lạy ai cứu mình được đâu.

Mà ai Chơn-Lý rõ sâu,

Thì được về chầu Bạch-Ngọc cao ngôi

là vậy đó.

   Trời đã thương nhơn loại quá ư mê mộng nên Trời đã cho có người sáng láng thông minh thức tỉnh trước rồi đặng chỉ trước cho biết đường đi nước bước cho biết Trời là đâu, Đạo là thế nào, Chơn Lý là làm sao, đặng kêu gào thức tỉnh chúng ta dậy cho sớm rồi, vậy thì chúng ta tuy chẳng phải là đồng thức một lượt, song le sự thức, sự tỉnh, sự biết của chúng ta ngày này đây cũng là nhờ Trời mới được, nhờ Trời mới có, nhờ Trời mới nên, vậy thì chúng ta phải biết Trời, ấy là Trời cho chúng ta biết Trời có vậy. Hễ đã tỉnh dậy rồi, thì chúng ta phải làm làm sao gọi là biết? Cho khỏi mang cái lốt tục nữa? Cho khỏi còn bị kẻ giả dối phờ phỉnh gạt lường lần nữa? Cho đặng gọi là con của Trời; đừng để cho mang tiếng là con hư lây xấu đến Cha.

Chẳng có chi lạ hơn nữa, là nếu chúng ta chẳng chịu thức, chẳng chịu tỉnh mà thôi, bằng chúng ta chịu thức, chịu tỉnh , chịu nhìn nhận cho biết Trời, chịu nhìn nhận biết có Một Trời là Cha, biết có Một Trời là Chúa Tể cả kiền khôn thế giái, biết có Một Trời là Ngôi Độc Nhứt vô nhị, biết có Một Trời là Đấng cầm quyền thưởng phạt chí công vô tư , biết có Một Trời là vô lượng vô biên, khoan hồng độ lượng, vô thỉ vô chung, biết có Một Trời là Đấng đã ban Linh Quang cho chúng ta xuống thế gian này đặng thay thế cho Ngài. Biết sợ có Một Trời là Đấng rất thương yêu chúng ta, vậy thì chúng ta phải cho tròn trách nhậm của chúng ta mà đối đãi lại với Ngài, mà trả ơn cho Ngài, mà đền đáp công ơn của Ngài, mà làm cho xong công việc của Ngài giao phó, vì chúng ta đều là tôi tớ của Ngài, là người tá canh của Ngài hết thảy, chúng ta chớ kiêu ngạo, chúng ta chớ ỷ mình chúng ta, chớ khoe khoan, chúng ta chớ gọi xác thân này là của chúng ta riêng, chúng ta chớ tưởng sự vinh hoa phú quí giàu sang này là của chúng ta tạo ra được, chúng ta chớ tưởng rằng con cái tôi tớ trong nhà của chúng ta mướn đó là của chúng ta mướn, mỗi mỗi sự vật chi của chúng ta có đây, chúng ta chớ tưởng là của riêng của chúng ta mà lầm, ấy là của Trời sấm, của Trời cho, của Trời ban phú cho chúng ta hết thảy đó, cho tới cái Linh Hồn chúng ta có nên mới biết khôn biết dại, biết phải biết quấy, biết lo biết lắng làm ăn đây cũng là Trời cho hết thảy, đừng gọi riêng của mình mà lầm, Trời muốn cho hay Trời muốn lấy lại đều do nơi quyền hành của trời hết thảy.

   Vậy thì chúng ta phải biết:

   Biết Trời do nơi Thánh Huấn của Trời đã thương đả dạy, đã chỉ biểu, đã nói cạn lẽ rồi, do theo đó mà tìm cho ra từ câu, từ tiếng, từ chữ cho hiểu nghĩa lý, rồi phải theo sự hiểu, sự biết của mình mà làm cho trúng ý Trời dạy, ấy là trúng Chơn Lý đó. Hễ nhầm Chơn Lý thì gặp được Đạo, gặp được Đạo là gặp được Trời, gặp được Trời nơi Tâm trước, rồi mới có thể làm Thánh Thần Tiên Phật được. Phải tìm ra Mối Chánh mà làm ấy là con Trời gập được Trời rồi vậy. Người biết Trời đó.

Vế số 2

     Trời khuyên nhủ người tuân theo Đạo,

          Trời khuyên người ráng tạo quả nhơn;

Trời khuyên công quả chớ sờn,

Trời khuyên phải nhớ Bốn Ơn chớ rời.

     Chúng ta đã hiểu vì ý chi Trời mỡ Đạo Kỳ Ba này cho cõi Nam Thiệm Bộ Châu này rồi, và chúng ta cũng đã hiểu rằng Trời cho người tỉnh đặng biết Trời mà chỉ dạy lại chúng ta, dìu dắt lại chúng ta cho biết Trời và Chơn Lý, là Đạo chánh của Trời, chỉ bảo chúng ta khỏi luồn ma ách nó cám dỗ chúng ta mê mụi hoài, và Trời bảo chúng ta hễ đã biết Trời rồi, thì phải do nơi biết ấy mà dò, mà tìm mà kiếm, mà phăng cho ra mối khỏi còn sai lạc nơi đường tà nẻo vạy nửa.

   Trời đã chỉ như vậy rồi mà trời còn e chúng ta không biết các mối chánh ở đâu mà tìm, mà phăng, nên Trời lại còn chỉ cho chúng ta như vậy nữa: hễ gọi là Con của Trời rồi, chịu nhìn nhận Trời là Cha rồi thì phải tuân, phải giữ, phải noi theo đường Đạo mà đi cho trúng đường. Chúng ta nếu ai muốn biết Đạo là chi, thì hãy dọc đi đọc lại bài Thánh-huấn của Đức Phù-Hựu thì hiểu rõ Đạo là chi.

   Đạo có phải là chi đâu xa lạ mà không hiểu, song le ai có duyên muốn tìm Đạo như lời Đức Phù Hựu đã dạy thì mới thấy rõ không lầm không lạc, Đức Phù Hựu đã nói rằng: “Đạo của Trời lập ra dạy đời chẳng khác nào con Đường của vua đấp. Vua đấp đường là vụ cho dân biết đường mà đi cho đến chỗ đô thành của vua đã lập ra cho dân tựu tập thì chỗ ấy là chỗ chánh. Hễ ai biết nhằm con đường phải của vua đấp ra đó, thì đi nhầm chỗ của mình muốn đến, đi đến rồi thì phải tuân theo luật lệ của vua mà ở, phải giữ gìn sự trật tự của người thay mặt cho nhà vua cai trị, thì lo chi chẳng đặng bình an tấn phát”. 

   Lời dạy của Đức Phù Hựu đã chỉ cho chúng ta ngó thấy rõ ràng trước mắt rồi đó. Đạo là cái đường đi, tỷ như cái đường đi của nhà vua cho phép đấp, cho phép tựu tập lại mà làm gia trụ, miểng là phải tuân luật lịnh cai trị của người thay mặt nhà vua mà ăn ở cho có trật tự thì là trúng luật, thì đặng bình an tấn phát, vì hễ ai trái với luật nước là sái với Luật Trời, mà Luật Trời tức nhiên là Luật Đạo vậy. Vậy thì ngày này chúng ta có duyên tìm Đạo thì hãy chọn coi chỗ nào có lịnh vua cho phép tựu tập lại đặng giảng Đạo lý, chỗ chánh của Trời đó, thì hãy đến mà lập gia trụ đặng làm ăn cho trúng Đạo, có đến nơi ấy mà tìm phăng, thì mới biết Đạo Trời là chi, đặng tuân theo mà giữ cho kỹ lưỡng; vì chỗ ấy Trời đã dạy cho người tỉnh rồi, thì nương theo người tỉnh ấy mà theo thì nào có lạc bao giờ. 

   Đức Phù Hựu cũng đã nói rằng: “Chúng ta, đường Đạo thì ngày này nghe nói chớ chưa thấy, có ai tuy thấy được chút ít, song chơn chưa bước đến được tới thềm, vậy thì làm sao mà biết được”.

   Nếu chúng ta chưa biết được thì hãy tin cậy nơi người đã biết đặng dìu dắt chúng ta chớ có chi đâu. Bằng chúng ta chẳng chịu nương theo người biết, vẫn cứ tự ỷ mình gọi rằng biết, rồi bước ra đường đi một mình, thử coi đến chừng sai lạc rồi trách ai được.

   Đức Phù Hựu cũng đã dạy rằng: “Hễ người nào muốn xuất thân ra đi đường, thì trước hết phải cho có người thạo đường dìu dắt cho thì đi mới trúng, cũng đừng quá tin nơi mình biết coi nơi địa đồ, hoặc tin nơi mấy tấm thẻ dẫn lộ mà đi càn, nếu bị kẻ gian ngọt mật giết ruồi đánh lừa mà thâu hết vốn liến, đến chừng biết được thì ăn năn không kịp, chừng ấy mới tỉnh lại tiếc vì lúc trước ra đường ỷ mình là người thông minh, không cần người dẫn lối, tiếc như vậy có ích chi chăng?”

   Cái vốn liến xác thịt này thì là tiền bạc nhà cửa ruộng đất, nếu bị chúng gạt thì chúng thâu chúng giựt hết vốn liến của chúng ta là vì chúng ta đi lạc, đi sái trên con đường đời.

   Này chúng ta đi trên con đường Đạo mà chúng ta chẳng chịu tuân theo người đã thức tỉnh rồi, chúng ta ỷ mình là thông minh nên chẳng cần ai chỉ lối dẫn đường cho, cứ cho rằng tu là ăn chay niệm Phật vậy là đủ, hay là cứ đọc kinh xem sách mà làm theo cũng được, chẳng cần ai chỉ dẫn làm gì, làm vậy hoài thì nào có chi đâu mà gọi rằng lạc, mà gọi rằng hết vốn liến? Nhà mình mà mình lạc nỗi chi? Tiền bạc mình mình cất kỹ, có ai giựt được đâu mà hết vốn? Có ai cho ai vay hỏi gì đâu mà sợ chúng giựt mà gọi rằng là lạc đó. Lạc hoài, lạc đường đã mấy trăm kiếp rồi mà cũng còn chưa tỉnh, mà vẫn theo miếng cũ cứ đó mà cãi hoài. Dám hỏi: Vậy chớ chúng ta ở đâu mà đi đến đây? Đi đến đây làm chi mà không chịu trở về xứ sở? Cứ bịnh rịnh trên mặt đất này hoài? Tôi từng nghe mấy ông bà lớp xưa nói rằng: Sanh ký tử qui – Sống gởi thác về, ai ai cũng gọi vậy hoài, mà sao thấy lẩn bẩn ở hoài đây, ở hoài trên cõi hồng trần này, cho đến ông bà cha mẹ chúng ta, người nào qua đời rồi thì cũng còn xẩn bẩn còn ở đó với chúng ta hoài, nên chúng ta cứ cúng cơm đơm quả, ai đau ốm thì cúng lạy vái vang nồi chè, bữa giỗ, cơm canh, rượu thịt, cho họ ăn hoài, mà sao lại nói rằng về? Phải về được quê kiển rồi thì sao còn đòi ăn đó? Sao mình còn đây? Có phải là miệng nói sống gởi thác về, nhưng mà vì quên đường về nên còn ở đây hay không? Phải về quê kiển được rồi thì không còn đòi chúng ta nữa, mà chúng ta cũng phải cúng kiến mấy vị trước bằng cơm canh là đồ ăn xác thân này nữa.

   Cớ chi mà lạ vậy? 

   Là quên mình là con của Trời. Cứ tưởng mình này là mình nên chẳng cần ai thức tỉnh chỉ dẫn cho là đi về, tự mình ỷ khôn rồi ra đường phải lạc.

   Lạc rồi quây về, đáo lại chỗ cũ là trên mặt đất này nữa, đáo đi đáo lại nhiều lần chừng nào, thì Linh Hồn càng phải tối tâm, mù mịch chừng nấy. Luân hồi nhiều kiếp, ngu si càng nhiều, hóa ra cái vốn của Thầy ban khi xưa đã hết mà đến chết, tay không cũng vẫn tay không, như vậy chẳng phải là lạc, chẳng phải là mất vốn hay sao? Ấy là tại ỷ khôn, ỷ lanh, ỷ giỏi chẳng cần ai chỉ lối đem đường, mà dẫu cho có muốn có người chỉ dẫn cho nữa, là cứ nghe theo bọn ngọt mật chết ruồi kia, nó rù nó quến giọng quyển giọng đờn mà thôi, chớ nào có nghe theo đường chánh lẻ ngay mà chịu nhìn mình là con của Trời đâu, cứ gọi mình là kẻ đày đọa giam cầm trong 72 cửa ngục, nên phải nhờ cậy bọn kia vái van cho mới được tiêu được rỗi mà thôi.

   Cho đến ngày này cũng còn nhiều người cũng vẫn tin tưởng như vậy hoài, vì vậy nên Trời mới nhắc cho chúng ta rằng: “Trời khuyên nhủ người tuân theo Đạo” là vậy đó. Hễ tuân theo Đạo rồi thì phải chọn con đường nào chánh đáng của Trời lập mà vào, phải coi chỗ nào của Trời qui mà đến. Lời nào của Thầy dạy phải nghe, hễ nghe thì phải ráng nghe cho rành, nghe rồi liền phải thi hành, thi hành thì chớ cãi canh méo tròn, được vậy mới là tuân theo Đạo cho.

   Trời khuyên nhủ người tuân theo Đạo,

   Trời khuyên người, ráng tạo quả nhơn;

          Trời khuyên công quả chớ sờn,

Trời khuyên phải nhớ Bốn Ơn chớ rời.

   Chúng ta đã biết Đạo, đã biết chỗ của Thầy qui rồi, chẳng còm dám cãi canh méo tròn nữa rồi, như vậy chắc được về Bạch Ngọc Kinh của Thầy hay không? Nếu chắc về được sao còn thấy dạy cầu siêu cầu hồn lăng xăng đó. Nếu không chắc về được với Thầy, vậy thì Thầy qui chúng ta về làm chi cho mất sự làm ăn? Để cho chúng ta ở theo đường đời, lo cho có danh có lợi, có tiền bạc của cải cho nhiều, dầu có bề gì đi nữa thì mượn người rổi người cầu cho, được hay không nào có chắc gì đâu, mà cái đời sống này lại được thong thả sung sướng, hơn là đi về với Đạo, đi về tại chỗ Thầy qui, tuân theo Đạo không dám cãi, mà còn phải lôi thôi không chắc gì hết, vì còn phải cầu siêu, cầu hồn lăng xăng như thế tục vậy? Vậy thì nào có ích chi cho chúng ta đâu? Chẳng có ích chi lại còn ép buộc phải về với Đạo làm gì? Đạo nào lại chẳng phải Đạo? Đạo nào cũng vậy, ai kia cũng xưng Chơn Lý vậy. Vậy thì làm sao cho biết chắc mới có thể tìm mà về mà tuân cho!

   Chúng ta mảng có tánh ích kỷ đi hoài, cứ lo sợ mất cái sự sung sướng xác thịt đó nên bo bo tính lợi tính hại, cho tới Trời nói cũng chưa đủ tin. sao chẳng xét chữ của trọn vế, coi coi Trời nói làm sao, mới vừa nghe qua một câu mà đã vội bàn, vội so hơn tính thiệt, nếu vậy mà gọi là về với Chơn Lý là cái gì đâu mà vội xưng là Chơn Lý; chẳng thấy câu sao Trời nói rằng: “Trời khuyên Người ráng tạo Quả Nhơn“, hễ tạo quả nhơn thì được đến Bạch Ngọc Kinh, chắc chắn trăm phần trăm, còn tạo nhơn quả thì luân hồi chịu lấy đừng trách.

   Muốn biết quả nhơn là chi, nhơn quả là chi, thì phải ráng nghe kỹ rồi hiểu thêm lấy, chớ giấy vắn nghĩa dài, không lý viết cho hết được. 

   Một chữ Nhơn nghĩa là Người, là nhơn loại này, là người ta đây, còn một chữ nhơn nữa là cái nguyên nhơn tại làm sao nên mới sanh ra có cái kết quả thế nào; cũng như tại làm sao mà sang hèn, ấy là cái kết quả của cái nguyên nhơn lớp trước, ấy là nhơn quả đó.

   Còn Quả Nhơn lại nghĩa khác. Quả Nhơn nghĩa là Người đặng kết quả rồi. Hễ người nào đặng kết quả rồi thì người ấy được chứng quả rồi. Hễ công quả rồi thì được về Bạch Ngọc Kinh rồi đó, có còn đâu ở dưới thế hạ này nửa mà tạo cái nhơn quả nào nữa đâu.

   Bởi Người là Con của Trời, Người Trời Một Thể Một Ngôi, Trời sai chúng ta xuống thế hạ này đây đặng lập xong danh phận Tam Tài, hễ chúng lập xong hoàn toàn trách nhậm rồi, thì chúng ta dặng chứng quả, thì chúng ta là Quả Nhơn rồi, nghĩa là: Người mà đã đặng kết quả y lời của Trời sai rồi, vinh vang chi bằng. Nếu không đặng kết quả cho y theo lời Trời sai, mà vẫn cứ bo bo lo giàu, lo nghèo, lo sang, lo hèn, lo bề này thế kia ích kỹ cho mình thì là tạo nhơn quả đó, đời đời kiếp kiếp luân hồi theo cái nhơn qủa của mình đã tạo ra thì chịu lấy, như vậy biết bao giờ mà thành cho đến bực Quả Nhơn.

   Bởi cớ ấy nên Thầy mới lập Giảng Đàn đặng qui con cái của Trời về môt chỗ, chỗ Trung Ương Thánh Tòa, đặng Thầy dạy cho chúng ta hiểu rõ Tôn Chỉ vì sao mà Trời mở Đạo, dạy cho chúng ta biết Đạo, cho biết Chơn Lý và lập Cao Thiên Đài thay thế cho Bạch Ngọc Kinh hữu hình nơi thế gian này cho chúng ta ráng lo mà tạo cho đặng Quả Nhơn, đừng cho trôi nổi linh đinh bập bều nữa mà vương lấy nhơn quả thì chịu lấy. Hễ Con của Trời mà còn đường đời, vướng đường đời, thì làm sao cho khỏi nhơn quả đặng.

   Chúng ta là Con của Trời, Trời dạy Trời khuyên, mà Trời cũng chẳng biết chúng ta không nghe đâu, vì vậy nên Trời nói: Trời biết chúng ta hay ngỗ nghịch nên Trời khuyên phải ráng. Hễ Quả Nhơn thì đặng về Bạch Ngọc Kinh với Trời, còn ai không ráng thì chịu lấy.

   Còn những kinh kệ cầu siêu, cầu hồn kia là để dành cho những người không ráng đó, vẫn ỷ mình biết, tưởng trăm ban vạn sự ở chỗ đời này là cái tài hay tri giác của mình làm ra đặng, nên mấy lúc như vậy khoe khoan kiêu ngạo, không biết không nhớ đến Trời. Một ngày kia lỡ chơn ruổi bước, hoặc là bịnh họan vô phương rồi, khi ấy mới biết mới nhớ lại đến Trời mà kêu, thì dùng lấy kinh kệ ấy đặng thức tỉnh linh quang cho họ lại cho nhớ nguồn nhớ cội; mà nhớ hay quên, nhớ thiệt hay nhớ giả, cũng đều tại nơi họ chịu ráng hay không mà thôi, chớ chúng ta sao biết được! Chúng ta có quả quyết rằng dùng một vật nào đặng đưa cho họ về Bạch Ngọc được như mấy bọn sải dùng ngọn phan lá phướng rằng đưa họ được về Tây Phương.

   Chúng ta có một cái hết lòng cầu cho họ siêu mà thôi, chớ chúng ta có làm chi được: Bởi những người như vậy cũng là Con của Thầy, nên Thầy phải để lời nói của thầy lại cho chúng ta, nếu gập ai còn nhớ đến Trời thì đam những lời ấy ra mà nhắc nhở lại cho họ, phổ độ cho họ mau mau thức tỉnh, vì là lời của Ông Trời để lại có lẽ họ mau nghe hơn. chớ chúng ta cũng là người như họ vậy, cái lời nói của chúng ta là lời nói phàm thức tỉnh ai nỗi, cái lời nói này có một ai rủ ren rù quến làm việc phàm thì mau lọt vào tai người phàm mà thôi; vì vậy nên Trời phải để lời nói của Trời lại mà thức tỉnh cho ai là người biết tội lổi mà kêu đến Trời thì Trời sẻ nhứt định. Vậy chúng ta ai đã chịu ráng rồi, thì hãy mau mau tạo cái Quả Nhơn đi.

   Muốn tạo cái Quả Nhơn thì phải làm thế nào cho được! Biết được thì ráng mới được chớ. Hảy xem câu sau thì rõ.

   Muốn ráng cho được chứng vị quả nhơn thì nào có khó chi; “Trời khuyên Công Quả chớ sờn”. Đó, hãy ra công đi, hãy ráng công đi thì được quả chớ có chi đâu lạ.

   Làm sao gọi ráng Công? Muốn biết làm sao gọi ráng Công thì phải cho hiểu chữ Công, chớ không phải đi làm công đó vậy mà gọi rằng công đâu. Công nghĩa là việc chi làm phải ra sức, mà việc nà ra sức làm cho được kia, mới gọi rằng là Công. Hễ việc khó nhọc ra sức làm cho được, thì thấy nó có Công Hiệu, vì vậy nên gọi là Công. Hễ có Công Hiệu thì thấy có Kết Quả. vì vậy nên gọi là Công Quả, chớ không phải như mấy anh đi đến chùa nói rằng công quả đó đâu!

   Hỏi mấy anh đó có ra sức làm việc cho có cong hiệu, cho có kết quả hay không, mà gọi là Công Quả? hay là đến cho có mặt, cho có đếm đầu người đặng đếm ngày? Ai có ra sức thì được gọi là Công, mà ra sức cho có kết quả mới gọi là Công Quả. Cũng chẳng khác chi mấy người muốn cho có danh với đời. thì phải ra sức học cho thành tài, ra sức thi khóa cho đậu, thì mới có danh với đời, người ấy là người chuộng vào công danh đó, không có ra sức làm sao có danh được.

   Còn chúng ta đều là người tu hành, muốn cho chứng quả đặng làm quả nhơn nên phải ra sức vào việc tu hành cho có công đặng kết quả hết thảy.

   Muốn ra sức đặng đáng đứng địa-vị gọi rằng Công thì nó còn phải có nhiều bực tùy theo địa-vị của mỗi người phải làm, song le địa vị nào cũng vậy mình phải tự mình xét lấy, tùy theo tài lực của mình miễn là mình phải cho hết sức của mình mà thôi, miễn là có công hiệu, thì làm sao cũng có kết quả đặng; mỗi người lo tròn phận sự cho tròn trách nhiệm của mình thì ráng lấy cho có hiệu quả, hiệu nghiệm đừng có sờn lòng rủng chí nữa, đừng thối chí mà uổng công phu công trình rồi mất công đức, công nghiệp, công dụng, công năng, công lực của mình thì khó gọi công quả.

   Trời khuyên nhủ người tuân theo Đạo,

   Trời khuyên người, ráng tạo quả nhơn;

          Trời khuyên công quả chớ sờn,

Trời khuyên phải nhớ Bốn Ơn chớ rời.

   Tự bấy này đem thân ra gọi là đi tu mà cũng chưa hiểu tu là chi, nói rằng đi công quả làm công quả, mà cũng chứ hiểu công quả là gì. Này nghe hiểu rõ Công và Quả là hai việc, nghĩa là phải ra sức làm cho có công hiệu cho đặng kết quả thì mới gọi là Công Quả, mà trong những việc làm cho có công có quả đó, phải Nhứt Tâm gắn bó làm cho có kỷ cang, đừng có sờn lòng thối chí kỳ cho thấy đặng mới thôi thì cái quả kia mới thật là kết quả cho.

   Song le đã đem thân ra gọi là người tu thì việc đời không phải là bỏ tuyệt như nhiều kẽ gọi rằng là bỏ đời theo Đạo vậy đâu. Người mà gọi rằng là bõ đời thì làm sao mà gọi rằng theo Đạo cho đặng?

   Đời ấy ấy của ai dựng ra đó? Đạo này là của ai tạo lập ra đây? Cũng đều là của Trời tạo ra cho cả thảy chúng sanh do nơi đó mà lập cái thân này, mà nuôi lớn cái xác thân này, có lẽ nào bỏ bên này đặng theo bên kia bao giờ. Người đi tu mà không có đời thì sao gọi rằng là đi tu cho đặng. Ai tạo lập ra, ai nuôi dưỡng, ai dạy dỗ cái thân này cho có ra đây đặng mà đi tu, rồi đi tu gọi rằng là bỏ đời đi! Người đã phụ rãy đường đời có đáng gọi là Người Ta không? Không Người sao có Ta? Không Ta sao có Người? Vậy thì Đời với Đạo cũng là Một, có Đạo mới nên Đời, có Đời mới lập Đạo đặng. Vậy thì người nào hiểu Đạo, người và tuân Đạo, người nào nhìn nhận rằng mình là con của Trời, Người của Trời sai xuống thế gian này đặng lập cho xong danh phận Tam Tài, thì cũng phải biết rằng cả thảy thế gian kia đều là vật cuả Trời, đều là anh em ruột thịt một nhau rún với mình mà có lẻ nào mà mình bỏ đi mà theo Đạo nào? Có Đạo nào dạy vậy đâu?

   Đời thuộc về phần vật chất. Đạo thuộc về phần Thiêng Liêng. Đời thuộc về xác thân, Đạo thuộc về Linh Hồn. Đời là Người, Đạo là Ta, v.v…

   Có vật chất mới có chỗ Thiêng Liêng mượn mà hành sự, có xác thân mới có chỗ cho Linh Hồn tạm vào mà làm phận sự; có Người mới có kẻ giúp ta, vậy thì Ta phải nhớ Người, Linh Hồn phải cậy xác thân, Thiêng Liêng phải cậy vật chất, hai vật này như hình với bóng, không đặng thiếu sót, không đặng có vật này mà thiếu vật kia, nếu trong thân vật mà thiếu đi môt vật thì vật nào đó là vật chết rồi, vậy đừng ai gọi rằng xã thân cầu Đạo mà lầm, đừng ai nói bỏ đời theo Đạo mà hại, song le đã gọi là người đi tu rồi mà còn quyến luyến hồng trần, mê mẫn theo đời thì không đặng. Tuy biết rằng không đặng rời bỏ đời, nhưng trong phần đời ấy còn phải có bốn phần liêng-cang, dính dấp, còn phải cho người đi tu phải nhớ đến hoài, phải lo đến hoài, không đặng giây phút quên ơn bốn phần ấy.

   Nếu gọi rằng là đi tu, mà quên bốn phần ấy thì làm sao gọi rằng là người đi tu cho đặng.

   Bốn phần ấy là chi? Ấy là bốn phần gọi rằng là đại ân nhân của người đi tu đó, còn đương ở nơi vòng đời, chưa có rỗi rảnh mà đi tu cho đặng. Nay chúng ta đã đi tu rồi thì phải lo phải nhớ đến bốn bực người đó lo về phần đời nên chúng ta mới rảnh rang đặng lo phần Đạo mới đặng. Vậy chúng ta phải khắn khích gắn bó hoài hoài đừng quên bốn bực ấy mới gọi là người chân tu.

   Bốn bực người gọi là ân nhân ấy là ai? Là:

  1. Cha Mẹ
  2. Chúng Sanh
  3. Người Trị Nước
  4. Người đứng vào hàng Tam Bảo

   Bốn hạng người này còn có ở đường đời song có tình liên lạc với chúng ta, nhờ có bốn hạng ấy nên chúng ta đã đặng rảnh rang phần đời mà đi tu vì vậy gọi là đại ân nhân chúng ta đó.

    1. Phần thứ nhứt là Cha Mẹ, tuy trong ấy gọi là Cha Mẹ song trong ấy gồm đủ cả ông bà cô bác thân tộc họ hàng của chúng ta ở trong này khỏi giải cho tốn giấy, chắc anh em tự nghỉ lấy cũng đủ hiểu.

    2. Phần thứ hai là chúng sanh. Bực này gọi là đại ân nhân của chúng ta đó. Hãy nghe kỹ xét kỹ mà cám ơn bực này cho lắm đó. Nhờ có cái hạng chúng sanh trước mắt, chúng ta biết Đạo là quý, Đạo là trọng, nên mới để lòng vào tìm Thầy, tìm Chơn Lý đặng thóat vòng chúng sanh mà vế với Đạo đặng, nếu không có hạng chúng sanh thì chúng ta nào có biết lấy chi làm gương, lấy chi gọi là cực khổ, lấy chi gọi là xấu hổ đê tiện, lấy chi gọi là trầm luân đặng sợ đặng lo đặng tìm kiếm Đạo mà sửa mình cho tấn hóa đâu! Nói tắc là nhờ chúng sanh đó họ làm gương xấu, gương đê hèn, gương quấy, gương tội lổi, v.v… cho chúng ta ngó thấy mà tránh đặng đừng có bước vào con đường đó là con đường phải bị luân hồi đời đời kiếp kiếp, nên chúng sanh đó là ân nhân của chúng ta vậy.

          3. Phần thứ ba là ơn người cai trị nước, cái ơn này không giảng ra chắc anh em cũng phải hiểu rồi, nếu không có người cai trị trong nước cho thái bình thì chúng ta làm sao mà tu cho yên, ơn này lớn biết bao. Chớ nghịch mạng lịnh của người cai tri nước, làm rối loạn trật tự của người cai trị mà mang tội lổi với Trời. Ráng nhớ cái ơn này cho lấm lấm. Đừng tin càng tưởng vơ nghe theo lũ chòm ông xóm kiến mà nghịch Mạng Trời.

   Vì người cai trị nước là có vưng lịnh của Trời sai mới cai-trị một nước đặng. Nghịch mạng người cai trị là nghịch mạng Trời đó. Dẩu cho người nào có Lịnh trên sai cai tri một xóm một làng cũng còn không dám nghịch mạng người ấy thay, huống chi người cai trị một nước.

   Ơn của người cai trị trong nước nặng nề lắm vì phải đủ điều mà nuôi sống cho cả nhơn dân, lo cho đặng thái bình thạnh trị, ơn ấy vô cùng là lớn. Phải để lòng mà nhớ ơn ấy hoài hoài, nếu quên thì phải người gọi là tu theo Chơn Lý, không đặn gọi là con của Trời. Phải nhớ! Phải nhớ! 

          4. Ơn của người đứng vào hạng Tam Bảo. Tam Bảo có nhiều hạng, phải cần giải nghĩa riêng mới rõ đủ. Đây xin giải một cạnh sơ sơ danh hiệu vào bực chót bực thấp mà thôi. Sau có giờ rảnh sẽ giải thêm. 

   Người có lòng dưng hương phụ trợ, phụ cấp cho chùa, v.v… đều gọi là người đứng vào hạng Tam Bảo, vì vậy nên mới có tiếng gọi của chùa là tam bảo đó, ai đi dưng cúng cho chùa đều gọi là người tam bảo. Vật chi cúng chùa đều gọi là vật tam bảo. Của trong chùa đều gọi là của tam bảo. Ấy là về phần nhỏ nhít hữu hình đó, còn nhiều nữa, phần vô hình nữa, phải cần có ngày giờ mới giảng đủ.

   Muốn thành đặng gọi là người tu-hành trưóc phải cho có công quả, kế đó phải nhớ khắn khích bốn ơn mới đặng.

   Còn muốn cho đặng bực Phật như Thích Ca phải có Mười Ơn mới trọn.

   Huống chi chúng ta này là người tu hành là học làm Trời, phải cần ít nữa là trăm ơn, ngàn ơn, muôn ơn cho khắn khích, vì vây nên Thầy mới có câu: 

“Trời khuyên phải nhớ bốn ơn chớ rời.”

Vế số 3

          Trời đã dạy nhớ Trời Độc Nhứt,

          Trời khuyên người tuyệt dứt phàm tâm,

Trời khuyên ráng học ráng làm,

Trời khuyên người chớ tin xàm tưởng vơ.

  “Trời đã dạy nhớ Trời Độc Nhứt“

   Hỏi: Trong một câu này mà có hai chữ Trời, là vì ý chi vậy? Trời nào đã dạy đó? Đã có Trời dạy rồi mà còn lại dạy phải nhớ Trời nào nữa? Đã gọi rằng Trời, mà lại còn gọi có “Trời Độc Nhứt” nữa! Nghĩa là “Ngôi Trời có Một không hai”, nếu vậy chẳn là Trời có nhiều Ngôi lắm hay sao? Bởi Trời có nhiều Ngôi nên mới có Ngôi Trời tương đối, vì có Ngôi Trời tương đối nên mới có Ngôi tuyệt đối, hễ có Ngôi tuyệt đối nên mới có Ngôi Độc Nhứt vô nhị (có một không hai); cũng như trong câu này mà phải có đến hai Ngôi Trời hay sao? Có một Ngôi dạy đặng nhớ Ngôi Độc Nhứt kia. Vậy thì Ngôi dạy này là ai? Cái Ngôi Độc Nhứt kia là ai? Mà hễ nhớ cái Ngôi Độc Nhứt kia rồi, thì cái Ngôi dạy này phải làm sao? Lại còn một phần nữa là: đã nói Người là con của Trời, “Người Trời một Thể một Ngôi”: vậy chớ Trời đó lại là Trời nào nữa? Xét đi xét lại, sao nghe Trời có nhiều quá vậy?

   Đáp: Trời vốn có Một Ngôi chớ nào có nhiều, Ngôi Một ấy là Ngôi Độc Nhứt vô nhị, Chí Bửu Chí Tôn vậy. Nhưng chẳng phải nói rằng có Một, rồi Một Ngôi đó trơ trơ trọi trọi đó vậy gọi rằng là Ngôi Một đâu! Trời là Sanh Hóa, Trời là sự Sống thiêng liêng của cã kiền khôn vũ trụ, vì vậy nên Trời không biết bao nhiêu mà đếm cho xiết. Tuy vẫn rằng nhiều, song le trong những Ngôi ấy, tóm tắc lại có ba phần gồm trọn đủ cả thảy mấy trăm vàng ngôi kia. Hiểu đặn Ba Ngôi này rồi, thì còn phải thâu rút lại còn Một Ngôi Một mà thôi, vì có Một Ngôi Một này mới có Ba Ngôi kia, có Ba Ngôi kia mới có Sanh Sanh Hóa Hóa ra muôn vàn Ngôi khác, bao trùm cà kiền khôn thế giái mà đều đặng có sự Sống như nhau. Cái Ngôi Một ấy là Ngôi Độc Nhứt vô nhị vậy; ấy là Ngôi Chí Bửu Chí Tôn đó, ấy là Ngôi tuyệt đối đó.

   Muốn biết sự Sanh Hóa của Ngôi Trời Độc Nhứt, thì phải hiểu câu Thánh Giáo bài sơ giảng học đường của Thầy đã giảng ra một tia Chơn Lý ra cho chúng ta rồi. Thầy đã dạy chúng ta suy kỹ nghiệm cang cho biết rồi, song vì lòng chúng ta quá vọng quá lo ích kỷ , quá lo tự tôn tự đại, nên đọc rồi bỏ qua, kẻ ỷ mình biết cửu cửu bất nhứt chi đó đem ra nói om sòm, rồi gọi mình là giỏi; người biết thái cực lưỡng nghi tứ tượng bác quái gì đó, rồi đem ra cãi lẩy rầm rộ, có kẻ lại nhứt nhi tam, tam hiệp nhứt, rồi bày dặt tam gian hiệp nhứt vấy vá phá rối Đạo Trời, mạnh ai nấy cãi, nấy chia phe phân phái, chớ nào có ai chịu suy kỷ nghiệm cang như lời Đức Chí Tôn đã trân trọng dạy dỗ khuyên lơn đó đâu!

   Hãy đọc lại cho kỹ và suy xét cho cùng, và hãy đọc Thánh Huấn của Đức Phù Hựu câu “Người không lúa thì Người dâu còn, cũng như Trời không Người thì Trời nào có; nhưng mà lúa ấy phải nhờ có Người mới có, cũng như nhờ Trời mà ra vậy.”

   Xin anh em lớn nhỏ, hãy ráng suy nghiệm bài Thánh Huấn sơ giảng học đường của Đức Chí Tôn cho kỹ, và dọc cho chín chắn bài Hột Lúa của Đức Phù Hựu nơi ấy cho tin tường rồi trước đi, khi ấy tôi và anh em sẽ trao đổi ý kiến lại mà tìm cho ra nghĩa lý câu: “Trời đã dạy nhớ Trời Độc-Nhứt”, đặng cho biết coi mấy Ngôi Trời kia là Ngôi nào, còn Ngôi nào dạy đây, Ngôi Trời Độc Nhứt là Ngôi nào, Ngôi con cái của Trời ấy là ai, Ngôi hiệp nhứt với Trời ở đâu, v.v… mà tìm chớ, cho thấy Đạo của Trời.

   Tôi chẳng phải chẳng chụi đem ý kiến của tôi ra trước đây đặng giảng cho anh em rõ. song câu Thánh Huấn này, câu Trời đã dạy nhớ Trời Độc Nhứt đây, ấy là một câu tóm tắt Con Đường Chánh cho chúng ta phải biết mà tìm đó, ai chụi ra công khảo cứu thì thấy, bằng ai bỏ qua thì chụi lấy.

   Tự bấy này, từ khi có bài sơ-giảng đến bây giờ, không thấy ai chịu suy kỹ nghiệm cang như lời Thầy đã dạy, mà thầy là Đại Từ, Thầy cũng đã nhắc lại nhiều lần rồi, như nhắc câu: 

“Phải tin cậy Một Trời Độc Nhứt,

Phải ân cần tuyệt dứt phàm tâm”

hai câu ấy có khác chí câu này dâu:

“Trời đã dạy nhớ Trời Độc Nhứt,

Trời khuyên người tuyệt dứt phàm tâm”;

hai câu vốn là Một, mà khác chỗ dạy thôi, vì tự bấy này không ai chịu khảo cứu, tới ngày này muốn đem ý kiến của tôi ra phô bày cho anh em xét, song nghĩ vì lời Trời dạy anh em còn bỏ qua thay, huống chi là tôi nói mà ích chi với anh em đâu!

   Vậy cúi xin anh chị em, ai là người chịu đọc chịu học, chịu suy kỹ nghiệm cang, chịu tra xét lời Đức Phù Hựu dạy, chịu đem lòng tìm cho ra Mối Đạo, chịu đem lòng xét cho thấy ngọn đuốc Chơn Lý, thì khi ấy chúng ta sẽ hiệp nhau lại mà trao đổi ý kiến câu này mà thôi.

Còn nữa, mà chưa biết ngày nào.

Còn đợi bạn tri âm sẽ khải khúc cầm Chơn Như.

Đức Tổ Sư Hổn Ngươn Thiên Sư Chưởng Quản

(1936)

Lý Khí

Làm căn bản cho những

Vật Sống Hữu Hình

Bài dạy Đạo của

Đức Hổn Ngươn Thiên Sư Chưởng Quản

(1936)

Cái mà Ta gọi là Ngươn Khí sanh ra Trời Đất nó có sẵn trong thân thể Con Người chớ phải không hay sao.

Nhứt Tâm Qui Hướng Vô Vi Chưởng Giáo, thành thật Tâm thì rõ liền:

Kìa trong thân thể Con Người tứ chi bác mạch, gân cốt xương thịt, nhờ chi mà Sống mà Sanh, nhờ cái chi mà vận chuyển đặng? Có phải là nhờ cái Hơi có sự thở ra thở vào tự nhiên đó hay không? Cái phổi kia là vật để cho hơi dùng làm việc bổn phận đó vậy. Cái Hơi thở ra thở vào gọi là “Khí Hô Hấp”. Cái Khí Hô Hấp của người ấy nó cấu tạo hồi lúc Tiên Thiên đặng làm cho có thân người bây giờ, thì cái Khí ấy gọi là “Ngươn Khí”. Cái Tiên Thiên Ngươn Khí tuy đã biết rằng là ở trong cái Nguyên Khí nhân luân của cha mẹ, nhưng mà lúc trước khi cái Nguyên Khí nhân luân ấy phát sanh ra thì cũng phải có một cái nguyên nhân gì mới được, chớ chẳng lẽ khi không mà có. Cái nguyên nhân mà khiến cho cái Tiên Thiên Ngươn Khí nó nhân luân lại đó đặng cấu tạo ra cái thân này thì gọi là cái Nguồn Ngươn Khí, mà trong Nguồn Ngươn Khí nó phải có một cái “Nguyên Lý” cho chánh thức chánh đáng thì cấu tạo cái thân này ra mới Chơn Chánh, nếu cái Nguyên Lý ấy không được chơn chánh thì dầu cho có cấu tạo cái thân này ra cho đặng nữa thì cái thân này chẳng hề có đặng. Chơn Tánh hoàn toàn, là vì nếu cái Nguyên Lý và Nguyên Khí không được chơn chánh thì khó bề hiểu biết Chơn Lý được vì trong mình nó đã không có sẵn cái Tiên Thiên Chơn Lý Nguyên Khí, vì vậy nên phải thường mê sa về vòng vật chất, hoặc tả đạo bàn môn, vì phái ấy đều là phái tà vọng, nên phù hạp với cái nguồn ngươn khí của nó.

Vậy, đủ rõ rằng Người mà được có ra, đước Sống, được Sáng là nhờ cái “Nguồn Ngươn Khí” đó, vì cái Nguồn Ngươn Khí nó đi ở trong châu thân con người chẳng sót một chỗ nào, dầu cho một cái chót tóc chơn lông nó cũng là không sót.

Lúc nó ở ngoài thì nó dựng nên Kiền Khôn Võ Trụ, nó nưng đỡ và che đậy cho Trời Đất vững vàng.

Lúc nó vào trong châu thân Con Người thì nó cũng nuôi dưởng Con Người cho đặng trường sanh bất tử. Nó lên lên xuống xuống, vô vô ra ra, không hay biết đặng, điều hòa đêm ngày, không một nhịp nào có sự gay go trắc trở là không dịu dàng êm ái hòa nhã.

Cũng nhờ cái sức điều hòa ấy nên Trời kia Đất này, Người đây, mới được có Sự Sống vô biên vô lượng.

Luận về việc lớn cả thể thì cái Nguồn Ngươn Khí nó sanh trưởng cho cả Võ Trụ và Nhơn Loại như vậy, còn luận lại việc nhỏ nhứt tế vi hết sức thì dầu cho có một hột cát hột bụi trần thì cũng có cái Nguồn Ngươn Khí nó ẩn ở trong đặng sanh dưởng cho hột cát hột bụi đó. Nếu trong hột cát hột bụi đó mà không có cái Nguồn Ngươn Khí ẩn núp ở trong thì có đâu mà làm phận sự đặng nuôi cho cây cỏ bông trái nó sống, nó tươi đặng khoe khoang đua nở, trải lá phơi cành ứng đủ màu xinh vẻ đẹp? Nó ẩn ở trong một hột cát hột bụi nhỏ nhít như vậy thì nó trưởng dưỡng những vật nhỏ như cây cỏ bông trái đó; còn kìa mấy trái núi đồ sộ kia, mấy cây đại thọ dìm già chống trời đó, nhờ chi mà được sựng sựng vậy? Chỉ chẳng phải cũng nhờ cái Nguồn Ngươn Khí đó sao?

Ta hãy phóng thêm cái tầm con mắt ta ra thêm xa nữa mà coi mà xét thì thấy, nước bốn biển năm hồ, nhờ cái chi mà lên lên xuống xuống, lớn lớn rồng rồng, kém kém? Nhờ cái chi mà nay lở chỗ nầy, mai bồi chỗ khác? Nhờ cái chi mà cồn hóa vực, vực hóa cồn? Nù nù những hòn nổi giửa biển kia làm sao được xanh tươi đó? Thâm thẩm dưới đáy biển, sao lại có đặng những vật quí báu như trân châu lưu ly kia? Ngươn Khí nó chảy luồn truông khắp cùng võ trụ chẳng chừa một chỗ nào mà nó chẳng đi tới đặng sanh sanh hóa hóa, trưởng trưởng dưỡng dưỡng cho đủ chỗ mọi nơi đặng làm cho xinh đẹp cái bầu thế giới nầy, chớ nào có phải là nó ở một chỗ một nơi trong mình loài Người đặng nó làm cho tứ chi, bác mạch ta cho được nở nang tươi tắn mà thôi sao?

Chim kia biết bay, cá này biết lội, cây trái biết đơm hoa trổ nhánh, nước sông biết xuống biết lên, non núi biết đứng vững đặng chống tuyết ngăn sương, bốn mùa tám tiết vần xoay không sái một mực, chi chẳng phải là nhờ cái Nguồn Ngươn Khí chảy vào, cho đến nổi một cái chót gai mức nhọn, một cái vòi cỏ uốn quanh, một hột giống nức nanh, một trái cây nở mộng, một tiếng dế ngân, một giọng ve ca, một lượng sống nhồi, một lằn mây phớt, chi chi cũng đều có Nguồn Ngươn Khí nuôi dưỡng mà Sống cùng Trời Đất, Hiệp Nhứt với Võ Trụ vì cũng đồng một sự Sống như nhau thì

Người đây là một vật rất quí hơn các vật kia, lại lẽ nào mà chết mất đi mà chẳng được nhờ Nguồn Ngươn Khí lập thành cái Chơn Thân Chơn Thể, cái Mình Thiệt của Người đặng Sống, sống vĩnh viễn trường sanh, sống vô chung, vô thỉ, sống làm Một với Kiền Khôn Tạo Hóa hay sao?

Xét biết được cái Nguyên Lý Nguyên Khí ấy rồi thì Ta là cái Lý đó, Nó là Ta, thì Ta biết ngần nào là Ta túc ý mãn nguyện, xiết bao sự hớn hở vui mừng! Thiệt Người là đó (La Véritable Intelligence – Lý đó là Ta trong Người mà Nguồn Ngươn Khí là Chơn Thân hay là Bổn Thân đó vậy).

Vinh hạnh thay cho Người hấp thụ được cái Nguồn Ngươn Khí chơn chánh nên mới được sánh với Trời Đất mà lưu chuyển với Chơn Lý tự cổ chí kim, trường sanh bất tử. Người Vốn là Gốc Lý Sanh Khí Hóa là vậy đó.

(Đó là cái Mình Điển của Người Rước Điển, vì Lý nầy mới cảm ứng đặng với Trời thiêng liêng vô hình do Mối Điển Vô Vi).

Tỏ rạng thay cho cái Chơn Lý, cái Chơn Nguyên của Đạo, tạo nên Kiền Khôn Võ Trụ này!

Cái Chơn Tâm này đã hiểu thấu cái Chơn Lý ấy rồi thì mặc tình Ta vui, vui mà theo Một nhịp với Trời, theo một chiều với Đạo.

Đức Tổ Sư Hổn Ngươn Thiên Sư Chưởng Quản

(1936)

Tinh Thần Phật Giáo

Bài của

Đức Đạo Tổ Thoại Hà Nguyễn Hữu Phùng

(1935)

Trước khi cầm ngòi viết đặng luận về Tinh Thần Phật Giáo, tôi nghĩ tới nghĩ lui hoài, rồi hóa ra bật cười, rồi tôi cũng tự mình tôi trào phúng lấy tôi rằng: Ồ chà! Tên này đây bây giờ bắt chước ai mà dám luận đến Tinh Thần Phật Giáo? Tu hồi nào? Học với ai? Đọc sách gì ? Có thuộc kinh kệ gì không? Có biết ăn chay trường là gì không? Hay là dọc cợt quẹt ba tờ nhựt báo quốc âm rồi cũng đâm ngan ra viết Tinh Thần Phật Giáo? Hay là đọc mót máy ít cuốn tạp chí nói việc chấn chỉnh Phật học rồi cũng  đâm giọc ra đặng viết Tinh Thần Phật Giáo nữa? Hoặc là nghe lóm nghe liết mấy câu sáo ngữ của mấy chú sải làm đám ma chay, thí rế cô hồn, thuyết kinh thuyết kệ gì đó, rồi cũng đâm hoàn ra nói Tinh Thần Phật Giáo? Tự mình tôi cười lấy tôi vậy. Rồi tôi cũng tự mình tôi thưa lại với tôi, đặng tự mình tôi giải chào cho tôi rằng: Quả thật vậy, tên này nó không có tu chùa nào, nó không học với ai, nó không biết sách Phật là gì, cũng không phải là đứa dư giả gì mà có tiền mua sách Phật cho nổi, mà dầu cho nó có mượn mỏ của ai đặng đọc đi nửa, là sách Phật không phải rẻ rúng gì mà coi cho nổi với sự dốt nát của nó đó, lại nó chẳng hề có biết ăn chay ăn lạt là chi, chẳng biết ăn lục, ăn thập là sao hết thảy, nó chỉ biết ăn mày ăn xin tùy hỉ theo đồ của thiên hạ bố thí mà thôi, mà nó cũng quả thật là nhờ có đọc ba cái tờ nhựt trình quốc âm, coi ba cuốn tạp chí nói về Phật học, và nó nghe lóm ít câu thuyết pháp của sải làm ma chay đó, nên nó mới biết chút ít về Tinh Thần của Phật là thể nào, nên nó mới viết ra đây đặng cho anh em nó, những người nào cũng là bực quê mùa về sự học Phật như nó vậy, đọc coi cho giải muộn đó, và đặng nó rủ ren anh em đồng bực như nó , ráng sức tìm kiếm cái Chơn Lý trong vẻ tự nhiên của mình thấy, mình biết thể nào, đặng giúp đở lẩn nhau về phần tinh thần, tránh những điều mê tín mà thôi, chớ nó nào dám so sánh việc chữ nghĩa kinh kệ chi với bực chơn tu mà nó phòng ngại. Còn phần riêng về việc chữ nghĩa kinh kệ ấy, thì dầu ai cũng vậy, cũng phải để riêng phần ấy cho mấy bực hòa thượng kiết ma giáo thọ của nhà chùa giải cho nó nghe, chớ nó nào dám động đến đó mà phòng lo. Xét vậy được rồi, nên tôi liền cầm bút mà hạ xuống đặng viết cái vấn đề Tinh Thần Phật Giáo này đây vậy.

Ông Phật là Ông Phật, chớ không phải ông Phật là ông Thích Ca, còn ông Thích Ca là ông Thích Ca, chớ không phải ông Thích Ca là ông Phật. Vì sao vậy? Vì ông Thích Ca là một ông sanh đẻ nhà cùa họ Thích Ca đó mà thôi, còn không biết là mấy trăm ông Thích Ca khác nữa, cũng như Phật cũng không biết là mấy mươi trăm ngàn muôn ức triệu ông Phật khác nữa, từ đời trước đã có, đời nay đương có, và đời sau sẻ có nữa. Song le ông Thích Ca Tất Đạt Đa đó là một người của Ấn Độ khi ấy tôn xưng cho ông được cái danh hiệu là Phật lúc ông đương sống vậy, vậy đủ hiểu ông là một vị Phật trong muôn ngàn ức triệu các vị Phật khác mà thôi, chớ không phải một mình ông gọi là ông Phật được. Song muốn biết làm sao mà ông Thich Ca Tất Đạt Đa lại được người tôn là Phật tổ, cho đến ngày nay, hễ ai nói tới tiếng Phật thì cũng chỉ ngay vào ông mà nói, thì phải hiểu rằng ông là một người không có tánh mê tín như ai; ông là một người Giác Ngộ trước hết trong xứ Ấn Độ vậy. Hễ người mê tín thì không được Giác Ngộ, dầu cho có trường trai khỗ hạnh đời đời kiếp kiếp đi nữa, thì chúng sanh cũng hoàn chúng sanh, luân hồi cũng vẫn luân hồi, còn người Giác Ngộ thì chẳng hề mê tín, dầu cho ăn chi thì ăn nấy, rượu thịt cũng không ngại, mà trong một thời gian vắn vỏi, Phật cũng thành Phật mà thôi. Xét lấy ông Thích Ca Tất Đạt Đa đó thì đủ làm gương cho ai là người muốn thoát kiếp chúng sanh đặng thành Phật thì phải coi lấy đó đặng bắt chước mà sửa mình theo cách của ông sửa Tâm, sửa Tánh, sửa ý, sửa chí của mình đặng noi theo nghị lực của ông, thì mình ắc được thành Phật như ông chẳng sai. Chúng ta đã nhứt tâm Tín ngưởng theo Phật Thích Ca rồi, là vì hễ chúng ta mở miệng ra thì tôn thì tôn Ngài làm Bổn Sư, vậy thì chúng ta hảy cứ nhứt tâm mà Tín ngưởng theo Ngài, theo những lời dạy nào mà phát từ cửa miệng Ngài đặng chúng ta làm theo, tưởng chớ mê tín theo lời dạy của Phật nào khác hơn Ngài nữa.

Nay tôi luận qua Tinh Thần Phật Giáo đây, thì tôi vẫn rút tắc qua những lời của Ngài nói mà tôi để ý xét tới, biết chắc rằng quả là lời của Ngài đặng luận thôi, ngoài ra những lời nói nào, hay là những việc chi khó tin được, thì tôi xin không chịu mê tín theo ai hết thảy. Lời tôi sẻ luận đây, là tôi dùng tinh lực của tôi mà tôi luận ; tôi một cứ do nơi Lương Tâm tôi chọn những điều chi có ý nghĩa sâu xa trong việc học Phật, ý nghĩa sâu xa mà không phải là việc huyển hoặc làm cho người phải mê tín, những ý nghĩa ấy tôi biết tới đâu thì tôi đều đem ra đặng bàn giải lập luận theo sở kiến sở văn của tôi mà thôi, chẳng trộm theo ý kiến của ai, chẳng dùng lời sáo ngữ của ai đặng phụ họa theo, dầu có trùng nhầm những lời nào của bực cao kiến đã luận đến rồi, thì ấy là sự phước sự may mắn của tôi bàn trúng đó, còn nếu có lời nào trái hẳng với ý kiến của chư tôn đọc giả, thì xin miểng chấp cho tôi và cũng xin phê bình vào đặng vạch đường chỉ ngõ cho nhau, cho rõ thấu Chơn Lý, ngõ hầu đồng bước trên cỏi Tinh Thần của nhà họ Thích vậy.

Xét trong những lời của Tứ Đại Thánh Nhơn (Nho, Đạo, Thích và Gia Tô) dạy đời, thì chĩnh có một mình lời của Khổng Phu Tử dạy là dể hiểu dể nghe mà thôi, vì là lời của Ngài nói đều là sự hiện tại trước mắt, ai nghe cũng đều rõ được, song khó là khó có một điều, là không ai chịu làm theo cho giống lời Ngài dạy mà thôi; còn những lời dạy của Ba vị Giáo Chủ kia thì đều thật là khó hiểu, vì những lời của Ba vị ất dạy, phần nhiều đều là lời Nói Bóng, ai có để ý trầm ngâm đặng chính xét, thì hoặc may mắn hiểu được ít nhiều cùng chăng, nếu chẳng có để ý cẩn thận mà xét đến, cứ nghe suông qua, thì tôi chắc chẳng hề khi nào rõ được cái Chơn Tướng của lời nói của Ba vị ấy. Cái Chơn Tướng của lời nói đã chẳng thấy được, thì còn trông chi mà hiểu được đến cái Chơn Lý? Bởi vậy nên mới có sanh ra nhiều chi nhiều phái, là tại vậy đó.

Bài này ngày nay, đã gọi rằng là Luận về Tinh Thần của Phật Giáo thì tôi vẫn xin tìm kiếm nơi mục Tinh Thần của Đức Thích Ca mà thôi, còn những sự chi ngoài mục Tinh Thần của Phật Thích thì tôi xin kỉnh trọng những sách vở đã có, những truyền thuyết đã làm, những kinh tạng đã sẵn, cùng là những phim bóng đã chớp, những tuồng bài đã diển, nhữ bài của các vị chủ bút nhựt báo đã đăng, những lời của các Hòa thượng chư sơn đã giảng, tôi kính trọng như vậy, đặng để làm tài liệu, mà khảo sát về sau chớ tôi chẳng dám nối điêu một mảy.

Bài luận này, tôi phân ra nhiều chương, mỗi chương có nhiều đoạn, chưa biết đến đâu là cùng. Vậy bắt đầu tôi cũng xin luận sơ chương của Ngài giáng sanh.

Luận về sự tích Bồ Tát trước khi giáng sanh

(Chương này phân ra ba đoạn)

Đoạn thứ nhứt : Nghe những vị tiền bối thuật chuyện và thấy một vài cuốn sách cùng là có đọc một đôi đoạn kinh ghi chép rằng : Đức Thích Ca Mâu Ni thành được bực Phật kiếp này, nhờ Ngài đã tu hành mấy trăm ngàn kiếp trước và cũng đã đắc đạo và cũng đã đến được bực Bồ Tát mấy kiếp trước rồi. Trước khi Ngài giáng sanh vào cửa họ Thích Ca đây, thì Ngài là một vị Bồ Tát ở tại cõi Đâu Suất Thiên, có Phật Đỉnh Quang chỉ bảo cho Ngài rằng: Còn phải giáng thế một lần nữa, đặng lo cứu độ chúng sanh cho giải thoát các điều tai nạn. Khi nào đã được mãn kiếp ấy rồi, thì mới được thành Phật.

Đoạn thứ hai : Ngài tự xét biết mình còn có một kiếp Nhơn Duyên lo cứu thế rất lớn lao như vậy, nên Ngài hằng lo chọn một nơi nào ở thế gian mà có nhơn duyên về phần xác thịt với Ngài, nghĩa là Ngài chọn một nơi nào ở thế hạ này, mà là một đôi vợ chồng nào có chí tâm mộ Đạo, có dẫy đầy phước đức, thì Ngài mới chịu đầu thai vào cửa nhà ấy, đặng Ngài mượn lấy cái xác thịt gọi là Con của Nhà ấy, đặng Ngài có được một cái xác thân vật chất của thế hạ này đặng có thể đi đứng nói năng, thì mới có thể Giác Mê chúng sanh được.

Đoạn thứ ba : Khi Ngài đã chọn được nhà của Vua Tịnh Phạn họ Thích Ca nơi xứ Ấn Độ, là nhà vua rất có Đạo Đức vừa vợ vừa chồng, đáng cho Ngài mượn xác dựa làm con, mà Ngài còn phải đợi cái thời giờ của Ngài đúng phải kỳ giáng thế thì Ngài mới chịu giáng sanh. Lúc Ngài xét đúng ngày giờ rồi, thì Ngài mới hóa làm một điềm chiêm bao cho Bà Ma Gia phu nhơn ngó thấy, trong lúc Bà đương ngủ trưa. Điềm chiêm bao ấy như vầy : Ma Gia phu nhơn đang ngủ trưa, Bồ tát hóa làm một điềm chiêm bao cho bà thấy, điềm chiêm bao như vầy: Có một người ngồi trên lưng một con Voi Trắng Sáu Ngà, chung vào nơi sường phía tay mặt của Bà, Người ngồi trên con voi này thì lại thấy phía trên người ấy còn có ba người hộ theo, một người cầm cái chày, một người cầm cái bánh xe và một người cầm một xâu chuổi. Đi theo mấy người này lại còn có nhiều người đờn ca xướng hát tiêu thiều nhạc trổi nghe rất êm tai.

Lời luận : Những việc của Bồ Tát trước khi giáng sanh xuống trần thế, theo sách vở kinh kệ thì nói chẳng biết là bao nhiêu sự huyền bí, chỗ nói nhiều, chỗ nói ít, thêm thêm bớt bớt, không biết cuốn nào làm chắc thiệt, vì những sự ấy đều là những sự khi Bồ Tát còn ở trên Trời, mà là không biết là mấy mươi muôn kiếp ở trên Trời như vậy, ngày tháng năm nào ở đâu, nói cũng không có thứ tự, biết đâu là chơn, biết đâu là giả, mà những kiếp như vậy, hỏi thử lại coi mấy ông viết kinh viết sách đó làm sao mà biết được mà chép ra đó. Mà còn người nào nói lại đó làm sao biết mà nói cho người chép? Song le hễ phàm người đã có chí tìm Chơn Lý của một sự vật chi, thì phải phăn phải tìm cho thấu đáo, thì mới mong rõ thấu được cái sự Thật của sự vật ấy cho. Vì vậy nên tôi đây, dám bạo gan bỏ hết những chuyện gì hoang đàng quá đi, không xét đến, không luận đến, chỉ tóm tắc lại có ba đoạn như tôi đã lược kể ra trước đây, đặng để ý mà luận cho ra Tinh Thần của Phật, lúc Bồ Tát còn đương ở cảnh Chư Thiên.

Đã rằng Bồ Tát ở cõi Đâu Suất Thiên thì đã có nghe Phật Đỉnh Quang dạy có phải tái sanh giáng thế lại một lần nữa đặng giác mê cho chúng sanh, rồi mới được thành Phật. Vậy nay ta xét coi cảnh Đâu Suất Thiên ở đâu ? Phật Đỉnh Quang là Phật gì ?

Đâu Suất Thiên là một cõi Trời trong sáu cỏi Dục Giái ; tiếng Phạn kêu là Tuçita, Tàu dịch là Đâu Suất, nghĩa là Hết sự Tham Muốn, biết đủ mùi đời rồi. Bực nào trong lòng biết mừng cho mình rằng mùi đời đã đủ, không còn sự tham, sự muốn chi nữa, biết được vậy nên biết thôi, mà lại mừng, lại vui, thì bực ấy được Sống ở cõi Đâu Suất Thiên vậy. Trong sáu cõi Dục Giái, thì cõi này nhằm cõi thứ tư, nó ở giửa cõi Dạ Ma Thiên và cõi Lạc Hóa Thiên.

Ba Cõi – Tam Giái

Phật giáo chia Trời ra làm ba cõi là : Dục Giái: Cõi tham muốn ; Sắc Giái: Cõi vật chất ; Vô Sắc Giái: Cõi không Dục mà cũng không Sắc, duy còn có một cái Thức Tâm mà thôi.

Một – Cõi Dục Giái là chỗ chứa những lòng Tham Muốn. Trong sự tham muốn ấy có hai việc trọng hơn hết là Tham Dâm và Tham Ăn. Cái Dâm dục và Thực dục ấy nó đều ngụ ở trong cái Tình nên những sự mê luyến về Tình thì đều thuộc về cõi Dục Giái. Cõi này trên thì gồm cả cõi Lục Dục các từng Trời ; giửa gồm cả Tứ Đại Bộ Châu ; dưới đến tận nơi chỗ thập bát tằng Vô Gián Địa Ngục.

Hai – Cõi Sắc Giái là chỗ chứa những đồ có hình chất như thân thể của muôn loài ở thế gian, như lâu đài phố xá nhà cửa, như đất nước cây cỏ, như trân châu bửu vật. Nói tóm lại là những đồ vật chất hữu hình nào rất tinh xảo thì đều thuộc về cõi Sắc Giái ; mà trong những vật ấy, loài người là đứng vào bực Hình Chất thứ nhứt. Cõi này có chỗ chia ra làm 16, hoặc 17, hoặc 18 từng, là tùy theo bực người thiền định cao thấp thể nào, mà đều ngụ vào trong bốn cấp.

Ba – Cõi Vô Sắc Giái là cõi không một hình chất chi mà cũng không một màu sắc chi hết, duy còn có một cái Thức Tâm là cái Tâm biết phân biệt đặng trụ nơi các thiền định rất cao thâm vi diệu mà thôi. Cõi này đã là cõi không có hình chất mà cũng không có màu sắc chi nữa rồi, nên cái chỗ của nó là chỗ nào không nhứt định được, chỉnh biết nó là có bốn lớp hoặc bốn từng, gọi là Tứ Không Thiên.

Ba cõi này đều là chỗ thế giái của kẻ phàm phu buộc phải tới lui lai vảng hoài hoài, vì có vậy nên đời mới gọi là Sống Chết đó. Tuy là Ba (3) cõi, song nó vẫn thiệt là Sáu (6), vì ba cõi thì ở tại thế gian đây, trên mặt đất này đây, gọi là Dương Trần này, đặng Sống mà Gởi cái xác thân này, đặng lo tu hành mà bồi đấp cái thiện căn của mình, phòng khi Thát đặng Về nơi Ba cõi ở nơi Hư Không kia. Nơi Ba cõi Hư Không thật là xứ sở của ta đó, vì Tinh Thần gốc ở đó, Bổn Lai của ta là nơi đó. Người lúc Sống Gởi ở Dương Trần này, nhà Phật gọi là chỗ Địa Cư, tiếng Phạn gọi là Bhauma, tu hành cho vững, thiền định cho dày công phu, đến khi Thát Về nơi quê xưa cảnh củ của mình là Hư Không Cư, tiếng Phạn gọi là Antariksavasina ; về nơi đó được rồi, thì hoặc là được tấn hóa thêm đặng lên đến cõi khác, có lẻ được thong thã hơn ; nhứt là được lên đến cõi Vô Sắc Giái ; nếu chẵng được vậy, thì sụt xuống Vô Gián Địa Ngục.

Luôn dịp tôi cũng xin biên luôn mấy từng Trời ở nơi Ba cõi ấy cho đọc giả xem sơ qua cho biết tên, phòng sau có chỗ nói đặng khảo cứu cho tiện. Đây là tôi biên tên ba cõi thuộc về Tinh Thần, nơi Hư Không Cư mà thôi, còn Ba cõi thuộc về vật chất nơi Địa cư, thì là trên mặt trái địa cầu này đây, chớ không ở đâu khác, vì vậy nên trên chốn Địa Cư này gọi là Nhơn Giái, gồm đủ cả các Hình Thể Hình Chất của ba bực ở Hư Không Cư, và Vô Gián Địa Ngục mượn chỗ đặng gởi cái xác thân đặng tu thân sửa lổi hay là trồng thêm phước đức thì tùy duyên của mỗi người gặp cảnh ngộ.

Dưới đây, tôi tóm tắt theo kinh sách Phật đặng giải nghĩa sự sấp đặt Ba cõi thế nào, còn phần tín ngưởng cùng không là phần tự do của chư tôn đó, không ai có quyền bảo hay là ép ai tin hay là không tin được.

Muốn rõ cách Triết Lý nhà Phật sấp đặt mấy cõi Trời, thì phải do nơi hòn núi Tu Di Sơn làm trung tâm điểm thì mới phân tích ra được, song Sự Lý của hòn núi này tả ra không phải một đôi trương giấy gì mà tả cho hết, vậy xin để chịu lại đó, khi nào sẻ giải riêng phần của nó. Hòn núi Tu Di đây, tiếng phạn gọi là Sumeru, Tàu có chỗ cũng kêu là Tô Mê Lư, nghĩa là rất cao, rất sáng, ở dưới chơn nó có cái Phong Luân (bánh xe Gió), ở trên mặt thì có Thủy Luân (bánh xe Nước), ở trên chót có Kim Luân hay là Địa Luân (bánh xe Đất), v.v.., xin kiếu lại đó, để chờ khi khác, đây tôi xin kể Ba cõi Trời (Tam Giái).

Dục Giái – Lục Dục Thiên – Kamadhatu :

(Trước khi kể tên 30 từng Trời nơi Ba Cõi, tôi xin nhắc lại cho chư tôn nhớ rằng Ba Cõi sẻ kể tên ra sau đây đều là tên những từng thuộc về thiêng liêng ở trên Hư Không Cư mà thôi (Antariksavasina). Còn phần Địa Cư (Bhauma) cũng là ba cõi ấy song nó thuộc về phần Hình Chất, thì đều là người ở nơi trên mặt trái địa cầu này là Nhơn Loại chúng ta đây).

Cõi Trời này có sáu từng hay là sáu lớp, nên kêu là Lục Trùng Thiên, nó đều thuộc về phần Tham dục nên cũng kêu là Lục Dục Thiên.

  1. Một – Tứ Vương Thiên 

Từng này có Bốn vị Thiên Vương ở cai trị. Bốn vị Thiên Vưng này đều là hàng ngoại tướng của vua Đế Thích, ở trấn giữ nữa chừng núi Tu Di Sơn; chỗ ấy có một hòn núi kêu là Do Kiện Đà La (Yugamdhara). Hòn núi này có bốn cái chót, bốn chót núi ấy là chỗ ở của Bốn vị Thiên Vương đó vậy. Chỗ này là chỗ từng trời thấp hơn hết, bắt từ mặt đất kể lên từng trời này gọi là từng trời thứ nhứt đó. Bốn vị Thiên Vương đó cũng kêu là Hộ Thế Tứ Thiên Vương; còn từng trời đó kêu là Tứ Thiên Vương Thiên (Caturmahajakayika). Từng nảy cũng chia làm bốn hướng vậy, vì bốn chổ núi Do Kiện Đà La mọc theo bốn hướng trời. Phía Đông là Trị Quốc Thiên Vương ở. Phạn kêu là Dhritarastra. Vị này chuyên lo về việc cầm mối giềng cai trị và ủng hộ giữ gìn cho nước, nên ở trong động bằng bằng Vàng của núi Tu Di. Phía Nam thì là chỗ của Tăng Trưỡng Thiên Vương ở (Virudhaka), để chuyên lo người trong nước tu hành cho được thiện căn tấn phát, càng ngày càng thêm lớn lên, nên ở trong động bằng Lưu ly của núi Tu Di. Phía Tây phần của Quản Mục Thiên Vương (Virupaksa), dùng sức Thiên Nhản thanh tịnh đặng xem xét và ủng hộ cho trọn cõi Diêm Phù Đề, nên ở tại động bằng Bạc trắng của núi Tu Di. Phia Bắc là chỗ của Đa Văn Thiên Vương ở (Dhanada hay là Vaisramana), Vị này phước đức lớn lắm, danh vang cả thiên hạ bốn phương, nên ở trong động bằng Thũy tinh của núi Tu Di.

  • Hai – Điêu Lợi Thiên (Trayastrimsa).

Từng Trời này là từng thứ hai ở trên chót núi Tu Di Sơn, trên cao hơn cõi Diêm Phù Đề. Người ở bực Trời này cũng còn có Tình Dục như người ở thế gian vậy. Từng này chịu ánh chói của mặt nhựt khác hẳn với ở thế gian; một ngày một đêm tại đây là 100 năm của thế hạ; người ở cõi này sống lâu đến ngàn tuổi. Chỗ này thuộc về phần cai trị của vua Đế Thích (Sakra-devenam-Indra). Vua ở thành Hỷ Kiến, cũng có chỗ gọi rằng Thiện Kiến (bởi chữ Tàu viết chữ Hỷ là Mừng và chữ Thiện là Lành, hai chữ tùng tim với nhau, khác chút ít, nên bản thì in chữ Hỷ, bản thì in chữ Thiện, tam sao thất bổn, nên chưa biết chắc là Hỷ hay Thiện). Sự tích của vua Đế Thích lắm chỗ ly kỳ, sau có lúc rảnh, tôi sẻ tả ra cho các bạn xem.

Từng Điêu Lợi Thiên đây, cũng kêu là từng Tam Thập Tam Thiên, vì cõi này có 33 từng Trời, danh hiệu đều khác nhau. Từng Hỷ Kiến Thiên ở giữa là chỗ vua Đế Thích ngự. Đông, Tây, Nam, Bắc, mỗi hường đều có 8 từng khác nhau, cọng lại là 32 từng, hiệp với từng Hỷ Kiến là 33, đều chung phần vua Đế Thích thống ngự. Ba mươi hai từng kia là : 1. Thiện Pháp Đường Thiên, 2. Sơn Phong Thiên, 3. Sơn Đảnh Thiên, 4. Bát Hoằng Tha Thiên, 5. Cu Tra Thiên, 6. Tạp Điện Thiên, 7. Hoan Hỷ Viên Thiên, 8. Quan Minh Thiên, 9. Ba Lợi Gia Đa Thiên, 10. Ly Hiểm Ngạn Thiên, 11. Cốc Nhai Ngạn Thiên, 12. Ma Ni Tàng Thiên, 13. Thi Hành Thiên, 14. Kim Điện Thiên, 15. Mạng Hình Thiên, 16. Nhu Nhuyển Thiên, 17. Tạp Trang Nghiêm Thiên, 18. Như Ý Thiên, 19. Vi Tế Hành Thiên, 20. Ca Âm Hỷ Lạc Thiên, 21. Oai Đức Luân Thiên, 22. Nhựt Hành Thiên, 23. Diêm Ma Na Sa La Thiên, 24. Liêng Hành Thiêng, 25. Ảnh Chiếu Thiên, 26. Tri Huệ Hành Thiên, 27. Chúng Phân Thiên, 28. Mạng Đà La Thiêng, 29. Thượng Hành Thiên, 30. Oai Đức Nhan Thiên, 31. Oai Đức Diệm Luân Quan Thiên, 32. Thanh Tịnh Thiên, hiệp với Hỷ Kiến Thiên là 33 từng Trời nơi cõi Điêu Lợi Thiên. (Phận sự hành vi của 33 cõi Trời này, xin để bài khác tôi sẻ giải tường, vì đây chẳng phải chỗ luận về việc ấy). Sự sấp đặt 33 từng Trời này khác hẳng với sự sấp đặt trong bộ Tam Tự Kinh, vì sao vậy, sau tôi sẻ giải rành thêm.

  • Ba – Tu dạ Ma Thiên (Yama hay là Suyama) cũng có chỗ kêu là Diệu Thiện Thiên.

Chữ Tu nghĩa là Khéo, Hay, Giỏi, Tốt. Chữ Dạ Ma nghĩa là Thời Giờ. Cõi Trời này khác hẳn với cõi trời Điêu Lợi Thiên. Nơi cõi này không sáng, không tối, không ngày không đêm, như ở cõi thứ nhì hay là cõi Trần vậy, vì ở đây mặt nhựt không soi thấu đến. Cõi này vẫn sáng sủa tươi tốt hoài, ngày như đêm, đêm như ngày, không phân biệt chi hết, người ở đó vẫn coi cái Thức Hoa nở hay là Hoa khép lại, đặng chia thời giờ mà thôi. Đã không phải là thời giờ của thế gian nữa nên gọi là Tu Dạ Ma, nghĩa là Thời giờ rất khéo rất đẹp rất tốt, tùy theo Thức Hoa đóng hay mở. Cõi này là cõi Trời thứ ba đó, tùy theo thời giờ của các thứ hoa mà vui vẻ, nên cũng gọi là cõi tùy theo thời giờ mà chia ra sự khái lạc.

  • Bốn – Đâu Suất Thiên (Tusita)

Trước khi vào giải cung thứ tư này, tôi xin giải sơ lược qua chút ít về phần cõi Dục, vì cõi Trời này còn thuộc về cõi Lục Dục, nên người ở cõi này cũng còn Tham Dục vậy, mà Dục nó có sáu phần, nên gọi là Lục Dục. mà Thích Ca Bồ Tát trước khi giáng thế kỳ chót đặng làm Phật, thì Ngài vẫn ở tại cõi này. Vì vậy nên cõi này đây, tôi phải để tâm mà giải rành hơn các cõi khác một chút cho đọc giả để ý vào mà nghĩ kỷ xét chính.

Dục nó có sáu phần, ở trong thân thể con người, ai ai cũng đều không khỏi bị nó phá hại làm cho mất phần thiêng liêng, làm cho phải sanh ra nhiều ít nghiệp khổ, làm cho phải quyến luyến trần duyên hoài. 

Lục dục (6 sự muốn) là :

1.   Sắc dục : Thấy các màu như đỏ đen xanh trắng v.v. hoặc là sắc đẹp của con trai con gái mà sanh lòng ưa mến ;

2.   Hình mạo dục : Thấy dụng mạo hình dáng người xinh đẹp mà thèm ngó ;

3.   Oai nghi tư thới dục : Thấy nết đi tướng đứng yểu điệu hoặc là bộ tịch kiều mị, hoặc cười liếc có duyên của người mà sanh lòng mến triếu ;

4.   Ngữ ngôn âm thinh dục: Nghe lời nói diệu dàng đầm thấm êm ái bùi tai khoái ý, hoặc là nghe những tiếng ca hát thâm trầm tao nhã mà sanh lòng yêu chuộng ;

5.   Tế hượt dục : Để tâm nơi các món thân thể của người, như nước da mịnh màng, da thịt mát mẻ, tay chơn mềm diệu v.v. mà sanh lòng mê luyến ;

6.   Nhơn tướng dục : Thấy nhơn tướng cốt cách của người điềm đạm chửng chàng mà sanh lòng tham muốn.

Xét trong sáu phần này, thì chúng ta thấy rõ cái Nghiệp của lòng Dục gây ra bởi sự Thấy hết năm, còn sự Nghe có một ; vậy ta hảy xét lại coi sự Nghe và sự Thấy ấy Gốc nó bởi đâu ? Mỗi việc chi cũng đều phải có Gốc mới sanh ra. Vậy Sáu phần Tham Muốn đây nó cũng có Sáu chỗ Gốc của nó mới sanh ra. Sáu chỗ Gốc ấy gọi là Lục Căn, là Nhản (con mắt), Nhỉ (lổ tai) , Tỷ (lổ mủi), Thiệt (cái lưởi), Thân (thân thể) và Ý (tâm ý). Bởi Lục Căn đây nên mới sanh ra Lục Cảnh (sáu cảnh) là : Sắc (sắc đẹp), Thinh (tiếng nói), Hương (mùi thơm), Vị (mùi ngon), Xúc (sự đá động), Pháp (sự bắt chước). Lục Cảnh đây cũng gọi là Lục Trần.

(Cái nghiệp của con người hảy còn nhiều nữa, chẳng phải tại Lục Dục, Lục Căn, Lục Trần đây mà thôi, song nơi đây vì tôi muốn giải rõ chỗ Dục Giái là chỗ chứa Lục Dục, nên phải nói sơ một đôi chỗ gốc rễ sự tội lổi của sự Dục bởi đâu mà sanh, phòng biết nơi biết chốn đặng kiếm phương thế mà chừa mà bỏ. Sau tôi có dịp tôi sẻ kễ thêm, vì đoạn này chẳng phải chánh mục đích để giải đủ các cảnh ấy, e nói nhiều lạc đề.)

Sắc, Tinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp, đã gọi rằng Lục Cảnh hay là Lục Trân, nhưng mà nó cũng thuộc về sự tham muốn nên mới có sanh ra những cảnh ấy, nên nó cũng gọi là Luc Dục nữa.

Đây nói qua cõi Đâu Suất Thiên, nên trong Lục Dục ấy, phải bớt cảnh Pháp (bắt chước) chỉ nói năm cảnh kia là Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc mà thôi. Vì nơi Đâu Suất Thiên không có cảnh Pháp. Năm cảnh kia gọi là Ngũ Cảnh hay là Ngũ Dục hoặc là Ngũ Trần (năm cảnh sanh ra bởi lòng ham muốn của cỏi hồng trần). Đã biết năm cảnh nầy nó là cái Cảnh mà thôi, nó có biết Tham Muốn là cái gì ! Song bị lấy nó, khiến người phàm phu phải mê luyến lấy nó mà sanh ra lòng Tham Muốn, nên mới gọi nó là Dục. Còn phần nó tuy gọi rằng là cái Cảnh, nhưng nó là Vật làm cho người nhơ bợn Chơn Lý, ô uế cả Lương Tâm, nên phải gọi cảnh của nó là Cảnh Trần (cảnh bụi bậm). Kinh Phật luận Năm điều Dục này làm hại người rất lớn, có than một đoạn như vầy:

« Thương thay cho chúng sanh, hằng bị năm phần Tham Muốn nó làm cho trong lòng tức giận, rồi hóa ra rầu buồn, biết vậy, mà sao cứ theo kiếm nó hoài không chịu thôi. Năm phần Tham Muốn này, nếu được nó cho được mạnh mẽ mau chóng chừng nào, thì khác nào như lửa đốt ghẻ chốc. Năm phần tham muốn đó, nếu có được nó là cũng không bổ ích chi hết, vì có được nó thì ví chẳng khác chi như loại chó như loại chó mà cần nhai cây đuốc vậy thôi. Năm phần tham muốn, nếu càng tranh giành nó chừng nào, thì ví chẳng khác như loài chim tranh giành cục thịt vậy thôi. Năm phần tham dục này nó đốt người, chẳng khác chi cầm ngọn đuốc cháy mà lại đi ngược gió. Năm phần tham muốn này nó hại người, ví chẳng khác như đi đường mà đạp nhầm rắn đọc. Năm phần tham muốn này nó có, không có thiệt, ví như được một món đồ chi trong lúc chiêm bao đó thôi. Năm phần tham muốn này nó không được trường cữu, ví chẳng khác đồ mượn trong giây phút. Người đời bị ngu dại nên lầm nó, mới tham muốn cho được năm phần ấy, cho đến khi chết rồi, mà cũng chẳng chịu bỏ nó đi, vì cái dại làm vậy nên mới chịu sự khỗ não đời sau không biết đâu mà lường mà đo mà tính cho được ».

Những vị ở tại cõi Đâu Suất Thiên đây, đều là những bực đã trải qua chẳng biết bao nhiêu kiếp nơi ba cõi phía dưới là cõi Tư Vương Thiên, Điêu Lợi Thiên và Tu Dạ Ma Thiên nên nào là Lục Dục hay là Ngũ Dục chi cũng đều nếm đủ rồi, biết đủ rồi, nên đã hết thèm hết muốn tới nó rồi, nhờ vậy nên trong lòng vui vẻ mà biết được rằng mình đã Đủ những sự Tham Muốn ấy rồi. Những bực được biết như vậy mà lòng không còn quyến luyến tới nó nữa, thì mới được về ở nơi cõi Đâu Suất Thiên đây.

Cõi Đâu Suất Thiên này, đã là cõi thứ tư (bắt đầu từ dưới mặt đất, bỏ cỏi Nhơn Giái, đếm lên), bỏ chót núi Tu Di Sơn lại phái dưới, nên nó là một cõi rất cao rồi, ở không không giữa trời, nên cũng gọi là Không Cư, ánh sáng của mặt nhựt không còn có ăn thua gì đến nó nữa.. Một ngày một đêm (12 giờ) tại đây là 400 năm ở thế hạ. Một năm tại đây là 14,400 năm ở nhơn gian. Người ỡ tại cõi này sống lâu đến 4,000 tuổi. So số tuổi với thế gian, thì người đó sống tại thế hạ đến 57,600,000 tuổi (năm ức, 760 muôn tuổi).

Tôi kể năm tháng ra cho đủ như vậy, chẳng phải tôi muốn kiếm giông dài làm chi cho nhọc, song vì tôi muốn xét cho biết rõ chỗ nói rằng:

Đức Thích Ca Mâu Ni thành được Phật kiếp này là nhờ Ngài tu hành đã mấy trăm ngàn kiếp trước và cũng đã đắc đạo thành được bực Bồ Tát nhiều kiếp rồi, mà trước khi giáng thế kỳ chót thì Ngài còn ở tại cõi Đâu Suất Thiên đây. Nay dùng theo con số ngày giờ năm tháng như trên đây đặng tính coi, thì thấy rõ ràng mấy ngàn kiếp trước của Ngài tu, đều là kiếp xác phàm của Ngài tại cõi Địa Cư (Nhơn Giái) mà thôi, chớ nào phải là tu ở Hư Không Cư hay là ở chỗ Tây Phương Cực Lạc Quốc nào xa đâu!

Vì người ở cõi Nhơn Giái sống lâu lối 100 tuổi, mà tại Đâu Xuất Thiên 12 giờ, thì là 400 năm ở thế hạ, vậy thì 100 tuổi tại cõi phàm, nó mới có 3 giờ tại Đâu Suất Thiên mà thôi. Nói tỷ mà nghe, dầu cho người đời thượng cổ kiếp sống lâu lắm cũng lối 1000 tuổi, thì 1000 tuổi cũng mới 2 ngày rưởi ở cõi Đâu Suất Thiên, thì 4000 tuổi ở tại Đâu Suất Thiên ắc phải đầu thai tại thế hạ này hết 612,000 kiếp, (ấy là tính về một kiếp là 1000 tuổi đó). Nhưng chẳng lẻ trong 612,000 kiếp ấy mà được hễ chết giờ này chỗ này, thì cũng trong giờ nấy đi đầu thai chỗ khác liền được sao, sao cũng phải lựa chỗ và lựa ngày đặng giáng sanh chớ! Vậy thì chúng ta cũng nên cho Ngài 2 ngày rưởi ở tại Địa Cư Thiên mà tu hành theo xác phàm và 2 ngày rưởi ở tại Hư Không Thiên đặng luyện kiếp và chọn chỗ lựa ngày mà giáng sanh, vậy thì Ngài phải có mặt tại thế hạ này hết 30,000 kiếp vậy.

Xét phỏng định sơ như vậy đặng xem những lịch sử của Ngài nói những kiếp trước của Ngài, kiếp thì làm con thú này, kiếp thì là người thế kia v.v., thì những việc ấy nào có phải là huyển hoặc đâu. (Coi đến đoạn giải Ba kiếp A Tăng Kỳ nữ mới rõ thêm).

Đã nói sơ rõ cõi Đâu Suất Thiên, xin nói tiếp luôn qua hai cõi Lục Dục nữa cho trọn Sáu cõi Duc Giái.

  • Năm – Hóa Lạc Thiên (Nirmanarati) hoặc kêu là Lạc Biến Hóa Thiên (Nirmanarataya).

Cõi này ở trên cõi Đâu Suất Thiên một từng, ở nhầm từng thứ năm của Dục Giái. Ở đây một ngày một đêm, thì là 800 năm của cõi thế hạ. Cõi này cũng còn thuộc về Ngũ Cảnh, hay là Ngũ Trần hoặc là Ngũ Dục, vì nó thuộc Dục Giái. Song le sự Tham Dục của người ở cõi này, không phải giống như các cõi kia, nên tự nơi mình dùng sức thần thông mà hóa ra cảnh nào mình muốn thích đặng vui thì cũng được, chẵng luận hình chất chi, hay là cách nào, nên cũng gọi là cõi Hóa Tự Lạc Thiên hoặc Diệu Biến Hóa Thiên.

  • Sáu – Tha Hóa Tự Tại Thiên (Paramrmitsvasavartina).

Cảnh này là một cảnh khoái lạc hơn hết trong Sáu cảnh Trời nơi cõi Lục Dục ; lại là cảnh ở trên hơn hết, nên nó mới làm chủ cả năm cỏi kia. Nó muốn chơi bời thế nào cũng được thích ý tự tại, chẳng cần chi phải dùng đến những đồ phải cần dùng nơi cõi dưới, tự mình hóa hiện ra, rồi muợn những vật nơi cõi ấy thích tình đặng làm vui cho mình là đủ, nên mới gọi là Tha Hóa Tự Tại. Người ở cõi này, với người làm đầu cõi Sắc Giái là cảnh Ma Hê Thủ La Thiên đề là những bực Ma Vương làm phá hại cho Chánh Giáo đó. Đức Bồ Tát đặc đạo nơi cội Bồ Đề, cũng là bọn nó biến làm Thiên ma đến trêu ghẹo thử thách Ngài, đặng dắc Ngài đi lạc nẻo khác đó. Người chơn tu hảy ráng coi chừng, đừng khinh khi kiêu ngạo ỷ mình mà phả bị bọn này.

Sắc Giái – Rupadhata

Người nào tu hành đã trải thoát qua Sáu cõi Dục Giái nơi Lục Dục Thiên rồi, thì mới được bước qua cõi Sắc Giái này, nếm thử cho đủ, đặng trải qua cho biết nó là mấy cõi, mà cái hại của nó là thế nào, mà trừ cho được tuyệt, để Tâm cho trong sạch, mới có thể tấn hóa thêm lên được, bước vào đến bực Phật. Bồ tát lúc chưa giáng thế lần chót, chưa đầu thai vào nhà họ Thích Ca, thì Ngài vẫn còn ở nơi Đâu Suất Cung, cõi Trời thứ tư nơi Dục Giái mà thôi. Nhờ Ngài trải qua chẳng biết mấy mươi muôn kiếp tu hành trước rồi, nên Lục Trần đã đủ, song còn phải một kiếp Trần Duyên chót nữa mới rồi, mới bước vào bực Chánh Giác được. Lúc Ngài giáng thế kỳ chót ấy, chính là lúc Ngài dọn mình đặng bước qua cõi Sắc Giái đây, đặng lo rửa cho trong sạch các Sắc, mới được thành Phật đó, nếu chẳng vậy thì Ngài cũng vẫn phải còn lưu lại Đâu Suất Thiên mà thôi.

Sắc Giái này gồm có Bốn Cõi Thiền, gọi là Tứ Thiền Thiên, nhưng còn thêm một cõi thứ năm nữa, lại kêu là Tịnh Phạn Địa. Tu hành trải qua được đủ Tứ Thiền Thiên và Tịnh Phạn Địa rồi, mà đã đều được thanh tịnh rồi, mới được bước qua Vô Sắc Giái đặng trau giồi thêm cho được Thiệt Không Không. Tới được địa vị Thiệt Không Không này, mới gọi là Hoàn Toàn. Chính lúc này là lúc xác thân của Thích Ca Tất Đạt Đa phải trau giồi lắm lắm đó. Vì vậy nên lúc Phật còn ở tại Đâu Suất Thiên, thì còn gọi là Bố Tát, đến chừng trải qua được kiếp Thích Ca Tất Đạt Đa rồi, biết dọn mình trong sạch rồi, biết Thiền Định theo bốn cõi Tứ Thiền Thiên nơi Sắc Giái rồi, và vượt qua đủ được bốn cảnh Vô Sắc Giái rồi, khi ấy mới được gọi là Phật, nên mới có danh xưng Thích Ca Văn Phật đó.

Cõi Sắc Giái này gồm có Bốn cỏi Thiền Thiên và một cõi Tịnh Phạn Địa. (Muốn rõ nghĩa chữ Thiền là thể nào, xin coi nơi Mục cuốn sau tôi sẻ giải rõ, vì nó nhiều cách và nhiều bực lắm. Nơi đây tôi chỉ giải sơ qua mấy cõi Sắc Giái mà thôi, vì nơi đây chưa phải là vấn đề phải giải chữ Thiền cho kỷ, sợ e phải lạc đề).

Bốn cõi Thiền là : Sơ Thiền Thiên, Nhị Thiền Thiên, Tam Thiền Thiên, và Tứ Thiền Thiên.

a.   Sơ Thiền Thiên là bực sơ đẳng của cách Tham Thiền, đặng bước vào trong  bốn lớp trời. Bực này gồm có bốn lớp trời là : Phạn Thiên (Brahmakayia), Phạn Chúng Thiên (Brahmaparsadya), Phạn Phụ Thiên  (Brahmapurchita), Đại Phạn Thiên (Mahabrahma).

b.   Nhị Thiền Thiên nghĩa là cách Tham Thiền lớp thứ hai, đặng bước vào cõi Trời Sắc Giái. Lớp này có Ba bực là : Thiếu Quan Thiên (Parittabha), Vô Lượng Phạn Quan Thiên (Apramanabha) và Quan Âm Thiên (Abhasvara).

c.   Tam Thiền Thiên nghĩa là lớp Tham Thiền thứ ba, đặng tránh khỏi sự ô uế nơi Sắc Giái. Lớp này có ba bực là : Thiếu Tịnh Thiên (Tarittasbha), Vô Lượng Tịnh Thiên (Apramanasubha), Biên Tịnh Thiên (Subhakrtsna).

d.   Tứ Thiền Thiên nghĩa là lớp Tham Thiền thứ tư, đặng dứt các sự nhơ bợn xấu xa nơi cõi Sắc Giái. Lớp này có ba bực là : Vô Vân Thiên (Anabharaka), Phước Sanh Thiên (Punyaprasava), Quảng Quã Thiên (Brhatphala).

e.   Đã dứt được các Sắc nơi Bốn Cõi Thiền Thiên gồm có 13 lớp rồi, còn phải dọn mình cho trong sạch yên lặng nữa, đặng bước vào Bảy cái Địa vị sau này, Bảy Địa Vị ấy đều đứng vào hạng Tịnh Phạn Địa, là : Vô Tưởng Thiên (Avrha), Vô Thiền Thiên (Atapa), Vô Nhiệt Thiên (Sudrsa), Phổ Kiến Thiên (Sudarsama), Sắc Cứu cánh Thiên (Akanistha), Hòa Âm Thiên (Agnhanistha) và Đại Tự Tại Thiên (Mahamahesvara)

Lời dặn thêm : Nếu ai đọc đến đoạn Sắc Giái này, mà không để ý cho kỷ thì tưởng rằng cõi này, cõi Đại Tự Tại Thiên này là cõi cao quí nhứt, đã vượt qua từ lớp Phan Thiên nơi cõi Sơ Thiền, đến được luôn luôn nơi lớp Đại Tự Tại Thiên là lớp thứ 7 của cõi Tịnh Phạn Địa, nghĩa là lớp trên hết cũa cõi Sắc Giái, thì chắc là mừng lắm, vì tưởng đâu nó là một cõi siêu tuyệt rồi, hay đâu nó là một cõi rất độc hại ghê gớm hơn hết. Bởi cõi này là cõi đứng đầu trên hết cả 20 cõi Sắc Giái, nên Ma Hê Thũ La Là là con Ma Vương này thường hay hiệp với con Ma Vương cai trị nơi đây, nó đủ sức quyến rù kẻ chơn tu đặng phá hại Chơn Lý. Con Ma Vương này thường hay hiệp với con Ma Vương nơi cõi thứ sáu của Dục Giái, cõi Tha Hóa Tự Tại Thiên đặng biến hóa vô cùng phép lạ, mà dụ dổ kẻ tu hành làm cho phá giái, dầu cho ai chí tâm mộ Đạo bực nào, bọn nó cũng kiếm đủ cách làm cho người ấy xiêu lạc qua tả đạo bàn môn cho được, thì nó mới chịu nghe cho. Chư tôn phải nhớ rằng Thích Ca Tất Đạt Đa lúc đã ngộ Đạo rồi, thì cũng còn bị bọn này thử thách 49 ngày ; Gia Tô Cơ Đốc (Jesus Christ) kia, cũng phải bị chúng nó cám dổ 49 ngày vậy, Đến chừng thấy hai Vị này nhứt tâm theo Chơn Lý, không còn chút nào Vọng nữa, thì bọn nó mới chịu lui xa cho. Xét vậy, nên tôi phải nói qua chút ít cho chư tôn rõ cái tài lực biến hóa của bọn này mà gớm cho nó ; nên ai là người muốn thật tu, thì chớ đem chút lòng Vọng, hễ có Vọng, thì phải mắc kế bọn này, vì nó đủ sức đam cả sự giàu sang của thế gian, đặng cho ai là người theo nó, miễn là đừng theo Chơn Lý thì thôi. (Xin xem các tích của nó dụ dổ  quến rù Thích Ca Tất Đạt Đa và Gia Tô Cơ Đốc, lúc hai vị này đắc Đạo thì rõ). May là hai Vị ấy đã hoàn toàn Giác Ngộ, nên mới khỏi bị bọn nó cám dổ, nếu bựa bựa mứa mứa, thì ắc phải sa ngã rồi, huống chi là ai đương thời buổi này, tu hành chưa biết dưa múi ra sao, mới vừa vừa biết ọ ẹ một hai tiếng trường trai, mới lem nhem biết thẳng lưng quì gối tưởng Phật, cùng là mới vừa biết nhóp nhép một đôi chữ Tiên Thiên Hậu Thiên, mà đã gọi là phép tắc vô cùng, di sơn đảo hải, sái đâu thành binh, đặng gạt gẩm chúng sanh, thì những người như vậy nào có đến đổi chi cho bọn Đại Tự Tại Thiên hay là bọn Tha Hóa Tự Tại Thiên phải ra tay, bọn nó chỉ dùng một đứa tiểu tốt trong hạng Nhu Nhuyễn Thiên, lòi ra một cái gót chơn, thì đủ cho những ai kia gục đầu cúi lạy sát đất, tưởng đâu là Đức Quan Âm giáng thế, hoặc là bọn nó chỉ sai một đứa trong bọn Tạ Điện Thiên lòi ra đầu chơn ngón út thì cũng đủ cho ai kai sụp mặt, chắc rằng là Quan Thánh giáng lâm rồi, thì tự nhiên chúng nó đủ sai làm trò cười cho chúng nó, mặc sức hỉ hỉ cười cười đặng gạt gẩm kẻ mù mê. Thương thay! Thương thay! Thương cho kẻ dốt nát mà vinh mặt! (Đoạn này giải rành ra còn dài lắm, xin rút bớt một khúc, nơi đây chỉ nói tóm vài lời, còn tập sau sẻ đem ra làm mục riêng giải rõ)

Vô Sắc Giái – Arupadhata

Cõi này là cõi Tứ Không Thiên (Caturupabrama-Loka).

Người được thoát qua khỏi Dục Giái và Sắc Giái rồi, mới có thể mà tu đến Bốn lớp Trời này được. Người tu hành nhập định đã được vững vàng, Tâm không còn Vọng nữa, đã thoát ra mấy cái Ma kiếp thử thách rồi, trong Tâm không còn chi là Dục là Sắc nữa, nên cái Thức nó mới định được mà Trụ vào cảnh Vô Sắc Giái này, mới thật là cảnh Trời Không Không đó, nó có Bốn cảnh, mà không phải thật là Cảnh, vì nó là Không Không :

1.   Không Vô Biên Xứ – Akasanantyayatama.

2.   Thức Vô Biên Xứ – Vijnananantyayatana.

3.   Vô Sở Hữu Xứ – Akincanyayatana.

4.   Phi Tưởng – Phi Phi Tưởng Xứ – Naivasamjnanasamjnayatana.

(Bốn cõi này giải rõ rất dài, sau tôi sẻ giải về mục Tứ Thiên và Tứ Không cho dọc giả chư tôn, ai muốn rõ cách Tham Thiền Nhập Định là thể nào, kẻo người muốn học mà vô sư vô sách, nghe lời người chỉ quàn, thường bị lủ Ma Vương phá khuấy, nên chẳng biết bao nhiêu người sai lạc Chơn Lý mà phải xiêu ngã qua tả đạo bàn môn, là vì nơi một cái Nhập Định và Tham Thiền sái cách mà ra vậy).

Lịch Sử và Gia Phổ họ Thích Ca

Thích là họ của Phật Thế Tôn. Lúc Pháp nhà Phật mới đến Trung Quốc, kẻ sải còn xưng hô theo họ của mình, hoặc xưng hô là Trúc, hoặc kẻ đệ tử nhiều người xưng hô theo họ của thầy mình, như sải Chi Độn gốc là họ Quang, mà học Đạo với sải Chi Khiêm, nên cũng xưng hô mình là họ Chi; sải Bạch Đạo Du gốc là họ Phùng, mà học Đạo với sải Bạch Thi Lê Mật Đa nên xưng mình là họ Bạch v.v… Đến trào Tấn, người Đạo An định lại rằng: Phật vốn là họ Thích Ca, nên hễ ai vào cửa nhà Phật thì phải tùng theo họ của Phật, nên dùng họ Thích. Kịp đến lúc sau, có người đem kinh A Xá về Trung Quốc, thì trong kinh quả có dạy như vầy, nên thiên hạ phải tùng theo. Trong kinh A Xá dạy rằng : « Tứ Đại hà nhập hải, diệc vô bổn danh tự, đăng danh vi hải, thữ diệc như thì », nghĩa là: Nước bốn sông lớn chảy về biển, thì nước ấy cũng không phân biệt tên là nước của con sông nào, chỉnh đồng một mùi mặn với nước biển nên kêu là Biển, thì nay ai vào cửa Phật cũng vậy.

Pháp nhà Phật vào Trung Quốc có bốn giống là: Xái Lợi, Bà La Môn, Trưởng Giả, Cư Sỉ. Hễ người nào xuất gia học Đạo theo Như Lai thì cạo tóc râu, mặc ba bộ Pháp Y, không còn xưng hô họ gốc của mình nữa, chính kêu là đệ tử của Thầy Sa Môn Thích Ca mà thôi; vậy nên các bực Ty Kheo, các bục trong bốn giống đều cạo tóc râu để chứng rằng mình có đức tin, vững bền việc xuất gia mà học Đạo, thì phải diệt tên họ của mình, mà xưng rằng là « Thích Ca Đệ Tử », Đức Huệ Năng Đại Sư cũng xưng như vậy, nên lúc Ngài dưng sớ về Trào cho vua Cao Tông nhà Đường đặng Ngài từ chức, vỉ trong mình có bịnh, thì trong sớ Ngài có câu như vầy: « Triều Châu, tào Khê Sơn, Thích Ca Huệ Năng từ tật biểu » nghĩa là: xứ Triều Châu, núi Tào Khe, họ Thích Ca tên Huệ Năng dưng biểu từ chức vì có bịnh.

Sư Tăng Hựu có làm tập gia phổ của họ Thích Ca, biên rằng: Người con thứ tư của vua Ý Ma bị đày đến Tuyết Sơn, ở trong rừng Trực Thọ; khi người con thứ tư đẻ được một đứa con, thì vua rất mừng và nói rắng: đứa con này thiệt là đứa con Thích, nên nó mới được tự mình còn mà tự lập, nên đặt nó rằng họ Thích.

Giải nghĩa: Tiếng Thích nghĩa là Hay, Giỏi. Cũng có nghĩa rằng: Ở trong rừng Trực Thọ nên kêu rằng là Thích, vì tiếng Phạn kêu Trực cũng là Thích.

Cũng có sách nói rằng: Nước vua Ý Ma có cây đại thọ tên là cây Thích Ca rất xanh tốt, dìm dà; có thầy tướng nói rằng: Chỗ này sanh ra vị Quốc Vương, vì vậy nên vua Ý Ma đem người con thứ tư đến đó ở. Nhơn đó nên đặt tên giống là họ Thích.

Người Tiền Mục Ông giải rằng: Họ Thích là giống Xái Lợi. Ấy là giòng giống của vị đế vương, mà trong ấy có họ Thích rất sang trọng hơn hết, cai trị nước Trung Thiên Trúc, ở cã đô hội của bốn nước Thiên Trúc, người nào đi ra bốn phương mà ở chỗ ấy, hễ làm vua thì kêu là « Tắc Vương », còn làm dân kêu là « Tắc Chưởng » vì tiếng Thích với tiếng Tắc cũng giống nhau, chớ gốc cũng là một họ.

Thích Tử – Thích Nữ (Con giống Thích)

Thích Tử nghĩa là đệ tử của Phật Thích Ca mà ra, nên kêu là Thích Tử. Có câu rằng: « Phi Sa Môn, Phi Thích Ca Tử », nghĩa là: Chẳng phải là thầy Sa Môn, thì chẳng phải là con của Thích Ca. Trong kinh Lăng Nghiêm có câu như vầy: « Nại hà Như Lai diệc độ chi hậu, thực chúng sanh nhục, danh vị Thích Tử » ? nghĩa là: ví ý chi sau khi Đức Như Lai diệc độ rồi, mà những kẻ ăn thịt chúng sanh lại gọi mình rằng con giòng họ Thích ?

Kinh A Xá có nói rằng: Phật dạy các bực Tỳ Kheo, có bốn họ xuất gia không còn dùng họ củ của mình, chỉnh kêu rằng là thầy Sa Môn, con họ Thích mà thôi, bởi vì sanh ra đời là nhờ ta mà sanh, còn nên là nhờ là nhờ Pháp mà nên, cũng như bốn cái sông lớn đều ở nơi cái Nguồn A Nậu Đạt, núi Tuyết Sơn mà chảy ra vậy.

Có 4 câu phân biệt giòng họ Thích như vầy:

« Thị Thích Tử, phi Sa Môn, nải Vương Chưởng giả », nghĩa là: thiệt con họ Tích mà chẳng phải thầy Sa Môn, ấy là giòng nhà vua vậy.

« Thị Sa Môn, phi Thích Tử, Bà La Môn giã », nghĩa là: thiệt là thầy Sa Môn mà chẳng phải thiệt con giòng họ Thích, là Bà La Môn vậy.

« Thị Sa Môn, thị Thích Tử, Tỳ Kheo giả », nghĩa là: thiệt là thầy Sa Môn, mà thiệt là con giòng họ Thích, là bực Tỳ Kheo vậy.

« Phi Sa Môn, phi Thích Tử, nhị tiện tánh giả », nghĩa là: chẳng phải thầy Sa Môn, chẳng phải con giòng họ Thích, thì là hai họ đê tiện vậy, chữ phạn kêu là Sakyaputriya.

Thích Nữ: Thích Nữ cũng như Thích Tử vậy, nghĩa là giòng họ Thích, mà đều phe đờn bà, con gái.

Thích Môn:

Thích Môn nghĩa là Cửa của Thích Giáo. Chữ Môn nghĩa là chỗ thông vào, mà cũng có nghĩa là Sai Biệt, vì chúng sanh nào có duyên mà thông vào được, nên kêu là « Môn », mà cũng sai biệt hơn các Giáo khác, nên kêu là « Môn ».

Thích Đế:

Thích Đế là vị vua cai trị cõi trời thứ 33, là ông Thích La, nên kêu là Thích Đế, thường kêu rằng là Đế Thích ở cung Thiện Kiến.

Thích Ca (Sakya) là nói tắc Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni)

Thích Ca Mâu Ni là con vua nước Tịnh Phan Vương (Suddhoddana  thuộc Nepal ngày nay), ở thành Ca Tỳ la (Kapilavastu), mẹ tên la Ma Dà (Maya), tên kêu là Tất Đa Thái Tử, đẻ ở nơi phương đông thành Ca Tỳ La, vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini). Đẻ rồi 7 ngày thì mẹ chết, người dì tên là Ba Đồ Ba Đề nuôi. Thầy Bạt Đà La Ni (Bharani) dạy. Lúc tuổi trẻ, đối với những hiện tượng của nhơn sanh thì đã có chỗ suy xét rồi (tư duy – SamyaSankalpa), nên hoặc khi ở dưới gốc cây Diệm Phú thì suy xét sự Khỗ của kẻ canh nông, hoặc thấy các loài cầm thú ăn thịt nhau mà nhàm cuộc nhơn sanh hay trang đấu, lại có khi dạo chơi trên bốn cửa thành, thấy cái tướng của kẻ sanh lão bịnh tữ mà nhàm , nên có ý trốn đời, bèn nương đêm trăng biểu tên hầu mình tên Sa Mặc là bạn với mình, cởi ngựa trắng tên Kiển Trắc đặng xuất gia tìm đến ông Bạ Ca Bà (Bhargava) mà nghe cái Đạo khỗ hạnh xuất ly, lại hỏi kiếm ông A Lam Ca Lam nơi nước Ma Yết Đà, phía bắc thành Vương Xá, núi Di Lầu (Meru) đặng nghe phái sải Tăng Khư thuyết pháp, rồi lại trở qua mà hỏi rõ Đạo với Quốc Đà La Tiên (Udraka). Trải qua mấy chỗ ấy đều chẳng đặng giống cái phép mầu của Ngài muốn kiếm, Ngài bèn bỏ vào làng Ưu Lâu Tần La, rừng Khỗ hạnh sửa mình một cách rất nghiêm khỗ trong 6 năm, hình dung ốm o gầy mòn, trải những sự khỗ rất gắt gao. Kế đó Ngài lấy làm sự khỗ hạnh này chẳng phải Đạo giải thoát đặng đến Niết Bàn, nên Ngài quyết định đổi sự hành vi những ngày trước, bèn đi tấm nơi sông Ni Liên Thuyền đặng rữa sạch bụi bậm đống dơ trong mình, chịu ăn cháo sữa của một người thôn nữ dưng, bèn ngồi nơi núi Chánh Giác, dưới gốc cây Bồ Đề mà suy xét, nói rằng: « Chẳng đặng bực Chánh Giác thì chẳng đứng dậy chỗ này ». Ngài xem cái phép Tứ Diệu Đề và Thập Nhị Nhơn Duyên, nhờ vậy mà thành bực Giác giả (Bouddha) Thế Tôn (Lokajestha) làm thầy được bực nhơn thiên. Thuở ấy Ngài được 35 tuổi. Từ ấy nhẩn sau, trên bốn mươi ngoài năm, Ngài du lịch bốn phương, dạy dổ các chủng loại. Qua đến năm kỷ ngươn 487 năm, thì Ngài Nhập Niết Bàn, nơi ngoài thành Câu Thi, dưới hai gốc cây Sa La, gói bằng những bông thơm trắng.

Cù Đàm (Gautama)

Cù Đàm là họ Phật từ đời Cổ Lai đến giờ, hoặc kêu là Cồ Đàm, Kiều Đáp Ma, dều là giòng giống họ Thích.  Họ Thích có năm chưởng tộc kêu là : Cù Đàm, Cam Gia, Nhựt Chưởng, Thích Ca, xá Di.

Xét sự họ Thích Ca có nhiều tên như vậy, thì có nhiều lý thuyết như sau này:

Sách Thập Nhị Du Kinh xét cái nhân duyên của Cù Đàm và Xá Di, nói rằng : Sải Phạn Chí Cù Đàm là học trò của họ Cù đàm, người đời kêu rằng là Tiểu Cù Đàm, bị giặc giết nơi vườn Cam Giá hay là Cam Giá Quả, ông thầy hay được, bèn dùng thây của Tiểu Cù Đàm trộn với bùn, chia ra làm hai cục, niệm chú 10 tháng, thành hình ra một trai và một gái, bèn đặc họ là Cù Đàm, tên là Xá Di.

Kinh Phật Bổ Hạnh nói rằng: Người ông 6 đời của vua Tịnh Phạn, bị người bắn chết, mà từ trong khối máu mọc ra hai mục mía ngọt (cam giá), rồi hóa ra một trai một gái, nên lấy, nên lấy Cam Giá làm họ, biệt xưng là Nhựt Chưởng. Người con thứ tư họ này dời qua phía bắc mà ở, thủ xướng ra làm họ Thích Ca, biệt xưng rằng là Xá Di. Phật Như Lai là giòng rốt của giòng vua họ Cam Giá (Iksvaku). Cồ Đàm là họ giòng Thích Ca (Sakya) ở trong giòng Nhựt Chưởng (Suryavainsa). Họ Xá Di (Saki) là danh từ của tánh nết giòng Thích Ca như nhà Nho kêu là Thuần thục vậy.

Cù Đàm Di (Gautami)

Cũng kêu là Cù Đàm Di, Kiều Đàm Di, Kiều Đáp Di, những tiếng này đều là thinh âm của người gái kêu họ Cù Đàm. Trong kinh nói rằng mấy tiếng này đều là cái biệt hiệu của người Dì Phật Như Lai. Người Dì này tên là Ma Ha Ba Đồ Ba Đề, người ta lấy họ mà kêu, nên kêu rằng Cù Đàm Di, còn Phật Như Lai kêu dì bằng Kiề Đảm Di.

Họ Thích Ca (Sakya Muni)

Cũng kêu là Thích Ca Văn, Thích Ca Văn Ni, Thích Ca là họ vậy, là một cánh họ của giống Xái Đế Lợi, gốc kêu là họ Cù Đàm, sau chia họ mà xưng là họ Thích Ca, họ này cọng có 5 tên khác nhau. Chữ Thích Ca, Tàu dịch rằng “Năng” nghĩa là “Hay”. Có câu “Năng giả, Năng lực dả”, nghiã là Năng ấy là cái Năng lực vậy, hay là chữ Hay là Sức Hay vậy.

Kinh Huệ Huyển giải rằng: “Trong giòng Thích Ca, người nào có danh dự trọng vọng, thì kêu là Thích Ca Năng”.

Tên Mâu Ni cũng kêu là Văn Ni, Tàu dịch rằng là Tịch Mịch, cũng dịch là Nhơn (thương), Nhẩn (nhịn), Măng (đầy đủ), Nho (người học hay, lời nói hay, làm cho người yêu, hay làm cho người phục). Đã bỏ được cái lổi của ba nghiệp: Thân, Khẩu, Ý, mà yên lặng vắng vẻ vậy, ấy là chứng hiệu tôn xưng đức hạnh bề trong và bề ngoài của các bực Thánh vậy.

Mâu Ni (Muni):

Kinh « Đại Nhựt » giải rằng : Tiếng Mâu Ni là tiếng để giành kêu chung các vị Phật. Tàu dịch rắng Tịch (lặn lẻ), cũng gọi rằng Tịch Mịch. Tịch Mịch có hai nghĩa : một nghĩa lấy theo sự tích mà nói và một nghĩa xét theo lý mà nói.

Lấy theo sự tích mà xét, thì lúc Thái tử Tất Đạt Đa mới vào đầu thai nơi thành Tỳ La, thì khiến các con giòng họ Tích đều nín lặng không nói, nên Vua Cha phụ thêm cho kêu thêm hai tiếng Mâu Ni ; còn từ lúc xuất gia nhẩn sau thì thường trau giồi nết Nhà Thiền nên lặn lẻ không nói chuyện, bởi cớ ấy nên người đương thời cho hiệu là Mâu Ni Tiên, Mâu Ni là cái Tôn hiệu để kêu chung cho những người học Đạo mà nín lặn, ngăn đứt được ba cái nghiệp : Thân, Khẩu, Ý.

Kinh « Tỳ Nại Gia » có biên rằng : Thuở ấy Đức Bồ Tát ngồi xe báu, thì có trăm ngàn vị Nhơn thiên hộ đưa Ngài vào đầu thai nơi thành Tỳ La ; đương đời ấy, các con cái giòng họ Thích Ca tánh ý hay kiêu ngạo lẳn lơ, hay nói nhiều lời, mà đến lúc Bồ Tát vào thành đầu thai rồi, thì các vị vương tử ấy đều nín lặn không nói như bực Mâu Ni ; Vua Cha thấy vậy mới nói với các tôi rằng : Mấy đứa Thich Ca tử tự lâu nay tánh ưa nói và hay lẳn lơ, kiêu ngạo, ngày nay Thái Tử nhập kiếp rồi thì chúng nó đều nín lặn không nói như vị Mâu Ni, vậy thì nên đặt tên cho Thái Tử là Thích Ca Mâu Ni.

Kinh « Phật Bổn Hành » nói rằng : Lúc Bồ Tát đi đường, hay bước chậm đặng xem xét nghỉ ngơi, nếu có ai hỏi việc chi, thì Ngài nín lặn mà chẳng trả lời. nhơn dân thấy vậy mới nói với nhau rằng : « Ông Tiên này chắc là con giòng giống họ Thích », nên đặt tên riêng kêu ông là Thích Ca Mâu Ni.

Lấy theo Lý mà xét, thì hai tiếng Mâu Ni ấy nghĩa là lặn lẻ, thanh tịnh, ba nghiệp Thân, Khẩu, Ý đều tịch mịch, nên kêu là Mâu Ni, thì chỗ Phật chứng quả cũng đồng với các vị Thánh Nhơn bực Tam Thừa, đều là tịch mịch hết thãy, nên nương đó mà kêu Phật là Mâu Ni, vì tiếng đó để dành kêu các vị Phật và các vị A La Hán.

Kinh « Duy Thức Luận » nói rằng : « Ai không học cái nghiệp Thân Ngữ thì kêu là Thân Ngữ Mâu Ni ». Lấy đó mà xét thì biết ý nghĩa chữ Mâu Ni là người không học, nếu giải vậy thì cớ sao Dức Mâu Ni không học mà thành Phật ? Là vì hễ người đã đến bực A La Hán rồi thì đã được thiệt bực Mâu Ni rồi, các việc phiền nảo đều đã dứt hết rồi, không cần phải học với ai nữa mới gọi là Phật.

Kinh « Đại Nhựt Sớ » giải rằng : « Mâu Ni ấy là nghĩa tịch mịch, chỉ rằng cái Thân, Ngữ, Tâm của Phật cứu cánh đều tịch diệt, qua khỏi địa vị ngôn ngữ rồi, chớ khá lấy sự tiểu tịch diệt của các bực Nhị Thừa mà làm ví dụ, nên kêu Phật là Đại Mâu Ni ».

Kinh « Đồng Thập Nhị » luận rằng : Mâu Ni nghĩa là tịch mịch vậy. Hễ cái chỗ Tường Tịch thì nó Vị, Diệu, Tịch, Tuyệt, U, Thâm, Huyền, Viển, chẳng biết dùng lời nói chi mà giải nghĩa cho rõ hết được, cái Pháp giái như vậy là cái Pháp Tich Nhiêu Đại Diệt Độ chỉnh có Phật là một người cứu cánh được thanh tịnh như vậy, nên kêu là Mâu Ni.

Kinh « Đồng Thập Tam » nói rằng : Hai chữ Mâu Ni là cái hiệu chung của Phật vậy. Trung Quốc dịch là Tịch, nghãi là Tịch được các sự phiền nảo, tịch được các sự sanh tữ, nên được về ở chỗ Đại Niết Bàn ; khi ở cõi Tam Giái thì tịch được các lời luận xàm, đặng chứng rõ Chơn Lý vậy.

Thích Ca Phát Tâm

Kinh « Trí Độ » nói rằng : Trước ba kỳ A Tăng kỳ kiếp, có vị Phật kêu là Thích Ca Mâu Ni ; Đức Thế Tôn gặp được vị Phật này mà phát tâm và nguyện rằng xin y theo y theo vị Phật đó đặng làm Phật ; ấy là lời phát tâm trước hết của Thế Tôn vậy, nên nay Thế Tôn cũng được y như lời nguyện đó, được làm Thích Ca Mâu Ni, những công việc của Thế Tôn đi hành hóa cũng đồng ý như vị Phật kia vậy.

Kinh « Câu Xá » nói rằng : Đức Thế Tôn ta xưa kia là một vị Bồ Tát, thuở ban đầu trước hết, có gặp một vị Phật tên Thích Ca Mâu Ni, bèn đứng trước vị Phậy ấy phát lời hoằn thệ nguyện rằng : « Tôi xin ba lần làm Phật như Phật Thế Tôn này vậy » Vị Phật kia cũng chứng rằng : « Đến chừng mạc kiếp rồi sẻ ra đời, lúc tịch diêc sẻ ở lại mà sửa Pháp ngàn năm », nên Thế Tôn ta cũng nhứt nhứt đồng với vị Phật kia vậy.

Kinh « Pháp Hoa » nói rằng : Xưa kia, lúc kiếp quá khứ, đã lâu lắm rồi, có một vị Phật tên là Đại Thống Tri Thắng Như Lai, vị Phật này lúc chưa xuất gia thì có 16 người con, đến sau cũng đếu xuất gia làm bực Sa Di hết thảy, những người này đều nghe kinh Pháp Hoa mà được thành Phật. Người con thứ 10 ấy là Đức Thích Ca Như Lai ngày nay vậy. Nhưng mà trong kinh có nói rằng : Thuở ấy Như Lai đã từng dưng nuôi cho trăm ngàn muôn ức vị Phật đặng tịnh tu nết Phạn, mà tìm bực A Nậu Đa La Tam Mạo Tam Bồ Đề, thì lúc này chẳng phải là lúc của Ngài phát tâm ban đầu vậy.

Kinh « Bí Hoa » thì nói rằng: Thuở xưa lúc vua Vô Tránh Niệm trị nước San Đề Lam, người Bữu Hải Phạn Chí có một người con xuất gia học Đạo thành được vị Bữu Tạng Như Lai. Người Bữu Hải Phạn Chí cũng có xin vua cùng ngàn con của vua với nhiều người khác nữa đều phát tâm một lược đặng tu hành, trong số này đều nghe lời theo và nguyện xin về nơi chỗ Thinh Tịnh Phật Quốc, song có một ngàn đệ tử và năm người thệ giả lại nguyện xin về nơi thế giái ô trược. Rồi sau lại người Phạn Chí cũng phát 500 lời đại nguyện xin đế nơi thế giái ô trược. Phạn Chí đó là Thích Ca ngày nay vậy. Ấy là người bực thứ tư trong bực Phật Hiển Kiếp vậy; nhưng mà đây chỉnh ghi lúc một lần hóa kiếp của vị Hiển Kiếp Hóa Thân mà thôi.

Phẩm kinh « Thọ Lượng trong Phá Hoa » biên rằng: Ngôi Báo Thân của Đức Thế Tôn đã thành Đạo lúc quá khứ lâu lắm rồi.

Kinh « Phạm Vỏng » biên rằng: Ngôi Hóa Thân của Thế Tôn qua lại nơi cỏi Ta bà thế giái này đã 8,000 lần rồi.

Sự Tu Hành trong ba kiếp A Tăng Kỳ của Thích Ca:

Kinh “Trí Độ Luận” nói: Đức Bồ Tát hễ qua khỏi một kiếp A Tăng Kỳ rồi thì cũng trở lại một kiếp khác nữa. Kiếp A Tăng Kỳ đầu bài, trong lòng Bồ Tát chưa biết rằng mình đã được làm Phật hay chưa được làm Phật, qua đến kiếp A Tăng Kỳ thứ nhì, thì Bồ Tát trong lòng biết mình sẻ được làm Phật, tuy Ngài chưa nói rằng mình sẻ được làm Phật, nhưng Ngài đã rõ ràng biết mình sẻ được làm Phật, nên Ngài bèn phát ra lời nói không chỗ sợ sệt rằng: Ta qua đời sau sẻ được làm Phật là Thích Ca Văn Phật.

Từ đời quá khứ của Thích Ca Văn Phật đến đời Kế Na Thi Khí Phật, kêu là kiếp A Tăng Kỳ thứ nhứt, lúc ấy Bô Tát đã bỏ dứt Nhơn Thân cô gái rồi. Từ kiếp Kế Na Thi Khí Phật đến kiếp Nhiên Đăng Phật, là kiếp A Tăng Kỳ thứ nhì, lúc đó là lúc Bồ Tát dùng 7 cọng Sen xanh cúng dưởng Phật Nhiên Đăng, Ngài mặc áo da hưu, bỏ tóc xã, trây bùn. Lúc ấy Phật Nhiên Đăng thọ ký cho Ngài rằng: Ngươi đời sau sẻ làm Phật tên là Thích Ca Mâu Ni. Từ kiếp Phật Nhiên Đăng đến kiếp Phật Tỳ bà Thi, là kiếp A Tăng Kỳ thứ ba, qua kiếp thứ ba rồi, thì Ngài đã trồng được cái Nhân Duyên 32 Tướng Nghiệp.

Kinh “Câu Xá” luận rằng: Trước lúc Bồ tát phát tâm thì Ngài đã gặp một vị Phật tên là Thích ca Mâu Ni, từ khi gặp này nhẩn sau, thì Ngài đã cúng đường thêm 7 muôn 5 ngàn vị Phật nữa, vị Phật của Ngài cúng đường chót là Bữu Khiết Phật, cũng kêu là  Kế Na Thi Khí Phật, ấy là mảng một kiếp A Tăng Kỳ thứ nhứt. Kế đó Ngài cúng đường thêm được 7 muôn 6 ngàn vị Phật nữa, vị Phật chót tên là Phật Nhiên Đăng, ấy là mảng kiếp A Tăng Kỳ thứ nhì. Từ đây, Ngài lại cúng đường thêm được 7 muôn 7 ngàn vị Phật nữa, vị Phập của Ngài gặp chót hết tên là Thắng Quang Phật, cũng kêu là Tỳ Bà Thi Phật, ấy là mảng kiếp A Tăng Kỳ thứ ba. Từ đây nhẩn sau, thì phái Tiểu Thừa xét trong 32 cái Nhân Duyên Tướng Nghiệp của Ngài mà giải ra sự 100 kiếp tu của Ngài.

Muốn biết một A Tăng Kỳ kiếp là bao nhiêu năm thì viết số ra 1 con zéro đứng trước, kế đó 60 con zéros, tiếng phạn kêu là Asainkhya.

Thích Ca nhờ Mật Giáo mà thành Phật:

Ngài đã làm hết thảy các việc phải đáng làm, nên được đến địa vị Bồ tát, rồi lại đã nương theo phép Hiển Giáo (dạy trống) mà tu hành, tới được nơi cảnh Sắc Cứu Cảnh Thiên, ngồi nơi kim cang bữu tọa, mà chứng được quả Vô Thượng Bồ Đế. Ngài ngồi nơi trên không gian mà suy xét đặng làm Phật quả cho viên mảng, nhưng mà Ngài chưa thay được cái bổn tánh của tự tâm. Vì vậy mà các vị Phật khắp trên Không Gian mới nhóm lại, thức tỉnh Ngài, cho Ngài biết phải bắt đầuThiền Định và trao cho Ngài cách Ngũ Tướng Quan Mô, bảo học đặng làm Phật quả Ngũ Trí viên mảng mới được.

Tuổi của Thích Ca xuất Gia:

Việc này có hai lời nói khác nhau:

Kinh “Trung A Xá”, kinh “Tăng Nhứt A Xá”, kinh “Đại Niết Bàn”, kinh “Bổn Hành Tập”, kinh “Lục Bộ Tạp Sư” đều nói rằng: Ngài 29 tuổi xuất gia, khỗ hạnh 6 năm đến 35 tuổi thì đắc Đạo.

Kinh “Tu Hành Bổn Khởi », kinh “Thoại Ứng Bổn Khởi”, kinh “Lục Đạo Tập” đều nói rằng: Ngài 19 tuổi xuất gia, 30 tuổi đắc Đạo.

Xét hai cái thuyết này thì cái thuyết thứ nhứt có lịch sử rõ hơn nên xét được, vậy phải tùng theo cái thuyết thứ nhứt.

Các tên lạ của Thích Ca:

Kinh “Quang Nghiêm” biên rằng:Đức Văn Thù Bồ tát vưng lịnh Phật bảo chư đệ tử rằng: Như Lai khắp bốn cõi ta bà thế giái này cứu độ chúng sanh, hoặc xưng rằng Nhứt Thiết Nghĩa Thành, hoặc xưng Viên Mảng Nguyệt, hoặc xưng Sư Tử Hẩu, hoặc xưng Thích Ca Mâu Ni, hoặc xưng Đệ Thất Tiên, hoặc xưng Tỳ Lư Dà Na, hoặc xưng Cổ Đàm, hoặc xưng Đại Sa Môn, hoặc xưng Đạo Sư. Ngài xưng như vậy trót ngàn ngoài tên, bảo chúng sanh ráng xét mà thừa nhận.

Bốn người hầu của Thích Ca là:

Văn Thù Bồ Tát, Phổ Hiền, Ca Diếp, A Nan. 

Thích Ca Vô Sư:

Hoặc có người hỏi Phật: Thầy Phật là ai? Phật đáp rằng: “Ta đã không thầy, mà cũng không có bạn. Một người nào không có lổi lầm, dầu lạnh cũng ấm lại được. Những vị Phật đã thành rồi lúc trước đều là người không có Đạo mà thành Đạo được, là vì mình Tự Ngộ được nhứt thiết Pháp. Hễ lúc mình còn gây cái Nhơn, thì mình phải nhờ vị Sư Bảo chỉ dắt; đến lúc Nhân viên Quả mảng rồi, thì tự mình Ngộ lấy mình.” Người ấy hỏi thêm nữa rằng: cái vị Phật đầu bài trước hết, số một đó, có thầy hay không? Ngài đáp rằng: “Không có Thầy, chỉnh xét cái huyền diệu của Tánh Chơn Như đặng mình ung đúc mình, thì tự nhiên tự nơi mình phát ra cái linh trí mà thành được”.

Tất Đạt Đa (Siddartha):

Hay là Tất Đạt, Tất Đa, Tất Đa Án Tha. Chánh tiếng là Tát Bà Hạt Thích Tha Tất Đa (Sarvartha’siddha)

Trung Quốc dịch là: Nhứt Thiết Nghĩa Thành, nghĩa là: nhứt thiết việc nghĩa đều làm nên rồi. Ấy là tên của Phật Thích Ca thuở còn làm Thái Tử, con vua Tịnh Phạn vậy.

Kinh “Bổn Hành Tập” nói rằng: Đời nhà Tùy giải nghĩa chữ Tất Đạt Đa là Thành Lợi, nhà Hớn giải nghĩa rằng là tên hồi lúc làm Thái Tử. Đến lúc đắc Đạo, biết được cã thãy những Pháp, nên kêu rằng là Phật.

Kinh “Huệ Huyễn Âm” giải rằng: kêu cho đủ tến của Tất Đạt Đa là Tát Phược Án Tha Tất Địa. Tát Phược nghĩa là Cả Thãy vậy, Án Tha nghĩa là Việc vậy, Tất Địa nghĩa là Nên vậy, chỉ nghĩa là: Nhứt thiết những việc phải làm đều đã thành tựu rồi vậy.

Ngũ Ngũ Bá Niên 

(5 lần 500 năm)

Lúc Phật sấp tịch diệt có nói tiên tri rằng : Hễ ta tịch diệt rồi, thì Pháp Giáo của ta thay đổi năm (5) kỳ, mỗi kỳ là 500 năm. Mổi kỳ thay đổi như vậy, thì những người thay đổi Pháp Giáo của ta đều có lập một cái tên riêng, đặng cho bền vững (kiên cố) cái Pháp của mình.

1.   Kỳ 500 thứ nhứt kêu là « Giải Thoát Kiên Cố » vì kỳ này, Chánh Pháp của ta còn đương thạnh, nên các bực Tỳ Kheo đều còn đương theo Pháp Giáo của ta mà được Giải Thoát.

2.   Kỳ 500 năm thứ nhì kêu là « Thiền Định Kiên Cố ». Bực giải thoát đã mòn mà cái Chánh Pháp Thiền Định Tam Mụi hởi còn vững vậy ; nên người nào còn nương theo đó cho vững thì đến được địa vị Giải Thoát.

3.   Kỳ 500 năm thứ ba kêu là « Đa Văn Kiên Cố », vì lúc này các việc thiệt hành theo Pháp của ta đã gần suy, chỉnh còn nhiều bực Đa Văn nên còn được bền vững đặng duy trì Giáo Pháp của ta.

4.   Kỳ 500 năm thứ tư kêu là « Tháp Tự Kiên Cố », vì lúc này Chánh Pháp của ta đã thiệt suy hết, nên những người yêu chuộng Pháp Giáo của ta chỉnh còn cất chùa cất tháp, gọi rằng thạnh mà thôi, nên kêu rằng là « Tháp Tự Kiên Cố ».

5.   Kỳ 500 năm thứ năm kêu rằng là « Đấu Tranh Kiên Cố », vì lúc này Chánh Pháp của ta không còn chi gọi là còn nữa, người gọi rẳng dùng Chánh Pháp của ta đều lấy sự tranh đấu làm hơn. Những lời nói cùng những lời ca tụng gọi rằng là của ta đều tùy ý thêm bớt ẩn ánh đặng cho bền vững cái Giáo của mình mà tranh dành cao thấp với Giáo Lý khác nên kêu là «Đấu Tranh Kiên Cố».

Đệ tử hỏi thêm rằng: nếu như lời Tiên Tri của Phật nói vậy, thì Pháp Giáo của Phật sẻ tiêu mất hay sao ?

Phật đáp: Việc chi ở tại cõi Nhơn Thiên này đều chẳng qua khỏi luật tuần hoàn, hễ hết thạnh thì đến suy, hết loạn rồi đến trị ; Pháp Giáo của ta nơi cõi này cũng luân chuyển theo đó. Nhưng mà đến ngày mãng kỳ Đấu Tranh Kiên Cố rồi, sẻ có những vị La Hán ở nơi kỳ Đa Văn Kiên Cố trở lại lập công quả cho Pháp Giáo ta mà đam về nơi kỳ « Giải Thoát Kiên Cố » cho đặng có thể trờ về nơi Niết Bàn. (Còn tiếp)

Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới

Triết lý Đạo Phật cho rằng: 

Cả thảy nhựt nguyệt tinh tú và trái địa cầu này đây (Visible Universe with its trillions of galaxies) gọi là Một Bầu Thế Giới nhỏ (Tiểu Thế Giới).

Hiệp được 1000 thế giới nhỏ như vậy kêu là Tiểu Thiên Thế Giới (1000 cái Tiểu Thế Giới).

Hiệp lại được 1000 cái Tiểu Thiên Thế Giới lại thì kêu là Trung Thiên Thế Giới.

Hiệp lại được 1000 cái Trung Thiên Thế Giới lại thì kêu là Đại Thiên Thế Giới. Như vậy thì một cái Đại Thiên Thế Giới có được 1,000,000,000 (một tỷ) Tiểu Thế Giới vậy.

Mà toàn cả thế giới đến tới bực Tứ Thiền Thiên có được đến ba ngàn (3000) cái Đại Thiên Thế Giới. Vậy nên gọi là Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới. Cộng lại là 3,000,000,000,000 Tiểu Thế Giới hết thảy.

Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới này ở trong Tâm Phật, dùng Phật Nhãn ngó thấy được đó.

Thoại Hà Nguyễn Hữu Phùng

(1935)

Tinh Thần Khổng Giáo

Bài của

Đức Đạo Tổ Thoại Hà Nguyễn Hữu Phùng

(1935)

Khổng Phu Tử sanh trước kỷ ngươn 551 năm, kể đếm năm nay là năm 1935, cọng lại là 2486 năm, tưởng các nước Âu lẩn Á luận sự Văn chương Đạo đức của Ngài không phải là không đủ, nhưng xét kỹ lại coi, thì thấy hễ nhầm trào vua nào nước nào chịu cái thuyết của Ngài thì lập miểu thờ, khiến cả nước phải tuân theo lời dạy của Ngài; còn nhằm trào vua nào nước nào không vừa ý, thì phá miểu đốt sách, cũng có khi đến đổi chôn sống học trò của Ngài, như Tần Thỉ Hoàng kia vậy cũng không chừng. Xưa nay vẫn như thế, chúng ta cũng chẳng lấy chi làm lạ. Nhẩn đến lúc sau đây, Trung Hoa nổi lên cách mạng rập chê bai Đạo Đức của Ngài, làm cho trót trên hai mươi năm nay, danh tiếng của Ngài phải bị mất giá trị biết bao nhiêu! Đương lúc như vậy, ai cũng tưởng rằng Khổng Giáo không cò đứng vững trên thế kỷ thứ 20 này với Trung Hoa nữa. Chẳng những bọn China như vậy mà thôi, cho đến nước Việt Nam ta, những năm rốt đây, nhiều người trong làng Âu học cũng chê đè ruồng rẩy cái Văn Giáo của Ngài, là một thứ văn giáo để dạy khoa cử, cứ lo bề thủ cựu không chịu nghinh tân, làm cho tinh thần con người hóa ra nhu nhược, nên khó bước vào con đường tấn hóa, chớ không có làm điều chi cho ích lợi khiến cho đến đổi nước nào có tôn sùng văn giáo Khổng học thì lòng phá đổi cựu học đặng đem tân học thế vào.

Ôi thôi ! Bực Chí Thánh như Khổng Phu Tử, Lễ nghi Văn giáo như núi như biển, trời đất dầu đổi, chớ lễ nghi trật tự của Ngài khó ai đổi được, mà còn phải giữ chưa trọn với đời cạnh tranh vật chất này thay ! Ai là người có chí về Tinh Thần, về Lễ nghi, về phong tục, về Đạo Đức, thấy vậy mà chẳng buồn thầm!

Chúng ta sanh ra trót 2500 sau, nay lại đem cái học thuyết của Ngài ra mà bàn luận, nghe qua tưởng cũng chẳng đúng chi cho lắm, mà nhứt là người sanh ra tại xứ Nam Kỳ này, là xứ Nho học tiêu mòn đã lâu, Nho thơ không còn sót lại, vậy thì có biết chi đâu dùng làm tài liệu đặng khảo cứu mà phòng dám to gan luận đến tinh thần Đạo Đức của Khổng Phu Tử, đặng làm trò cười cho các bực đàng anh nơi xứ khác, là xứ có chịu văn hóa của Ngài nhiều thêm sách vở đầu đủ nữa sao ?

Xét sơ qua thì như vậy, đáng lẽ nín đi là phải, song le tưởng lại cho chính đáng, thì thấy rõ ràng ngày nay sự sống của Khổng Giáo nơi xứ này, chẳng khác chỉ mành treo chuông, nếu ai có lòng lo cho phong tục nước nhà, tưởng cũng nên để ý nhắc nhở vào Khổng học, tùy theo sức của mình biết, tưởng cũng không phải là không bổ ích vậy.

Muốn xét cho rõ biết tinh thần của Khổng học thể nào, thì khó xét cho tường tận được, vì như tôi đã nói ở trên rằng: Xứ Nam Kỳ này ngày nay đã không co bực lão sư túc nho, mà sữ kinh điển tịch đều thiếu, thì làm sao mà nghiên cứu cho tận tường được, vậy thì nay muốn xét cho rõ tinh thần của Khổng học, thì chi cho bằng chúng ta hãy xét tắc một việc, là xét coi những công việc của Khổng Phu Tử trọn đời làm những chi, hễ được bấy nhiêu thì cứ xét bấy nhiêu, lấy đó chúng ta suy ra, thì đủ thấy Tinh Thần của Khổng Giáo được chút ít rồi, tôi tưởng tính như vậy cũng là gọn. Vậy bây giờ chúng ta hãy bắt đầu xét công việc của Ngài làm những chi.

Từng nghe Phu Tử ta sanh nhầm đời kỹ cương đã rối loạn, đạo cha con, anh em, vợ chồng, bậu bạn, vua tôi, chi chi cũng không còn ai kể đếm tới nữa; vua chúa coi sự loạn luân là thường, cha con coi việc cướp giựt giàu sang là hơn, còn chi nói đến việc vợ chồng, anh em, bậu bạn, thì còn có nghĩa lý chi nữa đâu! Phu Tử ta thấy vậy, nên toan cải lương xã hội lại cho có trật tự, cho biết yêu thương nhau, nên những lời Ngài dạy đời, thì bắt đầu dạy việc Thảo thuận làm trước, vì Ngài xét rằng: nếu muốn cải lương cái chế độ của quốc gia xã hội thì trước hết phải cải lương cái chế độ cùa gia tộc mới được, vì tiếng tuy gọi là Quốc Gia chế độ, chớ trong ấy gồm có nhiều cái Gia Đình chế dộ. Gồm nhiều gia đình mới thành Tộc phái ; gồm nhiều cái tộc phái mới nên được cái Quốc thể; hễ gia đình thì có Gia trưởng chủ trương, Tộc phái thì có Tộc trưởng chủ trương; mà hễ Quốc thể thì có Quốc Quân chủ tể, còn tiếng Xả Hội là tiếng chung cho mỗi nơi nào có hội trưởng nghị sự, lập chế độ đặng ra hiệu lịnh cho người thuộc trong bộ phận của mình, buộc đều phải nghe theo; còn cái bộ phận của người ta, mỗi người đều là một cái Tiểu Phần Tử rất nhỏ nhen thuộc về trong cái xả hội nào mình đang đứng đó mà thôi; có hiệp được nhiều cái tiểu phần tử như vậy mới thành ra được một cái xả hội. Vì vậy nên nếu muốn cải lương cho mỗi xả hội đều có trật tự, thì hay hơn hết là phải dạy cho mỗi cái tiểu phần tử trong mỗi bộ phận đều phải biết Thảo, Thuận, Ngay, Tin làm trước.

Xét vì trong mỗi gia đình, nếu được anh em biết thương yêu nhau, vợ chồng biết dạy dổ nhau, cha con biết thuận thảo nhau, bậu bạn biết khuyên can nhau, lớn nhỏ biết kính nhường nhau, thì nào còn có lo chi trong nước không được yên, cả thiên hạ không được thái bình?

Bản tâm của Khổng Phu Tử đã quyết định như thế rồi, nên Ngài mới xét lại rằng: nếu muốn thi hành cho được cái mục đích ấy, thì trừ ra phải cho có một cái quyền cai trị người mới làm được, bằng không có quyền ấy thì làm sao nói ra cho người ta nghe và cho người ta tuân theo ? Đã biết rằng đương đời ấy kỹ cương đã rối loạn, song le cái quân quyền hởi còn mạnh, vì vậy nên Ngài mới chẳng nệ mệt nhọc, trải qua nước này, sang đến nước khác, giốc lòng chọn cho được một vị hiền quân nào biết chịu nghe theo lời Ngài chỉ bảo, đặng trao cái quyền hành chánh cho Ngài, thì Ngài mới đủ sức mà thi hành cái chánh sách của Ngài đã yêu ấp trong lòng, quyết làm cho có kết quả mới vừa bụng của Ngài; vì vậy nên Ngài thường nói rằng: «nếu có một vị Hiền Quân nào biết dùng ta lối giáp năm, thì đã ngó thấy khá rồi, bằng dùng đến ba năm, thi cái chánh sách đã thành tựu, phong hóa đã nên, cái chánh kiến của ta lo giúp đời cứu dân đều được hoàn toàn kết quả». Tiếc thay! Đương đời ấy chẳng phải là không có một vị thời quân nào không biết nghe lời Ngài, song cũng vì kẻ quyền thần nganh gổ Ngài lắm, sợ e nếu Ngài nắm được chánh quyền thì bất lợi cho bọn họ, nên mới kiếm nhiều phương thế gièm pha châm chích đặng làm cho vua tôi lạt nẻo nhau đặng có xa nhau. Cũng có lúc lại bị nước láng giềng sợ, nếu để cho Ngài đắc thế thì nước họ phải suy, nên lập kế phá hoại, làm cho nọ phải lầm, cho Ngài phải thất chí bỏ đi; cũng có khi có vua không trọn lòng cung kỉnh Ngài, nên Ngài thất vọng mà không chịu giúp.

Cái chí của Khổng Phu Tử ta lo làm Đạo giúp đời chẳng có chút mỏi, nên trọn đời Ngài đi khắp các nước, không có một nước nào là không có dấu xe của Ngài đi đến, tuy nhiều khi bị hoạn nạn cho đến đổi bị vây, bị đói, nhưng cái chí của Ngài chẳng có chút sè sụt, Ngài một tin nơi sức học của Ngài có thể cứu đời được, nếu như có ai thiệt lòng nghe theo lời Ngài chỉ dạy. Nhiều khi Ngài than rằng: «Ta nào phải như trái bầu trái bí gì đâu, lẻ nào treo hoài đó mà không ăn cho được». Vì cớ chi mà Ngài tin chắc nơi Ngài, là vì Ngài quá tin nơi Trời; Ngài từng nói rằng: Nếu Trời mà không muốn cho thiên hạ thái bình thì thôi, trái lại như Trời mà muốn trị yên thiên hạ, thì trong đời này nếu chừa Ngài ra thì nào còn có ai nữa đâu ! Ấy là cái đức tin của Ngài rất mạnh mẻ và rất lớn lao như thế, nên dầu cho Ngài bị nhiều việc cam go hiểm trở, song Ngài chẳng hề sờn lòng.

Trong những lúc Ngài dạo khắp các nước đặng dạy người và lo sữa phong tục cho đời cùng là định thi hành cái Giáo Lý của Ngài ấy, thì Ngài dạy những điều chi, mà Ngài quá chắc rằng cái thiên chức và cái nhiệm vụ của Ngài là cao tối trọng?

Như đã nói ở phía trước rồi, sự học của Khổng Phu Tử ta là dùng Luân Lý làm trọng; nên cái Giáo Lý của Ngài cũng dùng luân lý làm gốc; mà cái luân lý cũng chẳng phải chi là lạ, nó ở trong lòng người chớ chẳng có ở đâu xa, ai ai cũng đều có sẵn, nên những điều của Ngài đem ra chỉ dạy cho người cũng chẳng ngoài cái Chơn Lý bổn nhiên của mọi người đã có. Cái ấy là chi? Ấy là những luật nhựt dụng của người với người phải cư xử đối đải thù tặc vảng lai với nhau hằng ngày mà thôi. Như Ngài dạy kẻ làm vua người thì phải ở cho có Nhơn; kẻ làm tôi người thì phải cho có sự Cung kính; kẻ làm con ở với cha mẹ thì phải có Hiếu; người làm cha mẹ ở với con cái thì phải có lòng Từ, phép ở với cả thảy người trong nước thì phải cho có sự Tín v.v.

Giáo lý của Khổng Phu Tử đã chẳng ngoài vòng luân lý, nên sự dạy của Ngài là vụ cho mỗi người đều phải thật hành cái nghĩa vụ của mình, đặng đối đãi với người bền trên, người bề dưới, người trong thân, người ngoại thích, người láng giềng cùng cả thảy những người nào mà mình có quan hệ đến. Bỡi sự dạy của Ngài là vụ sự thật hành như vậy nên trọn đời Ngài chẳng hề mở miệng nói về chuyện chi quái gở, chẳng nói về việc ỷ sức mạnh, chẳng nói về việc rối râm và chẳng nói về thần quyền. Ngài cứ một lòng nói về phận sự Đạo Đức của mỗi người phải lo tròn phận sự mà thôi.

Cái chủ nghĩa của Ngài là thuộc về chánh trị; nếu ai chẳng xét rõ thì tưỡng rằng chánh trị (politics) với luân lý (moral) là hai việc khác nhau, bỡi ý tưởng rằng hai việc ấy khác nhau nên nhiều người chuyên trị về Chánh Trị học hay làm sái cái chủ nghĩa, rồi hóa thành Cách Mạng (revolution), là bởi chẳng biết dùng Luân Lý làm căn bản cho nền chánh trị mà ra. Nếu biết dùng Luân Lý làm căn bản cho chánh trị, thì nào có đến đổi như thế. Xét coi, nếu mỗi cái tiểu phần tử trong mỗi bộ phận đều biết làm xong cái nghỉa vụ của mình, cha phải đạo làm cha, con phải đạo làm con, anh phải đạo làm anh, em phải đạo làm em, chồng phải đạo làm chồng, vợ phải đạo làm vợ, bậu bạn cư xử với nhau cũng đều phải đạo, lần lần ra cư xử với chòm xóm láng giềng cũng đều hòa nhã, cứ vậy mà thi hành khắp cùng trong cã thiên hạ cũng đều yêu thương lấy nhau, thì nào có đến đổi chi phải gây ra đến phong trào phá hoại. Ấy cái chủ nghĩa của Khổng Phu Tử ta bắt đầu là phải sửa cái nền luân lý cho có trật tự là như thế. Ngài thường nói rằng: «Một nhà đua chen về sự thương yêu nhau, thì cã nước đua chen mà thương yêu nhau; một nhà đua chen về sự kính nhường nhau, thì cã nước cũng đua chen sự kính nhường nhau». Cái bản tâm của Ngài đã chủ ý dạy về sự thương yêu kính nhường như vậy, bảo sao Ngài chẳng lo sửa từ cá nhơn từ cái tiểu phần tử làm trước! Nếu mỗi người đều biết nghe theo lời dạy của Ngài, nhìn nhận rằng mình là một cái bộ phận nhỏ trong xã hội, nên phải lo làm cho tròn nghĩa vụ đặng giúp ích cho đoàn thể của xã hội cho được tấn hóa, thì sự dạy luân lý cho có trật tự kia mới thể có gầy nên sự nghiệp vững bền cho nền chánh trị, chẳng chối cải chi nữa. Xét kỷ như thế, thì thấy rõ ràng cái mục đích của Khổng Phu Tữ dạy từ cá nhân, là chỉ yếu đặng duy trì xã hội cho được tấn hóa về phương diện đạo đức mà thôi, nên cái chủ nghĩa của Ngài là cải lương xã hội, nên Ngài hễ thấy thời cuộc có chỗ chi không được khéo, thì Ngài liền lập thế đặng sửa đổi lại, chẳng chịu để cho tới rối loạn mà phải cải cách. Ngài thường nói rằng: «Phàm làm việc chi thì phải nương theo nền móng cũ mà làm, chớ chẳng nên sửa đổi mà xây cái mới».

Khổng Phu Tử đã có một cái chủ nghĩa luân lý chánh trị như thế, sao Ngài chẳng đề xướng lý thuyết của Ngài ra cho người ta khuynh hướng theo, lại phải đi tìm kiếm cho được một vị Hiền Vương nào biết nghe lời của Ngài đặng dùng Ngài thì Ngài mới thi hành cái chủ nghĩa ấy được, bằng không thì thôi? Bởi tính như Ngài vậy, nên trọn đời Ngài không làm được việc chi hết, cho đến đổi nội trong cả vòng Trung Quốc không chọn được một vua nào giúp đở được, rồi lại than thở muốn đi ra khai hóa cho các mán rợ cữu di, lời ăn tiếng nói đã không đồng, mà phong tục lại càng khác nữa, thì Ngài có phương thế nào mà thi thố cái chủ nghĩa của Ngài được? Nếu vậy cái chủ nghĩa luân lý chánh trị ấy nó không có tốt đẹp hoàn toàn bằng các chủ nghĩa khác sao?

Không, chẳng phải vậy đâu, Khổng Phu Tử ta sanh nhằm thời đại trật tự trong nước đều xiên ngã, trên là vua chúa quan quyền đều lấy lòng xảo trá đặng đối đải với nhau, dưới là các hạng dân bị mê mụi dốt nát, mặc ai muốn dắc đi ngã nào thì theo ngã nấy, chẳng biết sao là phải, sao là quấy; còn Phu Tử ta lại chẳng chịu phá hoại xả hội, cứ một lòng lo cải lương xả hội mà thôi; trong nước tuy là rắc rối, lòng người tuy là tinh yêu, song ngôi thứ hãy còn chớ chưa đổ nát, nên Ngài phải căn cứ vào cái trình độ, nương theo cái hoàn cảnh đương buổi ấy, đặng lập ra một cái chủ nghĩa sắp đặt trật tự của cái nền luân lý đã sẵn dạy từ đời Thượng Cổ củ các bực thánh Đế Minh Vương lại cho xong, đặng sữa đổi phong tục cho được hoàn toàn mỹ mản, chớ Ngài không chịu tự mình cải tạo một cái nền tảng mới đặng lập dị cầu cao. Ngài từng tự xưng mình rằng: «Ta thuật lại những việc xưa, chớ không lập ra một việc mới». Lấy đó mà xét thì đủ thấy cái lương tâm của Ngài thể nào rồi. Tuy cái Giáo Lý của Ngài chẳng được người đời sùng bái cho lắm, nên chẳng được chống chỏi với cái thời gian đương buổi ấy mặc dầu, song cái ảnh hưởng về sự nghiệp, về Đạo đức của Ngài di truyền dến ngày nay, cả thảy toàn cầu đều công nhận và khâm phục, đều cho Ngài rằng là một nhà đại triết học, cái bực người như vậy, cái công nghiệp của người như vậy, nào phải để cho người tầm thường, kẻ võ phu, bọn hủ nho mỉa mai đặng phê bình được đâu. Đã biết rằng Giáo Lý của Ngài thi thố ra đương đời không được, nên Ngài mới bị gian truân nhiều đoạn, song Ngài cũng đã hiểu trước rằng: gặp cái hoàn cảnh như Ngài đang lúc bây giờ, nếu muốn cải lương xả hội, trừ cái lý thuyết của Ngài ra, thì không còn phương phép nào cao hơn mà đối phó cho xứng đáng, vì cái Giáo Lý ấy nó đã thuộc về tinh thần, thuộc về Đạo Đức, mà nó là con đường của mỗi người phải dùng hằng ngày không được rời ra, vì nó là một cái Chơn Lý đã sẵn có trong Tâm của mỗi người rồi, chớ chẳng phải ở đâu xa mà phải tìm kiếm cho mệt nhọc, cần là cần phải trau giồi nó lại cho sáng suốt, làm cho nó mới lại, làm cho nó thiệt khéo, thiệt tốt, thiệt đẹp và đủ. Xét rõ về chính trị của Trung Quốc lúc xứa, từ Nghiêu, Thuấn, Vỏ, Thang, Văn, Võ truyền trao tâm pháp và trị pháp cho nhau, đều chẳng ngoài sự sửa cái Nhơn Tâm cho thành Đạo Tâm, vì vậy nên những việc nhựt dụng của nền luân lý cang thường là cần phải gìn giữ cho có trật tự là trước nhứt.

Khổ tâm của Phu Tữ ta hành Đạo cực nhọc như thế, là chẳng phải giốc lòng lập danh đặng kiếm công danh phú quí chi, chỉnh vì Ngài tự nhận lấy cái Thiên chức Ngài là phải khai đường dẫn lối đặng dìu dắy người vào đường ngay lẽ phải, đặng hạn chế cái tình dục và cái vật dục nó làm cho mờ ám cái lương tâm của con người đi, nó làm cho người quên hẳn rằng: Người sở dỉ khác hơn cầm thú là nhờ có một cái Lương Tâm này nó đã đựng đầy đủ cã Chơn Lý đả ban phú rồi khi ban sơ, cái Lương Tâm ấy nó rất lành, rất tốt, rất đẹp, rất khôn ngoan khéo léo, rất sáng láng trong sạch; hiềm vì người bị sai mê theo cái hoàn cảnh xấu xa nó triêm nhiểm đầm thấm vào mình đã lâu mà không hay không biết đặng chừa , đặng lánh, đặng rứt, đặng bỏ nó đi, mà trở về theo cái sơ tánh của mình. Cái chủ tâm của Ngài là như thế, nên Ngài cần dùng phải có một vị Hiền Quân giúp sức với Ngài đặng thi hành cái chánh giáo của Ngài mới được mỉ mãn. Chẳng phải cái chánh sách của Ngài là không được khéo, hay là không thích hợp với thời cuộc, hãy xét coi khi Ngài còn làm chức Đại Từ Khấu đó thì biết. Lúc đó trong tay Ngài cầm cả chánh quyền, Ngài cai trị nước Lổ có ba tháng mà nước Lổ cả được thái bình, nhà tối ngủ khỏi lo đóng cửa, đồ rơi rớt ngoài đường sợ mất, trong nước không kẻ phỉnh gạt lường lận, kẻ đi đường không lấn lướt nhau, mà lại biết kính nhường nhau, người làm ruộng không lấn ranh nhau, người buôn bán không nói thách giá, ấy là việc người với người đối đãi với nhau phần bề ngoài bề ngoài đó; còn việc cư xử với nhau bề trong nơi gia đình thì chẳng cần chi phải nói nhiều, vì cái chánh sách của Ngài là vụ Hiếu, Để, Trung, Tín làm căn bản cho nền Luân Lý làm đầu. Xét vậy thì đủ hiểu sự dùng Luân Lý làm gốc cho nền chánh trị đặng giúp ích cho xả hội theo Giáo Lý của Khổng Phu Tử nó quí hóa là bực nào.

Học thuyết của Khổng Phu Tử là vụ sự thật hành, hễ nói chi thì vụ làm cho được nấy, chớ không phải nói suôn, hay là biết nói mà không biết làm, hoặc là nói được mà làm không được, vì vậy nên Phu Tử nói rằng: «Ta cũng muốn đặt điều đặng nói tuốt, song xét lại sao cho bằng đem ra đặng làm cho chắc chắn, rõ ràng cho mọi người thấy, người biết là hơn». Bởi vậy nên sự Ngài dạy dổ, thì Ngài dạy vụ phải học cho rộng trước, vì có học được rộng, mới thấy xa hiểu rõ được; nhưng Ngài lại dặn rằng: «Phải học cho rộng, mà phải hỏi cho chính chắn, phải nghĩ cho kỷ lưởng, phải phân cho rành rẽ, chừng nào chắc chắn, không còn chỗ nghi nghờ nữa, thì phải gia tâm đặng làm cho nên việc, đừng thối chí». Sự học của Khổng Phu Tử nó rộng lớn bực nào thì tôi đây không rõ được cho lắm, song le lậy nơi một lời dạy của Ngài to tác dường ấy, thì đũ biết sức Ngài học thể nào rồi; nên đệ tử của Ngài từng ví Ngài như là mặt trời, tưỡng không phải là quá tặng vậy. Ngài vốn là người siêng học, nên Ngài mới có lòng siêng dạy người, vụ cho người làm nên được người như Ngài vậy. Ngài từng nói rằng: Từ khi Ngài nên 15 tuổi, thì Ngài đã gắng chí nơi sự học rồi, mà học cho đến năm 70 mới nên; nghe vậy, đủ biết sự học không cùng, so lại với câu «thập niên đăng hỏa» của mấy bác nho xưa khoe mình, nghĩ càng thêm ngợp! 

Phu Tử ta học thì rộng, biết thì nhiều, song xem Ngài đem sự học ấy ra đặng ứng dụng với đời, thì coi không có chi là bề bộn nhọc nhằn cho lắm. Ngài thường nói: «Phải Nghĩa thì làm, chớ không lòng mưu lợi; phải Đạo thì giúp, chớ không lòng kể công: bởi bực quân tử thì cứ xét rõ nơi nghĩa vụ của mình mà làm, chớ nào phải như kẻ tiểu nhơn sao mà cứ so đo từ phân hào đặng kiếm lợi ?». «Đã biết rằng sự giàu sang thì ai lại không ham, sự nghèo hèn nào ai lại có muốn, song le nếu giàu sang mà phi Nghĩa, thì giàu sang mà làm gì, còn nghẻo hẻn mà trúng Đạo, thì dầu cho ăn cơm nguội, uống nước lạnh, nằm queo, co tay làm gối, thì cũng là vui». Vì sao Ngài lại vui cái thú nghèo đó hơn, mà lại khinh sự giàu sang phi nghĩa nọ? Nghèo mà vui nổi gì? Nghèo thì ăn cơm nguội, uống nước lạnh, nằm chèo queo, đó là thường, mà vui nổi gì? Sự giàu sang, sự nghèo hèn, ấy đều là vật ở ngoài thân ta; người đời mảng so đo cân lường lấy những vật bề ngoài ấy, đặng gọi là giàu, nghẻo, sang, hèn; rồi đề xướng lên cái tiếng: hễ ai dư giã những món đồ bề ngoài thân mình ấy thì cho là giàu sang, gọi là vinh; còn ai thiếu thốn đồ bề thân mình ấy thì cho là nghèo hèn, gọi vậy là nhục. Ấy là vinh nhục của phần đời cho, của phần đời gọi; ta thử hỏi coi cái đời kia nó có bền vững với đời của nó cùng chăng? Huống chi cái tiếng của đời cho, của đời kêu, của đời gọi, mà lại làm sao cho đủ gọi vinh, gọi nhục cho bực người đã có học Đạo, có biết Đạo rồi, thì biết có một món rất quí, rất tốt, rất báu, rất đẹp, rất đáng thương mến, đáng trân trọng, đáng gìn giữ từng giờ, đáng giồi mài từng bửa, ấy là cái Chơn Lý nơi Lương Tâm ta đó mà thôi; trừ vật này ra, thì chẳng luận là vật chi, hễ đời gọi rằng quí, người học Đạo coi dường bọt nước, xem thể mây bay kia, chớ nào có qui chi đâu!

Trong Lương Tâm người đã sẵn có Chơn Lý của Trời ban phú cho từ thuở ban sơ, mới gọi thật rằng là của quí cho, Chơn Lý ấy nó là Đạo, nó là Đạo dạy làm Con Người cho ra phải là Con Người, vì người hễ muốn làm cho nên Con Người thì phải biết Đạo làm người, mà Đạo làm người có chi lạ hơn là Nhân với Nghĩa. Bởi Khổng Phu Tử ta biết có Nhân Nghĩa là quí, ngoài Nhân với Nghĩa ra, thì chẳng có chi quí hơn nữa, nên trọn đời Ngài đem ra ứng dụng với đời, cũng chẳng chi lạ hơn là Nhân với Nghĩa.

Phu Tử đáp nghĩa chữ Nhân với chư môn đệ tuy có nhiều cách không giống nhau, ấy là cách dạy dổ đặc sắc của Ngài là tùy theo người nào có bịnh chỗ nào thì Ngài dùng thuốc chỗ ấy đặng chửa ngay vào đó cho mau lành, chúng ta nay góp nhóp lượm lặc lại các nghĩa ấy đặng xét coi, thì thấy rõ rằng: «Nhân» nghĩa là Thương Người, chớ có chi đâu lạ. Hễ người biết thương người thì đâu có làm hại người; hễ chẳng là hại người, thì phải đem lòng lo lắng, săn sóc, vừa giúp người, coi ngươi như mình vậy. Hễ biết coi người như mình, thì nào có chia rẻ ta Người ra làm hai. Hễ chẳng chia rẻ ta Người ra làm hai, thì Ta Người đã Hiệp Một như con một nhà rồi, vật chi Ta muốn thì Người cũng muốn. Người muốn thì Ta cũng muốn, xét được vậy thì nên biết sự kỉnh nhường nhau không chích mích nhau, mà hòa thuận với nhau luôn. Người trong một nhà biết kính nhường nhau, thì người trong môt xóm một làng cũng biết kỉnh nhường nhau, lần lần lớn ra cho tới người trong một nước cũng đều biết kỉnh nhau nhường nhau; càng ngày càng rộng thêm ra nữa, thì người trong cả thế giái cũng đồng biết sự kỉnh nhường như vậy, thì lo chi là thiên hạ không được thái bình! Ấy là cái nghĩa chữ Nhân gốc là Thương người mà ra, mà sự Thương người ấy nó làm ích lợi cho người là dương nào! Vậy thì cái Nhân ờ trong Lương Tâm này nó có đáng quí, hầu là những đồ bề ngoài cùa cái đời gọi quí đó, là quí?

Nhưng mà hễ biết được nghĩa chữ Nhân rồi, còn phảo biết nghĩa chữ Nghĩa nữa mới được, nếu biết Nhân mà không biết Nghĩa, thì cũng chẳng quí chi vậy. «Nghĩa» là Nhằm, là Phải, là Trúng mới gọi là Nghĩa, bằng chẳng Nhằm, chẳng Phải, chẳng Trúng thì là phi Nghĩa, thì là sái Đạo. Vì vậy nên việc chi mình xét nên làm, thì sẻ làm, bằng chẳng nên làm thì đừng làm. Ví dụ như cha thì phải biết thương con, con thì phải mến cha, chồng thì phải thương vợ, vợ thì phải thương chồng, anh em thì phải thương yêu nhau, ấy là phải Nghĩa đó. Nếu trái lại, cha nhà không thương, vợ nhà không mến, anh em nhà không hòa thuận, xóm giềng không kính nhường, mà lại đi thương cha người, mến vợ người, quí trọng anh em người, kính nhường xóm giềng ở đâu khác; làm như vậy có phải Nghĩa hay không? Vì vậy nên sự Thương nó cần phải cho nhằm Nghĩa mới được, nên hai hai chữ Nhân Nghĩa nó cần phải dính với nhau luôn luôn. Nếu sự Thương mà phải Nhân phải Nghĩa, thì trước hết phải Thương, phải Kính, phải Nhường người trong nhà, trong thân tộc làm trước rồi sau mới đem sự Thương, sự Kính, sự Nhường ấy ra mà Thương, mà Kính, mà Nhường người ngoài, cho đến cùng cả thảy người cả nước mới là phải cho.

Chánh nghĩa hai chữ Nhân, Nghĩa như đã tõ bày đó, nên Phu Tử ta hoặc dạy người, hoặc ứng tiếp vật chi đều chẳng ngoài hai chữ Nhân, Nghĩa. Mà biết cho rõ được, cho khỏi lầm lộn, thì Phu Tử ta dạy người trước hết phải Học rộng, phái Hỏi chính, phải Nghĩ kỷ, phải Phân rành rồi sẻ đem ra mà thật hành, nên như đã nói phía trước rằng Học thuyết của Khổng Giáo là vụ nơi Thật Hành. Song muốn cho được thật hành, Phu Tử ta chẳng những dạy phải Học rộng, phái Hỏi chính, phải Nghĩ kỷ, phải Phân rành mà thôi đâu, người học còn phải lắm công phu mới đem ra thật hành xong. Ngài dạy rằng: «Phàm việc chi hay là vật chi, phải khảo cứu cho cùng tột cái lý của sự vật đó, đừng cho một chỗ nào mà sự xét của mình không được đến tột; đã xét đến tột rồi, thì lại phải đem hết sức biết của mình cho tinh tế, mà tìm cho đến chỗ tinh vi của sự vật ấy, phải cho đàn tinh kiệt tứ, vụ thấu cho được chỗ kỳ cùng mới thôi».

(Sự học này cũng thể như ngày nay các khoa vật lý học, hóa học, bác vật học của Âu Mỹ vậy, song khác là khoa học của Âu Mỹ là xét cái vật lý của sự vật bề ngoài cảm xúc vào, còn Phu Tử ta xét lý sự vật nơi trong phát ra).

«Trong những lúc mà minh khảo cứu sự vật cho được tinh tế như vậy, thì mình phải thâu trọng cái phóng tâm của mình về, phải dẹp hết cái phóng túng nó chạy lăng xăng ở cảnh ngoài đó, đặng để một cái ý cho rất thiệt tình, rất quả quyết vào một việc của mình đang lo tìm kiếm xét nét đây; mà lại còn phải sửa cái tâm mình cho được trọn nhứt tâm vào việc ấy, đặng định một mối nào phải theo, con đường nào phải dùng đặng đi tới, rồi cứ theo đó mà phăn hoài đặng làm cho nên việc». Phàm việc chi, cứ dọn mình được như vậy hoài, ban đầu coi còn thấy có chỗ khó, sau lâu ngày hóa quen, nên hễ gặp việc thì biết, gặp việc thì thông, chẳng còn đợi phải mất ngày giờ mới là hiểu thấu chánh lý của nó.

Cái tư cách của mình dọn mình đã được có phương pháp hoàn toàn cao thượng như vậy, rồi «cứ nương lấy đó mà chỉ biễu cho những người trong nhà mình, người dưới quyền mình, đều phải do theo một cách thể ấy mà sửa mình; nếu có thế lực chút ít thì dạy luôn cho xóm giềng bắt chước theo, nếu được thế lực nhiều thì dạy tràng ra cả nước, được như vậy, thì nào có lo chi người trong nước không phát đạt được» ! Nếu mỗi người đều đủ trọn nhơn cách làm người rồi, gọi việc chi thuộc về Nhơn Đạo, đều biết dụng Hiếu, Đễ, Trung, Tín, Cung, Kỉnh, Khiêm, Nhượng; việc trong nhà vậy, việc ngoài đường cũng vậy, đều xử trọn Nhân, trọn Nghĩa, dầu cho gặp những việc chi khó khăn cho thế mấy nữa là cũng không mất ngày giờ cho mình xét đặng sự Phải mà làm, sự Quấy mà chừa, ấy những cái Công Hiệu như vậy là bỡi đâu mà nên? Có phải là bởi Giáo Lý của Khổng Phu Tử ta chỉ biểu dạy dổ người đều có phương pháp chánh đáng, có trật tự phân minh chăng? Mà những phương pháp ấy, Phu Tử ta dùng vật chi làm mụch đích đặng chỉ cho người biết đặng làm theo trúng một cách dễ dàng như vậy? Có chi đâu là lạ! Có chi đâu là xa! Phu Tử ta dùng có một vật là chỉ cho người phải tìm lấy cái Chơn Lý có sẵn trong Tâm Tánh của mỗi người rồi từ khi mới sanh ra, đặng mượn theo mà đi cho trúng đó chớ có chi đâu! Ngặt tự bấy lâu nay người bỏ cái Chơn Tâm, Chơn Tánh đó đi, không săn sóc  đến nó, cứ bo bo đeo đuổi cái khí bẩm vật chất bề ngoài mà gọi rằng quí, cứ nong trang theo cái tình dục của xác thịt nó sai khiến, cứ lăn lóc chăm chúi theo nó hoài mà không dám cải cái mạng lịnh của nó, sợ nó rời ra mà hết sang đi chăng, nên đành quên bỏ ông Chủ Nhà của mình là cái Bổn Tánh tự nhiên rất tốt, rất lành, rất trong sạch, rất sáng láng kia, đàng để cho ông Chủ Nhà ấy bị cái hoàn cảnh bề ngoài nó sai bợm gia đình lôi cuốn vào đóng kính, khóa chặc lại trong một gian phòng, để tự ý cho bọn nó tung hoành theo tình dục bề ngoài, cho phu phỉ cái ý ham muốn của chúng nó, kiệu sải nước lớn nước nhỏ tùy theo tên nài với cái hàm thiết giây cương, đặng lo ăn thua với đời, mà ông Chủ Nhà không hay biết chi hết! Phu Tử ta thấy vậy biết là sái đường, nên nhắc nhở người phải nhớ lại nhà mình đã có ông Chủ sẵn rồi, phải tỉnh lại đặng nhìn biết lấy ông mà do nơi mạng lịnh cùa Ông, theo lời phải của Ông, đặng dọn dẹp nhà cửa lại cho sạch, lau chùi bàn ghế lại cho sáng, cắt khiến lại cho mấy đứa gia đinh phải tùng lịnh chủ nhà đừng nghe lời kẻ bề ngoài xúi dục, thì nhà cửa mới được trang hoàng vén khéo chắc chăn khỏi hư khỏi nát, chớ Ngài có kiếm cái căn bản nào ở bề ngoài, đặng đem nhét vào bảo ai phải phục tùng đâu, nên sự giáo dục của Ngài không phiền phức mà lại dễ làm là vì vậy đó.

Có kẻ bài bác rằng Khổng Phu Tử ta dạy người tuy là rất chánh đáng, song Ngài cứ dụng Cá Nhơn làm căn bản vị, nên sự dạy của Ngài chưa được gọi là hoàn toàn mỹ mản, vẫn còn cái chủ nghĩa ích kỷ ở trong, vì nếu theo cái thuyết luân lý, thì cái quan niệm của Ngài quá thiên trọng về tư cách của cá nhân mà thôi, nên mới khiến cho những bực quân tử nhà Nho hay quá ỷ mình là đúng bực thượng lưu, mà miệt thị những người chẳng biết Đạo Nho, hóa ra trong xả hội không được đầm ấm mà lại có hại cho đường kinh tế, thì sự ấy Phu Tử cũng khó bề từ nan rằng không có lổi vậy. Mà Phu Tử ta có lổi chăng ?

Tiếp theo bài trước tôi xin giải sự người công kích cái chủ nghĩa của Khổng Phu Tử dùng luân lý làm căn bản vị cho xả hội, nên mấy bực quân tử nhà Nho quá ỷ mình, làm cho cái hoàn cảnh hiện thời không được đầm ấm, vì nổi hai cái học thuyết Tân Cựu chưa dung hợp với nhau; thêm là không nghe Phu Tử giảng dạy sự kinh tế, nên cái học thuyết của Ngài chưa được gọi là hoàn toàn châu đáo.

Đã biết mấy bực nhà Nho ngày nay đó, cũng có qua ỷ mình rằng là bực lão thành, nên cũng có quá tự tôn tự cao tự đại một chút, song le muốn cho phân biệt hai tiếng nhà Nho, tôi xin chư quí đọc giả cho phép tôi giải thêm cho rõ sao gọi là người Nhà Nho, sao chẳng phải là người Nhà Nho, cho chư vị dể bề biện biệt, rồi sẻ đem lời phê bình Đạo Nho của Khổng Phu Tử. Xin chớ tưởng lầm rằng mấy cụ đồ, cụ tú, cụ nhiêu, cụ cử ấy đều là người Nhà Nho đâu! Người Nhà Nho là người ở trong Nhà Đạo Nho, Học theo Đạo Nho, Hành theo Đạo Nho, dạy dổ dìu dắc người theo nết na khuôn phép của Đạo Nho, người như vậy mới đáng gọi là người Nhà Nho; chớ chẳng phải những người học chữ Nho, biết đọc sách Nho, biết nhớ thuộc lòng những câu văn chữ Nho, đặng nói cho lia, cho nhiều, cho tráng câu đặng giậm vào câu chuyện nghe cho bùi tai mà gọi là người Nhà Nho đâu. Bỡi Đạo Nho với Chữ Nho, hai nghĩa rất khác nhau như trời với vực. Đạo là Đạo, còn Chữ là Chữ, không ăn thua với nhau chi hết.

Tiếng gọi rằng Đạo Nho ấy, là một cái Học Thuyết của Đức Khổng Phu Tử lập ra, mục đích và tôi chỉ rất chú trọng về sự Giáo Hóa. Nó tuy không phải như một cái tôn giáo nào, song sức mạnh của nó không tôn giáo nào bì kịp, là vì Đạo này dạy người có hai phần, một là hình nhi thượng học, và một phần hinh nhi hạ học, mà hai phần ấy đều do nơi những việc ứng sự tiếp vật, nhựt dụng thường hành của mỗi người phải có và phải biết, phải làm hằng ngày, hằng giờ, hằng thiếu thì không được, dầu cho trẻ nhỏ từ 6, 7 tuổi cho đến người già cả đầu bạc răng rụng cũng phải thông hiểu; dầu cho kẻ hèn hạ là bực ngu phu ngu phụ, cho thẳng đến bực Thánh Hiền là cũng không được phép rời; dầu cho trên hết là bực Thiên Tử dĩ chí bực thấp thỏi hơn hết là bực cùng dân, là cũng không được phép quên sót; dầu cho từ việc nhỏ mọn kín đáo còn đương ở trong bụng, thẳng đến việc lớn lao ra bao hàm cã kiền khôn võ trụ, là cũng không việc chi qua khỏi; dầu cho từ nơi chỗ gần là cái xác thân của mỗi người và việc của mỗi nhà, dĩ chi khắp cã thiên hạ thế giái, là cũng không một ai được phép xa lìa khỏi mình giây phút; dầu cho kẻ man di mọi rợ, thẳng đến người văn minh tấn hóa, bực nào là cũng không khi nào mà chẳng có nó ở trong Tâm mình; dầu cho thời đại nào cũng vậy, từ muôn ngàn năm lúc trước, thẳng đến ngày nay và luôn luôn tới muôn ngàn năm kế sau nữa, là cũng không khi nào làm cách nào mà mất bỏ nó được v.v… Dầu cho việc chi nhỏ mọn từ việc Cá nhơn đối với Cá nhơn, thẳng qua cho đến phần chánh trị, phần xả hội, phần nhơn quần, luân lý, triết học, đạo đức, tín ngưởng, trật tự, chế độ, lể nghi, phong hóa v.v… cũng không một việc gì mà Đạo Nho thiếu sót không có chỉ dạy đến.

Đạo Nho sở dỉ dạy được bao quát lớn lao như vậy, là chỉ có dụng Cá Nhơn làm căn bản vị, chỉ dùng cái thuyết Luân Lý đặng sửa cải tư cách của từ Cá Nhơn, khiến cho từ Cá Nhơn biết Tự Sửa lấy mình, mỗi người đều phải biết cái Nghĩa vụ của mình, mỗi mỗi người đều phải biết trau giồi cái Nhơn cách của mình cho được Chí Thiện, mỗi người đều phải tôn cái Đức Tánh của mình mà cũng phải trọng sự Học hỏi cho biết Đạo đặng làm theo cho nhầm Đạo. Ấy là sự Tu Thân của cách Đạo Nho dạy vậy đó. Cái triết lý của Khổng Phu Tử sở dỉ khác hơn các bực Giáo Chủ khác cũng tại nơi đó; mà Khổng Phu Tử sở dỉ làm được Khổng Phu Tử là cũng tại nơi đó. Khổng Phu Tử dạy người «Tu Thân», Ngài chẳng hề dùng mê tín, chẳng hề dùng lời huyển hoặc, chẳng hề dùng tên một vị quì thần nào đặng rùng ép người bảo phải sợ, phải tin; chẳng hề nói sự Tiền Nhân Hậu Quả, chẳng hề nói việc Thưởng Phạt Thiên Đàng Địa Ngục chi hết, Ngài chỉ day mỗi người biết Sửa Mình theo cho trúng Chơn Lý, cho trúng với Chơn Tánh, cho trúng với Bản tâm của Trời phú cho mỗi người thuở ban sơ mà thôi. Hễ mỗi người đều biết dược cách Sửa Mình như vậy, biết trau giồi cái Đức Tánh của mình như vậy, biết đem cái Lương Tri của mình về theo cái Lương Tâm của mình như vậy thì cái Nhơn Cách của mỗi người đều được tận thiện tận mỹ rối. Cái Nhơn Cách của mỗi người đã đều được hoàn toàn chí mỹ rối, thì mỗi người đều biết cái Nghĩa vụ của mình phải làm làm sao rồi. Hễ biết được chắc chắn cái Nghĩa vụ của mình phải làm làm sao rồi, thì nào có dám Tự Do Hành Động, vì biết rõ cái Thân này thuộc về một cái bộ phận nhỏ nhen của một Đoàn thể trong Xã Hội, nếu mình muốn cho Xã Hội được rở ràng, được phát đạt, được có danh lành tiếng tốt, thì cái Thân này trước phài Sửa cho được trong sạch, cho được dùng theo nhơn cách của một cái tiểu bộ phận của một cái đoàn thể trong Xã Hội của mình đương đứng đương ở, ấy là các Tu Thân của Khổng Phu Tử ta dạy đó. Thấy đó thì biết rõ nghĩa Tu Thân là Sửa Mình, chớ có chi đâu. Mà muốn cho được gọi rằng người biết Tu thân, thì trước hết phải Tu Tâm. Tu Tâm nghĩa là Sửa cái Tâm của mình cho trúng với Chơn Lý, cho trúng với Chơn Tánh, cho trúng với Bản Tâm khi ban sơ, chớ không chi lạ. Hễ người biết Tu Thân, Tu Tâm thì chẳng hề khi nào dám Tự Do hành Động, vì phải lo giúp đở đoàn thể của mình đặng làm nên sự nghiệp cho Xã Hội, vì mình đây, cái thân nhỏ nhen này đây, nó là một cái tiểu phần tử cùa Xã Hội mà thôi.

Ôi ! Người Nhà Nho, người Chơn Nho, người học Đạo Nho Chơn Chánh của Khổng Phu Tử ta, biết Tu Thân đặng lo cho đoàn thể, đặng lo cho Xã Hội như vậy, sao ai lại nở gọi cách dạy theo cái thuyết Luân Lý của Phu Tử ta thiên trọng về Cá Nhơn chủ nghĩa, nên những bực quân tử nhà Nho hay lo ích kỷ mà khiến cho hoàn cảnh ngày nay không được đầm ấm?

Muốn cho rõ thêm cái mụch đích của cái thuyết Tu Thân nó làm nên cho Xã Hội được tấn hóa, được phát đạt là dường nào, tôi xin giảng thêm cho rành cho rõ nữa, cho dể bề anh em suy xét.

Sách Nho có dạy rằng: Từ bực trên là bực Thiên Tử, dỉ chí đến bực thấp là bực Thứ Dân, ai ai rắc rắc, đều phải sửa mình làm gốc. Vì hễ là mỗi người đều Sửa Mình cho được rồi, thì chẳng lẽ bỏ qua cái gia đình của mình mà không Sửa, lẽ nào đành thấy người trong gia đình của mình chẳng biết lo tròn phận sự, mà mình nở bỏ qua không dạy không sửa hay sao? Nếu mình bỏ qua đi, thì chỉ nghĩa rằng mình không biết làm nghĩa vụ của mình cho tròn, thì cái Nhơn Cách của mình ở đâu? Nếu mình biết lo Nhơn Cách của mình cho tròn, thì thấy trong gia đình của mình nếu có ai là người chẳng biết Sửa mình, thì mình phải dạy họ cho biết; họ biết được rồi, họ làm được rồi, thì chíng là người trong cái gia đình của mình đều biết được Tu Thân đó. Người trong gia đình của mình đều biết và làm được sự Tu Thân, thì gia đình mình được vui vẻ đầm ấm, trật tự, thuận hòa, ấy chính nghĩa là Tề Gia đó, vì Tề Gia cũng nghĩa là Sửa Nhà cho có trật tự.

Hễ Nhà được yên rồi, trong Làng Xóm cũng được yên, vì Làng Xóm là nhiều cái Nhà mà hiệp nên chớ có chi, vậy nên Làng Xóm cũng gọi là một cái Tiểu Xã Hội vậy. Một cái Tiểu Xã Hội được yên, thì nhiều cái Tiểu Xã Hội khác cũng được yên, lần lần thành ra cả nước đều được yên, cả thế giới cũng đều được yên, ấy vậy gọi là chi đó, có phải gọi là Thiên Hạ Thái Bình hay không ? Thử coi Thiên Hạ Thái Bình như vầy là gốc tại đâu? Có phải gốc là do nơi mỗi mỗi người đều biết Tu Tâm, Tu Thân theo lời Khổng Phu Tử ta dạy hay không? Biết được vậy rồi, thì có lẻ đâu lại nở đổ tội cho Phu Tử dạy Luân Lý là quá thiên trọng về chủ nghĩa Cá Nhơn?

Cái mụch đích Chủ Nghĩa Cá Nhơn (le Principe de l’Homme – Humanity Principle) của Khổng Phu Tử dạy, là dạy mỗi người phải đều lo tròn Đạo Đức của mình, lo tròn Nghĩa vụ của mình, mỗi việc đều phải đến cho được cái địa vị Chí Thiện. Còn cái tiếng Cá Nhơn Chủ Nghĩa (Principle de l’Individualité – Individuality Principle) của người đời nay hay dùng đặng nói đó, là chỉ cho mỗi người ai ai cũng phải đều lo lấy cái tư lợi, lo ích kỷ, lo được riêng phần mình, chẳng quản phần người khác sống chết thế nào. Xin chư tôn chớ lẩn lộn hai cái chủ nghĩa, hai cái thuyết này, vì tiếng Chủ Nghĩa Cá Nhơn là làm theo Chánh Lý Đạo người Quân Tử phái làm (Quân Tử vụ ư nghĩa), còn tiếng Cá Nhơn Chủ Nghỉa là làm theo tình đời của hạng Tiểu Nhơn (Tiểu nhơn vụ ư lợi). Ấy bốn tiếng Chủ Nghĩa Cá Nhơn và Cá Nhơn Chủ Nghỉa nghe qua, nếu không phân biệt thì rất dể mà lầm, vì sự hành vi nó trái hẳn với nhau dường như mặt trời với mặt trăng vậy.

Dùng một cái ví dụ này nữa thì chúng ta thấy rõ. Ví dụ : một cái nhà trường là chỗ để hiệp lại nhiều tên sĩ tử, mà cái nhà trường lại được nổi tiếng, là nhờ nơi đâu? Có phải là nhờ mỗi tên sĩ tử đều biết lo tròn nghĩa vụ của mình chăng? Một cái xưởng công nghệ, là chỗ hiệp lại nhiều tên nhơn công, mà cái xưởng lại được có danh, cũng là nhờ mỗi người công nhơn trong xưởng đếu biết lo tròn phận sự. Một cái sư đoàn là chỗ nhiều tên quân lính hiệp lại đặng rèn tập, mà cái sư đoàn ấy lại được ngợi khen là cũng nhờ nơi mỗi tên lính đều biết lo xong, lo tròn trách nhậm của mình đó. Một cái gia đình, một cái gia tộc, là chỗ hiệp nhiều người bực làm con, nhiều người bực làm em mà nên. Nếu mỗi tên làm con, mỗi tên làm em, đều biết lo tròn phận sự của mình, đều biết được nghĩa vụ của mình, đều biết giữ luân lý đặng gìn giữ danh tiếng cho gia đình cho được bình yên trật tự, thì cái gia đình gia tộc ấy được danh thơm tiếng tốt. Nay chúng ta hiệp nhiều cái trường học ấy lại, hiệp nhiều cái công xưởng ấy lại, hiệp nhiều cái gia tộc ấy lại, thì thành ra một nước, mà nước ấy lại nổi danh, thì có phải đều là do nơi mỗi tên sĩ tử, mỗi tên nhơn công, mỗi tên quân lính, mỗi tên làm con, làm em, đều biết lo tròn Nghĩa vụ Cá Nhơn của mình mà ra đó chớ nào có lạ chút nào. Ấy là cái Chủ Nghĩa Cá Nhơn của Khổng Phu Tử ta dạy, là dạy mỗi người đều phải lo tròn phận sự của mình cho tận thiện tận mỹ, đặng hiệp chung lại cho nên một cái sự nghiệp cả thể cho quốc gia, cho Xã Hội, chớ nào có phải dạy cái Cá Nhơn Chủ Nghỉa như hoàn cảnh ngày nay đương chủ trương lo tư kỷ đó đâu.

Cái Tinh Thần Nhà Nho của Khổng Phu Tử đã dạy như đã nói sơ lược nơi trên đó, vậy thì nếu ai ai cứ đều do theo cái tôn chỉ đó mà làm theo, đặng Tu lấy cái Thân mình, thì lo chi Thân không được yên, Nhà không được vững, Nước không được thạnh trị, Thiên Hạ không được thái bình! Người nào được sửa mình theo lề luật ấy mới được gọi rằng là Người Nhà Nho, mới được gọi rằng người trong cửa Nhà Nho, mới được gọi rằng người Quân Tử Nhà Nho. Nếu được gọi là người Quân Tử Nhà Nho rồi, thì xử vào cái hoàn cảnh nào chẳng luận,  thì cũng đều làm cho hoàn cảnh ấy đều được đầm ấm êm đềm bình an hết thảy. Tiếc vì người Quân Tử Nhà Nho ngày nay ít gặp, ít thấy, mà cũng ít nghe, trái lại người tiểu nhơn Nhà Nho thì đâu đâu cũng gặp, xứ xứ cũng thấy. Vì bực tiểu nhơn Nhà Nho này quá nhiều nên mới gây ra cái tiếng chẳng tốt chẳng lành chung cho Đạo Nho, mà hại cho danh giá của Khổng Phu Tử nữa.

Muốn biết Tiểu Nhơn Nho là người thể nào, kỳ sau tôi sẻ giải tiếp, đặng phân biện cho trọn cái vấn đề.

Kỳ trước tôi có hẹn với anh em rằng tôi sẻ giải tiếp đặng phân biện cho rành sao gọi là bực Quân Tử Nhà Nho, sao gọi là bực Tiểu Nhơn Nhà Nho. Trước khi chỉ rõ sao rằng là Tiểu Nhơn Nho, thì tôi xin phải giải nghĩa hai tiếng Quân Tử và Tiểu Nhơn ra cho rành cho mỗi người đều hiểu được hai cái danh từ ấy cho đúng, thì để phân biệt Quân Tử Nho với Tiểu Nhơn Nho, vì hai tiếng này cũng là tiếng Danh Từ vậy.

Hai tiếng Quân Tử và Tiểu Nhơn, thường hay ở cửa miệng của người nhà Nho, vì trong sách Nho dùng hai tiếng này đã lâu và đã nhiều rồi, chẳng khác chi đời nay nói bực Thượng Lưu hay là bực Hạ Lưu vậy, ai cũng biết nói, song le tưởng cũng ít người hiểu cho đúng mà dùng trong khi chỉ vào một bực người nào hay một hạng người nào, vì Thượng Lưu cũng có Tiểu Nhơn mà Hạ Lưu cũng có Quân Tử vậy.

Thường thường người ta gọi người nào có văn học, ăn trên ngồi trước, giàu sang, nói chi thì người ta nghe nấy v.v. là người Quân Tử ; trái lại ai không ăn học chữ nghĩa, nghèo hèn, nói chi thì người ta bác bẻ, ấy là Tiểu Nhơn. Có người lại cho rằng : Hễ ai sai khiến người được thì là Quân Tử, còn ai bị người sai khiến thì là Tiểu Nhơn. Giải nghĩa danh từ và đặc tên hạng người như vậy thật sái hẳng với chánh nghĩa của hai danh từ ấy.

Khổng Phu Tử có kêu thầy Tử hạ dạy rắng : « Nhữ vi Quân Tử Nho, vô vi Tiểu Nhơn Nho », nghĩa là : nhà ngươi hãy làm người Nho bực Quân Tử, chớ làm người Nho bực Tiểu Nhơn. (Le Philosophe, interpellant Tseu Hia, lui dit : Que votre savoir soit le savoir d’un homme supérieur et non celui d’un homme vulgaire – G. Pauthier). Thầy Tử Hạ là một bực đệ tử trong hàng thứ nhứt của Khổng Phu Tử, mà Ngài còn răn dạy như vậy thay, vậy thì nào có phải ai là người có học mới được gọi là Quân Tử đâu. Lại Khổng Phu Tử cũng có nói : « Quân Tử dụ ư nghỉa, Tiểu Nhơn dụ ư lợi », nghĩa là : người Quân Tử thì hiểu rõ bên phần Thiên Lý hơn, còn kẻ Tiểu Nhơn lại hiểu rõ bên phần nhơn dục hơn. (L’homme supérieur est influencé par la justice, l’homme vulgaire est influencé par l’amour du gain – G. Pauthier). Xét câu này thì càng rõ không phải ai giàu có sang trọng thì là Quân Tử hết thảy, vì kẻ Tiểu Nhơn xảo bên đường mưu lợi lắm, hễ gặp việc chi hoặc tín điều chi, thì cũng sẵn có cái kế quyệt xảo đặng làm cho ra tư lợi rồi, ngoài cái việc lợi, thì phe ấy không còn đếm tới việc chi là phải quấy là nhơn nghĩa nữa, vì vậy nên bực người này mới giàu sang cho; còn người Quân Tử thì bo bo lo làm việc phải, thì nào dược giàu có bao giờ. Dùng hai câu của Khổng Phu Tử nói trên đây mà so sánh, thì thấy rõ Quân Tử với Tiểu Nhơn khác nhau là tại nơi Đức Tánh thể nào mà thôi, chớ không phải tại nơi học nhiều, hay là giàu sang mà gọi là Quân Tử, còn trái lại là Tiểu Nhơn đâu!

Người ở đời mà phê bình tư cách người ta bằng hai tiếng Quân Tử hay là Tiểu Nhơn, thì cũng đủ vinh cho người được khen và nhục cho người bị chê đó rồi; song le nếu phê như lời tôi đã nói ở trước rằng: «hễ ai có văn chương chữ nghĩa, giàu có sang trọng, ăn trên ngồi trước v.v. thì là Quân Tử, còn trái lại là Tiểu Nhơn», thì thật nhiều người bị chê hay là được khen đều không đúng như lời phê.

Luôn đây, tôi cũng xin trưng một vài lời của Khổng Phu Tử chỉ rõ các đức tánh sai biệt của quân tử và tiểu nhơn là thể nào cho chư tôn gẩm xét (rút trong Luận Ngữ).

Một: «Quân Tử thân đảng đảng, Tiểu Nhơn trường thích thích» nghĩa là: Người Quân Tử rộng rải, mỗi việc đều do nơi Thiên Lý mà làm, ở địa vị nào thì làm theo địa vị nấy, trên không hổ với Trời, không xấu với Tông Môn, dưới không thẹn với Đất, không để danh nhơ với nhơn quần xả hội, nên không một giờ khắc nào mà tâm địa không được vui vẻ thơ thới bình thường hoài; còn kẻ Tiểu Nhơn thì hãy bị vật dục sai khiến, bo bo cứ việc mưu lợi, một cái lợi nhỏ cũng không bỏ, dám làm đến việc cang danh phạm nghĩa đặng kiếm một món lợi chi đó, hay là kiếm một lời khen chi đó, chẳng kể cái lợi đó hay tiếng khen đó là vinh hay là nhục, miểng là được vinh mặt vinh mày một lúc với bạn bè thì thôi, vì vậy nên kẻ Tiển Nhơn không giờ phút nào mà không sầu não ái ngáy lo ngại cắn rức trong lòng. (L’homme supérieur a de l’égalité et de la tranquilité d’âme; l’homme vulgaire épouvre sans cesse du trouble et de l’inquiétude – G. Pauthier).

Hai: «Quân Tử Châu nhi bất Tỷ; Tiểu Nhơn Tỷ nhi bất Châu», nghĩa là: Muốn phân biệt sao gọi là Quân Tử, sao gọi là Tiểu Nhơn, thì xét những tánh tình cư xử và những sự hành vi của người nào ấy coi thuộc về Công hay là Tư thì mới rõ thấy. Xưa nay dầu cho bực Quân Tử hay là Tiểu Nhơn chi chi cũng vậy, cũng phải có người quen lớn thân thích, nên mới có kẻ hậu người bạc, kẻ thương người ghét; lại cũng có lúc xử việc này thì vầy, xử việc khác thì khác; hoặc là phải tùy theo thời thế mà thay đổi chế biến cái tư cách cùng là phận sự trong lúc phải làm, chẳng khác chi Trời ban ngày phải sáng mà ban đêm phải tối vậy, lúc thì phải có trăng cho tròn, mà có lúc lại cũng phải không có một chút ánh sáng vậy. Nhưng mà những lúc như vậy phải cho Công lý kìa mới được gọi là Quân Tử, bằng Tư tâm ích kỷ, vụ Lợi riêng, vụ Danh riêng, vụ báo cừu riêng, hay là rửa nhục riêng, mà chẳng quản đến sự Công lợi Công ích cho nhơn quần, chẳng nhớ trước liệu sau xét coi sự làm ấy, hoặc là nó sẻ làm cho tài sản, hoặc cho danh giá, hoặc cho nhơn sanh sẻ ra thể nào, chỉ lo ích kỷ mà thôi, người như vậy ấy chánh là kẻ tiểu nhơn vậy. (L’homme supérieur est celui qui a une bienveillance égale pour tous, et qui est sans égoisme et sans partialité. L’homme vulgaire est celui qui n’a que des sentiments d’égoisme sans disposition bienveillante pour tous les hommes en général – G. Pauthier).

Ba: «Quân Tử Hòa nhi bất Đồng, Tiểu Nhơn Đồng nhi bất Hòa». Như đoạn trên đã nói, muốn phân biện sao cho rõ ai là quân tử, ai là tiểu nhơn, thì hãy xét tánh tình cữ chỉ hành động của người ấy coi coi lo về nơi việc Công nghĩa hay là chuyện Tư lợi, vụ no cái Nhơn tâm hay là vụ vung bồi Thiên lý, vụ cho nên Nghĩa lớn hay là vụ kiếm Lợi vặc ? Nói cho thật kỷ, người muốn biên biệt Quân Tử với Tiểu Nhơn, thì chỉ nên xét cái tư tưởng của người kia Công hay Tư là đủ, song le Công hay Tư chẳng phải tự nơi mình phán đoán riêng theo Tư ý của mình, rồi giẩn dụ cho người khác theo phe mình đặng phán đoán. Nếu mình làm như vậy, thì chỉ nghĩa rằng mình Vị Ngã, Ích Kỷ, Tư Tâm dầu cho mình tuy gọi là người đứng vào hạng phê bình, mà chính mình là Tiểu Nhơn đó, tiểu nhơn tiềm tâm ích kỷ.

Muốn biết cái tánh tình cữ chỉ hàng động của bực Quân Tử, thì là khó, hãy xét lời Khổng Phu Tử nói trên đó thì rõ. Người Quân Tử biết Đạo có Một, mà Người thì vẫn nhiều; vì vậy nên xử với Người thì trong lòng vẩn biết dùng Đạo mà giúp nhau, việc hư nên quấy phải cũng đều nương sự Học đam ra dùng, đặng làm Nên cho nhau, chẳng hề bưng bợ nịnh hót lùa dở; dầu trong những công việc làm, tuy là ý tứ có khác nhau nên cải cọ  nhau, nhưng mà những sự cải cọ ấy đều là vụ cho ra lẻ phải mà thôi, nên người ngoài thấy vậy gọi là chẳng đồng ý kiến, song thật trong lòng vốn chỉ có một mục đích là xét và làm cho được cùng lý mà thôi, nên dầu ý kiến tuy Chẳng Đồng, mà tâm chí tánh tình vẫn Hòa Hiệp với nhau; chẳng khác chi trong một bửa cơm tuy chẳng có món nào giống món nào, món thì cay, món thì mặng, món thì lặt, món kia chát, món nọ chua, nhưng mà nhờ nó khác tánh như vậy, mà người đầu bếp biết hiệp nó lại, nêm nếm cho nó hòa lại với nhau, thì ăn mới đẹp miệng. Ấy gọi là Hòa với nhau mà chẳng Đồng nhau vậy. Tiểu nhơn thì tư cách trái hẳng. Tiểu nhơn thì vụ sự a dua bợ đở, một người nói ra nhiều người Rập theo một phía, Đồng nhau một khuôn chẳng cần chi phải quấy, việc không nói có, chẳng đếm chi sự nên hư nó biết Đồng nhau bề ngoài, mà nó không biết Hòa nhau bề trong, nên nó phải rả, phải mòn, phải tiêu. Ấy gọi là Hòa mà chẳng Đồng vậy. (L’homme supérieur vit en paix avec tous les hommes, sans toutefois agir absolument de même. L’homme vulgaire agit absolument de même, sans toutefois s’accorder avec eux – G. Pauthier).

Bốn: Hỏi: Nếu như trên đã nói, bực Quân Tử thì hòa với nhau mà chẳng Đồng nhau, vậy Hòa với nhau hoài, lâu ngày sau khỏi thành phe đảng? Còn nếu xử sự mà không Đồng nhau, thì tánh nết phải phải cương quyết nghiêm nghị, lâu ngày sao cho khỏi chích mích? Nếu chích mích nhau thì phải xa cách nhau, vậy thì làm sau mà Hiệp với nhau cho được mà gọi là Hòa ? Nếu Hòa với nhau thì tâm tánh phải Đồng nhau, vậy thì chẳng khỏi thành ra phe đảng thì hóa ra chẳng khác Tiểu Nhơn. Vậy thì biết làm sao cho vuôn tròn được?

Đáp: Lời hỏi ấy rất đúng, Khổng Phu Tử biết trước rồi, nên đã có dạy rằng: «Quân Tử căng nhi bất Tranh, Quân nhi bất Đãng», nghĩa là: tánh tình người Quân Tử rất ngay thẳng, nên trong những cơn ứng sự tiếp vật đều đứng vào con đường lể pháp, tuy thật là nghiêm nghị, là vì buộc mình phải theo luật Chơn Lý, không Tư vị, vụ công nghĩa chớ chẳng phải muốn tranh hơn thua chi với ai, tuy ở vào địa vị hay là hoàn cảnh có đông người, song chỉ biết có Đạo làm Gốc, chẳng chịu tùy theo thế tục tình đời a dua nịnh hót với ai. Đã chẳng chen giành hơn thua với ai, vậy thì nào có chích mích ai bao giờ! Nhờ vậy nên tuy Hòa với người mà chẳng hề để cho người làm cho mình phải xiêu trôi, vẫn đứng vững nơi địa vị Trung lập, vẫn cứ noi theo Công lý chánh giáo, trơ như đá, vững như trổng, chẳng khác một cây Đồng trụ đứng giửa giòng sông, chẳng hề bị giọt nước làm cho xiêu được. Tâm địa đã chánh đại quang minh như vậy, thì nào có phe đảng gì! (L’homme supérieur est ferme dans ses résolutions, sans avoir de différends avec personne; il vit en paix avec la foule, sans être dans la foule – G. Pauthier).

Trước đây tôi xin đem ít câu cách ngôn của Đức Khổng Phu Tử ra đặng xét cho đúng mực nghĩa của hai cái danh từ sao gọi là Quân Tử, sao gọi là Tiểu Nhơn. Còn muốn cho phân biệt sao gọi là Quân Tử Nho, sao gọi là Tiểu Nhơn Nho, thì xin độc giả hãy bước đến vài bước nữa thì thấy rõ.

Ban đầu chúng ta trước xét từ cá nhơn đặng phân biệt quân tử và tiểu nhơn cho rành. Chúng ta dùng cây cân và cái gương theo những lệ luật mực thước của Khổng Thánh đã nói đó, thì chúng ta đã rõ từ người, từ người, từ hạng người, từ hạng người rồi, ai sao là đúng Quân Tử, còn ai sao là quân tử diện thị bối phi; ai sao là đúng tiểu nhơn, mà ai sao là tiểu nhơn đầu trộm đuôi cướp; vậy thì chúng ta hãy thoán con mắt qua thì đủ phân biệt được không lầm rồi; vậy nay chúng ta hãy xét sao gọi là người Nhà Nho? (Nghĩa sao gọi là người Nhà Nho, tôi đã giải nơi tạp chí số 1,2,3 rồi, nên đây tôi không đam vào nữa). Chúng ta trước đã xét từ Cá Nhơn của mỗi xưng rằng người Nhà Nho rồi, chúng ta đều phán đoán minh bạch không sai, vậy thì nay chúng ta đây cũng là Người Nhà Nho vậy, chúng ta hãy tự phán đoán lấy cá nhơn của mình thữ coi, coi tronh mình có mấy phần Quân Tử, mấy phần Tiểu Nhơn? Chúng ta gọi mình là Người Nhà Nho rồi, thì cái phần nào thuộc về Tiểu Nhơn mà nó đeo theo trong mình chúng ta đón ấy nó đều là Tiểu Nhơn Nho đó, hãy rức bỏ nó ra cho tuyệt; còn phần nào thuộc về hạng Quân Tử đó, thì phần ấy là Quân Tử Nho đó, hãy gìn giữ nó lại cho kỷ cang. Xét lời Khổng Phu Tử dạy Thầy Tử Hạ rằng: «Nhà ngươi hãy làm Quân Tử Nho, chớ làm Tiểu Nhơn Nho», xét rõ thì thấy Quân Tử hay Tiểu Nhơn là cái Đức Tánh mà thôi. Việc nào mình giữ lòng ngay thật chơn chánh, vụ nơi sự Công Nghĩa ấy là Tốt, ấy là Đức tánh của bực Quân Tử, trong những lúc như vậy thì mình được đứng vào địa vị Quân Tử Nho; còn những lúc nào không được vậy thì cũng là mình đây, mà mình phải biết mình rằng lúc này đó là lúc mình ở địa vị Tiểu Nhơn Nho vậy. Cũng là một mình mình, mà nếu mình phán đoán cho người ta được, thì tự mình cũng phải phân biệt lúc quấy lúc phải của mình, đặng mình tự sửa lấy mình cho chánh đại quang minh, phải diệc hết các tánh xấu xa trong mình cho đừng còn nữa, thì thấy những Đức Tánh Quân Tử Nho sẻ lộ ứng ra, khi ấy làm sao mà không Hòa với người Quân Tử Nho!

(Còn nữa).

Thoại Hà Nguyễn Hữu Phùng

(1935)

Bài trừ mê tín nước Nam

Đức Hổn Ngươn Thiên Sư

Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài

Mỹ Tho, 8 Jan 1935

Đức Chí Tôn mở Đại Đạo Tam Kỳ ngày nay, là giốc phá cái mê muội của chúng sanh đặng đem về đường Chơn Lý. Vậy thì những người nào lảnh cái trách nhậm dìu dắc chúng sanh ấy phải có cái can đảm, cái nghị lực đặng phá những mê tín vô lối của chúng sanh mới được, chẳng lẻ chìu theo thói củ tục xưa, mỗi việc mỗi tin càng, mỗi sợ mích lòng mà gọi rằng là Chơn Lý.

Cái mê tín của thói tục nước Nam chẳng có chi hơn là cái mê Cúng Lạy các bụt Thần, chẳng luận là phải quấy chi hết, vì gọi cúng lạy như vậy là được Phước, bằng chẳng vậy thì là có Tội; chớ họ chẳng chịu xét rằng Tội hay Phước là tại nơi mình làm, hễ làm lành thì gặp Phước còn làm dử thì bị Tội. Đã chẳng biết bao nhiêu sách vở của Thánh Hiền xưa để lại dạy bảo rằng Trời không tư vị ai, Trời không vì có cúng có lạy mà ban phước, mà vì không cúng lạy mà Trời oán hại ai, nhưng than ôi, những lời nói phải, nói ngay thì ít ai chịu để tai vào, còn như những lời cám dổ quỉ ma thì nhiều người ưng ý. Tại sao vậy? Là tại ít người có can đảm nghị lực đứng đợt ra mà biện biệt sự phải sự quấy cho nhơn sanh rõ đó, dầu cho có làm đi nữa, là cũng nói sơ qua một vài lần rồi thôi, chớ không ai chịu gánh vát làm cái việc phải cho đến cùng. Cái người biết phải đã ít, mà lại còn ít nói, ít chịu gánh vát, còn bọn gạt gẩm chúng sanh thì lại nhiều, nhiều chẳng biết bao nhiêu mà kể, nhiều cho đến đổi đủ các hạng người, nhứt là bọn thầy chùa, bọn nhơn bông, bọn phù thủy, bọn pháp môn, bọn bóng chàng đồng cốt, bọn coi ngày, coi giờ, coi sao, coi hạng, bọn chữ nho hủ lậu, bọn văn sĩ tài quèn, thì lại càng Mê Tín hơn hết. Cái Mê Tín của bọn này nó đã nhuốm vào óc, thấm vào xương đã lâu rồi.

Xét rõ kỷ lại coi sự Mê Tín này có từ bao lâu nay? Mê Tín mà gọi rằng là theo Đạo Phật, tưởng rằng làm chay, làm mã mà vớt vong hồn khỏi sa đọa địa ngục, là từ đời Đường đến nay (lối 1000 năm), thạnh hành từ đời Hậu Lương đến nay (lối 800 năm).

Mê Tín mà gọi rằng là theo Đạo Tiên, tưởng rằng cúng Tiên Thánh thì được phước, có từ đời Nam Tống (đến nay ước 700 năm). Trên đây tôi kể về thời đại bên Tàu đó.

Còn nước Nam ta là nước hấp thụ văn hóa của Tàu, nên đạo Lão, đạo Phật mới có thể tràng lang qua được. Hai Đạo này tràng qua nước Nam là từ đời Lý, đến nay lối 500 năm.

Xét lúc thời đại Mê Tín còn ở bên Tàu, họ tưởng rằng làm chay là mở được cửa địa ngục, và cúng Tiên Thánh thì được phước đức to lớn, nên chẳng ai được phép làm, duy có một mình ông vua trong nước mới được làm mà thôi; vì vậy nên những việc này thì là phần vua làm. Tuy thì như vậy, mà chẳng phải mỗi vua mỗi làm, có ông thì không, có đời thì chịu, có đời thì bỏ, chớ không có bó buộc. Kịp đến trào nhà Thanh, trên 300 năm nay, vì vua Tàu là người Mảng Châu, mà người cầm quyền là mấy vị hoàng hậu, nên càng mê tín dị đoan hơn bội phần. Cũng vì người cầm quyền quá nỗi mê tín sự cúng kiến, nên các quan trong trào, cùng là những người ăn học trong nước, nếu muốn cho thân cận với vua thì đua nhau tìm kiếm cách này thế kia đặng đặt điều bày vẻ thêm vị Thần này vị Thánh nọ, phải cúng vía sanh vía tử, bằng chẳng vậy thì sẻ quở trách; hoặc là ngày nào vị Thần này đi tuần dương gian, vị khác đi tuần âm phủ…, không hơi đâu mà kể cho hết. Mà hễ vua trên ưng chịu rồi, thì cho lịnh in ra sách, chép vào lịch, đặng truyền ra cho nhóm dân cứ đó mà thi hành theo. Vì vậy nên sự truyền bá tư tưởng cúng kiến mới khắp cùng trong nước, mạnh ai muốn đặt điều chi thi đặt thêm, miển là cho no miệng ấm thân thì thôi, không ai cấm đoán chi. Bọn xẩm và kẻ hạ lưu thì lại mê tín phần đông nhiều hơn.

Trên đây là tôi kể sơ lược sự Mê Tín dị đoan của bọn Tàu, khởi sự bắt đầu là lối 1000 năm nay, mà thạnh hành tràng lang ra cho đến thôn quê là mới 300 năm nay mà thôi.

Đây tôi kể sơ qua nước Nam mình.

Nước Nam từ khi Bắc Thuộc, thì có một vài vị Thánh Tăng trào Lý (lối 500 năm nay) biết rõ Chơn Lý Đạo Phật, nên lúc ấy người trong nước không quá mê tín; dầu cho có mê tín, là trọng những vị nào có hiển Thánh, có anh linh, mà trong nước mình có ngó thấy, hoặc là người của nước mình mà thôi, vì vậy nên trong nước thật là nhiều chùa, song chùa thờ người nào đều có sự tích hiển hích anh linh phò hộ nước nhà thôi, chớ không thờ Thần nước khác, mà trọng Phật thì nhiều, vì nước có Thánh Tăng. Như vậy, tuy là mê tín, song còn có chỗ đáng khen. Ấy thuộc về Trung Bắc lưởng kỳ đó. Kịp đến cuối trào Hậu Lê, lúc Nguyễn Trịnh tranh hùng, lối 200 năm nay, bọn giặc Hồng Tú Toàn ở Quản Đông thất bại, chạy qua trú ngụ nước Nam, khi ấy mới có một bọn ô hạp đó đến ở Biên Hòa Gia Định ta, mà bày đặt đem qua những vị Thần của xứ nó đặng thờ, và truyền bá những tư tưởng mê tín dị đoan của xứ nó cho Nam Kỳ ta đây, cũng nhứt là mấy chị xẩm chạy giặc đó nhiều chuyện hơn hết. Ôi cũng ông này, bà kia, vía kia, vía nọ, giấy tiền vàng bao, cò bay ngựa chạy, nói không xiết, xin lật lịch Ngọc hạp đó thì rõ, mà toàn là ai ở đâu mình không biết, người ở xứ nào mình cũng không quen, mà buộc người mình phải mua đồ của nó đặng cùng. Xét coi vì ý chi mà người khách dể truyền bá cái tư tưởng của họ cho người mình quá đi vậy? Cũng vì trong lúc ấy nước mình đương bị giặc loạn, mà khách thì cũng là ngươi chạy giặc, nên tin rằng hễ cúng vái Trời Phật cho thường thì nước sẻ bình yên; mà lòng người ai lại chẳng muốn cho nước được thái bình, nên cứ vái vái cúng cúng hoài, mà không suy xét chi hết.

Ngày nay tuy rằng sự mê tín ấy đã quá lâu rồi, cha truyền con nối, sự dị đoan đã thâm nhiểm vào óc của họ rồi, tuy biết rằng là khó gở, nhưng tuy biết khó mà phái ráng gở mới là phải cho, được chút nào hay chút nấy. Huống chi trong nước ngày nay chẳng phải là lúc đại loạn như lúc Nguyễn Trịnh giao chiến, mà lúc này lại là lúc Đức Chí Tôn mở Tam Kỳ Đại Đạo, giao Chơn Lý cho Trung Ương cầm, đặng phá những sự mê tín của nhơn sanh, đặng dìu dắc họ về đường ngay lẽ chánh, nếu chúng ta chẳng gánh vát cái trách nhậm ấy, thì ai vô đây mà chịu cho? 

Nguyễn Hữu Phùng

Việc thờ phượng

Bài giảng của 

Đức Tổ Sư Nguyễn Hữu Phùng

 (Trích Đuốc Chơn Lý số 6 – Dec 1935)

Kính chư vị Thiên Phong Chức Sắc và Tín đồ nam nữ Lường Phái,

Cũng vì sắp đặt trong việc thờ phượng nơi Tòa Thánh Trung Ương đây và các nơi gọi rằng là tùng theo Trung Ương đặng Hành Chơn Lý, từ bấy lâu nay chưa được hoàn toàn, vẫn cứ vái thờ những bụt Thần hoang đàng hoài, nào là Tể Thiên Đại Thánh, nào là Thập Điện Diêm Vương, v.v…, ma không ra ma, Phật không nên Phật, vì vậy mà ngày nay tôi có đôi lời gọi là giảng giải chút ít trong cách sắp đặt thờ phượng lại cho anh em chị em xét, ngỏ hầu chấn chỉnh cho có vẻ trật tự một ít, đặng tranh cái tiếng kẻ chê chúng ta là người mê muội. Tưởng anh em chị em cũng nên để ý một chút, còn về phần nghe hay là không nghe, ấy tự nơi Lương Tâm của anh chị vậy.

Đức Chí Tôn mở Đại Đạo kỳ ba này, là dốc phá những cái mê tìn của con cái Người đã bị thói quen triêm nhiểm vào chẳng biết mấy mươi muôn đời muôn kiếp rồi. Cũng vì những thói mê tín ấy nên con cái của Người phải bị luân trầm khổ hải mà xây vần trì niếu lôi kéo theo cái bánh xe luân hồi chẳng biết ngày nào trở về Bạch Ngọc Kinh với Người được. Đức Chí Tôn thấy vậy, biết con cái của Người mảng bị luân hồi hoài, nên bị ma niếu quỉ trì, quên quê xưa cảnh củ, nên Người có than rằng:

Luân hồi nhiều kiếp ngu si càng nhiều.

Vì cớ chi mà Người than thở lại trái hẳn với lời người đời thường ví rằng luân hồi là tấn hóa? Chúng ta thử nghĩ coi: luân hồi mà tấn hóa nổi chi ! Luân hồi càng nhiều chừng nào thì lại càng ngu si nhiều chừng nấy thì có, chớ nào thấy tấn hóa nổi gì. Thử nghĩ coi, ai ai cũng biết rằng loài người sanh ra đây là nhờ một Điểm Linh Quan của Đức Chí Tôn mà ra, Đức Chí Tôn là Đại Từ Phụ của loài người, tiếng nói này ai ai cũng đều biết nói, và tiếng nói ấy thường dính hoài nơi cửa miệng của mỗi người, mà cớ sao loài người lại biết nói mà không biết xét? Nếu biết xét vậy sao lại quên hẳn rằng Đại Từ Phụ là Đức Chí Tôn, sao lại quên hẳn Người đi, mà vẫn cứ mơ tưởng, triếu mến, thương xót, hoài vọng, kính trọng hoài muôn ngàn thứ bụt Thần, không sao kể xiết, đành đoạn chia rẻ Lương Tâm Chơn Tánh của mình kính mến Đức Chí Tôn đi, đặng sang sớt qua cho mấy bụt Thần ấy? Nào là Thần Táo, Thần Địa, Thần Mọi, Thần Gông; nào là Bà Chằng, Bà Hồng, Bà Thủy, Bà Cốt; nào là Xát Ông, Xát Cậu, Xát Cô, Xát Tướng; nào là Ông Gốc, Ông Tà, Ông Hộ, Ông Tiêu; nào là Đạo Lộ Ngũ Hành, nào là Cô Hồn thập loại v.v…, ôi thôi giấy mực nào mà tả cho hết những tên tà ma quỉ mị mà gọi rằng Thần Thánh ấy; hơi hám đâu mà kể cho xiết những sự mê tín của loài người ! Mà nhứt là xứ Việt Nam ta đây, là chỗ chứa đủ các loài Ly, Mị, Vọng, Lượng, ma quỉ tinh yêu của các xứ khác đem lại, chẳng luận là ở xứ nào, hễ ai biểu thờ chi thì thờ, biểu cúng chi thì cúng, biểu vái chi thì vái, biểu lạy chi thì lạy, mà lại thờ phượng cúng kiến vái lạy một cách rất là cung kỉnh là khác nữa ! Xét vậy coi, có phải luân hồi nhiều kiếp ngu si càng nhiều hay không? Sao lại nở đành quên hẳn có Đức Chí Tôn kia là Đại Từ Phụ của loài người là một Đấng đã ban cho chúng ta một điểm Linh Quang đặng đến nơi cõi hồng trần này làm cho xứng danh phận Tam Tài, phòng có ngày trở về Bạch Ngọc Kinh mà Hiệp Nhứt lại với Thầy? Sao lại đành sang sớt cái lòng tín ngưởng chơn chánh kia mà đem chia năm xẻ bảy ra đặng thờ phượng những bụt Thần nọ? Sao chẳng chịu tự xét lấy mình coi làm cách lòng một dạ hai như vậy có chánh đáng hay không?

Đức Chí Tôn thấy rõ lòng dạ con cái của Người vì luân hồi nhiều kiếp quá nên quên cả cội nguồn, cũng như kẻ thế gian vì xiêu lạc nhiều đời quá nên quên xứ chôn nhau cắt rún, nên trót trên hai ngàn năm nay, Người thường cho Tứ Đại Thánh Nhơn giáng thế đặng nhắc nhở cái Bổn Nguyên của loài người không phải là ở nơi trên mặt trái địa cầu này, nên dạy phải một lòng tín ngưởng nơi một vị Thượng Đế mà thôi. Tuy lời dạy có khác nhau, là bởi tùy theo thời cuộc và tùy theo phong thổ đặng lập cách dạy cho người dể hiểu dể nghe, đặng biết nơi biết chỗ và biết phương thế đặng Tu Tâm Dưởng Tánh cho trong sạch đặng có thể mà trở về nơi chỗ Thiêng Liêng kia là quê cảnh đó.

Tứ Đại Thánh Nhơn qua đời chẳng bao lâu, thì lần lần nhơn sanh nếp củ cũng chẳng chịu chừa, bạ đâu vơ đó, nay cốt này, mai đồng kia, giả danh Thượng Đế, phỉnh gạt chúng sanh, chùa miểu linh đình, Thần Tiên tấp nạp. Chúng sanh vì quá vọng tâm, chi dốc giây phút làm Tiên Phật cho được nên ma quỉ mới có thể chen vào, bùa giấy phép ma, trừ tà diệt quỉ, xúm xích nhau đồn rùm chẳng khác loài ruồi bu bịnh ghẻ, những cơn đau đớn như vậy, dầu cho quan lương y dùng thuốc tẩy trược, cũng chưa ắc giống ruồi kia tiêu tan mau chóng được tất ?

Đức Thượng Đế rất đau lòng, vì thấy con cái của Người không ai dìu dắc, nên Người mới « thân thân giá hạnh Nam Thiên », đặng để mắt coi ra thế nào, khi Người xét rõ rồi, liền có một câu than thở như vầy :

          Đã đòi kiếp dày công nhọc sức,

          Dạy chúng sanh kỉnh Phật thờ Trời ;

            Thương thay cũng tại số người,

Ngạo lời Thánh Huấn kỉnh lời quỉ vương.

Xét lời than thì thấy rõ một kiếp của Đức Chí Tôn giáng thế là một kỳ phổ độ chúng sanh đó.

Chúng ta thử nghỉ coi, lúc Nhứt Kỳ Di Đà, Thái Thượng, Phục Hy, Nhị Kỳ Tứ Đại Thánh Nhơn, cũng đều dạy phải nhìn nhận và tín ngưởng Một Thượng Đế mà thôi, chớ có dạy thờ phượng tôn sùng bực Thần nào khác, mà sao chúng ta ngày nay không nhớ mà làm theo, lại cứ ngạo báng khinh khi lời vàng đá của Phật Trời, lại nỡ chìu chuộng quí yêu lời ma quỉ hoài.

Bởi rõ lòng dạ nhơn sanh chưa được hoàn toàn giác ngộ rằng gốc Đạo là có Một, mà trời và loài Người cũng vẫn có Một, nên Tam Kỳ Phổ Độ ngày nay bổn thân Đức Chí Tôn giáng thế chỉ bày và giải rõ cho chúng ta rằng Đạo có Một mà Chơn Lý cũng vẫn có Một. Hễ ai biết rõ được Một ấy thì mới có thể mà Hiệp Nhứt với Thầy đặng về với Đạo, hằng trái Chơn Lý thì sẻ bị Ngũ Lôi Hỏa Kiếp. Vả hiệp nhứt là Hiệp Nhứt với Thầy với Đạo, chớ Thầy chẳng có dạy Hiệp Nhứt với ông Mô, ông Mô hết thảy. Nếu ông X hay ông Y nào buộc chúng sanh phải hiệp nhứt với ông ấy, thì tức nhiên ông ấy giả mạo danh Đạo đặng đoạt quyền của Đức Chí Tôn đó. Mà Đạo là chi? Chẳng nói ai cũng rõ biết rằng: Đạo là Chơn Lý đó, chớ nào có phải Đạo là vầy bè hiệp lũ, hay là cúng quải linh đình đâu?

Vậy nay chúng ta xét rõ thấu biết Chơn Lý là chuộng sự Tinh Thần, nếu Tinh Thần được Hiệp Nhứt được Hiệp Nhứt, biết có Một Thầy là Đức Chí Tôn, là Đại Từ Phụ, là Chúa Tể Kiên Khôn Thế Giái, là một Đấng Cha Chung, thì khuyên hảy dẹp các tư ý tư tâm, dẹp bỏ những tư tưởng sái quấy tự thuở vô thỉ đến nay, đừng tin quàn tưởng vơ rằng có bụt Thần nào khác dám làm tấm vách tương đứng giửa trung gian đặng ngăn cấm ai hay là che đở ai, chẳng cho chúng ta cầu nguyện hay là tín ngưỡng trực tiếp đến Đức Chí Tôn được, hoặc là phải nhờ cậy bụt Thần ấy làm gián tiếp thì mới có thể đem lòng thành kỉnh của ta đến trao lời lại với Đức Chí Tôn được. Hay là có thần thánh nào dám làm họa làm phước cho người mà đoạt quyền của Tạo Hóa được. Đức Chí Tôn có dạy :

          Trời có Một thì Ta có Một,

          Có Ta rồi nên cột có Người ;

                Người nên Ta được thãnh thơi,

Ta Người chung hiệp Một Trời nào ba,

               Ta Người nếu rẽ nhau ra,

Ta Người chia rẽ quỉ ma chen vào.

Xét đó thì đủ hiểu Trời với Linh Hồn ta cùng xác thân ta đây đều có Một mà thôi. Một mà Ba, mà ba cũng là Một, ngoài ra không còn có bụt Thần nào khác nữa. Nếu xác thân của người không chụi hiệp với Linh Hồn, thì làm sao Hiệp Nhứt với Trời được? Nếu chẳng được Hiệp Nhứt với Trời là tại nơi mình chẳng chịu tin cậy nơi Trời Độc Nhứt mà lại ỷ lại nơi bụt Thần khác, nên mới có loài ma quỉ chen vào đứng bực trung gian, buộc ta phải tin cậy nơi nó đó. Nếu chúng ta là con cái của Thầy mà chẳng trọn lòng tin cậy nơi Thầy, lại còn van vái cúng lạy Thần quyền nào khác, thì đáng gọi là con cái của Thầy hay không? Con người sao nỡ quên lời dạy:

«Phải tin cậy Môt Trời Độc Nhứt»,

Thầy có dạy phải tin cậy nơi quỉ Thần nào đâu.

Bởi Đức Chí Tôn đã biết nơi cõi Tam Giái này không được sốt sắng lòng tín ngưởng nơi Trời Độc Nhứt, nên Người trước đã sai Tam Giáo Thánh Nhơn đến giảng dạy tột lý rồi, ví như Khổng Phu Tử thì dạy việc Hiếu Để Trung Tín Lễ Nghĩa Liêm Sỉ, đặng ngăn ngừa lòng tham dục, sự tham dục này thuộc về cõi Dục Giái, nếu lòng người biết điều Liêm Sỉ Lễ Nghĩa, thì đâu còn tham lam sự quấy, ham muốn điều hư ! Đức Thích Ca Mâu Ni thì dạy sự giải thoát đặng cứu những sự Khỗ trong vòng Sanh, Lão, Bịnh, Tử, vì loài người cứ quẩn quanh trong vòng ấy là đều bị sắc dục mà ra, hễ thoát được vòng sắc dục rồi, ấy là thoát nơi cõi Dục Giái đó. Đức Lão Tử thì dạy việc Đạm Bạc Hư Vô, ấy là chỉ chỗ cho thoát khỏi cõi Vô Sắc Giái đó. Tam Giáo Thánh Nhơn mỗi người dạy chúng ta cách thoát một cõi, nếu ai biết hiệp Tam Giáo lại được làm Một đặng trau giồi Tâm Tánh, thì là giải thoát luông cả Tam Giái rồi. Đến sau lại còn có Gia Tô Giáo Chủ còn chỉ cho ta rằng Thượng Đế tại Tâm, nên phải tin cậy một mình Đức Thượng Đế là đủ. Nếu chúng ta được y như lời Tứ Đại Thánh Nhơn dạy, và Hiệp Nhứt sự dạy lại làm một, thì nào lo chi chẳng về được với Trời, vì vậy nên Thầy có dạy :

Tứ Đại Thánh bốn nhà hiệp Một,

Mới đủ làm rường cột Cao Đài.

Đến lúc Tam Giáo Thánh Nhơn qua đời rồi, lòng người cũng còn yêu chuộng quỉ ma, nên Đức Chí Tôn muốn cho con cái Người được vẹn toàn Tâm Tánh, nên biết bao nhiêu phen sai người đến trấn nhậm nơi cõi Tam Giái, đặng trấn áp nhơn tâm cho được yên tịnh, đặng có vững bước vào con đường tấn hóa. Ất Tam Trấn là vậy đó. Là những vị Đại Hiền, những vị Thánh Tăng, những bực Đại Đức thay thế cho Tam Giáo Thánh Nhơn, tùy theo thời cuộc mà Thầy sai xuống đặng độ dẩn chúng sanh đó. Những vị Tam Trần này đã có tự bao lâu rồi, từ khi Tam Giáo Thánh Nhơn qua đời nhẩn sau, chẳng biết là mấy trăm mấy ngàn vị, chớ nào phải có ba vị Lý Bạch, Quan Công và Quan Âm đó đủ gọi là Tam Trân đâu ! Thánh Huấn có câu:

Thay Tam Giáo lập bàn Tam Trấn,

Tùy theo thời độ dẩn chúng sanh.

Lấy đó mà xét, thì rõ thấy Bàn Tam Trần của Đức Chí Tôn sai xuống trần định cho loài người là chẳng biết bao nhiêu người, chớ nào phải là có Ba vị kia đâu?

Cũng bởi chúng sanh mê mẩn chìm đấm theo Tả Đạo Bàn Môn nên coi lời dạy của những vị Tam Trấn ấy rất rẻ rúng, không chịu tuân theo, chẳng màn chẳng đếm tới, nên khi chư Thần trấn thủ Tam Giái về chầu chực có tâu lại tình hình chúng sanh thể nào, nên khi Đức Chí Tôn giá hạnh Nam Thiên đặng xem xét con cháu giống Tiên Rồng nơi Tam Giái thì quả y như lời Tam Trần đã tâu đó, nên Đức Chí Tôn có lời than thở rằng:

          Phế Ngọc Kinh Nam Thiên giá hạnh,

          Thầy bổn thân thấy cảnh đau lòng;

                 Các con rắn rắn rồng rồng,

Coi lời Tam Trấn như không chẳng màng.

                 Lại thêm bày lớp dị đoan,

Mê sa ma quỉ tội tràng vạ lây.

Xét đó thì chúng ta thấy rõ Tam Trần là có từ thuở nào cho đến bây giờ, chớ nào có phải là mới có lối trên 10 năm nay đâu?

Nhưng lòng Đức Chí Tôn là trời biển, chẳng nở để cho con cái của Người hư cho đến đổi lây tiếng xấu đến Người là Cha Chung, vì vậy nên Người phải thâu các bực Tam Trấn về, rồi bổn thân Người giáng thế dạy đời, đặng dìu dắc chỉ bảo cho cạn tiếng, chừng nào đến đâu hay đó, vì lúc mạt kiếp này, Ngũ Lội Hỏa Kiếp đương giàn kia. Người chẳng lẻ còn để trì hưởn mà Bổn Thân không đến dạy dổ cho ráo lời, lại nở cứ sai người đi thay mặt hoài được. Vì thấy chúng sanh quá sợ loài ma quỉ, cho đến đổi những chỗ thờ phượng Trời Phật cũng còn sợ ma quỉ đến phá khuấy, nên cũng phải cậy có Hộ Pháp đứng đó đặng gìn giữ ma quỉ giùm cho nữa, nên đã có Lịnh Người dạy triệt Hộ Pháp đi, không cần dùng nữa, hễ có Thầy đến rồi, thì trước mặt Thầy không ai được phép đứng đối diện. Còn Tam Trấn thì là vô số Thánh Thần Tiên Phật của Thầy sai hạ giáng từ bao giờ cho đến bây giờ, chớ chẳng phải là có ba vị kia mà thôi, mà những vị Tam Trấn ấy vì phận sự đã mản, nên Thầy đã rút về Trung Thiên rồi, không còn ở thế hạ này nữa mà phải đặt ngan vai với Thầy mà không trọn được đức tin; lại nếu có nhớ đến công ơn, thì hãy nhớ hết thảy chư Thánh chư Phật chư Tiên, chớ có lẻ nào lại quên ơn hằng hà sa số người có cống lớn trước mà lại trọng có ba người đó thôi; vì vậy nên đã cũng có Lịnh dạy dẹp mấy cái tượng ấy đi, bởi Đạo đã chẳng dùng hình tượng thì chớ, mà lại cũng chẳng lẻ chẳng nhớ công ơn nhiều vị lớp trước đã có công giúp Thầy hành Đạo, lại nở lòng treo có những tượng nào có kiểu sẵn của khách trú đã vẻ mà tưởng rằng có bấy nhiêu đó là đủ. Đức Chưởng Giáo cũng có cắt nghĩa rõ ràng những bực chư Thiên chư Thánh chư Phật chư Tiên đứng chầu lễ Đức Chí Tôn, thì sắp hàng tròn trước mặt Thầy như những hàng tinh tú đứng vòng nơi Tử Vi Cung vậy, chớ chẳng có một vị nào dám ngồi hoành đối ngan hàng với Thầy hay là đứng án trước mặt Thầy được.

Xét các cớ như trên đây đã nói, vậy ngày nay chúng ta cũng nên dùng nghi chư Thiên chư Phật thế vào hai cái nghi hai bên, mà không được đối án với nghi của Thầy ; làm như vậy thì đã trúng cách lịch sự mà nào có hại chi cho ba vị mà chúng ta gọi là Tam Trần tự trên mươi năm ấy đâu, ví dầu ba vị đó mà có quả là Tam Trấn thiệt đi nữa, thì cũng phải đứng sắp hàng vòng theo chư Thiên chư Phật mà chầu Thầy, chớ nào có phép gì ngồi ngan với Thầy đặng vuốt râu cho chúng ta lạy như lạy Thầy vậy bao giờ! Cái lễ phép là bực nhứt, dầu Đời dầu Đạo cũng vậy, thử nghĩ coi như cách sắp đặt như bấy nay vậy, có trật tự có phép tắc chút nào không? Dầu cho ba vị ấy còn sống, có Thầy giá ngự đến, thì ba vị ấy có dám ngồi ngan với Thầy mà vuốt râu như vậy hay không?

Người ta ai ai cũng trọng Trời Phật Tiên Thánh là phải, song tự lâu nay cũng quen con mắt theo cách cái sải ở chùa họ sắp Phật hàng ngan giãy giọc đầu chùa, bực nào cũng có, khác nào chợ Phật, hàng xén Phật, ai muốn việc gì, vô chùa sẵn đủ, miểng là đem tiền dưng cúng là rồi việc. Phật Thánh, ma quỉ, hộ pháp, chúa ôn, tiêu diện, quỉ sứ, đồng đình, xích lan, hà bá, thủy quan, cô hồn thập loại chi chi có sắm đủ đầy chùa, mặc sức cho người van vái cúng lạy.

Chúng ta nay, quyết chí tùng theo Chơn Lý, tin cậy Một Trời Độc Nhứt, dốc tu Tâm dưởng Tánh cho trong sạch cái kiếp thiêng liêng hầu về hiệp nhứt với Thầy như lời Thầy đã dạy, dốc thoát luân hồi, dốc được trường sanh bất tử, dốc xưng rằng mình theo Chơn Lý, dốc hiệp nhứt với Thầy, dốc lòng cầu Đại Đạo, mà nếu chẳng chịu hiểu rằng Đạo là có Một, lại muốn phô bày hình tượng ra đặng làm cách bán Trời buôn Thánh hay sao?

Bởi tôi nghe rằng nhiều người khóc lóc, dọn mất bàn Ông này Bà nọ của họ đi, họ tủi hổ, họ chua xót, nhứt là mấy bà già cả. Mấy bà này tủi khóc như vậy là phải, là vì cái tầm con mắt của mấy bà từ nhỏ đến lớn hễ đến chùa thì dốc coi chùa nào nhiều tượng, nhiều hình, nhiều bàn, nhiều cốt, nhiều ghế, nhiều nghi, chùa bao lớn mặc dầu, miểng là bàn ghế cho nhiều hàng ngủ vì chẳng đếm, dầu cho ngoài hàng ba hàng tư, ngoài hiên ngoài chài gì mặc dầu, miễng là cho nhiều lư nhan, cho nhiều chỗ đốt giấy tiền vàng bạc, cho nhiều chỗ cho họ lạy, thì họ vừa lòng và khen lại đồn rằng chùa đó lớn đủ Phật, dầu cho lạy rụng đầu gối mà họ cũng cười vui mà nói rằng khỏe. Ngày nay họ thấy Chơn Lý là Chơn Lý, không gạt ai một mảy, không chịu một chút nào dối trá, sái cái quen của họ nhiểm đã lâu rồi, bảo sao họ không khóc cho được! Thêm lại Trời Phật thì ở xa, yêu ma lại ở gần, nhũng bọn tả đạo bàn môn, ác tăng quỉ sống cũng nhiều, chúng nó thấy vậy lại càng lời to tiếng nhỏ, rủ rĩ rù rì, bảo sao các bà không tin cho được? Đương lúc Đệ Tam Tiểu Thời Kỳ này, là lúc Quỉ Vương Phật Tổ hai đường chống nhau, bao giờ quỉ cũng đứng trước Thần, lời dạy đã rành rành đó, sao không ai xét? Chúng ta đã gọi là người con cái của Thầy, chúng ta nở để lòng nào chẳng thương đồng bào chúng ta đương bị bẫy bị dò của quỉ vương rù quến cám dổ kia, mà nở chẳng ra tay tế độ, vậy chớ ai gọi rằng là người lập công bồi quả ở đâu? Mấy bà đã là người già cả quê mùa dốt nát, một mảnh giấy của Tòa Thánh gởi đến cắt nghĩa cho họ, hỏi lại mấy bà có biết gì không? Có hiểu gì không? Có hay có nghe điều gì không? Thì quả thật không hiểu chi ráo! Mà cũng không ai chịu giải nghĩa cho mấy bà nghe!  Như vậy có trách mốc mấy bà được hay không, hay chúng ta nên trách chúng ta là người không làm tròn phận sự đặng giúp Thầy? Đã không ai chịu làm tròn công quả đặng giúp Thầy, mà ai ai cũng giành phần là hiến thân cho Đạo! Tâm Đạo! Một lòng một dạ với Đạo!

Kính thưa cùng Thiên phong Chức sắc và tín đồ nam nữ cả thảy đâu đâu.

Lời tuy phân tường chưa được cạn lý, song cũng đã dài quá rồi, e nói lâu nữa phải mệt anh chị, tuy chưa được cạn lý mặc dầu, nhưng bao nhiêu đó cũng đủ cho anh chị xét Đạo Lý chơn chánh của Trời là thể nào rồi. Đạo của Thầy, nhắc tắt ra vài câu Thánh huấn đã dạy, thì cũng đã hiểu Đạo là chi vậy.

Đức Chí Tôn đã có dạy rằng:

Đạo Thầy chánh chánh đường đường,

Đạo dạy cang thường, luân lý, nghĩa nhơn.

Đạo không dạy việc rối đời,

Đạo dạy con người dỉ Hiếu vi tiên.

Đạo là phẵng lặng trang bằng,

Dường như gió tạnh Trời trăng đêm rằm.

Đạo Trời có Một không đôi,

Đạo là Sự Sống cứu người thế gian.

Đạo không tách một rẻ hai,

Đạo là hiệp nhứt cả loài thế gian.

Đạo Thầy như nước trong ngần,

Đạo không xao dợn phân vân rộn ràng.

Đạo là phẵng lặng trang bằng,

Đạo không thử thách nhố nhăn cải Trời.

Chúng ta nếu để tâm chí vào đặng nghe, xét là làm theo những lời Thánh huấn đã dạy ấy, thì sự thờ phượng của Đạo dạy là dạy :

          Phải tin cậy Một Trời Độc Nhứt,

          Phải ân cần tuyệt dứt phàm tâm ;

                Phải dồi đức hạnh cao thâm,

Phải cho Bác Ái, phải tầm Lý Chơn.

Chớ có lăn xăn lộn xộn chi đâu! Đức Chí Tôn muốn ta tìm biết Chơn Lý đặng học đặng theo, nên Người phải lập Đạo tràng nơi Trung Ương và Người cũng đã có dạy rằng :

 Lập Trung Ương Thầy trao gánh nặng,

 Dạy các con dứt hẳn phàm tâm;

Đừng lòng chia rẻ mà lầm,

Đừng lòng dại dột mà cầm rằng khôn.

Xét coi nội quả Kiên Khôn,

Có ai qua được Chí Tôn là Thầy.

Thầy đâu có dạ tự tôn,

Song Ngôi Chí Bửu Chí Tôn là Thầy

Lúc Đức Chí Tôn lập Trung Ương, chấn chỉnh nền Chơn Lý Đại Đạo, thì Người cũng đã có dạy rằng:

 Đuốc Chơn Lý Trung Ương sán tỏ,

 Người đi đường phải ngó mà theo ;

Thuyền đi vững lái êm lèo,

Bộ đi tránh khỏi hiểm nghèo gai chông.

Ấy là Đuốc Chủ Nhơn Ông,

Cả mưa chẳng tới, to dông không lờ.

Chúng ta đọc suốt các lời của Đức Chí Tôn đã dạy thì rõ biết rằng Đạo có Một, Một ấy là Chơn Lý, mà Chơn Lý ấy là vật trong tay của Đấng Chủ Nhơn Ông, là Trời, là Thầy, là Luật Tạo Hóa, là Chúa Tể Kiền Khôn thế giái, là Đại Từ Phụ, là Đức Chí Tôn vậy,

Vậy thì ngày nay chúng ta đã gọi mình rằng là người tìm Chơn Lý, hỏi vậy chúng ta có nên dẹp hết những cái vọng tâm, vọng tưởng, vọng cầu, đặng Định Tâm Tỉnh Trí lại mà Biết có Một Ngôi Chúa Tể Kiên Khôn là Một Ngôi Độc Nhứt, chớ không phải là hai, ba, bốn, năm gì nữa, như chúng ta đã lầm tự bấy lâu nay, thờ phượng bàn ghế nghi tiết cho chật chùa, cứ do theo cái phàm tâm hoài mà chia sẻ sang sớt cái lòng tín ngưởng chơn chánh của ta cho bụt Thần khác?

Đã biết rằng sự tín ngưởng là sự tự do của anh chị, tôi không dám cải chút nào, nhưng nếu tôi không giải ra cho minh bạch sự phải sự quấy, e tôi làm chưa tròn trách nhậm tôi chăng? Vậy nên tôi cáo đôi lời biện bạch gọi rằng là đủ phận sự của tôi rồi đó. Còn anh chị tôi không dám ép.

Nay kính,

Nguyễn Hữu Phùng

Đức Hổn Ngươn Thiên Sư Chưởng Quản – Bửu Ngươn